Home Blog Page 1708

Ý cầu nguyện tháng 2 của Giáo hoàng – Cầu cho các tù nhân

Then Cardinal Bergoglio washes and kisses the feet of patients of the Hogar de Cristo shelter for drug users during a Holy Thursday mass in the Parque Patricios neighborhood of Buenos Aires‘Cầu cho các tù nhân, đặc biệt là người trẻ, có thể xây dựng lại đời sống phẩm giá cho mình.’

Ý cầu nguyện chung của Giáo hoàng Phanxicô, cho tháng 2, là cầu cho các tù nhân, đặc biệt là các các tù nhân trẻ, có thể xây dựng lại đời sống phẩm giá.  Một trong những việc làm đầu tiên của ngài sau khi được bầu, đã gây sốc và đánh động cả thế giới.  Ngài đã phá vỡ truyền thống, và cử hành thánh lễ Tiệc ly trong ngày thứ năm Tuần Thánh, không phải tại Vương cung Thánh đường, nhưng tại một nhà tù thanh thiếu niên ở Roma. Ngài đã rửa và hôn chân cho 12 tù nhân trẻ tuổi thuộc nhiều quốc tịch và đức tin khác nhau, trong đó có 2 thiếu nữ nữa. Giáo hoàng nói tự phát với các tù nhân rằng, ‘Đây là dấu chỉ trìu mến của Chúa Giêsu, bởi Ngài đến chính là vì việc này, là phục vụ và giúp đỡ chúng ta,’  Từ đó, ngài nhiều lần bày tỏ sự gần gũi với các tù nhân. Một lần ở Rio de Janeiro, Brazil, hồi tháng 7, 2013, ngài bảo các tù nhân trẻ tuổi hãy có dũng cảm ‘hướng đến tương lai.’  Mỗi một tù nhân là một con người được tạo thành theo và giống với Thiên Chúa, và là người mà Chúa Giêsu đã chịu đau khổ và chết vì họ. Các tù nhân khắp thế giới cần lời cầu nguyện của chúng ta để học cách sống một đời sống phẩm giá trong những hoàn cảnh thường hạ giá con người.  Giáo hoàng Phanxicô nhắc nhở rằng, trong ”nền văn hóa thải loại’ ngày nay, thật dễ để quên đi những người bị giam xa khỏi xã hội. Tháng này, Đức Thánh Cha muốn chúng ta cùng với ngài, cầu nguyện cho các tù nhân, để họ đừng từ bỏ hi vọng, và có thể xây dựng lại đời mình.

Ý cầu nguyện cho công cuộc phúc âm hóa tháng 2 là: ‘Cầu cho các cặp vợ chồng li thân, thấy được sự chào đón và nâng đỡ trong cộng đoàn Kitô hữu.’

Giáo hoàng Phanxicô – vun đắp và gìn giữ Mẹ Trái đất

AFP3853110_ArticoloHôm thứ bảy, giáo hoàng Phanxicô đã tiếp các thành viên của Liên đoàn Nông dân Quốc gia Ý quốc, nhân dịp kỷ niệm 70 thành lập.

Giáo hoàng Phanxicô nói với các nông dân hiện diện ở sảnh Clementine, rằng, nhân loại sẽ không còn nếu không vun đắp cho trái đất, cũng như chẳng có sự sống nếu không có thực phẩm do bàn tay của nhiều người làm ra trên khắp mọi châu lục.

Ngài nhấn mạnh rằng, điều này nghĩa là nông nghiệp có một vai trò then chốt.

Trong bài nói với các nông dân, giáo hoàng nói về 2 điểm chính: ‘Công đồng Vatican II nhắc lại rằng các của cải trên đời được dùng cho mục đích chung, phục vụ hết mọi người, nhưng hệ thống kinh tế đang thống trị lại loại trừ nhiều người không được sử dụng đúng hợp những của này.’  Đức Thánh Cha tiếp, ‘sự tuyệt đối hóa các quy luật thị trường, một nền văn hóa thải loại và lãng phí thức ăn gây nên sự mất cân xứng không chấp nhận được, cùng với nhiều yếu tố khác nữa gây nên nghèo đói và đau cho nhiều gia đình’ Do đó, hệ thống sản xuất và phân phối thực phẩm phải được xem lại triệt để.

Điểm thứ hai, Đức Thánh Cha nói rằng, điều quan trọng là phải nhớ rằng con người được kêu gọi, không chỉ để trồng trọt trên đất, mà còn để giữ gìn nữa. Giáo hoàng chỉ ra rằng trong thời đại thay đổi khí hậu, việc này thật khó khăn, do đó, điều quan trọng sống còn là các quốc gia phải chung tay bảo vệ công trình tạo hóa.

Cuối cùng, Giáo hoàng Phanxicô mời các nông dân, với tinh thần của thánh Phanxicô, hãy yêu mến mảnh đất như là Mẹ Trái đất, và đề nghị hãy kết tình đồng minh, gắn chặt với đất, để đất tiếp tục là nguồn nuôi sống cho toàn thể gia đình nhân loại.

“Giáo hoàng núp giữa lòng giáo dân, tránh xa đàn sói của Giáo triều”

Giáo hoàng núp giữa lòng giáo dân, tránh xa đàn sói của Giáo triều

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ngày 28-1-2015 ở Hội trường Phaolô VI

24heures.ch, Xavier Alonso, 19-1-2015

Cực kỳ được giáo dân mến chuộng nhưng lại bị Giáo triều chống đối. Đó là nhãn hiệu của Đức Phanxicô.

