Home Blog Page 1707

Giáo hoàng Phanxicô xin lỗi vì bất kỳ sự nóng vội nào ở Leyte

Tổng giáo phận Palo vừa công bố lá thư của Đức Phanxicô gởi cho tổng giám mục John Du.

Pope Francis says sorry for 'impatience' in LeyteTrong lá thư đề ngày 21 tháng 1, Đức Phanxicô nói rằng:

‘Tôi hết sức buồn vì các cảnh báo thời tiết đã buộc chúng tôi phải lên đường sớm hơn dự kiến đến 4 tiếng, điều này đã không cho tôi có được chuyến viếng thăm bớt vội vã hơn với các giáo dân của cha, và cả buổi gặp ở nhà thờ chính tòa chiều hôm đó. Tôi xin cha thứ lỗi vì bất kỳ sự nôn nóng nào của tôi lúc đó.’

Vào ngày 17 tháng 1, Đức Phanxicô đã đến thăm Leyte, tỉnh chịu thiệt hại nhiều nhất do cơn siêu bão Haiyan.

Ngài ở lại Phi Luật Tân từ 15 đến 19 tháng 1, chủ yếu là để an ủi các nạn nhân sống sót qua cơn thiên tai.

Nhưng tiếc thay, ở Leyte, ngài phải lên đường rời đi lúc 1giờ chiều, thay vì 5 giờ chiều như dự đinh, do bởi cơn bão nhiệt đới Mekkhala đang ập vào.

Trong mọi thử thách của chúng ta, Thiên Chúa đều đi trước chúng taGiáo hoàng trong chiếc áo mưa

Để chung lòng đoàn kết với những người sống sót qua cơn thiên tai, Đức Phanxicô đã quyết định cử hành thánh lễ ngoài trời trong chiếc áo mưa, dù cho ngài có thể chọn làm lễ trong nhà kín gió.

Quyết định cử hành thánh lễ trong bộ áo mưa, được xem là thời khắc then chốt nhất trong chuyến công du Phi Luật Tân.

Sau thánh lễ tại sân bay Tacloban, ngài dùng bữa với 30 người sống sót qua cơn siêu bão, tại nhà của tổng giám mục.

Ngài cũng ghé lại ngắn gọn nhà thờ chính tòa Palo, và Trung tâm bảo trợ Người nghèo mang tên Giáo hoàng Phanxicô.

Trong thư, Giáo hoàng cũng cảm ơn giám mục và cầu nguyện cho ngài, và xin mọi người cầu nguyện cho mình:

‘Tôi cũng cảm ơn cha hết lòng, vì chứng tá đức tin và sự chịu đựng giữa gian khổ mà người dân nơi đây đã cho tôi thấy. Tôi không bao giờ quên điều này, nguyện xin Chúa đừng để tôi quên, và tôi sẽ nhớ đến những điều này trong lời cầu nguyện. Tôi cám ơn cha vì mẫu gương mục vụ đầy mạnh mẽ và quảng đại trong việc phục vụ Giáo hội ở Palo. Nguyện xin Chúa trả công bội hậu cho cha. Và tôi cũng xin cha, hãy vui lòng, cầu nguyện cho tôi và xin nhắn với những người được giao phó cho cha chăm lo, cũng hãy cầu nguyện cho tôi nữa.

Nguyện xin Chúa chúc lành cho cha, và xin Đức Trinh nữ Diễm phúc bảo vệ cha luôn mãi.’

 

J.B. Thái Hòa chuyển dịch từ rappler.com

Cám ơn maxơ

Năm Đời sống Tận hiến, chúng tôi xin gởi quý vị một số bài về đời sống tận hiến của các nam nữ tu sĩ đã chiến đấu, làm việc trong những điều kiện gian khổ. Ở các nước có truyền thống Công giáo, nhà cầm quyền hiểu được tầm quan trọng của các “di sản quốc gia” này nên đã thưởng cho họ các huân chương cao quý nhất, cũng như hỗ trợ cho các công việc làm của họ.

Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu với các bạn Nữ tu Marguerite Tiberghien thuộc dòng Vinh Sơn. Bà sinh năm 1926 ở Pháp và suốt đời làm việc ở Brazzaville, Congo.

Năm 2006, bà gặp ông Jacques Séguéla, ông vua của ngành quảng cáo ở Pháp. Nhanh chóng ông bị nhân cách ngoại hạng của bà cuốn hút, ông đề nghị được viết tiểu sử cho bà và quyển sách Xơ Dũng Cảm, cuộc gặp gỡ không chờ đợi của ông vua quảng cáo và công chúa của Chúa ra đời, kể lại cuộc chiến đấu chống nạn mù chữ và những tàn phá trong xã hội.

Sau đây là bài giới thiệu của ông Jacques Séguéla

Ông Jacques Séguéla và Xơ Marguerite tháng 4 năm 2011
Ông Jacques Séguéla và Xơ Marguerite tháng 4 năm 2011

Cám ơn maxơ

“Tôi không tin vào đời sống về sau nhưng dù vậy tôi cũng mang theo áo quần để thay.”

Woody Allen

Bà không có tuổi, nếu không, đó là tuổi của khôn ngoan. Bà có bước đi của người có thì giờ trước mặt. Nhưng cũng thường thôi: tất cả thì giờ của bà, bà đã cho Chúa hết rồi.

Bà không đi, bà lướt chân này trên chân kia như để xóa mờ hình bóng mình. Nhưng hụt mất rồi, bước chân bà chiếm hết khoảng không gian.

Bà có khuôn mặt của một thiên thần lướt nhanh xuống trần thế, chiếc khăn lúp như đội hào quang trên đầu và đặc biệt là cặp mắt, cặp mắt nói lên con người của bà, sáng suốt, nhanh nhẹn, tài hoa, rực sáng. Một ánh nhìn tuổi con gái, con gái mới lớn. Bà vẫn là con gái mới lớn suốt đời.

Người làm sao giọng nói làm vậy. Trong thanh nhưng kín đáo, đơn giản nhưng rung động, mạnh mẽ nhưng  quảng đại. Chúng ta thường bóp méo ngữ điệu, bà không vậy, bà không biết chuyện này. Một điều rất hiếm ở thời buổi truyền thông hiện đại khi, dù trong vòng thân mật, mỗi lời nói thu thanh đều tìm cách tạo hiệu quả đặc biệt, gây dấu ấn cảm xúc. Ấy thế mà, bà có giọng nói tuy không ấn tượng nhưng nội dung của nó đôi khi lại rất dữ dội, một nội dung kềm nén quá lâu ngày. “Lúc nào cũng nói về người nghèo nhưng kỳ thực là kỳ thị họ”, mới vào bà đã nói với tôi như vậy.

Đó, xơ Marguerite Tiberghien là như vậy, người ta hay gọi bà là xơ Marguerite nhưng tôi thích gọi bà là “Xơ Dũng Cảm” dù bà rất ghét loại xưng hô ca tụng này.

Các bạn sẽ ngấu nghiến đọc câu chuyện hồi hộp, khủng khiếp của nạn diệt chủng được một tâm hồn sống trực tiếp trong cảnh đó kể thẳng ra với hết cả tấm lòng. Một câu chuyện không màu mè, không phô trương, không làm vừa lòng. Một câu chuyện làm bạn tin vào Chúa dù câu chuyện này có những điều khủng khiếp phơi bày như tuốt hạt.

Khi Xơ Dũng Cảm đề cập đến nước Cônggô bị thiêu cháy, bà khám phá ra ngoài nạn bất công do kỳ thị còn nạn bất công tâm hồn do: vô minh. Bà dấn thân vào mặt trận này với vũ khí là đức tin, là niềm say mê. Bà tin phương thuốc giải độc duy nhất để chống nạn thanh trừng chủng tộc là bài trừ nạn mù chữ. Và thế là bà bắt đầu sứ mạng tông đồ chính trị giáo dục, một sứ mạng đụng chạm liên tục với cơn điên cuồng của loài người.

Từ vận may đến các thúc đẩy của tâm hồn, từ thúc đẩy tâm hồn đến phải hét to tiếng, bà đã làm chuyện không thể thành chuyện có thể.

Dưới mắt chúng tôi, sự cùng cực về mặt vật chất là bất công đầu tiên của thế giới. Nó vẫn là  bất công nhất. Nhưng khốn cùng về mặt trí tuệ còn làm cho bất công không tránh được kia còn tệ hơn nữa. Nó nghiền nát mọi hy vọng, đập tan mọi dự án, hủy bỏ mọi lối đi. Nghèo khổ sinh ra nghèo khổ, giáo dục mới làm cho giàu có. Còn chúng ta, những đứa con sinh ra của khoa học và văn hóa, chúng ta làm gì để chống lại sự pha giống này của miền Bắc, nơi nền giáo dục được miễn phí và chúng ta làm gì cho miền Nam, nơi, nhiều khi lại không có cả nền giáo dục?

Nước Cônggô độc lập năm 1960. Nhưng đến năm 1965 là đã có cách mạng. Thủ tướng đầu tiên, cha xứ Youlou đã phải bỏ trốn. Ngay lập tức xứ sở rơi vào tay khoa học mác-xít và nạn khiếp sợ để rồi dẫn đến nạn diệt chủng năm 1997. Từ phía bên kia biên giới của những chuyện không giải thích, không xin lỗi, không chịu đựng được nổi bùng cơn giận. Cựu nước Cônggô Bỉ nếm mùi chiến tranh lớn nhất châu Phi: ba triệu người chết. Các loạt giết người liên tiếp kéo theo nhau.

Chiến đấu không ngừng, tội ác không đáy, người chết không đếm được, trọng tâm Phi châu chỉ còn là nấm mộ của chính mình. Đó là cảnh địa ngục mà mỗi ngày Xơ Dũng Cảm chạm trán, đi qua những điều kinh hoàng nhưng không đánh mất nét dịu dàng, kề bên cái chết mà chỉ nghĩ đến sự sống. Còn chúng ta, chiều chiều ngồi xem truyền hình nhưng không thấy nó, giữa chương trình dở ẹt trước giờ cao điểm và chương trình mồi chài của giờ cao điểm. Thánh lễ tám giờ tối của chúng ta toàn thảm kịch, đó là cơm gạo hàng ngày, nó chỉ còn là đám tang chôn người. Chúng ta nhìn mà không thấy nó, xem như việc hạ huyệt này là của những người không quen biết, nơi người ta cư xử tốt với nhau trong những lúc tốt đẹp với nhau. Chúng ta dửng dưng nhìn cảnh các em bé phỏng cháy trước mặt các bà mẹ đang bị hãm hiếp. Một thái độ dửng dưng được đông lạnh, được vô trùng, được khử trùng theo phương pháp Pasteur bởi một xã hội cổ võ cho tính ích kỷ và thói co cụm. Sự mất mát các giá trị, sự cổ động thường xuyên cho cá nhân chủ nghĩa đã làm cho các hoạt động sôi nổi của những người sinh vào các năm 70, tính nhẹ dạ không lo âu của các người sinh năm 80 thành có lý. Giờ đây chúng ta đi vào kỷ nguyên của loại tôn giáo “ưu tiên cho tôi” mà không cần phải bàn cãi. Cái chết của nền văn minh chúng ta đến kỳ hạn thì nó sẽ tới.

Ở một nơi cách xa nước Pháp năm ngàn cây số, một nữ tu nhỏ bé của người nghèo và của dòng Bác Ái, từ tuổi thanh xuân đã âm thầm xả thân cho một đời sống khác, đời sống “ưu tiên cho người khác”. Tin vào Chúa trước hết là tin vào con người. Chống lại mọi sự, chống lại mọi người.

Một ngày nọ, văn sĩ Jean-Claude Carrière nói với tôi: “Để câu chuyện luân lưu trên toàn cầu, câu chuyện đó phải xảy ra ở một nơi nào đó, được một người nào đó viết.” Câu chuyện của xơ Dũng Cảm là câu chuyện sống của những chuyện kinh hoàng có thật và những hạnh phúc nhỏ bé bị đánh mất, mỗi câu chuyện mang một thông điệp. Đây là các dụ ngôn Lã Phụng Tiên của thế kỷ 21. Bối cảnh câu chuyện không phải là bối cảnh miền quê thanh bình nhưng là bối cảnh chiến tranh với các phụ tùng chém giết, tống tiền, thảm sát, xác chết. Nhưng luân lý của câu chuyện thì giống nhau, mỗi câu chuyện có các bài học của nó, bài học hy vọng. Có một vũ khí nào khác để sống còn khi đối diện với cảnh thoái hóa của một dân tộc bị bỏ mặc cho số phận của họ và tự kéo họ đi trở về với thời man dại sơ khai không? Câu chuyện như tấm gương phản hồi làm chúng ta phải suy nghĩ đến cảnh khốn quẫn tuyệt vọng của lục địa đang bị bỏ quên này.

“Thay vì tu viện, các nữ tu sẽ có các căn nhà cho người bệnh, các phòng bệnh viện; thay vì nhà nguyện và cuộc sống cấm cung trong hàng rào tu viện, các nữ tu sẽ có hè phố mà hàng rào là đức vâng lời, thanh chắn là lòng kính sợ Chúa, khăn lúp là cuộc sống thánh thiện khiêm tốn.” Câu nói của thánh Vinh Sơn Phaolô đã quyết định cuộc đời của xơ Marguerite. Bà còn thêm vào đó một giới luật tối hậu: sứ mệnh của tôi là sứ mệnh giáo dục ở Phi châu. Cuộc phiêu lưu nhân bản và thiêng liêng này đang chờ bạn ở những trang giấy sau. Bạn đừng hy vọng đọc ở đây câu chuyện bệnh hoạn mà các tác giả túng đề tài phải viết. Ở đây, thảm kịch lúc nào cũng được tình yêu bù lại và ở tận cùng của khủng khiếp lúc nào cũng có một niềm hy vọng. Xơ Marguerite hy vọng điều này ở nơi con người dù ngay khi bước chân đến xứ Công-gô, bà đã thấy cái dã man không dập tắt được của những cuộc xung đột chủng tộc, của dân chúng mù quáng chỉ biết dùng dao rựa. Các cuộc chém giết rồi cũng qua đi, nhưng ít nhất sự sống vẫn còn. Và từ đó, đối với bà, chỉ có một cách để tránh tái diễn cảnh giết chóc, đó là giáo dục.