 

Phỏng vấn ông Marco Politi, nhà Vatican học và văn sĩ

Hôm qua Đức Phanxicô còn ở Sri Lanka và Phi Luật Tân sau chuyến đi Á châu 6 ngày, hôm nay ngài đã ở Rôma. Chúa nhật 18-1 ngài làm lễ ở Manila trước 6 triệu người. Một con số kỷ lục cho một cuộc tụ họp của tín hữu Kitô! Còn gì an ủi hơn cho Đức giáo hoàng 78 tuổi được mọi người yêu mến nhưng lại bị hàng giáo sĩ của Giáo hội chống đối. Ông Marco Politi, văn sĩ, ký giả viết cho báo La Repubblica cả hàng chục năm nay về các vấn đề ở Vatican đã mô tả Đức giáo hoàng như “người giữa bầy sói,” một giáo hoàng bị cô lập trong một giáo hội bướng bỉnh không chịu thay đổi. Ngài có dỗ dành được các con sói này, làm cho chúng thành cừu như huyền thoại thánh Phanxicô Đaxi đã làm không? 

Đọc sách của ông, chúng tôi có cảm tưởng như đang tham dự cuộc nội chiến của đạo Công giáo?

Từ muôn thuở và ở mỗi Công đồng, luôn luôn có các cuộc bàn cãi… Nhưng, hôm nay có cả một chiến dịch muốn làm vô hiệu hóa tính pháp lý của Đức Phanxicô mà chúng ta thấy ở hành lang. Trên một vài trang mạng, cũng như trong lòng Giáo triều, trong những nơi mang tính truyền thống nhất của đạo Công giáo đã có những lời chỉ trích gay gắt đối với Đức Phanxicô, họ chất vấn quyền tối thượng của giáo hoàng và tính thần thiêng của chính chức vụ của ngài.

Đức Phanxicô nói đến bệnh “Alzheimer về mặt thiêng liêng” của Giáo triều. Có tin tưởng được không khi một giáo hoàng tấn công mạnh như vậy?

Không, đây không phải là dấu hiệu của tin tưởng. Đức Phanxicô được giáo dân mến chuộng không thể tưởng tượng được, ngài cũng gây nên lòng hiếu kỳ cũng không thể tưởng tượng được, những người khác tôn giáo thậm chí người vô thần cũng có cảm tình với ngài. Vậy mà các quan điểm của ngài lại là quan điểm thiểu số ở Giáo triều. Nếu ngài chỉ trích một cách công khai các cộng sự thân cận của mình thì đó là dấu hiệu báo động các khó khăn ngài gặp trong chiến thuật cải cách. Giáo hoàng ẩn núp giữa giáo dân, ngài tránh xa đàn sói… 

Giáo hoàng có bị nguy cơ không?

Từ vụ Mehmet Ali Agça tấn công Đức Gioan-Phaolô II, tất cả các giáo hoàng đều có thể gặp nguy cơ với những con sói đơn độc. Ngược lại, tôi không nghĩ tính mạng của giáo hoàng bị hiểm nguy như thời Trung cổ và Phục sinh với các cuộc mưu phản. 

Đó là nói một cách biểu tượng…

Đúng. Từ khi có những cuộc mưu sát của những người Hồi giáo ở Âu châu thì an ninh ở Vatican được tăng cường. Bây giờ cảnh sát được trang bị súng liên thanh ở Quảng trường Thánh Phêrô, điều rất hiếm khi thấy. Tổ chức Hồi giáo Daech đã phát trên vidéo hình là cờ đen của họ bay phất phới trên vòm Thánh Phêrô ở Rôma. Sự đe dọa khủng bố được coi là nghiêm trọng.

Các cải cách được tiến hành có bị lên án không?

Chúng ta đang ở trong giai đoạn mấu chốt của chiến thuật cải cách của Đức Phanxicô. Các người chống đối ngài trong kỳ họp Thượng Hội Đồng về gia đình năm 2014, đứng đầu là hồng y Mỹ Raymond Burke và hồng y Đức Gerhard Ludwig Müller đã ra một quyển sách mà cái tựa nói lên tất cả: “Ở trong chân lý của Chúa Kitô”. Họ chống đối kịch liệt tinh thần cởi mở mà Đức Phanxicô muốn có về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội,  những người ly dị tái hôn rước lễ, những người đồng tính. Trong lần họp Thượng Hội Đồng vừa qua, những người bảo thủ đã thắng vì họ đã chận đứng tất cả.

Tuy nhiên các chủ đề này sẽ được xử lý trong kỳ họp Thượng Hội Đồng năm 2015?

Chúng ta đã lội được nửa đường! Trong kỳ họp năm 2015, sẽ có tiếng nói của các hội đồng giám mục. Như thế tất cả sẽ tùy thuộc vào các hồng y, các giám mục nhưng cũng cả hàng giáo sĩ và giáo dân. Những người mà cho đến bây giờ tỏ ra thụ động. Hiểm nguy của Đức Phanxicô không phải đến từ đàn sói nhưng còn từ các giáo dân thụ động. Không phải chỉ vỗ tay cho ngài là đủ nhưng phải hỗ trợ ngài.

Đâu là đường chỉ đỏ không được vượt qua đối với giáo hoàng cải cách này?

Đối với những người cực kỳ bảo thủ thì ngài đã lấn qua đường chỉ đỏ. Các cử chỉ cởi mở của ngài đối với phụ nữ, đối với các cặp sống chung, với người đồng tính cũng như các chỉ trích lối sống xa hoa, sự thiếu tham vọng cho Giáo triều thì đó cũng đã là những cuộc cách mạng thật sự. Ý tưởng một giáo hội năng động với thế giới, cũng như sự tôn trọng luật lệ là rất mới. Vatican luôn là một thành trì kiên cố về giáo điều. Và Đức Phanxicô muốn có một giáo hội sinh động hơn.

Ông nghĩ rằng thời thế đã thay đổi hay giáo hoàng muốn thay đổi thời thế?

Đức Phanxicô hiểu rằng một giáo hội độc tài không thể nào nói chuyện được với người thời nay. Giáo hội phải là bệnh viện thôn quê, săn sóc và ở bên cạnh bệnh nhân, trấn an và hiểu họ trong cuộc sống của họ, trong nỗi băn khoăn lo lắng của họ. Trong giáo hội này, mỗi người phải được tự do để nói lên, để có những đề nghị. Đức Phanxicô thích nói đến Thần Khí mang đến những điều ngạc nhiên.

Ông đã cho biết, cũng như vị tiền nhiệm của mình, Đức Phanxicô sẽ từ nhiệm khi thời điểm đến. Đây là một cuộc cách mạng đích thực đã được viết lên?

Đúng là một cuộc cách mạng lớn về mặc thực tiễn cũng như về mặt ý thức của Đức Bênêđictô XVI. Trong một hành vi tiên báo trước, ngài đã giải mã tính chất huyền hoặc của chức giáo hoàng. Giáo hoàng không phải là một bức tượng, giáo hoàng là một con người đang điều khiển Giáo hội. Còn hơn dấn thân! Nó trở thành một công việc mà người ta phải buông bỏ nếu không còn khả năng đảm trách. Nhóm người bảo thủ đấu tranh để chống “chức giáo hoàng có thời hạn” vì nó đụng đến và ngược với quyền lợi của họ – khi giáo hoàng không còn sức, khi giáo hoàng bệnh thì Giáo triều cai trị. Nhóm bảo thủ đánh cược với đồng hồ thời gian và họ hy vọng sẽ chỉ định một giáo hoàng tương lai hợp với giáo điều của họ hơn!

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Xin đọc: Đức Phanxicô là mục tiêu của các vận động chính trị

Đức Phanxicô: Cách mạng ở Vatican

Giáo hoàng núp giữa lòng giáo dân, tránh xa đàn sói của Giáo triều

Mùi của đàn chiên

Khuôn mặt của linh mục

Kêu lên ‘Cha ở đâu,’ qua lời giáo hoàng

francis_baptismAleteia, Elisabeth de Beaudoin, 31-1-2015

 

Báo Aleteia ghi lại 10 câu nói chính trong bài Đức Phanxicô nói với giáo dân trong buổi tiếp kiến chung tại Hội trường Phaolô VI ngày 28-1-2015

 

“Sự vắng mặt của biểu tượng phụ tử trong đời sống của những em bé còn nhỏ và của trẻ vị thành niên sẽ tạo nên những khiếm khuyết và vết thương có thể rất trầm trọng cho trẻ con.”

 

“Sự trệch đường của các trẻ em và trẻ vị thành niên một phần lớn có thể là do thiếu gương mẫu và thiếu điểm tựa trong đời sống hàng ngày của trẻ em.”

 

“Ngày nay, vấn đề không hẳn là sự hiện diện lấn chiếm của người cha nhưng còn do sự vắng mặt, sự từ nhiệm của họ.”

 

“Các người cha đôi khi chỉ tập trung về họ, về công việc của họ, về những dự án riêng của họ, họ quên gia đình con cái.”

 

“Khi tôi còn làm tổng giám mục Buenos Aires, tôi thường hay hỏi các người cha: ông có chơi với các con không? Ông có đủ tình thương và can đảm để mất thì giờ với chúng không?”

 

“Các trẻ em thường bị “mồ côi trong chính gia đình mình,” không phải chỉ vì người cha thường vắng mặt ở nhà nhưng nhất là khi họ có mặt ở nhà, họ cũng không cư xử như một người cha.”

 

“Họ không nói chuyện với con cái, không chu toàn bổn phận giáo dục, không làm gương bằng lời, bằng việc làm, bằng nguyên tắc, bằng các giá trị, bằng các quy luật sống mà trẻ con cần như cần cơm gạo.”

 

“Phẩm chất giáo dục của sự hiện diện của người cha cũng quan trọng và cần thiết như khi người cha phải xa nhà vì công việc.”

 

“Đúng, mình phải là bạn với con cái nhưng cũng đừng quên mình là cha của nó! Nếu cư xử như một người bạn đối với con thì cũng không phải là chuyện tốt cho trẻ con.’’

 

“Ngày nay, người trẻ mồ côi trên con đường phải đi, mồ côi không có thầy để tin tưởng, mồ côi các lý tưởng sưởi nóng tâm hồn, mồ côi các giá trị và các hy vọng.”

Michel Houellebecq: “Tôi không còn vô thần”

pope-1-aplavie.fr, Marie Chaudey và Jean-Pierre Denis, 27-1-2015

 

Báo La Vie đã gặp tác giả quyển Phục tùng (Soumission), quyển sách gây tranh cãi từ đầu năm nay. Sự xuống dốc của Kitô giáo, đạo Hồi, giáo hoàng… đó là những đề tài của buổi nói chuyện.

 

Một trận chiến văn chương đã bắt đầu khi quyển sách Phục tùng được phát hành. Như thường lệ, các phê phán giá trị về con người của Houellebecq lẫn vào giá trị của các nhân vật của ông. Nhưng lần này, các tranh cãi về văn chương lẫn vào một cuộc thảo luận gay gắt về Hồi giáo và hội chứng sợ Hồi giáo. Có những phê bình cho tác phẩm này gây sốc hoặc tầm thường. Có những phê bình khác thì cho là gây giao động và xuất sắc. Chủ đề chính của tác phẩm là sự suy thoái của Kitô giáo, trong đa số trường hợp chủ đề này lại né tranh, có thể xem như bị gạt ra hoàn toàn. Để làm sáng tỏ, chúng tôi đã gặp và nói chuyện với tác giả trong ba giờ liền, trong mịt mờ khói thuốc, từ lối nói ngắn gọn đến cách nói nước đôi chung quanh và che giấu của tác giả kỳ lạ Houellebecq, tạo nên sự dẫn lối cho một cuộc trao đổi đích thực. Lần này thì tùy độc giả lượng định lời nói của ông. Bây giờ trong hồ sơ của tác giả chỉ thiếu một chuyện: chính tác giả.