Bà là hỗn hợp một phần ba mẹ Têrêxa, một phần ba cha Pierre, một phần ba nhà nhân đạo Bernard Kouchner, bà không chịu trở về Pháp dù tòa đại sứ Pháp nhiều lần báo động, dù áp lực của nhà dòng, dù bạn bè chung quanh nhẹ nhàng khuyên nhủ. Văn hào Victor Hugo đã nói: “Anh hùng là những người ở lại.” Bà ở lại. Và xơ Marguerite, một mình, giữa cảnh xâu xé của một nước Cônggô trong tay Quỷ, bà thiết lập ngôi trường của Chúa. Đầu tiên hết chẳng có một phương tiện nào, thế mà bây giờ đã có hơn ba mươi ngàn học sinh học trong những cơ sở này. Bao nhiêu cuộc đời được cứu khỏi nạn mù chữ, khỏi bạo hành, khỏi hủy hoại. Trường của bà dạy miễn phí, mở cửa cho tất cả mọi sắc dân, mọi lứa tuổi, mọi tôn giáo. Đặc biệt cho những em khuyết tật tinh thần mà trong các xứ nghèo này, đó là những người bị bỏ quên nhiều nhất trong một xã hội bị bỏ quên.

Nói giùm cho một người khấn hứa sống khiêm hèn không phải là chuyện dễ dàng. Nhưng các cuộc gặp gỡ với bà, các bạn của bà, dòng của bà đều khuyến khích tôi. Không làm chứng cho những thảm kịch đã sống và sự thắng thế của hy vọng là làm cho lương tâm nhân loại đi chậm lại, lương tâm của thế giới người giàu chỉ biết đi nạo vét thế giới của người nghèo. Đó là quên hành tinh này là của chung, một hành tinh càng ngày càng đáng ghét, càng không có gì huyền bí. Và như thế thì rất mỏng giòn. Năm 2050, chúng ta sẽ có mười tỷ người, một tỷ no nức bụng, chín tỷ không có chi. Thói ích kỷ của chúng ta có thể kéo dài mà không sợ một cuộc nổi loạn toàn cầu sao?

Nhưng bạn cũng nên tự hỏi vì sao lại có sự đột nhập của một tên quý tử ngành quảng cáo – quý tử ngành quảng cáo là quý tử đồi bại – trong những trang viết này. Có cái gì hợp lý hơn không? Tôi phục vụ cho các nữ tu đã giúp tôi học đi, học viết. Hạnh phúc thời thơ ấu của tôi có được là nhờ các nữ tu đội mũ cứng này, họ giúp tôi viết những chữ đầu tiên, những từ đầu tiên, những suy nghĩ đầu tiên.

Cha mẹ tôi là những sinh viên trẻ phân khoa quang tuyến, trên đường đi học, họ gởi tôi ở nhà trẻ của các nữ tu trên đường Tombe-Issoire. Từ giã nụ cười lo âu của mẹ tôi đón nhận nụ cười trấn an của xơ Joseph. Bà cũng thuộc dòng thánh Vinh-Sơn. Tôi còn nhớ căn phòng chơi chật chội nơi lũ con nít con trời, con đất chúng tôi chen vai thích cánh chơi chung với nhau. Từ vòng tay âu yếm dịu dàng, từ niềm vui rực sáng, từ tâm thanh tịnh mà xơ Joseph đã gieo trồng trên những bước chân đầu đời, những tập tục đầu tiên, những tiếng khóc đầu tiên của tôi. Tôi được hai bà mẹ sinh ra, được hai bà mẹ cho niềm vui sống, một niềm vui sống không bao giờ xa rời tôi, tôi mắc nợ hai bà.

Lên ba, cha mẹ tôi về Perpignan ở, một thành phố mặn ngọt tuổi vị thành niên của tôi. Cha mẹ chọn trường mẫu giáo cho tôi. Gần nhà có dòng Vinh-Sơn, các nữ tu mở trường trong nhà dòng, thế là tôi vào đó học. Tình cờ sao, suốt cuộc đời tôi, không bao giờ sự tình cờ đến tình cờ hết. Thêm một lần nữa tôi được các xơ chăm sóc, tôi từ giã các xơ đội mũ cứng ở Paris thì bây giờ tôi gặp các xơ đội mũ cứng ca-ta-lan: cùng tâm hồn, cùng từ bỏ, cùng quên mình nhưng lại có thêm giọng nói trọ trẹ.

Ba mươi năm sau, ngày xơ Marguerite đến Brazzaville, bà kế tiệp công việc của các nữ tu dòng Vinh Sơn. Vẫn những đức hạnh cũ: quãng đại, hy sinh, quên mình. Thánh Vinh-Sơn lặp đi lặp lại: “Các nữ tu của tôi không thể được đối xử tốt hơn thầy của chúng tôi. Và thầy của chúng tôi là những người nghèo.”

Marguerite là hoa cúc, một loại hoa màu trắng, khiêm tốn, bình dân, có mùi tươi mát tượng trưng cho thanh khiết. Máu quảng cáo trong người tôi không thể nào tìm được hình ảnh nào đầy đủ hơn để dán lên hàng hiệu này. Hàng hiệu khiêm tốn. Đừng đối xử với Xơ Dũng Cảm như người “đi tu”, bà sẽ nhìn bạn với một cặp mắt lạnh như băng. Bà là đệ tử của một dòng tu được thánh Vinh Sơn thành lập năm 1640, cuối thời vua Lu-i 13, tên nhà dòng là “Nữ Tử Bác Ái, nữ tì phục vụ bệnh nhân nghèo.”

Xơ Dũng Cảm nói mỗi người mang trong mình bốn hạt giống. Hạt lòng tốt, hạt hiểu biết, hạt đẹp đẽ và hạt vô tận. Chỉ những ai được giáo dục trong “yêu thương” mới có thể làm những hạt giống này nẩy mầm được. Và nếu bí mật của bà nằm ở đó, ở lòng trìu mến hơn là giáo dục thì phải làm sao đây?

Tình trạng bất an trong các trường học ngoại ô của chúng ta là do thiếu tình thương chứ không do việc giảng dạy. Tôi luôn luôn nghĩ dùng roi đánh một phát thì được việc hơn là nói dịu dàng và lắng nghe. Người ta sẽ học được gì, điều khiển được gì qua cái sợ? Đối với xơ Marguerite, “khinh ai” là làm cho người đó thành “đáng khinh”. Đe dọa ai làm cho người đó thành người đáng sợ.

Tôi thích những câu chuyện ngu đần, nó cười thẳng vào mặt mình. Vì thế tôi mơ có ngày tôi thực hiện được một đoạn phim mà người dẫn chuyện duy nhất, nếu có thể được, là bánh xe Lịch Sử. Các bạn cứ tưởng tượng một phòng thâu hình trống trơn, một cụ già tóc bạc phơ, có cái nhìn cú vọ, mặc áo thời kỵ sĩ ngày xưa, cứ như người từ một thế kỷ nào xa xưa. Trên lưng là cây cung sơ sài, tay bên này là cái thớt chém đầu, tay bên kia là thằng lùn. Vị anh hùng của chúng ta tiến vào phòng thâu hình. Ông để chú lùn dựa vào thân gỗ, lôi trái táo từ trong túi ra, đặt trên đầu chú lùn, điều chỉnh dây cung, bắn một phát xuyên trái táo.

“Tôi là Wilhelm Tell!”, ông kêu lên để đáp lại tiếng reo hò hậu cảnh của một đám đông vô hình.

Cảnh thứ nhì: cũng cùng phông nền, cùng phụ tùng. Thay đổi người bắn cùng; không phải là người cùng thời nhưng gần với chúng ta hơn, thấy rõ qua cây cung tân kỳ hơn. Ông cũng để trái táo trên đầu chú lùn, điều chỉnh tầm bắn, giương tên vừa bắn nát quả táo vừa hét: “Tôi là Robin Hood.” Vỗ tay. Cảnh mờ dần. Lúc đó tên đồng bọn thứ ba đi vào, tóc tai bù xù, cặp mắt như cặp mắt con khỉ thời sơ khai nhìn chằm chằm. Sylvester Stallone đóng vai. Vẫn có chú lùn nhưng lần này chú ở trên bệ cao. Vũ khí tân tiến của Rocky thì rợn người: kính hồng ngoại, hiệu chỉnh điện tử, nhắm bằng tia laser. Rocky đi lui, giương oai bắp thịt, kéo cung, bắn và đi xuyên… qua chú lùn.

Không xúc động, anh quay lại, đối diện với ống kính và nói theo giọng của một võ sĩ quyền anh quá mệt mỏi vì xem quá nhiều phim bạo lực: “I am sorry” “Xin cảm phiền.”

Đã đến lúc tôi phải nhường lời cho nhân vật chính của quyển sách, tôi chỉ là người chấp bút khiêm tốn. Vai trò của tôi chỉ là khuyến khích – thỉnh thoảng thôi – nhưng không bao giờ hướng dẫn. Xơ Marguerite không phải là người có thể bẫy được. Ngược lại, bà dần dần đưa người đối diện đi vào trong thế giới của bình an và tình thương. Nghe bà nói, tôi có cảm tưởng như đang được thần hạnh phúc vuốt ve. Trong thảm kịch bà nuôi hy vọng, trong đen tối của nhân loại bà nhìn bình minh tươi sáng sắp đến. Với điều kiện là phải biết chấp nhận xem lại vấn đề và hành động. Bà dằn từng chữ: “Tôi không nói đến chuyện ảo ở đây. Không thể để lục địa Phi châu hấp hối mà cứ đi ăn cắp các nguyên liệu của họ.” Và để kết luận, bà nói: “Nếu tôi đặt câu hỏi “Ai sáng chế ra máy bay”, ông sẽ trả lời máy bay do con người làm. Nhưng nếu hỏi người Phi châu, họ sẽ nói: “Mấy người da Trắng làm.” Cội nguồn sự dữ – mà xơ Dũng Cảm chiến đấu – nằm trong mặc cảm tự ti do bị trị dưới chế độ thuộc địa dù cho ngày nay người ta cố tìm một hình ảnh tốt mà chế độ thuộc địa đem lại.

Tôi kết thúc bài học cuộc sống này bằng giây phút hồi tâm. Tôi đã cho ngang tầm với những gì tôi nhận chưa? Đâu là cuộc chiến của tôi? Người khác làm giàu bằng cái gì? Sự cùng cực không phải không có kết thúc, tất cả đều tùy mình có muốn cho cảnh cùng cực kết thúc hay không. Chúng ta không có quyền đổ trách nhiệm lên cho các chính quyền tấn thảm kịch vô học chết người của những dân tộc không có gì thừa kế này. Giúp thế giới tốt hơn, có phải đó là công việc của tất cả mọi người không?

Hai ông tỷ phú Bill Gates và Warren Buffett đã hiểu điều này. Hai người giàu nhất hành tinh đồng ý tặng 85% tài sản của họ để chống lại nạn cùng cực về mặt trí tuệ và thể lý ở Phi châu. Một cú đá thúc vào tâm hồn thật đích đáng!

Xơ Dũng Cảm còn làm nhiều hơn, bà cho 100% đời bà cho những người bất hạnh. Thời Trung Cổ, người dân đóng thuế thập phân, một loại thuế tự nguyện. Mỗi năm người giàu cho 10% lợi tức của mình cho người nghèo. Chúng ta thảy đều là những đứa con cưng của cuộc đời. Chúng ta đã chia sẻ lộc Chúa cho này với đồng loại kém may mắn chưa? Đó là sứ điệp của xơ Marguerite. Tôi không nghĩ tôi là người chấp bút giỏi. Tôi cũng không hiểu vì sao bà chọn tôi. Tôi không phải là khuôn mẫu tốt, viết không giỏi, lại cũng không phải là người gương mẫu. Đơn giản tôi biết là tôi không thể nói “không” với bà. Bà là nữ tu của chữ “vâng.”

Các cuộc gặp gỡ thường là những ngã tư của cuộc đời, nó đem đến cho bạn sự chọn lựa các nơi khác hay một lối khác. Thưa ma xơ, ma xơ đã kéo con ra khỏi cái xa lộ của tính thích dễ dãi và ích kỷ để đưa con đến những con đường mòn trong việc khám phá người khác; lòng tốt vẫn còn. Con đã gặp lòng tốt đó. Xơ có đem con đến gần Người Đỡ Đầu của xơ không, người mà chút gì xơ cũng nhắc đến? Chắc chắn, gặp xơ xong, chia sẻ niềm hứng khởi và các dò tìm của xơ, các lối đi lang thang và các hy vọng của xơ thì không ai từ giã xơ mà tâm hồn yên được. Chắc chắn, tôi không bao giờ tin vào đời sống vĩnh cửu. Nhưng Chúa biết, ở tuổi tôi, một viễn cảnh như thế cũng làm cho tôi rất vui. Nhưng tôi tin sau buổi gặp gỡ này có một đời sống khác ở ngay chính trần thế này mà hạnh phúc không phải những gì mà xã hội tiêu thụ này dạy cho tôi. Xơ Marguerite, làm sao khi nghe xơ nói mà con không hiểu làm điều tốt đã hình thành con người của xơ, làm sao con không chấp nhận cuộc đời đơn giản không phải là cuộc đời dễ dàng, làm sao con không thấy tình yêu cho người khác mang lại cho mình niềm vui nhiều hơn là tình yêu cho mình?

Với bao nhiêu lời nhắn xác tín của xơ gởi đi, không thể nào không có hồi âm. Khi viết những trang này, tôi có lời hồi âm thứ nhất: tôi không còn dám phách lác tự cho mình vô thần. Trước mặt Chúa – nhưng ai dám? – và trước mặt loài người.

Cám ơn xơ Dũng Cảm.

Jacques Séguéla

Gặp gỡ hai giáo hoàng anh em đồng điệu

Gặp gỡ hai giáo hoàng anh em đồng điệuCrux – John L. Allen Jr

01-02-15

Giáo hoàng Phanxicô đã có một động thái khác trong tuần qua, tô dậm thêm huyền thoại về khiêm nhượng và cải cách của mình, khi quyết định rằng thánh lễ thường niên trong đó sẽ trao dây pallium, biểu tượng chính thức cho cương vị của các tân tổng giám mục chính tòa, sẽ không tổ chức ở Roma, nhưng là ở các giáo phận nhà.