Sau đây là một vài đoạn trích dẫn sẽ đăng trong ấn bản ngày 29-1 của báo La Vie.

 

Ông có vẻ giận?

Lời tuyên bố của Đức giáo hoàng về vụ khủng bố tờ báo Charlie làm tôi rụng rời. Khi ngài nói “Nếu ai nói xấu mẹ tôi, tôi đấm cho họ một đấm”, ngài đã làm hợp pháp một vụ tấn công viết lách bằng một vụ tấn công tay chân. Tôi hoàn toàn không đồng ý, tôi mong ngài đừng nói đến vấn đề này. Tôn giáo không có quyền giới hạn tự do phát biểu. Nếu có những giới hạn, thì nó không ở thứ trật này nhưng ở thứ trật vu khống, vi phạm đến đời tư, vv. Tôi hiểu tôi muốn nói gì vì tôi thường bị kiện tụng. Cả quyển sách Bản đồ và Vùng đất (Carte et le Territoire) của tôi, tôi cũng bị Hiệp hội Dignitas ở Đức kiện vì cổ động cho trợ tử và nhà xuất bản của tôi đã thắng kiện. (…)

 

Từ lâu ông rất thích thú với vấn đề tôn giáo…

Đúng. Trong văn chương, ngay từ tác phẩm đầu tiên của tôi Vẫn còn sống (Rester vivant, 1991), một tác phẩm ảnh hưởng Thánh Phaolô và tính ngạo mạn của ngài rất nhiều. Rồi còn tác phẩm Hạt cơ bản (Particules élémentaires) và vụ rửa tội có thể xảy ra của tôi trong quyển Bản đồ và Vùng đất. Nhưng tôi đã nói về cám dỗ trở lại của tôi trong quyển sách Những kẻ thù công khai (Ennemis publics) viết chung với Bernard-Henri Lévy. Từ khi con nhỏ, ở nhà ông bà của tôi, tôn giáo là số không. Ông bà tôi thật sự không ác cảm với tôn giáo, ngược lại với các bạn cộng sản của ông bà, những người này chống các cha xứ thì đúng hơn. Đối với họ, Nước Trời và tiến bộ là ở thế gian này. Nhưng từ khi tôi 13 tuổi hay nhỏ hơn thì tôn giáo đã đi vào cuộc đời của tôi. Hồi đó một người bạn cùng lớp đã thử làm cho tôi hoán cải. Tôi còn giữ quyển Thánh Kinh bạn cho tôi. Tôi đã đọc khá nhiều bây giờ (…) Tôi có một cái nhìn về tôn giáo gần với điều kỳ diệu! Tôi ấn tượng với phép lạ! Giây phút thiêng liêng mà tôi thích nhất trong mọi phim ảnh là đoạn cuối cuốn phim Ordet, một phim của điện ảnh gia Dreyer, kết thúc bằng một phép lạ. Và đó là điều làm cho tôi rúng động. (…) Tôi muốn biết thế giới này có một người tổ chức và cách nào họ tổ chức. Tôi làm các nghiên cứu khoa học. Tôi rất hiếu kỳ muốn biết cách nào vũ trụ vận hành. Đó là điều làm cho ngày nay tôi không còn tự xem mình là người vô thần. Tôi trở thành người theo thuyết bất khả tri, chữ này là chữ đúng nhất. Một trong các bạn của cha tôi nói họ sẽ thiêu xác mình và sẽ không có tang lễ theo nghi thức tôn giáo. Cha tôi vặn lại: “Tôi thấy anh tự phụ quá.” Một chút theo nghĩa cá cược của Pascal.

 

Nếu độc giả theo dõi tiểu thuyết của ông, thì họ sẽ cho rằng Kitô giáo đang hấp hối…

Không, tôi không nghĩ như thế chút nào. Đó chỉ là quan điểm của một nhân vật. Xem lại. Có một khía cạnh tích cực nơi những người Công giáo trong tiểu thuyết: khi người trẻ đến tham dự một buổi đọc của tác giả Péguy. Diễn giả với “khuôn mặt cởi mở và thân thiện” đã làm mê hoặc người kể chuyện. Tôi đã có dịp quan sát khuôn mặt của những người trẻ này khi họ tham dự Ngày Giới Trẻ ở Paris, tôi đi vì tò mò. Chung chung, tôi không nghĩ các viễn cảnh về Kitô giáo trong sách của tôi chỉ toàn khía cạnh tiêu cực. Bây giờ, ý tưởng một vũ trụ được tổ chức có vẻ thích đáng hơn thời Voltaire: luận chứng của chiếc đồng hồ vĩ đại vẫn đứng vững, sự hiển nhiên của một tổ chức toàn bộ của Vũ trụ. Các khám phá khoa học củng cố cảm nhận có một tổ chức chung hơn là không có… (…)

 

Với quyển tiểu thuyết mới này, người ta kết án ông quá sợ Hồi giáo. Hoặc người ta có thể kết án ngược lại: ông lập lại biện giải cho truyền thống Hồi giáo khi nói Kitô giáo đã chấm dứt. (…) Và ông còn nhìn Hồi giáo với tấm lòng khoan dung hơn trước. Cái gì đã cho phép ông tiến đến điểm này?