Sự kiện trao dây pallium này, theo truyền thống là một điểm nhấn trong thời gian mùa hè ở Roma. Nhưng Đức Phanxicô đã đi ra khỏi khuôn phép cũ, ấn định rằng, dây pallium sẽ được các sứ thần tòa thánh tận tay trao cho các tân tổng giám mục.

Hầu hết mọi người sẽ thấy đây là một cách phá vỡ truyền thống khác nữa của Đức Phanxicô, khi hạ bớt những sự kiện ở Vatican và nhấn mạnh tầm quan trọng của các giáo hội địa phương. Những ai có để tâm nghiêm túc trong thời Đức Bênêđictô XVI, hẳn sẽ đồng ý với ý kiến trên, ngoài trừ cụm từ ‘phá vỡ truyền thống.’

Thật vậy, việc cải cách mới nhất của Đức Phanxicô không phải là một chệch hướng với Đức Bênêđictô, nhưng là một ví dụ nữa cho thấy cả hai người dường như cùng chung tông điệu với nhau.

Một trong những quyết định đầu tiên của Đức Bênêđictô sau khi nhận ngai tòa vào năm 2005 là ngài sẽ không chủ tế các thánh lễ phong chân phước, và các việc phong chân phước sẽ không tổ chức ở Roma nữa.

Quyết định này cũng là hướng đến tầm quan trọng của các giáo hội địa phương, bởi việc phong chân phước xác nhận việc cộng đoàn địa phương tôn kính một vị nào đó là xác đáng, còn việc phong thánh mang tầm toàn thể Giáo hội. Đức Bênêđictô XVI cũng gởi đi một thông điệp rằng giáo hoàng không phải là tâm điểm chú ý, và Đức Phanxicô khi quyết định về dây pallium, cũng cùng suy nghĩ này.

Đây chỉ là phần nổi của tảng băng mà thôi. Tôi xin đưa ra đây một vài ví dụ khác về sự đồng điệu giữa hai giáo hoàng:

Biến đổi khí hậu, môi trường: Khi thế giới đang chờ đợi tông thư sắp đến của Đức Phanxicô về sinh thái, thì chúng ta nên nhớ rằng, Đức Bênêđictô XVI đã rất chú tâm đến môi trường đến mức được đặt tên là ‘Giáo hoàng Xanh.’ Trong triều giáo hoàng của ngài, Vatican đã ký một thỏa thuận trở thành quốc gia đầu tiên ở Châu Âu cân bằng về khí carbon, bằng cách trồng lại một dải rừng ở Hungari để cân bằng khí carbon thải ra ở Vatican, đồng thời lắp đặt các tấm năng lượng mặt trời trên Sảnh Tiếp kiến Phaolô VI.

Làm sạch sẽ tài chính: Đức Phanxicô đã xem việc tránh các tai tiếng tài chính trong tương lai là một trong những cải tổ cần thực hiện ở Vatican. Việc dọn dẹp này đã bắt đầu dưới triều Bênêđictô, giáo hoàng đầu tiên mở cửa Vatican cho các thanh tra thế tục từ bên ngoài vào, bằng cách mời cơ quan chống rửa tiền Moneyval của Hội đồng châu Âu. Cũng chính Đức Bênêđictô đã mở ra cơ quan giám sát tài chính với quyền lãnh đạo của chuyên gia chống rửa tiền người Thụy Sỹ, René Bruelhart, và ngài cũng đã bắt tay xem lại các tài khoản trong ngân hàng Vatican.

Các vụ xâm hại tình dục trẻ em: Đức Phanxicô đã quyết tâm ‘tuyệt đối không dung thứ’ cho các vụ xâm hại tình dục và đã lập một Ủy ban Bảo vệ Trẻ em phụ trách việc này. Đây cũng là một việc ngài hoàn thiện cho bước đi của Đức Bênêđictô, người nhất quyết ‘tuyệt đối không dung thứ’ và đã ban hành như là chính sách chính thức của Giáo hội. Đức Bênêđictô là giáo hoàng đầu tiên gặp gỡ các nạn nhân, và cũng là giáo hoàng đầu tiên đích nhân xin lỗi vì cuộc khủng hoảng này. Ngài cũng đã tích cực nhổ triệt để những bị cáo phạm tội này khỏi cương vị linh mục, và cho hoàn tục khoảng 400 linh mục bị kết tội, chỉ trong vòng 2 năm cuối tại vị.

Vươn ra những người vô tín ngưỡng Đức Phanxicô nổi tiếng vì có thể ngồi lại với bất kỳ ai, kể cả một nhà báo vô thần cánh tả ở nước Ý. Điều này nối tiếp tấm gương của Đức Bênêđictô, người đã đưa hồng y người Ý Gianfranco Ravasi đến Roma để mở dự án ‘Sân của Lương dân’ nhằm thăng tiến đối thoại với những người ngoại đạo. Một trong số ít lần Đức Bênêđictô phá vỡ thinh lặng sau khi thoái vị, là việc ngài viết thư cho nhà toán học vô thần Piergiorgio Odifreddi, vào cuối năm 2013, cảm ông ông vì đã viết một quyển sách về ngài và nêu ra một số điểm thảo luận.

Ngay cả tính khiêm nhượng được nhiều người ngưỡng mộ của Đức Phanxicô, cũng có thể thấy được nơi Đức Bênêđictô.

Ví dụ như, Đức Phanxicô được hâm mộ nhiều, vì không lâu sau khi được bầu, ngài trở về nhà trọ Casa del Clero, nơi ngài ở lại trước mật nghị hồng y, để gói gém hành lý và trả tiền phòng. Nhưng tám năm trước, ngay lập tức sau khi được bầu, Đức Bênêđictô cũng làm việc như vậy. Ngài về lại căn hộ cũ ở Piazza Leonina để gói ghém đồ đạc.

Ngài ghé lại gõ cửa 3 căn hộ khác cùng tầng với mình. Ngài không phải muốn chào từ biệt các hồng y sống ở đó, nhưng là để cảm ơn các nữ tu lo việc nấu ăn và dọn dẹp, vì đã là người bạn hàng xóm tốt của ngài.

Những điểm trên không chối bỏ những khác biệt rõ ràng giữa Đức Bênêđictô và Đức Phanxicô, rõ ràng nhất là sự đối lập giữa một trí thức với một mục tử. Về mặt chính trị, bản năng của Đức Phanxicô có tính ôn hòa hơn, và còn phải nhắc đến khuynh hướng của Đức Bênêđictô là tập trung vào các nguyên tắc trừu tượng, còn Đức Phanxicô thì vào những tình trạng cụ thể.

Tại sao lại thường rất khó để nhận thấy những nét chung giữa 2 giáo hoàng này?

Một phần bởi Đức Bênêđictô bị mang tiếng khá xấu, như là ‘Chó dữ của Chúa’ hay ‘Hộ pháp Vatican.’ vốn thường làm lu mờ đi những khía cạnh đáng chú ý trong nghị trình và nhân cách của ngài. Còn với Đức Phanxicô, đường lối và cá tính của ngài luôn nổi bật.

Dù giải thích thế nào đi nữa, thì thực tế là, dù có nhiều khác biệt bên ngoài về cá tính và phong cách, nhưng xét lâu dài sâu xa, thì cả hai có thể xem như những giáo hoàng anh em, cùng chung tông điệu hoàn hảo.’

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Hiện đại hóa thực sự là hoa trái của đức khôn ngoan

MI+Pope+Francis+greets+priests+CatholicTrong thánh lễ cử hành cho Ngày thế giới Đời sống Thánh hiến, giáo hoàng thúc giục các linh mục hãy tránh xa một kiểu ơn gọi ‘nhợt nhạt’ không bắt rễ từ thực tế. Vai trò của linh mục là hướng Chúa Giêsu, và để mình được Chúa Giêsu hướng dẫn.

Vatican Insider – Giacomo Galeazzi

 

‘Áp dụng các nguyên tắc vào thời đại là công việc của đức khôn ngoan.’ Tin mừng là luật không thể thay thế, và một linh mục tốt phải biết hạ mình tuân theo ý Chúa. ‘Chúa Giêsu không đến để làm theo ý mình, nhưng là theo ý Chúa Cha. Do đó, những ai theo Chúa Giêsu, là chọn lấy con đường vâng phục, hạ mình và đồng nhất ý mình theo ý Chúa, ngay cả đến mức để mình nên hèn mọn và nhục nhã.’ Giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở các linh mục trong bài giảng thánh lễ tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô tại Vatican nhân Ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến và là lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh.

Vận động cùng với thời đại cũng là sự khôn ngoan của Giáo hội. ‘Bằng cách giữ đức vâng phục, thì sự khôn ngoan cá nhân và cộng đoàn sẽ phát triển, và tạo khả dĩ cho việc áp dụng các luật vào thời đại: sự hiện đại hóa thực sự là cộng việc nhờ đức khôn ngoan, được hỗ trợ nhờ đức vâng phục và ngoan ngoãn.’ Vâng phục ‘không phải là một chuyện trừu tượng’ nhưng là sự ngoan ngoãn và vâng lời vị sáng lập, ngoan ngoãn và vâng thuận một luật cụ thể, ngoan ngoãn và vâng theo Giáo hội. Đây là sự ngoan ngoãn và vâng thuận cụ thể.’ ‘Kho tàng và đoàn sủng tích lũy của tất cả mọi dòng tu được gìn giữ nhờ sự kết hợp của vâng phục và khôn ngoan. Đường lối này ngăn không để chúng ta sống năm thánh hiến ‘một cách hời hợt’ và xa rời thực tế.’

Khi sống đời linh mục ‘kiểu hời hợt,’ một linh mục đã thành trò cười cho đời sống thánh hiến: một đời sống không có hi sinh, cầu nguyện không có gặp gỡ, sống huynh đệ mà không hiệp thông, vâng phục mà không tin tưởng, bác ái nhưng chẳng hướng thượng.’ Vai trò của người linh mục là ‘hướng Chúa Giêsu trong khi để Ngài hướng dẫn mình, nghĩa là làm người dẫn được hướng dẫn.’ ‘Với một linh mục, sự cấp tiến nghĩa là hạ mình xuống trong việc phục vụ: con đường như Chúa Giêsu đã đi’ mà Chúa Giêsu đã không cố giữ địa vị Thiên Chúa của mình. Hạ mình xuống, trở thành người nô bộc để phục vụ. Con đường này là luật được dựng nên theo đoàn sủng của vị sáng lập.’

Đức Phanxicô tiếp, ‘Đôi khi, Thiên Chúa ban ơn khôn ngoan cho những người trẻ tuổi không có kinh nghiệm.’ Người trẻ này ‘chỉ cần sẵn lòng theo đường vâng phục và ngoan ngoãn trước Chúa Thánh Thần.’ Nói về đoạn Tin mừng kể việc dâng Chúa Giêsu lên đền thờ, Giáo hoàng nhắc lại rằng ‘hai người cao niên, Simeon và Anna, là đại diện cho sự khôn ngoan’ nhưng cả Mẹ Maria, một người mẹ trẻ, và Simeon, một ‘ông nội’ lớn tuổi, đều bồng ẵm hài nhi trong tay. Chính hài nhi hướng dẫn cho cả hai người.’

Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng, ‘Luật không thể thay thế cho tất cả mọi người, chính là Tin mừng. Hạ mình như Chúa Kitô đã làm. Nhưng bằng sự sáng tạo vô hạn, Thần Khí cũng chuyển dịch luật Tin mừng thành nhiều luật khác nhau cho đời sống thánh hiến. Nhưng tất cả những luật này, đều phát sinh từ cuộc hành trình hạ mình trong phục vụ.’ ‘Chính nhờ luật này mà những người được thánh hiến có thể đạt đến sự khôn ngoan, mà khôn ngoan không phải là một hình thái trừu tượng, nhưng là việc làm và ơn ban của Thần Khí. Và dấu chỉ khả thị của khôn ngoan chính là vui mừng. Niềm vui của một linh mục là hệ quả của con đường tự hạ cùng với Chúa Giêsu: khi buồn bã, thì hãy tự hỏi mình xem chúng ta đang sống khía cạnh tự hạ của đời mình như thế nào.’

 

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Thư ngỏ cho Năm Đời sống Thánh hiến

popefrancis-rel-lifeGiáo hoàng Phanxicô đã phát hành thư ngỏ cho Năm Đời sống Thánh hiến, sẽ bắt đầu khắp Giáo hội Hoàn vũ từ Chúa nhật I mùa vọng, 30 tháng 11. Và năm này sẽ kết thúc vào Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh, ngày 02 tháng 2 năm 2016.

Trong thông điệp này, giáo hoàng nhấn mạnh các mục tiêu của Năm Đời sống Thánh hiến, cụ thể là nhìn về quá khứ với lòng biết ơn, sống hiện tại với nhiệt tâm, và nắm lấy tương lai với hi vọng,

Giáo hoàng cũng bày tỏ các kỳ vọng cho một năm này là muốn những người sống thánh hiến sẽ là chứng tá cho thông hiệp, vui mừng và Tin mừng, đồng thời đi mãi đến những vùng ngoại biên để công bố Tin Mừng.

‘Tôi dựa vào các bạn ‘để thức tỉnh thế giới’, bởi dấu chỉ đặc biệt của đời sống thánh hiến là tính ngôn sứ.  Đây là ưu tiên cần kíp hàng đầu ngay lúc này.’

Ngài cũng thúc giục các dòng tu hãy bảo đảm chống lại thói nói hành nói xấu, ghen tương và nhỏ nhen trong đời sống dòng, hãy sống ‘hiệp lực’ với các ơn gọi khác trong Giáo hội, và ‘từ ranh giới các cơ chế riêng của mình, hãy tiến bước dũng cảm hơn và chung tay làm việc.’

Giáo hoàng nói rằng ngài cũng kỳ vọng những người thánh hiến hãy nhìn lại sự hiện diện của mình trong đời sống Giáo hội và đáp lời với ‘các đòi hỏi mới luôn có cho chúng ta, và đáp lời với tiếng kêu của người nghèo.’

Đây là bản dịch trọn vẹn thông điệp cho Năm Đời sống Thánh hiến:

Thân gửi các anh chị em trong Đời sống Thánh hiến,

Tôi viết cho anh chị em với tư cách Kế vị thánh Phêrô, người mà Chúa đã giao phó trách nhiệm củng cố anh chị em mình trong đức tin (Lc 22,32).  Nhưng tôi cũng viết cho anh chị em như một người anh, cũng được thánh hiến cho Thiên Chúa, như anh chị em vậy.

Chúng ta hãy cùng nhau tạ ơn Chúa Cha, Đấng đã gọi chúng ta theo Chúa Giêsu bằng việc giữ trọn Tin mừng và phục vụ Giáo hội, và đã đổ đầy lòng chúng ta với Thánh Thần, nguồn mạch hân hoan và chứng tá của chúng ta cho tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa trước mặt thế gian.

Đáp lại các thỉnh nguyện từ nhiều người trong anh chị em và từ Thánh Bộ các Dòng tu Đời sống Tận hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ, tôi quyết định công bố Năm Đời sống Tận hiến nhân dịp kỷ niệm 50 năm Hiến chế Tín lý về Giáo hội – Lumen Gentium, dành chương thứ sáu để nói về đời tu, và sắc lệnh Đức ái Trọn lành [Perfectae Caritatis] về việc canh tân đời sống tu trì.  Năm Đời sống Thánh hiến sẽ bắt đầu ngày 30 tháng 11 năm 2014, chúa nhật I mùa Vọng, và kết thúc vào Lễ Chúa Giêsu vào Đền thánh, ngày 02 tháng 2 năm 2016.

Sau khi tham vấn với Thánh Bộ các Dòng tu Đời sống Tận hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ, tôi đã chọn các mục tiêu cho năm nay giống như những gì mà thánh Gioan Phaolô II đã đề xuất cho toàn thể Giáo hội vào năm khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba, và lặp lại, với ý nghĩa nhất định, những gì ngài đã viết trong Tông huấn Hậu Công đồng Đời sống Thánh hiến [Vita Consecrata]: ‘Bạn không chỉ có một lịch sử huy hoàng để tưởng nhớ và dựa vào, nhưng còn một lịch sử hào hùng đang cần đạt đến!  Hãy nhìn về tương lai, nơi Thánh Thần gởi bạn đến để làm những việc còn lớn lao hơn nữa.’ (Số 110)

I. CÁC MỤC TIÊU CỦA NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

1. Mục tiêu đầu tiên là nhìn về quá khứ với lòng biết ơn. Tất cả mọi dòng tu của chúng ta đều kế thừa một lịch sử đầy đặc sủng.  Nơi nguồn cội của các dòng, chúng ta thấy bàn tay Thiên Chúa, trong Thánh Thần, đã kêu gọi những cá nhân nhất định tiến bước theo Chúa Kitô một cách mật thiết hơn, chuyển dịch Tin mừng thành một lối sống cụ thể, đọc thấy các dấu chỉ của thời đại với đôi mắt đức tin và đáp trả cách sáng tạo các nhu cầu của Giáo hội.  Cảm nghiệm ban đầu này chín mùi và phát triển, có thêm nhiều thành viên mới thuộc các bối cảnh văn hóa và địa lý mới, và mở ra nhiều cách thức mới để thực hành đặc sủng, nhiều khởi xướng và thể hiện mới cho đức ái tông đồ.  Như hạt giống nay đã thành cây, mỗi hội dòng lớn lên và vươn dài các nhánh của mình.

Trong năm này, thật phù hợp để mỗi gia đình đặc sủng suy tư về nguồn cội và lịch sử của mình, để tạ ơn Thiên Chúa đã cho Giáo hội vô vàn ơn lành làm đẹp thêm và trang bị Giáo hội cho mọi việc tốt lành. (Lumen Gentium, 12)

Thuật lại lịch sử là điều tiên quyết để gìn giữ đặc tính của mình, để tăng cường sự hiệp nhất như một gia đình và nhận thức chung về sự hệ tại trong dòng.  Đây không chỉ là việc khảo cổ học hay nuôi dưỡng một tâm thức hoài niệm đơn thuần, nhưng là lời kêu gọi theo chân các thế hệ đi trước để nắm bắt các tư tưởng cao đẹp, viễn tượng và các giá trị truyền cảm hứng cho dòng, khởi đầu với đấng sáng lập và cộng đoàn đầu tiên.  Như thế, chúng ta đi đến nhìn ra cách đặc sủng của dòng đã tồn tại qua nhiều năm, sự sáng tạo bùng lên từ dòng, các khó khăn gặp phải và các đường lối cụ thể để thắng vượt khó khăn này.  Chúng ta cũng sẽ gặp những trường hợp mâu thuẫn, hệ quả của sự yếu đuối của con người, và có những lúc còn là sự lãng quên một vài khía cạnh thiết yếu của đặc sủng.  Nhưng tất cả mọi sự chứng minh cho thấy đây là những gì cho chúng ta học hỏi rút kinh nghiệm, và xét toàn thể, là những hành động kêu gọi hoán cải.  Thuật lại câu chuyện của mình là tôn vinh Chúa và tạ ơn Ngài vì tất cả ơn lành Ngài ban.

Đặc biệt, chúng ta tạ ơn Chúa vì 50 năm đã qua sau Công đồng Vatican II.  Công đồng thể hiện ‘luồng hơi’ của Thần Khí trên toàn thể Giáo hội.  Hệ quả là, đời sống thánh hiến đón nhận một hành trình canh tân sinh hoa trái, và với mọi điểm sáng tối của mình, hành trình này là một thời gian ân sủng ghi đậm sự hiện diện của Thần Khí.

Mong sao Năm Đời sống Thánh hiến cũng là một dịp để, với sự tin cậy hết mình vào Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu (1Ga 4, 8), chúng ta khiêm nhượng thú nhận những yếu đuối của mình, và qua đó cảm nghiệm tình yêu thương xót của Thiên Chúa.  Mong sao Năm này cũng là dịp để làm chứng mãnh liệt và hân hoan trước thế giới về sự thánh thiện và sinh khí trong nhiều người được kêu gọi đi theo Chúa Giêsu trong đời sống thánh hiến.

2. Năm này cũng kêu gọi chúng ta sống hiện tại với nhiệt tâm. Tưởng nhớ tri ân quá khứ, trong tinh thần lắng nghe chú ý đến những gì Thần Khí đang mách bảo Giáo hội ngày nay, dẫn dắt chúng ta đến với việc thi hành trọn vẹn hơn nữa các chiều kích căn bản trong đời sống thánh hiến của mình.

Từ lúc mở đầu đời sống đan viện thời cổ, cho đến các ‘cộng đoàn mới’ thời chúng ta, tất cả mọi dạng đời sống thánh hiến đều được nảy sinh từ lời kêu gọi của Thần Khí muốn chúng ta theo Chúa Giêsu như những thầy dạy Tin mừng (Perfectae Caritatis, 2).  Với các đấng sáng lập, Tin mừng là luật tuyệt đối, tất cả mọi luật khác đơn thuần chỉ là một biểu lộ của Tin mừng và là công cụ để sống Tin mừng cho trọn.  Với các vị này, lý tưởng chính là Chúa Kitô, họ tìm cách hiệp nhất nội tâm với Ngài, và do đó có thể chung lời với thánh Phaolô mà rằng: ‘Với tôi, sống là Chúa Kitô’ (Phi 1, 21).  Các lời khấn là một biểu lộ cụ thể cho tình yêu nhiệt tâm này.

Câu hỏi mà chúng ta phải đặt ra cho mình trong Năm này là liệu có phải và làm thế nào để chúng ta cũng mở lòng đón nhận thách thức của Tin mừng, liệu Tin mừng có thực sự là ‘sổ tay hướng dẫn’ cho đời sống hằng ngày và cho các quyết định chúng ta phải thực hiện hay không.  Tin mừng đòi hỏi nhiều, phải sống Tin mừng một cách triệt để và chân thành.  Đọc Tin mừng thôi thì không đủ (dù việc đọc và nghiên cứu Kinh thánh là điều thiết yếu), và suy niệm Tin mừng (một việc chúng ta vui vẻ làm mỗi ngày) thôi cũng không đủ.  Chúa Giêsu muốn chúng ta thực hành Tin mừng, đem lời Ngài vào cuộc sống.

Một lần nữa, chúng ta phải tự hỏi mình: Liệu Chúa Giêsu thực sự là tình yêu đầu tiên và duy nhất của chúng ta, như những gì chúng ta thề hứa trong lời khấn dòng hay không?  Chỉ khi thực nhận Ngài như thế, chúng ta mới đủ sức yêu thương, với sự thật và tình thương, tất cả mọi người trong đời chúng ta.  Chúng ta sẽ học được từ Chúa Giêsu ý nghĩa và thực hành của tình yêu.  Chúng ta sẽ có thể yêu thương bởi mang trong lòng trái tim của Ngài.

Các đấng sáng lập của chúng ta đã đồng chia sẻ lòng thương của Chúa Giêsu khi Ngài thấy đám đông bơ vơ như đàn chiên không người chăm sóc.  Như Chúa Giêsu, Đấng với lòng thương, đã nói những lời đầy ân sủng, chữa lành người bệnh, ban bánh cho cho người đói, và hi sinh trao ban cả mạng sống mình, thì các đấng sáng lập của chúng ta cũng tìm thấy nhiều cách thức khác để phục vụ tất cả những người mà Thánh Thần đã gởi đến cho họ. Họ đã làm thế bằng các lời chuyển cầu, bằng việc giảng dạy Tin mừng, bằng các việc dạy giáo lý, giáo dục, phục vụ người nghèo và người yếu đuối … Sự sáng tạo của đức mến là vô tận, có thể tìm thấy vô số cách thức mới để đem sự mới mẻ của Tin mừng đến mọi nền văn hóa và mọi ngóc ngách xã hội.

Năm Đời sống Thánh hiến thách thức chúng ta xem lại lòng trung thành với sứ mạng đã được trao phó cho chúng ta.  Liệu các mục vụ, công việc và sự hiện diện của chúng ta có hòa hợp với những gì Thần Khí đã khơi lên trong các đấng sáng lập của chúng ta hay không?  Liệu các mục vụ và việc làm đó, có phù hợp với xã hội và Giáo hội thời nay hay không?  Liệu chúng ta có cùng nhiệt tâm cho dân mình, liệu chúng ta có gần gũi với dân đến độ chia sẻ niềm vui nỗi buồn với họ, để từ đó thực sự hiểu được nhu cầu của họ và giúp họ đáp trả những nhu cầu đó hay không?  Thánh Gioan Phaolô II từng nói rằng, ‘Lòng quãng đại và tự hiến đã từng hướng dẫn các đấng sáng lập của các bạn, bây giờ cũng phải thổi bừng các bạn, là con cái thiêng liêng của các ngài, để giữ các đặc sủng, vốn nhờ chính quyền năng của Thần Khí đã thức tỉnh các ngài, được sống động, luôn phong phú và phù hợp nhưng không đánh mất bất kỳ đặc tính độc nhất vô nhị nào trong đó.  Mọi chuyện hệ tại nơi các bạn, để đưa những đặc sủng này phục vụ Giáo hội và hành động cho Vương Quốc của Chúa Kitô đang đến trong viên mãn.’ [1]

Nhớ lại các nguồn cội của chúng ta còn soi sáng một khía cạnh khác trong đời sống thánh hiến.  Các đấng sáng lập của chúng ta đã được lôi cuốn bởi sự hiệp nhất của các Tông đồ với Chúa Kitô, và tình huynh đệ đặc nét của cộng đoàn tiên khởi ở Jerusalem  Khi thiết lập cộng đoàn của mình, mỗi một đấng sáng lập đã tìm cách lặp lại những hình mẫu sống tin mừng này, để được nên một lòng một trí, và hân hoan trong sự hiện diện của Thiên Chúa (Perfectae Caritatis, 15)

Sống hiện tại với nhiệt tâm nghĩa là trở nên ‘các chuyên gia thông hiệp,’ chứng tá và kiến trúc sư cho ‘kế hoạch hiệp nhất’ là chóp đỉnh của lịch sử nhân loại theo dự định của Thiên Chúa.’ [2] Trong một xã hội phân cực, nơi các nền văn hóa thấy thật khó để sống cạnh nhau, nơi người vô lực bị đàn áp, nơi sự bất bình đẳng nhan nhản, chúng ta được kêu gọi đem lại một hình mẫu cụ thể của sự thông hiệp, bằng việc nhận thức phẩm giá của mỗi người và chia sẻ các ơn ích riêng của mình, làm sao để có thể sống với nhau như anh chị em.

Vậy nên, hãy là những con người của thông hiệp!  Hãy có dũng cảm để đứng lên giữa những xung đột và căng thẳng, như một dấu chỉ khả tín cho sự hiện diện của Thần Khí đang thổi bừng tâm hồn con người ngọn lửa nhiệt tâm muốn tất cả nên một (Ga 17, 21).  Sống thần nghiệm của sự gặp gỡ, kéo theo ‘khả năng nghe thấy, và lắng nghe người khác, khả năng cùng nhau tìm kiếm các đường lối và khí cụ.’ [3] Hãy sống theo ánh sáng của liên kết yêu thương giữa Ba Ngôi Chí thánh (1Ga 4, 8), hình mẫu của mọi liên hệ giữa người với người.

3. Nắm lấy tương lai với hi vọng, phải là mục tiêu thứ ba của Năm này. Chúng ta đều biết các khó khăn mà nhiều dạng đời sống thánh hiến đang phải trải qua: sự sụt giảm ơn gọi, và lão hóa thành viên, đặc biệt ở thế giới phương Tây; các vấn đề kinh tế nổi lên từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu; các vấn đề quốc tế hóa và toàn cầu hóa; các đe dọa từ chủ nghĩa tương đối và tâm thức cô lập cũng như sự vô lý trong xã hội … Nhưng chính giữa những bất định mà chúng ta cùng chia sẻ với những người đương thời này, chúng ta được kêu gọi thực hành đức cậy, là hoa trái từ đức tin vào Thiên Chúa của lịch sử, Đấng luôn bảo chúng ta rằng: ‘Đừng sợ … bởi Ta ở cùng con’ (Gr 1, 8).

Hi vọng này không dựa trên các thống kê hay thành tựu, nhưng là dựa vào Đấng mà chúng ta tín thác (2Tm 1, 2), Đấng, mà với Ngài, ‘không gì là không thể.’  Đây là hi vọng không nản lòng, hi vọng cho đời sống thánh hiến viết tiếp lịch sử hào hùng của mình lên tương lai.  Chúng ta phải luôn nhìn về tương lai, ý thức rằng Thần Khí thúc đẩy chúng ta, để Ngài có thể cùng chúng ta thực hiện những kỳ công.