Đọc kinh Coran và các tác phẩm khác, trong số đó là các tác phẩm của Bernard Lewis và thời gần đây là của Gilles Kepel. Và rất nhiều chuyện chỉ trích Hồi giáo là có từ trước, đó là điều không chối cãi. Hồi giáo không phát minh ra việc ném đá (một trong những cảnh tượng trưng nhất là cảnh ở trong Phúc Âm, ‘Ai là người không phạm tội thì ném cục đá đầu tiên’), việc cắt bỏ âm vật hay nạn nô lệ. Tôi đã đọc kinh Coran để viết quyển tiểu thuyết này. Trước đó, tôi chỉ lật coi sơ sơ. Đối với tôi, vấn đề là lượng định xem mức độ nguy hiểm của nó. Đọc xong, tôi yên tâm. Sau khi đọc, tôi có những kết luận tương đối lạc quan, dù trên thực tế, tôi không nghĩ người Hồi giáo đọc kinh Coran nhiều hơn là người Công giáo đọc Thánh Kinh. Như vậy cả trong hai đạo, vai trò của tu sĩ là vai trò nền tảng. Phải có người diễn dịch, phải có tu sĩ. Tôi không hình dung một tôn giáo mà không có linh mục, không có người đưa đò.

 

Theo ông, vấn đề của người Hồi giáo ngày nay có phải là họ không có người đưa đường giỏi?

Trước hết là họ không có giáo hoàng! Giáo hoàng sẽ gạt đi các vụ trệch đường. Nếu Hồi giáo có giáo hoàng, chủ nghĩa cực đoan (djihadisme) sẽ bị nhổ tiệt trong vòng 20 năm. Hình phạt: không có quyền tham dự vào các buổi cầu nguyện, không có quyền vào các nguyện đường… Ngắn gọn, một hình thức dứt phép thông công. Không có một tổ chức như thế, không thể thực hiện trong hai năm, thì phải giúp cho một vài thầy cả Hồi giáo.

 

Các người trẻ tham dự vào các tổ chức khủng bố (djihad) có phải vì các lý do tôn giáo không? Hay vì chúng ở trong một xã hội mà ý nghĩa không còn như ông mô tả? Theo một nghĩa nào đó, ông có hiểu các người trẻ này không?

Tôi xem họ rất nghiêm túc. Tôi cho rằng nhu cầu thiêng liêng là một nhu cầu rất nghiêm túc. Tôi nghĩ thật tức tối khi xã hội hóa mọi sự. Không phải tất cả các người trẻ đều đi trệch đường như người ta hay nói. Một vài người trong số họ thuộc tầng lớp trung lưu. Tránh không nên xem họ chỉ là những người loạn óc. Sự choáng váng của họ thì sâu hơn thế. Dù sao, sức hấp dẫn của Hồi giáo không dính gì với chính trị nhưng với tôn giáo, ngược với những gì chúng ta nghe lâu nay. Theo tôi, đó là một cách diễn giải Hồi giáo. Ý nghĩa tốt ở phía tôi: đôi khi, một cách tình cờ, người ta có những vị tử đạo vì chính trị nhưng còn nhiều hơn nữa đối với tôn giáo…

 

Ông trả lời như thế nào với những người chỉ trích ông quấy động việc Hồi giáo hóa?

Những người cho tôi có trách nhiệm trong vụ này ư? Ồ, không.. Không, tôi không phải vậy. Tôi quan sát thấy có một sự suy kém tinh thần nơi một vài người đối thoại với tôi. Những khái niệm phân biệt rạch ròi trước đây như hội chứng sợ Hồi giáo hay kỳ thị chủng tộc nay không còn nữa.

 

Chữ hội chứng sợ Hồi giáo chính nó gây vấn đề. Ông sẽ diễn giải như thế nào?

Thực tế quyển sách của tôi không phải quyển sách về hội chứng sợ Hồi giáo. Chính những người Hồi giáo cực đoan tìm cách để khêu lên hội chứng này theo đúng nghĩa đen của chữ này, có nghĩa là gieo cái sợ. Tất cả hành động của họ không có mục đích nào khác hơn mục đích này.

 

Ông có nghĩ sự cần thiết của tôn giáo như một hệ thống để nối kết con người lại với nhau không?

Có, tôn giáo giúp cho xã hội rất nhiều. Cũng như triết gia Auguste Comte, tôi nghĩ về lâu về dài, một xã hội không thể đứng vững nếu không có tôn giáo. Thực tế, bây giờ người ta thấy những dấu hiệu tan rã của một hệ thống đã có từ vài thế kỷ nay. Nhưng tôi tin vào sự trở lại của tôn giáo. Dù tôi không thể nào nói cho ông hiểu vì sao nó lại xảy ra trong lúc này. Nhưng tôi cảm nhận như vậy. Trong tất cả mọi tôn giáo. Trong Do Thái giáo, tôi thấy người trẻ tin hơn và giữ đạo hơn cha mẹ của họ. Nơi người Công giáo cũng có những dấu hiệu như Ngày Giới Trẻ, như các buổi tổ chức của phong trào Manif pour tous.

 

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Don Bosco: “Xin quý vị nhớ, quỷ sợ những người hạnh phúc!”

Don Bosco: “Xin quý vị nhớ, quỷ sợ những người hạnh phúc!”

Aleteia, Corrado Paolucci, 31-1-2015

Định mệnh đã không để Bosco một mình. Cuộc đời của Thánh Jean Bosco có thể tóm tắt trong câu trên.

Một nhân cách tràn trề niềm vui, luôn luôn vui vẻ, một thiên tài trong ngành giáo dục, người đã làm thay đổi cuộc đời của những người trẻ và tất cả những ai gặp ngài. Một cuộc triển lãm mang tên “Công ty vui vẻ” minh họa sâu đậm tính nhân bản của thánh Bosco và kể lại các công trình phát sinh từ ước muốn làm điều tốt cho nhân loại. Nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ngài, bà Maria Serra, nữ giám đốc của nhà xuất bản “Piccola Casa Editrice” nói về cuộc triển lãm về các công việc của ngài.

Xin bà cho biết từ đâu bà có ý tưởng mở một cuộc triển lãm về thánh Bosco cho các trẻ em và người trẻ xem.

Maria Serra: Từ tháng 8, chúng tôi đã bắt đầu kỷ niệm 200 năm ngày sinh thánh Bosco, lễ kỷ niệm sẽ kết thúc vào tháng 8-2015. Thánh Bosco sinh ngày 16-8-1815. Vào dịp này chúng tôi muốn cuộc đời ngoại hạng của ngài được biết đến nhiều hơn, khi làm công việc này chúng tôi khám phá đây là một con người phi thường. Một nhân cách nhiệt thành, sống động, một trí thông minh ngoại hạng, quan tâm đến các vấn đề hàng ngày. Một người mềm dẽo ở thời buổi mà các phương pháp giảng dạy còn cứng ngắt… Đúng trước sự khám phá tấm lòng nhân bản này, chúng tôi “phải lòng” câu chuyện cuộc đời của ngài và quyết định tổ chức cuộc triển lãm này cho trẻ con xem.

Đâu là giai đoạn đáng kể cuộc đời của ngài trong cuộc triển lãm này?

Maria Serra: Don Bosco được một người mẹ có trực giác sâu đậm theo tinh thần Kitô và nhân bản như nhiều vị thánh hiện đại khác. Từ thuở thơ ấu, thánh Bosco đã cho thấy mình có rất nhiều ơn: lòng quảng đại, quan tâm đến người khác, yêu đời. Bosco nghiêm túc và “trưởng thành” trước tuổi so với các em bé khác cùng tuổi. Trong những ngày chợ phiên ở làng, cậu bé Bosco bắt chước những người diễn trò ở chợ đến mức cậu có thể “cạnh tranh” được với họ. Một khi cậu đã rành nghề, cậu mời các bé trai khác trong làng đến và đề nghị chúng cùng diễn trò với mình, lôi kéo thêm các bạn của mình và như thế làm cho các bạn tránh xa được bạn xấu.

Một câu chuyện thú vị khác chứng tỏ tình thương người nơi Bosco: mỗi ngày với một em bé khác nhau, cả hai gặp nhau và Bosco xin đổi bánh. Bosco có bánh mì trắng, bạn có bánh mì đen, với lý do mình thích bánh mì đen, Bosco đổi cho bạn. Chỉ đến khi lớn, bạn của Bosco mới hiểu lòng quảng đại của Bosco và cách Bosco mang lại niềm vui và tình huynh đệ cho các bạn.

Còn khi lớn lên, trong đời sống nhà giáo thì sao?

Maria Serra: Khi đã lập ra Nhà Nguyện (L’Oratoire), Don Bosco có nhiều phương pháp “sáng tạo” khác nhau để lôi cuốn trẻ con: với những đứa con trai đã làm việc ở xưởng và khi các ông chủ than phiền về chúng, Bosco thuyết phục họ ‘cho mượn” mấy đứa trẻ để mang chúng vào nhà nguyện cùng với các đứa trẻ khác. Có cách nào tốt hơn để phục hồi chúng, để chúng sốt sắng hơn? Với những trẻ em đường phố, Bosco dùng một phương pháp khác, khi chúng chơi ngoài đường, Bosco để tiền trong một chiếc khăn đặt giữa trò chơi, sau đó một cách nhanh nhẹn Bosco chụp cái khăn bỏ chạy. Mấy đứa bé chạy theo đến nhà nguyện, ở đó đã có một linh mục đang giảng cho mấy em bé khác. Lúc đó diễn ra một màn đã chuẩn bị trước: hai linh mục – điều bất bình thường vào thời đó – ồn ào cãi nhau để gây sự chú ý nơi mấy đứa con trai. Sau khi cãi nhau thì họ làm hòa và câu chuyện chuyển qua chủ đề giáo dục, lịch sự xã giao, vui vẻ. Cuối cùng, Bosco hứa đưa tiền cho chúng sau khi ra khỏi nhà nguyện. Và như thế là có rất nhiều trẻ em ở lại với vị linh mục thiện cảm này và bầu khí ở nhà nguyện cực kỳ vui vẻ, mang một tinh thần cùng sống chung với nhau.

Đâu là các nét nổi bật trong nhân cách của Bosco?

Maria Serra: Chắc chắn đó là vui vẻ: khi cha còn nhỏ, cha đã thành lập “công ty vui vẻ” và điều kiện để vào công ty là phải luôn luôn vui vẻ, bắt buộc. Khi lên làm linh mục, các người trẻ hỏi ngài đâu là bí mật sự thánh thiện của ngài, ngài luôn luôn trả lời: “Vui vẻ!”. Nhưng không phải là niềm vui ngây ngô, niềm vui của ngài trong xác quyết Chúa Giêsu là bạn của mình và Chúa Giêsu không bao giờ để ngài một mình. Một nét đặc biệt khác nơi ngài là tình yêu cho những người trẻ mà ngài gặp: ngài luôn tìm một cách nào đó chưa từng có để tạo sự tin tưởng và hy vọng cho chúng. Ví dụ? Một ngày nọ, ngài được phép của cơ quan Tư Pháp cho phép các trẻ em phạm pháp ở Turin được đi chơi một vòng. Và không có người đi kèm! Điều không thể hình dung vào thời đó… Và nhờ lòng tin tưởng sâu đậm của những người trẻ này đối với ngài mà không một em nào bỏ trốn. Chúng được một ngày tự do vui chơi. Và chính với lòng tốt đó mà ngài đã thành công làm thay đổi cuộc đời của những người ở với ngài.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Những gì Giáo hoàng Phanxicô làm cho tôi

Những gì Giáo hoàng Phanxicô làm cho tôisetonmagazine – John Clark

‘Lạy Chúa, xin làm cho con có lòng nghèo khó … nhưng khoan đã!’