Vậy nên đừng chìu theo cám dỗ nhìn nhận mọi việc theo con số và hiệu lực, và tệ hơn nữa là chỉ tin vào sức mình.  Khi xem xét đời sống mình và thời khắc hiện tại, hãy cảnh giác đề phòng.  Cùng với Đức Benedicto XVI, tôi thúc giục các bạn đừng ‘gia nhập bè lũ các ngôn sứ diệt vong, những người rêu rao sự diệt vong hay vô nghĩa của đời sống thánh hiến trong Giáo hội ngày nay, nhưng hãy vận lấy Chúa Giêsu Kitô và mang lấy khiên giáp ánh sáng – như lời thánh Phaolô (Rm 13, 11-14) – giữ mình tỉnh thức và cảnh giác.’ [4] Chúng ta hãy luôn luôn tái khởi hành, với lòng tín thác vào Thiên Chúa.

Tôi đặc biệt muốn nói một lời với các tu sỹ trẻ.  Các bạn là hiện tại, bởi các bạn đã dự phần sống động vào đời sống Dòng của mình, đem lại mọi tươi mới và quảng đại của lời thưa ‘vâng.’  Và các bạn cũng là tương lai, bởi các bạn sẽ sớm được mời gọi giữ lấy các vai trò lãnh đạo trong đời sống, đào tạo, phục vụ và sứ mạng của Dòng mình.  Năm này phải thấy được các bạn tích cực đối thoại với các thế hệ đi trước.  Trong sự thông hiệp huynh đệ, các bạn sẽ được thêm phong phú nhờ kinh nghiệm và khôn ngoan của những người đi trước, đồng thời các bạn cũng thêm cảm hứng cho họ, bằng sinh lực và nhiệt tình của mình, để tái hồi lý tưởng ban đầu của họ.  Như thế toàn thể cộng đoàn có thể chung tay tìm kiếm các cách thức mới để sống Tin mừng và đáp lời hiệu quả hơn với nhu cầu làm chứng và tuyên xưng.

Tôi cũng thật hạnh phúc khi biết trong Năm này, các bạn sẽ có dịp để gặp gỡ các thành viên trẻ tuổi của các Dòng khác.  Mong sao các cuộc gặp này sẽ là một công cụ thường xuyên để thúc đẩy thông hiệp, hỗ trợ lẫn nhau và hiệp nhất.

II. CÁC KỲ VỌNG CHO NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

Tôi kỳ vọng cụ thể điều gì cho Năm ân sủng của đời sống thánh hiến này,

1. Những câu nói xưa sẽ luôn luôn đúng: ‘Nơi nào có người đi tu, nơi đó có niềm vui.’ Chúng ta được kêu gọi nhận thức và thể hiện rằng Thiên Chúa có thể đổ tràn đầy hạnh phúc cho tâm hồn chúng ta đến độ chúng ta không cần tìm hạnh phúc ở đâu khác nữa nữa, rằng tình huynh đệ chân thật trong cộng đoàn sẽ càng cho chúng ta vui mừng hơn nữa, và rằng sự xả thân trọn vẹn trong việc phục vụ Giáo hội, gia đình và người trẻ, người già và người nghèo, sẽ đem lại cho chúng ta một sự thành toàn riêng lâu dài.

Không một ai trong chúng ta nên sống khó chịu, bất bình và bất mãn, bởi ‘một môn đệ u ám là một môn đệ của sầu thảm.’  Như mọi người khác, chúng ta cũng có các vấn đề, các đêm tối của tâm hồn, các thất vọng và yếu đuối, cảm nhận được mình đang chậm dần khi già đi.  Nhưng trong mọi sự đó, chúng ta phải có khả năng khám phá ‘niềm vui trọn hảo.’  Bởi chính ở đây, chúng ta học biết nhận ra dung nhan Chúa Kitô, Đấng đã trở nên giống chúng ta trong mọi sự, và được vui mừng khi biết rằng chúng ta đang nên giống Ngài, Đấng vì yêu thương chúng ta đã không khước từ đau khổ thập giá.

Trong một xã hội đề cao sự tôn sùng hiệu quả, sung sức và thành công, một xã hội loại trừ người nghèo và loại bỏ ‘kẻ thất bại’, chúng ta có thể dùng đời sống của mình mà làm chứng cho những lời Kinh thánh: ‘Khi tôi yếu, là lúc tôi mạnh’ (2Cr 12, 10).

Chúng ta có thể áp dụng cho đời sống thánh hiến, những lời của Đức Benedicto XVI mà tôi đã trích trong Tông huấn Niềm vui của Tin mừng [Evangelii Gaudium]: ‘Giáo hội không lớn mạnh bằng việc chiêu mộ, nhưng bằng sức lôi cuốn’ (Số 14).  Đời sống Thánh hiến sẽ không phát triển lớn mạnh nhờ một chương trình ơn gọi khôn khéo, nhưng là nhờ những người trẻ thấy chúng ta có sức hút, bởi họ thấy chúng ta là những người hạnh phúc!  Gần giống như thế, các tác động tông đồ của đời sống thánh hiến không dựa vào hiệu quả của các phương pháp.  Nhưng là dựa vào sự hùng hồn trong đời sống chúng ta, những đời sống chiếu tỏa niềm vui và vẻ đẹp của việc sống Tin mừng và theo Chúa Kitô cho trọn.

Như tôi đã nói với các thành viên của các phong trào giáo hội trong đêm vọng Lễ Hiện Xuống năm ngoái: ‘Xét tận căn bản, sức mạnh của Giáo hội là việc sống Tin mừng và làm chứng cho đức tin của chúng ta. Giáo hội là muối cho địa cầu, là ánh sáng cho thế giới. Giáo hội được kêu gọi làm men muối cho Nước Thiên Chúa ở trong xã hội này, và Giáo hội làm việc này trước và trên hết bằng chứng tá, một chứng tá của tình yêu thương huynh đệ, đoàn kết và chia sẻ với người khác.’ (18 tháng 5 năm 2013).

2. Tôi dựa vào các bạn ‘để thức tỉnh thế giới’, bởi dấu chỉ đặc biệt của đời sống thánh hiến là tính ngôn sứ.  Như tôi đã nói với các Bề trên Tổng quyền rằng: ‘Đời sống phúc âm hóa triệt để không phải chỉ dành cho các tu sỹ, nhưng là đòi hỏi với tất cả mọi người.  Nhưng các tu sỹ theo Chúa cách đặc biệt, mang tính ngôn sứ.’  Đây là ưu tiên cần kíp hàng đầu ngay lúc này: ‘là những ngôn sứ làm chứng về cách Chúa Giêsu đã sống trên mặt đất này … một tu sỹ không bao giờ được bỏ rơi tính ngôn sứ’ (29 tháng 11 2013).

Các ngôn sứ nhận từ Thiên Chúa năng lực xem xét thời đại mình đang sống, và diễn giải các sự kiện: họ như những lính gác canh phòng ban đêm và nhận thấy bình minh đang đến (Is 21, 11-12).  Các ngôn sứ nhận biết Chúa và biết anh chị em mình.  Họ có thể nhận thức và lên án sự dữ của tội lỗi và bất công.  Bởi họ tự do, họ không chịu ơn ai ngoài Thiên Chúa, và không có lợi ích nào ngoài Thiên Chúa.  Các ngôn sứ có khuynh hướng đứng về phía người nghèo và người vô lực, bởi họ biết rằng chính Chúa cũng làm thế.

Vậy nên tôi trông mong rằng, thay vì sống ảo tưởng không tưởng, các bạn sẽ tìm ra những cách thức mới để tạo dựng ‘những không gian thay thế’, nơi cách tiếp cận tự hiến, huynh đệ, bao quát các khác biệt, và yêu thương lẫn nhau, của Tin mừng có thể nảy nở.  Các tu viện, cộng đoàn, trung tâm linh đạo, trường học, bệnh viện, mái ấm tình thương, tất cả những nơi này là nơi đức ái và sáng tạo từ đặc sủng của các bạn, nảy sinh và tiếp diễn không ngừng.  Những sự này phải ngày càng nên men muối cho một dòng tu được hứng khởi bởi Tin mừng, một ‘thành phố trên đồi’, làm chứng cho sự thật và quyền năng trong những lời của Chúa Giêsu.

Có những lúc, như Elijah và Jonah, các bạn thấy cám dỗ muốn chạy trốn, vứt bỏ bổn phận ngôn sứ bởi nó quá nhiều đòi hỏi, nhọc công hay có vẻ vô ích.  Nhưng các ngôn sứ biết họ không bao giờ cô độc.  Như đã làm cho Jeremiah, Thiên Chúa cũng sẽ nâng đỡ chúng ta: ”Đừng sợ chúng … bởi Ta ở cùng con để giải thoát con’ (Jer 1, 8)

3. Các nam nữ tu sỹ, như tất cả mọi người sống thánh hiến khác được kêu gọi trở thành ‘các chuyên gia thông hiệp’. Vậy nên tôi hi vọng rằng ‘linh đạo thông hiệp’ đã được thánh Gioan Phaolô II nhấn mạnh, sẽ trở nên thực hành và các bạn sẽ xung phong đáp lời với ‘thách thức lớn đang đối mặt với chúng ta’ trong thiên niên kỷ mới này, là: ‘làm cho Giáo hội thành nhà và trường học của thông hiệp.’ [5] Tôi chắc rằng trong Năm này, các bạn sẽ nỗ lực hết sức để làm cho lý tưởng thân ái mà các đấng sáng lập của các bạn đã theo đuổi, được lan khắp mọi nơi, như những vòng tròn đồng tâm.

Trên và trước hết, phải sống thông hiệp trong cộng đoàn của từng hội dòng.  Vì mục tiêu này, tôi muốn các bạn hãy nghĩ đến những lời tôi thường nói về thói chỉ trích, nói xấu, ghen tỵ, đố kỵ, thù địch, nhưng lối hành xử không được có trong nhà chúng ta.  Con đường đức ái mở ra trước mắt chúng ta thật vô tận, bởi nó đòi hỏi việc chấp nhận và quan tâm lẫn nhau, thực hành chia sẻ với nhau các của cải vật chất lẫn thiêng liêng, sửa đổi nhau trong tình huynh đệ, và tôn trọng những người yếu … đây chính là ‘bí nhiệm của việc chung sống’ làm cho đời sống chúng ta trở nên một ‘hành trình thiêng liêng’. [6] Chúng ta cần phải tự hỏi mình xem thử chúng ta liên hệ như thế nào với những người khác biệt về văn hóa, khi cộng đoàn chúng ta mở rộng đến tầm quốc tế.  Làm sao để chúng ta có thể cho mỗi thành viên được tự do nói lên những gì mình suy nghĩ, được đón nhận với ơn riêng của mình, và được đồng trách nhiệm một cách trọn vẹn?

Tôi cũng hi vọng một sự thông hiệp ngày một hơn giữa thành viên của các Hội dòng khác nhau.  Mong sao Năm nay là một dịp cho chúng ta dũng cảm hơn mà bước ra khỏi ranh giới của Dòng mình và chung tay làm việc, ở địa phương và cả toàn cầu, về các dự án đào tạo, phúc âm hóa và hành động xã hội?  Điều này sẽ cho chúng ta một chứng tá ngôn sứ hiệu quả hơn nữa.  Hiệp nhất và gặp gỡ giữa các đặc sủng và ơn gọi khác nhau có thể mở ra một con đường hi vọng.  Không một ai xây dựng tương lai một mình, bằng nỗ lực của riêng mình mà thôi, nhưng phải thấy mình là một phần của một cộng đoàn đích thực không ngừng mở rộng gặp gỡ, đối thoại, chú tâm lắng nghe và nâng đỡ lẫn nhau.  Một cộng đoàn như thế sẽ cho chúng ta miễn nhiễm với căn bệnh quy kỷ.

Những người được thánh hiến cũng được mời gọi hiệp lực thực sự với mọi ơn gọi khác trong Giáo hội, mở đầu với các linh mục và giáo dân, để ‘lan truyền linh đạo thông hiệp, trước hết là trong đời sống nội bộ dòng, rồi đến cộng đoàn giáo hội, và thậm chí là vươn xa hơn nữa.’ [7]

4. Tôi cũng kỳ vọng nơi các bạn những gì tôi mong muốn có nơi mọi thành viên Giáo hội, là hãy ra khỏi bản thân và hướng đến các vùng ngoại biên hiện sinh. ‘Hãy đi đến tận cùng thế giới,’ đây là những lời cuối cùng mà Chúa Giêsu nói với các môn đệ, và Ngài vẫn tiếp tục nói với chúng ta như vậy (Mc 16, 15).  Cả thế giới đang chờ chúng ta: những người đã mất hết hi vọng, các gia đình đang gặp khó khăn, các trẻ em bị bỏ rơi, những người trẻ không có tương lai, người già và người bệnh bị bỏ mặc, những người giàu có của cải thế gian nhưng lại nghèo đói trong tâm hồn, những người đang tìm mục đích sống, đói khát đường thiêng liêng …

Đừng khóa kín trong bản thân, đừng để bị bóp nghẹt bởi những cãi vã nhỏ nhen, đừng để bị giam hãm trong các vấn đề riêng của mình.  Các vấn đề này sẽ được giải quyết nếu bạn đi ra và giúp người khác giải quyết các vấn đề của họ, và công bố Tin mừng.  Bạn sẽ tìm thấy sự sống khi trao ban sự sống, tìm thấy hi vọng khi trao ban hi vọng, và tìm được tình yêu bằng trao ban tình yêu.

Tôi cũng muốn các bạn làm việc thiết thực bằng cách chào đón các nạn dân, gần lại với người nghèo, và luôn tìm những cách sáng tạo để dạy giáo lý, công bố Tin mừng và dạy người khác cầu nguyện.  Từ đó, tôi hi vọng rằng các cơ cấu có thể được sắp xếp hợp lý hóa, các nhà dòng lớn tái định hướng làm việc sao cho đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi hiện thời của công cuộc phúc âm hóa và nhân đạo, cũng như điều chỉnh việc tông đồ hướng đến những nhu cầu mới.

5. Tôi kỳ vọng mỗi một dạng đời sống thánh hiến sẽ tự đặt chất vấn rằng Thiên Chúa và mọi người ngày nay đang muốn gì ở họ.

Các đan viện và các nhóm chủ yếu sống đời chiêm niệm có thể gặp gỡ hoặc trao đổi kinh nghiệm về đời sống cầu nguyện, về các cách thức đào sâu sự thông hiệp với toàn thể Giáo hội, về việc nâng đỡ các Kitô hữu bị bách hại, và chào đón cũng như giúp đỡ những người đang tìm kiếm một đời sống thiêng liêng sâu sắc hơn hay đang cần đến các hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần.

Các Hội dòng tận hiến cho việc bác ái, rao giảng và thăng tiến văn hóa, giảng dạy Tin mừng hay thực hiện các thừa tác mục vụ đặc thù cũng vậy.  Cũng như thế với các Hội dòng Ba, với các thành viên ở mọi tầng lớp xã hội.  Sự sáng tạo của Thần Khí đã cho nảy sinh nhiều đường lối sống và hoạt động quá sức đa dạng, nên không dễ gì phân loại hay gò bó vào các kiểu mẫu có sẵn.  Vậy nên tôi không thể chỉ ra đủ từng dạng đặc sủng.  Nhưng, trong Năm này, không một ai có thể thấy mình không cần phải nghiêm túc xem xét sự hiện diện của mình trong đời sống Giáo hội, và đáp lời với những đòi hỏi mới không ngừng đặt ra trước mắt chúng ta, và với tiếng kêu của người nghèo.

Chỉ khi nhận thức được các nhu cầu của thế giới, và vâng thuận theo lực đẩy của Thần Khí, thì Năm Đời sống Thánh hiến này mới trở nên một kairos đích thực, một thời gian tràn đầy ân sủng Chúa, một thời gian biến đổi.

III.      CÁC PHẠM VI NHẬN THỨC CỦA NĂM ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

1. Trong thư này, tôi mong muốn, không chỉ nói với những người sống đời thánh hiến, nhưng còn với các giáo dân, những người chia sẻ cùng lý tưởng, tinh thần và sứ mạng. Một vài Hội dòng Ba có truyền thống rất lâu đời, một số khác thì mới mẻ hơn.  Thật sự là, quanh mọi gia đình dòng tu, mọi Hiệp hội Đời sống Tông đồ và mọi Hội dòng Ba, là một gia đình lớn hơn nữa, một ‘gia đình đặc sủng,’ bao gồm các Hội dòng có cùng chung đặc sủng, và đặc biệt là các giáo dân thấy mình được kêu gọi, đặc biệt là những giáo dân cùng chia sẻ một thực hành đặc sủng chung.

Các giáo dân thân mến, tôi thúc giục các bạn, hãy sống Năm Đời sống Thánh hiến này như một ân sủng có thể cho bạn nhận thức rõ hơn về ơn mình đã được nhận.  Hãy mừng ơn này với toàn thể ‘gia đình’, để bạn có thể lớn lên và cùng nhau đáp lời với những thúc giục của Thần Khí trong xã hội ngày nay.  Nhân những dịp có các nam nữ tu sỹ từ các Hội dòng khác nhau quy tụ, hãy sắp xếp để cùng hiện diện nhằm thể hiện cho mọi người thấy một ơn của Chúa.  Như thế, bạn sẽ dần biết được cảm nghiệm của các gia đình đặc sủng khác và các nhóm giáo dân khác, từ đó có cơ hội để phong phú hóa và nâng đỡ lẫn nhau.

2. Năm Đời sống Thánh hiến không chỉ hướng về những người sống đời thánh hiến, nhưng là về toàn thể Giáo hội. Do đó, tôi thỉnh cầu toàn bộ Kitô hữu hãy ngày càng nhận thức rõ ơn ích trong nhiều nam nữ tu sỹ, dòng dõi của các thánh đã viết lên lịch sử Kitô giáo.  Giáo hội sẽ như thế nào nếu không có thánh Benedicto và thánh Basil, không có thánh Augustino và thánh Bernard, không có thánh Phanxicô và thánh Đôminicô, thánh Inhaxiô thành Loyola và thánh Teresa thành Avila, thánh Angelica Merici và thánh Vincent de Paul.  Danh sách này còn dài dài nữa, với thánh Gioan Bosco và chân phước Teresa thành Calcutta.  Chân phước Phaolô VI đã chỉ ra rằng: ‘Không có dấu chỉ thiết thực này, sẽ có nguy cơ đức ái sinh khí của toàn thể Giáo hội sẽ bị nguội lạnh, nghịch lý cứu rỗi của Tin mừng sẽ cùn mòn, và ‘muối’ đức tin sẽ mất đi mùi vị trong một thế giới đang thế tục hóa’ (Evangelica Testificatio, 3).

Vậy nên, tôi mời gọi mọi cộng đoàn Kitô hữu hãy cảm nghiệm Năm này, trên hết như một thời khắc tạ ơn Thiên Chúa và tưởng nhớ tri ân mọi ơn ích chúng ta không ngừng nhận lãnh, nhờ sự thánh thiện của các đấng sáng lập, và tự sự trung thành của rất nhiều nam nữ tu sỹ với đặc sủng của mình.  Tôi thỉnh cầu tất cả anh chị em, hãy gần lại với những người này, chung niềm hân hoan với họ, chia sẽ các khó khăn và giúp đỡ họ hết sức có thể, trong mục vụ và công việc của họ, cũng là công việc của toàn thể Giáo hội.  Hãy để họ cảm được tình yêu mến và nồng hậu mà toàn thể Kitô hữu dành cho họ.

3. Trong thư này, tôi không chút ngập ngừng khi muốn nói một lời với những người sống đời thánh hiến và với thành viên các cộng đoàn và huynh đệ hội, thuộc các Giáo hội với truyền thống ngoài Công giáo. Đời sống tu viện là một phần di sản của Giáo hội nguyên vẹn, và vẫn vô cùng sống động trong các Giáo hội Chính thống và Giáo hội Công giáo.  Truyền thống tu viện, và các cảm nghiệm khác về sau từ thời Giáo hội ở phương Tây vẫn còn hiệp nhất, đã khơi gọi các khởi xướng tương tự trong các Cộng đoàn Giáo hội thuộc truyền thống cải cách.  Những điều này đã không ngừng khai sinh các biểu lộ xa hơn của cộng đoàn và việc phục vụ huynh đệ thân ái.

Thánh Bộ các Dòng tu Đời sống Tận hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ đã dự định một số khởi xướng để thuận tiện hóa việc gặp gỡ giữa thành viên của các biểu hiện khác nhau trong đời sống thánh hiến và huynh đệ ở nhiều Giáo hội khác nhau.  Tôi hết sức khuyến khích các cuộc gặp như thế, những khí cụ tăng cường thông hiểu, tôn trọng và hợp tác với nhau, để cho tinh thần đại kết của đời sống thánh hiến có thể giúp sức vào hành trình lớn hơn hướng đến sự hiệp nhất của toàn thể mọi Giáo hội.

4. Chúng ta cũng không thể quên rằng hiện tượng của đời sống tu viện và các biểu hiện khác của cộng đoàn huynh đệ tu trì, cũng có trong mọi tôn giáo lớn. Có nhiều ví dụ về các đối thoại liên tu viện lâu đời, giữa Giáo hội Công giáo và một số truyền thống tôn giáo lớn nhất định.  Tôi tin tưởng rằng Năm Đời sống Thánh hiến này sẽ là một dịp để xem lại tiến trình này, để làm cho những người sống thánh hiến nhận thức về đối thoại này, và cân nhắc các bước tiến xa hơn nữa để thông hiểu nhau và hợp tác hơn nữa trong nhiều lĩnh vực chung phục vụ đời sống nhân loại.

Đồng hành với nhau, luôn đem lại sự phong phú hóa, và có thể mở ra những lối đi mới cho quan hệ giữa con người và giữa các nền văn hóa, một việc dường như quá khó thời nay.

5. Cuối cùng, tôi muốn nhắn nhủ đặc biệt đến các anh em giám mục.  Mong sao Năm này sẽ là dịp để, sẵn sàng và hân hoan, xem các Hội dòng đời sống thánh hiến là một nguồn vốn thiêng liêng để đóng góp cho lợi ích của toàn thân thể Chúa Kitô (Lumen Gentium, 43), chứ không chỉ là cho riêng các dòng mà thôi.  ‘Đời sống Thánh hiến là một ơn cho Giáo hội, sinh ra và lớn lên trong Giáo hội, cũng như quy hướng hoàn toàn về Giáo hội.’ [8] Vì lẽ này, là một ơn chính xác dành cho Giáo hội, đời sống thánh hiến không phải là một thực thể biệt lập hay giới hạn, nhưng là một phần sâu sắc trong Giáo hội.  Đời sống thánh hiến ở trong lòng Giáo hội, một yếu tố quyết định trong sứ mạng của Giáo hội, cũng như biểu lộ bản chất thâm sâu nhất của ơn gọi Kitô hữu, và khao kháo của Giáo hội như Tân nương mong được hợp nhất với Tân lang độc nhất của mình.  Do đó, ‘đời sống thánh hiến … hoàn toàn thuộc về đời sống và sự thánh thiện’ của Giáo hội (Lumen Gentium, 44).

Dưới cái nhìn như thế, tôi thỉnh cầu các cha, những Mục tử của Giáo hội địa phương, hãy có bận tâm đặc biệt nhắm thăng tiến các đặc sủng khác nhau, dù là mới có hay lâu đời, trong cộng đoàn mình.  Tôi muốn các cha làm việc này bằng sự nâng đỡ và khích lệ, hỗ trợ về mặt nhận thức, và sự gần gũi ân cần yêu thương với tình thế đau khổ và yếu đuối mà những người sống đời thánh hiến có thể gặp phải.  Trên hết, hãy làm điều này bằng cách chỉ dạy Dân Chúa với giá trị đời sống thánh hiến, để vẻ đẹp và sự thánh thiện của đời sống này chiếu tỏa mạnh mẽ trong Giáo hội.

Tôi ký thác Năm Đời sống Thánh hiến vào tay Đức Mẹ, Đức Trinh nữ lắng nghe và suy ngẫm, môn đệ đầu tiên của Con yêu dấu của mình.  Hãy hướng về Mẹ, con yêu dấu vô cùng của Chúa Cha, được phú ban mọi ơn ích, là hình mẫu trỗi vượt cho tất cả những ai theo Chúa Kitô trong tình yêu mến Thiên Chúa và phục vụ người thân cận.

Cuối cùng, tôi chung lòng với các bạn tri ân các ơn ích và soi sáng mà Thiên Chúa sẽ rộng lượng đổ đầy trên chúng ta, và tôi sẽ đồng hành với các bạn cùng Phép lành Tông đồ của mình.

Vatican, 21 tháng 11 năm 2014, Lễ Đức Mẹ dâng mình trong đền thánh.

[1] Tông thư gởi các Hội dòng ở châu Mỹ La tinh nhân dịp 500 năm phúc âm hóa Tân thế giới, Los caminos del Evangelio (29 tháng 6 năm 1990), 26.

[2] CÁC CỘNG ĐOÀN TU TRÌ THIÊNG LIÊNG VÀ CÁC HỘI DÒNG BA, Thăng tiến tu trì và nhân bản (12 tháng 8 năm 1980), 24: L’Osservatore Romano, đăng ngày 12 tháng 11 năm 1980, pp. i-viii.

[3] Bài nói chuyện với các hiệu trưởng và sinh viên của các Học viện và Trụ sở Giáo hoàng ở Roma (02 tháng 5 năm 2014).

[4] GIÁO HOÀNG BENEDICTO XVI, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh (02 tháng 2 năm 2013).

[5] Tông thư Khởi đầu Ngàn năm mới [Novo Millennio Ineunte] (6 tháng 1 năm 2001), 43.

[6] Tông huấn Niềm vui của Tin mừng [Evangelii Gaudium] (24 tháng 11 năm 2013), 87

[7] GIOAN PHAOLÔ II, Tông huấn Hậu Công đồng Đời sống Thánh hiến [Vita Consecrata] (25 tháng 3 năm 1996), 51.

[8] GIÁM MỤC J.M. BERGOLIO, Nói trong Hội nghị về Đời sống Thánh hiến và Sứ mạng của Đời sống Thánh hiến trong Giáo hội và trong Thế giới, Tổng Công hội XVI, 13 tháng 10 năm 1994.

Đức Phanxicô: Cách mạng ở Vatican

Đức Phanxicô: Cách mạng ở Vatican

jeuneafrique.com Christophe Le Bec, 26-1-2015

Đức Phanxicô đã khơi lên trong Giáo hội Công giáo một làn sóng cải cách mà tầm rộng lớn của nó đã làm người ta nghĩ đến việc cải tổ (perestroka) của Mikhạl Gorbatchev hay New Deal của Tổng thống Mỹ Roosevelt. Đó là quan điểm của Marco Politi, tác giả quyển sách bán chạy về chủ đề này.

Francois
Bìa sách Phanxicô giữa đàn sói, Marco Politi, dịch qua tiếng Pháp bởi Samuel Sfez, nhà xuất bản Philippe Rey.

Phỏng vấn

Người giải mã các vấn đề thời sự của Giáo hội Công giáo từ gần 40 năm nay, ký giả người Ý Marco Politi đã sống qua năm đời giáo hoàng, từ Giáo hoàng Phaolô VI đến Đức Phanxicô. Ông là ký giả của tờ La Repubblica ở Vatican, sau đó, năm 2009 ông đồng sáng lập nhật báo Il Fatto Quotidiano, ông vừa xuất bản quyển ‘Phanxicô giữa đàn sói’ phân tích làn gió mới thổi đến Vatican và các chống đối mà giáo hoàng được bầu lên vào tháng 3 năm 2013 gặp khi ngài muốn đưa cuộc cải cách của mình đến nơi đến chốn.

Tuổi trẻ Phi châu: Ông có ngạc nhiên khi Đức Bergoglio người Argentina được bầu chọn không?