Những gì Giáo hoàng Phanxicô làm cho tôi

Trong nhiều năm qua, tôi đã viết về nhiều chủ đề, nhưng chủ đề chính luôn là bảo vệ lòng phụ tử. Trong phạm vi này, tôi đã viết 2 bài về Đức Thánh Cha, giáo hoàng Phanxicô. Tôi không thể giải mã các vấn đề phụng vụ và giáo lý có liên quan đến ngài.

Tôi không phải là chuyên gia giáo luật, cũng không phải là giám mục hay hồng y, nên tôi để những chuyện này cho các thần học gia đáng kính. Suy tư sau đây của tôi không mang tính thần học, ít nhất là xét theo tiêu chuẩn chung. Đây đơn thuần là một nhận định về những gì Giáo hoàng Phanxicô đã làm cho tôi.

Để tôi giải thích cho các bạn.

Làm việc trong ngành tài chính suốt nhiều năm qua, trọng tâm của tôi là tiền bạc. Tôi đã đi khắp Hoa Kỳ, nói về những điểm tốt của thị trường tự do, và tôi viết nhiều bài bảo vệ chủ nghĩa tư bản. (Tôi muốn nói rằng, tôi không hối tiếc gì, tôi nghĩ chủ nghĩa tư bản là tuyệt. Điều tôi hối tiếc là tôi đã không phát triển được cho mình một tâm thức vô tư. Đó không phải là lỗi của chủ nghĩa tư bản. Mà là lỗi của tôi.)

Tôi không phải là Ebenezer Scrooge, nhưng trong danh sách việc hàng ngày của tôi, không có việc ‘thăng tiến tinh thần khó nghèo.’ Tệ hơn nữa, tôi không dạy đức khó nghèo cho các con tôi cho thật ý nghĩa. Tôi hối tiếc vì điều này. Tôi đã không hoàn toàn tin vào nghèo khó.

Năm trước, tôi có đọc một bài, đã thay đổi tôi, hay ít nhất là bắt đầu thay đổi tôi. Đó là ‘Niềm vui của Tin mừng’. Tông thư đầu tiên của Giáo hoàng Phanxicô.

Khi đọc nó, lần đầu tiên trong đời, tôi bắt đầu hiểu được vẻ đẹp của nghèo khó. Bây giờ, có lẽ bạn nghĩ rằng: ‘Còn lời của các thánh, nài nỉ chúng ta hãy thực hành khó nghèo? Còn tất cả những lời cao đẹp của thánh Phanxicô, thánh Clara, và tất cả các thánh khác đã viết về nghèo khó? Tại sao những lời này không thay đổi được bạn?’

Các bạn đúng, khi hỏi những câu này. Tôi cũng đã tự hỏi mình như thế. Và không có câu trả lời. Đáng ra tôi phải thấy được cái tốt của nghèo khó, lâu rất lâu trước khi đến 43 tuổi như bây giờ. Nhưng dù cho tật cận thị phần hồn của tôi có do đâu mà ra, thì Niềm vui của Tin mừng cũng đã chữa lành được cho tôi rồi. Giáo hoàng Phanxicô đòi buộc tôi phải thấy được niềm vui trong đức khó nghèo. Vì lý do gì đi nữa, tôi đã được thoáng nhìn, và thấy đức khó nghèo thật tuyệt.

Mà không chỉ qua tông thư của giáo hoàng, nhưng còn qua cách ngài sống. Việc ngài ôm lấy hết những người nghèo, người bệnh, và người bị chà đạp, là một chứng tá mạnh mẽ. Các hành động của ngài đã thúc đẩy tôi cố gắng theo đức khó nghèo. Thật không phải dễ gì.

Trong những ngày tôi đọc tông thư này, tôi nhớ lại lúc quỳ gối trong thánh lễ và cầu nguyện xin đức khó nghèo. Sau khi cầu nguyện xong, tôi thấy sợ. Tự nghĩ với mình: ‘Nếu tôi có đức khó nghèo, tôi sẽ có ít vật dụng hơn, mà tôi lại cần chúng.’ Vậy nên, tôi cầu nguyện thêm một lời nữa: ‘Lạy Chúa, xin giúp con thật ý với lời cầu nguyện đầu tiên.’

Thật ngạc nhiên, Chúa đã nghe cả 2 lời cầu nguyện của tôi Lần đầu tiên trong đời, tôi đã cố gắng xác định xem làm sao để có ít hơn, thay vì nhiều hơn. Lần đầu tiên trong đời, tôi bắt đầu làm việc ở một điểm phát cháo cho người nghèo, và thấy một niềm vui không tả được lúc làm việc.

Lần đầu tiên trong đời, tôi bắt đầu đi lễ ngày thường, và tôi thấy tinh thần khó nghèo và việc đi lễ ngày thường có gắn kết chặt chẽ. Thật ngạc nhiên.

Tôi không có ý nói về đức hạnh của mình, tin tôi đi, mỗi khi nhớ về những tội lỗi của mình, tôi thấy thật kinh hãi nếu không có lòng thương xót của Chúa. Nhưng, tôi muốn nhấn mạnh, một cách rõ ràng, về việc Giáo hoàng Phanxicô đã giúp lái con thuyền linh hồn tôi như thế nào. Hơn nữa, tôi vẫn chưa đạt được. Chúng ta không bao giờ đạt đến được. Có nhiều điều tôi phải làm, như đọc, lắng nghe, và quan sát lòng thương của Giáo hoàng Phanxicô với người nghèo.

Nghèo khó là một con đường khó đi, bởi con đường đó nhiều lần bị chặn lại, với đủ thứ trang điểm bắt mắt như nhà to cửa rộng và các vật dụng tiện nghi thú vị. Đây là con đường hẹp, con đường lát đá khó nghèo, mà ngay bên cạnh là con đường bằng vàng, và chúng ta thường bị cám dỗ đổi đường. Cám dỗ chệch hướng luôn có, nhưng chúng ta phải nhắm đến đích.

Cần phải kiên nhẫn, và câu hỏi không phải là lúc nào đến đích, nhưng là liệu chúng ta có tiếp tục hành trình hay không. Hoán cải là hành trình cả đời. Bạn không thể đi từ một người duy vật chất đến trở thành thánh Phanxicô thành Assisi trong một ngày. Nhưng với tôi, hành trình này thật thú vị.

Suốt 20 năm qua, tôi đã viết và nói về cái tốt của sự sung túc, của cải, và giờ tôi tin rằng, tôi được kêu gọi dùng 20 năm kế tiếp để nói về sự tốt đẹp của khó nghèo. Nếu có thành quả gì trong hướng đi này, thì tôi rất biết ơn Giáo hoàng Phanxicô. Câu chuyện của tôi, không phải là chuyện nghèo nên giàu, mà là một chuyện giàu nên nghèo.

Đây là câu chuyện mà Giáo hoàng Phanxicô đã giúp tôi bắt tay viết nên. Là những gì ngài đã làm cho tôi.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Tòa Thánh cần phải đi bước trước với Trung Quốc

Tòa Thánh cần phải đi bước trước 1Giám mục của Tề Tề Cáp Nhĩ (Qiqihar), Giuseppe Wei Jingyi, cho biết ‘Chỉ có thương lương với chính quyền, thì mới hạn chế được sự chia rẽ trong người Công giáo ở Trung Quốc.’

Vatican Insider – Gianni Valente

Sự chia rẽ giữa Trung Quốc và Giáo hội Công giáo, vẫn là một ‘vết thương hở miệng’ ‘từ thời xưa’ và ‘phải được xoa dịu và chữa lành.’ Do đó, Tòa Thánh cần phải tận tâm đối thoại với chính quyền Trung Quốc, thậm chí có thể ‘đi bước trước.’ Bởi chỉ khi mối quan hệ rối ren giữa Giáo hội và giới cầm quyền chính trị Trung Quốc được gỡ rối, thì mới giải quyết được sự phân rẽ trong người Công giáo ở nước này. Giám mục của Tề Tề Cáp Nhĩ (đông bắc Hắc Long Giang), Giuseppe Wei Jingyi, đã lên tiếng thẳn thắn và tự do về vấn đề này. Mọi người đều biết rằng chức Giám mục của ngài không được chính quyền thừa nhận, và ngài nổi tiếng là đại diện nhiệt thành của bộ phận bị gọi là ‘bất hợp pháp’ của Giáo hội Trung Quốc, một từ thật sai lầm và đáng buồn được dùng để mô tả nhóm các giám mục, linh mục, và tín hữu không chịu khuất phục dưới các thể chế và phương pháp trong chính sách tôn giáo của Bắc Kinh. Trong quá khứ, Đức cha Wei, 57 tuổi, từ giáo phận Bảo Định, đã bị giam giữ 3 lần, và bị hạn chế tự do cá nhân. Thời gian giam giữ lâu nhất là hơn 2 năm, từ tháng 9, 1990 đến tháng 12, 1992 Việc này phần nào là do những lời hùng hồn và thành thật của ngài.

Cha sinh năm 1958. Thời đó Mao Trạch Đông đang nắm quyền. Vậy cha trở thành Kitô hữu như thế nào?

Người đầu tiên trong gia tộc tôi được rửa tội, là ông nội. Khi tôi lớn lên, cha mẹ là điểm quy chiếu của tôi, họ là những Kitô hữu tốt. Khi còn là một cậu bé, chúng tôi phải chịu nạn đói nặng nề, buộc phải di cư từ tỉnh Hà Bắc, phụ cận Bắc Kinh, đến miền đông bắc, ở tỉnh Cát Lâm.

Cha lớn lên trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa. Làm sao cha giữ vững được đức tin trong thời kỳ gian khó đó?

Nhiều năm trôi qua, mà chúng tôi chẳng gặp được một linh mục nào. Các biểu hiện công khai về Đức tin Kitô giáo đều bị cấm. Có ít gia đình Công giáo trong vùng, và họ đều rất phân tán rải rác. Tôi nhớ chúng tôi thỉnh thoảng có gặp được họ và cùng nhau cầu nguyện kín trong nhà, thường là trong những lễ lớn. Đây là cách chúng tôi tiếp tục giữ đức tin.

Cho đến khi nào?

Mọi chuyện bắt đầu thay đổi vào cuối thập niên 1970. Đó cũng là lúc ước mong làm linh mục nảy nở trong tôi. Trước thời Cách mạng Văn hóa, một người chú của tôi là tu sỹ dòng Xitô, và một chú nữa cũng từng học trong chủng viện.

Ở Trung Quốc hiện đại, các gia đình Kitô giáo vẫn còn đóng một vai trò quan trọng trong việc gieo rắc đức tin Kitô hay không?

Nhịp xã hội đã thay đổi, mọi thứ đang hối hả điên cuồng. Nhiều gia đình Kitô giáo thậm chí không còn có giờ để cầu nguyện chung như trước đây. Không phải là biến mất hết. Nhưng thói quen này không còn mạnh như thời