Marco Politi: Đầu năm 2013, Giáo hội đã lâm vào đường cùng khi một loạt khủng hoảng xảy ra liên tục lặp đi lặp lại và chịu nhiều căng thẳng ở tất cả mọi góc cạnh: với thế giới Hồi giáo, với người Do thái, với những người bảo thủ chính thống, với những người tiến bộ và ngay cả với những nhà khoa học. Rất nhiều giám mục cảm thấy Giáo hội không còn ai cai quản và họ muốn thay đổi. Cũng như tất cả mọi người, tôi ngạc nhiên khi mật viện bầu Đức Jorge Bergoglio, dù trong lần mật viện năm 2005 ngài cũng đã có một số phiếu – lần đó thì Đức Joseph Ratzinger được bầu vào ngai thánh Phêrô. Tuy nhiên khi đó tôi tin chắc khuynh hướng cải cách đang lên như diều và tôi không nghĩ mật viện sẽ bầu hồng y Angelo Scola, Tổng giám mục địa phận Milan và là người thân cận của Đức Bênêđictô XVI.

Điều không chối cãi là Đức Phanxicô không muốn mình là một «giáo hoàng cứng đơ như bức tượng» không ai tới gần được, nhưng ngài muốn ngài là một mục tử, một người nói với nam nữ tín hữu thời của mình, và chấp nhận con người thật của họ chứ không phải con người mà Giáo hội mong muốn họ phải là. Ngài cũng muốn thay đổi một cách sâu xa cách quản trị thể chế. Đức Phanxicô gắn chặt với tinh thần công đồng của Công đồng Vatican II (1962-1965) và không bao giờ thật sự đi vào lề thói tập quán. Ngài thành lập nhóm C8, một nhóm các Tổng giám mục ở khắp các châu lục, trong số đó có hồng y Laurent Monsengwo đại diện Phi châu.

Trong nhóm làm việc này, không phải chỉ toàn bạn của ngài, Đức Phanxicô muốn tất cả mọi khuynh hướng đều có ở trong nhóm. Ngài cũng đặt một tầm quan trọng cho Thượng Hội đồng, để ngài có thể tham khảo các đại diện của Giáo hội và các phong trào của Giáo hội Công giáo ở trên khắp thế giới. Và ngài muốn Giáo triều phục vụ tất cả các tổ chức này chứ không phải như một tham mưu trưởng của đạo Công giáo. Đức Phanxicô đã khơi lên trong Giáo hội Công giáo một làn sóng cải cách mà tầm rộng lớn của nó đã làm người ta nghĩ đến việc cải tổ (perestroka) của Mikhạl Gorbatchev hay New Deal của Tổng thống Mỹ Roosevelt.

Đức Phanxicô được quần chúng mến chuộng nhưng cũng khêu lên các kháng cự nơi hàng giáo sĩ và Giáo triều…

Khi muốn dân chủ hóa một thể chế xưa cũ đã hai ngàn năm thì những chuyện kháng cự là chuyện đương nhiên. Ngay khi Đức Phanxicô được bầu chọn, hồng y người Pháp Roger Etchegaray đã cảnh báo, dù cho tầm mức mến chuộng ngài lớn lao, ngài sẽ nhanh chóng rơi vào chân tường.

Ai là những con chó sói đe dọa Đức Phanxicô mà ông nói trong quyển sách? Có phải đó là những người cầm đầu cuộc chống đối trong lần họp Thượng Hội đồng vào tháng 10-2014 vừa qua không?

Đúng, đó là những người đó. Những người chống đối đến từ châu Mỹ và Âu châu. Cuối tháng 9 năm 2014, chỉ một thời gian ngắn trước khi Thượng Hội đồng họp, một nhóm 5 hồng y do hồng y  người Mỹ Raymond Burke dẫn đầu đã ký một văn bản chống đối hồng y Walter Kasper. Với sự hỗ trợ của giáo hoàng, nhà thần học người Đức đề nghị một giải pháp để cho những người ly dị tái hôn được rước lễ và đưa ra một vài yếu tố tích cực cho các cặp đồng tính.

Hồng y Burke – với sự hỗ trợ của hồng y Marc Ouellet người  Canada, của hồng y người Úc George Pell, phụ trách vấn đề kinh tế và thành viên của Nhóm C8, của hồng y người Đức Gerhard Müller, hồng y Bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin và hồng y Angelo Scola đã khẳng định Giáo hội không thể nào tiến triển trên những chủ đề này. Và họ đặt tên cho bản văn của họ là ‘Ở trong ý Chúa’ – như thử những người mâu thuẫn với họ – đứng đầu là Đức giáo hoàng, ở ngoài ý Chúa! Các giám chức bảo thủ này nhận sự ủng hộ của một số người, chẳng hạn như Tổng giám mục Francis George, giáo phận Chicago, của hồng y Camillo Ruini người Ý hay Jozef Michalik, chủ tịch hội đồng giám mục Ba Lan.

Song song với các kháng cự này là một cuộc vận động ráo riết trên mạng để vô hiệu hóa tính hợp pháp của Đức Phanxicô. Cuộc vận động này do các người viết blog, những người chủ trương theo truyền thống, họ lên án sự mến chuộng của quần chúng, sự mị dân, sự xâm phạm vào tính thiêng liêng của huấn quyền Công giáo của Đức Phanxicô.

Đâu là sức nặng của các chống đối này? Đức Phanxicô có bị «chó sói» ăn thịt không?

Sức nặng của những người chống đối này là trong lần họp Thượng Hội đồng 2014, họ đã ngăn không cho công bố những đoạn tranh cãi về đồng tính và về những người ly dị tái hôn. Nhưng Thượng Hội đồng cũng cho Đức giáo hoàng có dịp để đối thoại. Các chủ đề tranh cãi sẽ được thảo luận lại ở địa phương, sau đó sẽ đem ra thảo luận lại trong lần họp Thượng Hội đồng tháng 10 năm nay. Các bạn hữu của Đức Phanxicô tiếc là ngài đã không cắt nhiều đầu hơn, ngài đã cải cách giáo triều quá chậm. Họ sợ bị sa lầy.

Sự thật là Đức Phanxicô rất kiên nhẫn, ngài không muốn ép ai, là một tu sĩ Dòng Tên thánh thiện, ngài biết ngài muốn dẫn đàn chiên của mình đi về đâu. Tôi đặt tên quyển sách ‘Phanxicô giữa đàn sói’ là muốn nói đến thánh Phanxicô Đaxi, người mà với tình dịu dàng và lòng tốt của mình đã làm cho con chó sói Gubbio thuần phục sau khi nó đã làm cho cả vùng kinh sợ. Việc làm sẽ không dễ nhưng Đức Phanxicô, ngài có khả năng thuần phục các «con chó sói». ở Vatican hoặc ở các nơi khác.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Xin đọc: Đức Phanxicô là mục tiêu của các vận động chính trị

Đức Phanxicô: Cách mạng ở Vatican

Giáo hoàng núp giữa lòng giáo dân, tránh xa đàn sói của Giáo triều

Mùi của đàn chiên

Khuôn mặt của linh mục

Đội Cận Vệ Thụy Sĩ

1Đại tá Anrig tránh các chỉ trích về tính quá nghiêm khắc của mình

cath.ch/newsf, Antoine-Marie Izoard, I.MEDIA, 1 tháng 2-2015

Ngày 31-1-2015, theo lệnh của Đức Phanxicô, Đại tá Daniel Rudolf Anrig chỉ huy Đội Cận Vệ Thụy Sĩ đã rời chức vụ của mình sau sáu năm phục vụ.

Ngày 31-1-2015, hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin đã cử hành một thánh lễ vinh danh tinh thần “trách nhiệm và trung tín” của Đại tá được chỉ định chỉ huy Đội Cận Vệ Thụy Sĩ từ năm 2008.

Sau đó, trong buổi lễ kết thúc nhiệm kỳ của mình, Đại tá Daniel Anrig cho rằng Đội Cận Vệ Thụy Sĩ là một “đội ngủ quân đội và phải giữ tinh thần quân đội” và “kỷ luật không đồng nghĩa với nghiêm khắc và cứng ngắt”. Ông đặc biệt cám ơn tất cả những ai đã hỗ trợ cho công việc của ông nhất là trong thời kỳ đầu nhiệm kỳ. Tên người kế vị ông sẽ được loan báo sau, theo tin được biết, Đức Phanxicô sẽ chỉ định ông Christoph Graf, hiện đang giữ chức Phó Đội Cận Vệ.

I.Media: Đâu là bản tổng kết ông rút ra sau sáu năm phục vụ ở cương vị chỉ huy Đội?

Daniel Anrig: Đức Bênêđictô XVI đã bổ nhiệm tôi, đây thật là một món quà cho cuộc đời của tôi, nhìn lại, tôi xin cám ơn món quà này. Tôi gắn kết với Đội từ khi tôi còn làm lính cầm kích trong những năm 1992 và 1994, sau đó tôi được chỉ định làm lính gác. Được gọi về để chỉ huy Đội, tôi như được trở về nhà, thật là xúc động. Đây là lần đầu tiên một cựu quân nhân cầm kích được giữ chức vụ Chỉ huy đội, tôi phục vụ cho Đội tất cả những gì tôi nghĩ là cần thiết khi tôi còn là một người lính trẻ.

I.Media: Kỷ niệm nào là kỷ niệm đẹp nhất trong những năm này của ông?

Daniel Anrig: Túi xách của tôi đầy cả kỷ niệm đẹp, đặc biệt là những kỷ niệm với Giáo hội: các lễ phong thánh, bầu tân giáo hoàng, các kỷ niệm đẹp gặp riêng Đức Bênêđictô XVI và Đức Phanxicô. Cũng có những tình bạn riêng được thắt chặt ở đây. Trong những ngày cuối cùng tại chức, tôi cũng có những kỷ niệm rất đẹp về tình bạn.

I.Media: Đâu là những giây phút khó khăn nhất?

Daniel Anrig: Không có một người chỉ huy nào trên thế giới mà không biết, khi cần phải lấy một quyết định mà đôi khi mình biết, đây không phải là một quyết định tốt nhất, nhưng chỉ có mình là người quyết định. Bổn phận của người chỉ huy là phải quyết định.. dù không có một câu trả lời hoàn toàn. Đối với một người muốn mọi việc được hoàn thiện và mong muốn cống hiến phần tốt nhất của mình như tôi, thì không được quên đó là điều không phải hoàn toàn nhưng mình phải làm bổn phận của mình.

I.Media: Không ai nói là Đội cận vệ có tính cách quá quân đội dưới mắt Đức giáo hoàng, nghe cũng hơi lạ với một tổ chức quân đội. Nhưng chúng tôi nghe ông bị chỉ trích vì quá nghiêm khắc, ông trả lời như thế nào với những người chỉ trích ông như vậy?

Daniel Anrig: Đội Cận Vệ Thụy Sĩ đã có từ 509 năm nay và được tổ chức theo cách quân đội. Những năm gần đây cho thấy điều này thật cần thiết. Vì thế khi tân giáo hoàng quyết định tăng cường an ninh, giao phó cho Đội bảo vệ thêm Nhà trọ Thánh Mácta, chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó. Và đó là nhờ kỷ luật quân đội. Chúng tôi làm được mà không cần tăng nhân sự, không có vấn đề, cũng là nhờ tổ chức quân đội: các người có trách nhiệm và các quân nhân ngay lập tức theo lệnh tôi và tôi rất tự hào về điều này.

I.Media: Còn tính nghiêm khắc?…

Daniel Anrig: Thật buồn cười khi nghe chuyện này! Vì đã từng là lính cầm kích, có thể tôi biết hơn những người chỉ huy khác các lính trẻ cần gì. Tôi rất thông cảm các em, tôi thích đối thoại với các em. Tôi tăng các dịp để các em đi ra ngoài, cho tự do tổ chức các lễ lạc, vì khi còn trẻ, tôi rất thích được sống! Tôi làm đủ cách để các em ra ngoài chơi thể thao, tôi đi đá banh với các em, tôi cắm trại nhiều ngày với các em… Tôi đã sống trong tinh thần đồng đội với các em và tôi bị cho là nghiêm khắc thì cũng lạ. Tôi là cha của bốn đứa con – gia đình đông nhất ở Vatican – và điều này làm cho tôi đối xử với các em như người cha. Để gần người trẻ, nghiêm khắc là chuyện vô ích. Phải có một cái neo để giữ thăng bằng, phải kiên nghị và tôi nghĩ một chỉ trích như vậy thì đi xa thực tế.

I.Media: Theo bản tổng kết tích cực của ông đưa ra, làm sao có thể hiểu quyết định của Đức Phanxicô?

Daniel Anrig: Đức Phanxicô cho chúng tôi biết ngài muốn đổi mới. Cũng bình thường khi một tân giáo hoàng muốn đi đến đàng trước theo những sáng kiến của mình. Và đó cũng là bổn phận của ngài và cũng bình thường khi bắt đầu đổi mới từ cấp cao của các tổ chức. Nếu ngài có một ý nghĩ nào cho Đội Cận Vệ thì ngài phải bắt đầu từ cấp chỉ huy.

I.Media: Một vài người cho rằng Đức giáo hoàng muốn chấm dứt công việc của Đội Cận Vệ Thụy Sĩ, nghe cũng ngạc nhiên. Nhưng ngài mong gì cho tương lai của đội?

Daniel Anrig: Tôi không biết. Nhưng một sự kiện đơn giản, đó là ngài quan tâm đến vai trò của Đội trưởng Đội Cận Vệ Thụy Sĩ, điều đó chứng tỏ ngài quý trọng công việc này.

I.Media: Khi nào người kế nhiệm của ông sẽ được bổ nhiệm?

Daniel Anrig: (Cười) Xin ông hỏi Chúa Thánh Thần và Đức giáo hoàng!

I.Media: chúng tôi, các ký giả, chúng tôi không phải lúc nào cũng dễ thương với các ông khi chúng tôi lặp lại những việc tiêu cực chung quanh ông…

Daniel Anrig: Nếu tôi đã có sự hợp tác tốt với Đội Cảnh vệ Vatican, với Cảnh sát Vatican thì với báo chí cũng vậy, khi chúng tôi loan báo các dự án của mình. Tôi xin cám ơn báo chí vì Đội Cận Vệ Thụy Sĩ cần được nói về cái đẹp của tổ chứ, một tổ chức có hơn 500 năm đã nuôi dưỡng những người trẻ mà qua báo chí, thế giới biết được đặc tính phi thường của tổ chức này. Báo chí đã giúp chúng tôi tuyển mộ và đã làm cho tổ chức có từ xưa này luôn luôn trẻ. Còn về chuyện tiêu cực thì các bạn phải làm công việc của các bạn, cũng khó khi chỉ có một buổi phỏng vấn nhỏ vào cuối nhiệm kỳ của tôi. Trong tương lai, có thể tôi sẽ có trách nhiệm với một cơ quan khác và tôi biết, trong lãnh vực truyền thông, mỗi người làm công việc của mình.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các nữ tu tân thời

Cac nu tu tan thoiKhắp nước Mỹ có một số phụ nữ trẻ tuổi từ 20 đến 30 từ bỏ công danh sự nghiệp hứa hẹn, bỏ chồng chưa cưới để đi tu.

Bài của Jocelyne Zablit – AFP – Nữu Ước

Một cô trước là luật sư, cô kia là thương gia lái xe Mercedes như bay, cô thứ ba là sĩ quan hải quân chuyên lùng bắt các tay buôn thuốc phiện ở vùng biển phía Nam nước Mỹ; bây giờ họ đi tu và sống ở thị trấn Bronx, Nữu Ước.

Từ mười năm nay, tuy số các cô đi tu không đông, nhưng hiện tượng đủ đáng kể để làm ngạc nhiên cộng đoàn Thiên Chúa giáo.

Nữ tu Agnès Mary, mẹ bề trên cộng đoàn Các Nữ Tu của Sự Sống – Sisters of Life, Nữu Ước nói: “Các năm gần đây càng ngày càng có nhiều các cô trẻ xin đi tu, thường thường các cô trong độ tuổi hai mươi.”

Khi thành lập năm 1991, cộng đoàn này chỉ có bảy thành viên, bây giờ họ có 52, họ chia nhau sống trong sáu nhà dòng chung quanh Nữu Ước. Hai năm sắp tới, họ dự trù xây một nhà dòng thứ bảy.

Nữ tu Mary Karen, 33 tuổi, bề trên trung tâm huấn luyện tập sinh các Các Nữ Tu của Sự Sống  ở Bronx, nơi có 18 cô khấn đức vâng lời, nghèo khó, khiết tịnh, giải thích cho thông tấn xã Pháp biết: “Tôi nghĩ các cô trẻ đi tìm một cái gì mà nền văn hóa của chúng ta không mang lại cho họ được nên họ hướng về Chúa.”

Trong số các nữ tu này có một cô tốt nghiệp đại học danh tiếng Yale, một cựu sĩ quan hải quân, một danh ca opéra, một cựu sinh viên y khoa và một cô thảo trình viên Internet.

Tất cả đều đã tốt nghiệp, từng du lịch, sống, tiếp cận với thời đại này. Từ nay họ bỏ điện thoại cầm tay, i-Pod, đôi khi từ bỏ cả chồng chưa cưới để sống chung, ở phòng ngủ chung, có khi là một căn phòng hẹp và tủ áo của họ từ nay chỉ vài bộ đồ dòng.

Cô Angela Karalekas, 28 tuổi, vào nhà dòng tháng chín vừa qua và sẽ có tên thánh tháng sáu sắp tới, cô nói: “Tôi ở trong binh chủng hải quân mười năm vì tôi muốn làm một cái gì to tát cho đời mình nhưng tôi nhận ra tôi không ham mê. Dù tôi nhận một nền giáo dục công giáo nhưng cha tôi và các anh em tôi khó chấp nhận việc tôi đi tu.”

Sau thời gian huấn luyện tám năm, một khi các cô khấn trọn đời, các cô phải từ bỏ của cải vật chất.

Họ dậy từ năm giờ sáng trong tuần, năm giờ rưởi hay sáu giờ sáng cuối tuần, buổi sáng cầu nguyện hoặc thinh lặng chiêm nghiệm. Những ai đã khấn thì làm việc thiện nguyện giúp những người không nhà không cửa, các phụ nữ mang thai hay những người nào cần đến họ.

Buổi chiều, các nữ tu mặc áo dòng được phép ra chơi, họ đi xe đạp, chơi bóng basket hay đi patanh có bánh trượt làm nhiều người ngạc nhiên không ít.

Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Mục Vụ (CARA), hiện nay có khoảng 66 608 nữ tu trên nước Mỹ, so với con số 180 000 năm 1965.

Trên thế giới có 776 260 so với con số gần 1 triệu năm 1970.

Dù con số có giảm nhưng những dòng, đáng kể là những dòng lập trong thời kỳ giáo hoàng Gioan-Phaolô II thì số ơn gọi gia tăng từ mười năm nay. Internet cũng góp một phần. Đa số các dòng ngày nay đều có trang web và trên khắp nước My, có khoảng hai mươi nữ tu có trang blog riêng.

Sư huynh Bednarczyk, giám đốc Trung Tâm Ơn Gọi Quốc Gia khẳng định: “Giáo Hội bây giờ cần Internet vì đó là nơi thu hút người trẻ.”

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Giáo hoàng Phanxicô thăm Bosnia chìm trong đau khổ

7021065405_89403ea9a9_b
Hình xăm của người Công giáo Bosnia, một nét đẹp đau lòng.

Vatican Radio

Việc Giáo hoàng Phanxicô đến Bosnia-Herzegovina, sẽ được cộng đồng người Công giáo Croatia ở đất nước này chào đón, đúng thời điểm quốc gia đang chuẩn bị cho một lễ kỷ niệm buồn.

Giáo hoàng Phanxicô sẽ đến Sarajevo trong lúc Bosnia-Herzegovina đang tìm kiếm sự hiệp nhất để chữa lành các vết thương của cuộc nội chiến Bosnia 1992-1995, đã cướp đi hơn 100 ngàn sinh mạng.

Hai thập kỷ đã trôi qua từ khi hiệp ước hòa bình Dayton chấm dứt cuộc xung đột, đất nước này vẫn còn chia rẽ sâu sắc, phức tạp hơn nữa khi phải nỗ lực để giải quyết tình trạng tham nhũng, tỷ lệ thất nghiệp cao, và sự

phân cực chính trị.

Vẫn còn nhiều căng thẳng, đặc biệt là giữa những người Serbi Chính thống trong Cộng hòa Serbi [Republika Srpska] với Liên bang, vùng tự trị chủ yếu của người Hồi giáo Bosnia và người Công giáo Croatia.

Nhiều người vẫn còn đang khóc thương cho hàng ngàn người bị giết hay bị đẩy vào các trại tập trung, vào những năm 1990, thời người Serbi cố gắng trục xuất những người không thuộc dân tộc mình.

Ký ức về cuộc thảm sát

Giáo hoàng sẽ đến Bosnia-Herzegovina vào thời điểm đất nước Balkan này chuẩn bị kỷ niệm 20 năm xảy ra một sự tàn ác chưa từng thấy ở châu Âu kể từ sau vụ diệt chủng người Do Thái.

Ngày 11 tháng 7 năm 1995, các lực lượng người Serbi tấn công vào Srebrenica, giết 8000 đàn ông và trẻ trai Hồi giáo.

Hôm thứ sáu vừa qua, Tòa án tội ác chiến tranh Hague của Liên hiệp quốc đã tuyên án 5 người phạm tội trong cuộc thảm sát Srebrenica. Vujadin Popović và Ljubiša Beara bị tuyên án chung thân, còn Drago Nikolić chịu án tù 35 năm, Radivoje Miletić 18 năm và Vinko Pandurević 13 năm.

Nhưng nỗi đau vẫn còn trong lòng những người sống sót. Munira Subasic, chủ tịch nhóm Các bà mẹ Srebrenica nói rằng, ‘Tôi rất đau đớn vì trong toàn bộ lời buộc tội, không nhắc đến từ ‘diệt chủng.’

Án cho Miletic đã bị giảm nhiều, trong khi ông ta là người chịu trách nhiệm trong việc giết hại trẻ em, giết hại và hãm hiếp phụ nữ, và giết cả người già.’

Tình huynh đệ và Hòa bình

Nhưng giữa đau khổ, Giáo hoàng Phanxicô kêu gọi mọi người hãy cầu nguyện. Ngài muốn chuyến công du giáo hoàng đầu tiên đến Sarajevo trong vòng 18 năm qua, sẽ góp phần xây dựng tình huynh đệ và hòa bình.

Nhóm dân thiểu số Công giáo ở Bosnia, sẽ đáp lại lời kêu gọi cầu nguyện của giáo hoàng.

Dù gặp nhiều khó khăn, nhưng những người Công giáo Croatia vẫn thường quy tụ ở Medjugorje, một nơi hành hương nổi tiếng.

Các nhân viên cứu trợ Công giáo nói rằng có khoảng 440 ngàn người Công giáo ở quốc gia Balkan này, một nửa so với con số trước cuộc nội chiến.

Đó là lý do vì sao lời cầu nguyện sẽ vang khắp nơi khi biết ý của Giáo hoàng Phanxicô muốn đích thân nâng đỡ những người Công giáo đừng từ bỏ hi vọng.

Medjugorje
Giáo dân quy tụ quanh tượng Đức Mẹ ở Medjugorje

 

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Các cuộc phiêu lưu của cha Kiké

Nhóm Từng Bước Một, 1 tháng 2 – 2015

Đức ông Kiké, người xây dựng lại Giáo hội Cao Miên

Xong sứ vụ với các nữ tu Mục tử Nhân lành, chúng tôi lên đường đi  Pattaya (Thái Lan) qua ngã phía Bắc Cao Miên. Theo lời khuyên của một trong những người bạn linh mục của chúng tôi, Olivier de Fontmagne, chúng tôi được Đức ông Enrique Figaredo Alvargonzález, tên thường gọi là Kiké tiếp. Cha truyền giáo ở Battambang từ 15 năm nay, chúng tôi may mắn khám phá được rất nhiều chương trình cha làm ở đây và ghi lại chứng tá của tu sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha rất yêu mến nước Cao Miên này.

Cha biết đến Á châu từ khi còn là sinh viên, khi đó cha làm thiện nguyện cho Dịch vụ lo cho người Tị nạn của Dòng Tên (Service Jésuite aux Réfugiés (JRS) năm 1985. Ngài làm việc bên cạnh người tị nạn Cao Miên trong một trại ở Thái Lan. Tiếp xúc với những người nghèo nhất, nhất là những người bị tật nguyền vì mìn cá nhân đã tác động và định hướng cho các dấn thân sau này của ngài. Năm 1991, ngài tham dự vào việc thành lập “nhà bồ câu” ở Banteay Prieb, một trung tâm đón tiếp và đào tạo các trẻ em nạn nhân của chiến tranh. Và chín năm sau, khi trung tâm Banteay Prieb đang lúc thành công, ngài được gởi đến Battambang để bắt đầu một sứ vụ mới. Kiké bị dồn ở chân tường, phải bắt đầu lại từ số không. Ngôi nhà thờ cũ của Battambang bị chế độ Pol Pot triệt hạ, bây giờ là một bãi đất trống. Chính trên bãi đậu xe mà Kiké sẽ xây lại Nhà thờ Battambang.

Với sự giúp đỡ của bằng hữu và giáo dân, Kiké xắn tay áo lên xây dựng lại Doãn phận tông tòa Battambang và từ đó ngài quản trị cho đến nay. Mục đích là tái thiết lại cuộc sống hậu chiến ở Cao Miên, để làm chứng cho sức mạnh của tình yêu, của lòng thương xót, lòng trắc ẩn của Chúa, Đấng chiến thắng cái chết. Nhưng bắt đầu từ đâu? Cha khởi đầu bằng việc gặp dân chúng trong mục đích xây dựng các cộng đoàn như những gia đình vì sợi giây xã hội đã bị tổn thương nhiều ở Cao Miên do chiến tranh và do bị chiếm đóng liên tục.

Trong vòng 15 năm, dần dần ngài lên nhiều chương trình trên nhiều lãnh vực để đáp ứng phần lớn các nhu cầu của người dân Battambang: lập trường học, trạm y tế, xưởng chế tạo xe lăn – bây giờ được bán khắp nơi trên thế giới – , một mái ấm đón tiếp các sinh viên ở các làng lân cận, một chương trình cho vay với tiền lời thấp để các gia đình nghèo có vốn làm ăn. Doãn phận tông tòa Battambang chu toàn vai trò dịch vụ quần chúng. Tất cả chương trình này cha muốn các tổ chức Phi Chính Phủ góp phần vào và họ cùng làm việc tay trong tay với nhau. Cha đi các nước ở Âu châu và nhất là ở Tây Ban Nha để gây quỹ làm thêm các chương trình mới khác.

Khi nói chuyện với cha, tôi không thể ngăn mình hỏi cha: “Nhưng làm sao Chúa giúp cha thấy được tất cả các chương trình này?” Cha cười và trả lời: “Các chuyện này làm từng bước một”. Trong bụng tôi không thể nín cười. Ngài nói tiếp: “Thật ra, tôi làm những gì tôi thích: tôi thích nhảy, thích chụp hình, thích âm nhạc, thích giáo dục, thích xây dựng”. Khi đó tôi mới hiểu, dù Chúa đòi hỏi chúng ta từ bỏ tất cả để theo Chúa, chấp nhận bị dồn vào chân tường như trường hợp cha Kiké bị năm 2000, nhưng Chúa không đòi hỏi mình làm những chuyện mình không thích. Chính chúng ta đôi khi lầm trên các phương tiện để có hạnh phúc nhưng phó thác vào Chúa là cách đảm bảo các ước muốn to lớn của mình được hoàn thành, ngoài những gì mình tưởng tượng.

Nếu Đức ông Kiké là linh mục, là nhà quản trị tài năng, người có tầm nhìn xa và mê nghệ thuật thì trước hết, cha là tôi tớ khiêm tốn phục vụ Chúa, người hy sinh cuộc sống mình để xây dựng Nước Chúa. Và đó là điều tác động đến tôi nhiều nhất ở cha Kiké. Cha rất ấn tượng nhưng không làm người khác sợ. Khi chúng tôi sắp từ giả cha để đi, chúng tôi xin cha viết ý chỉ cầu nguyện của cha trong sổ tay của chúng tôi. Và cha nói với tôi: “Thật ra khi nào mình cũng muốn làm những chuyện không thể tưởng tượng được cho Chúa: những chương trình mang đầy tham vọng, những dự án to lớn dưới mắt người đời. Mình để lên hàng đầu nghĩ rằng làm như vậy để vinh danh Chúa. Nhưng Chúa không muốn đứng hàng đầu, Ngài chọn chỗ cuối cùng”.

 

Quentin

Jean

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất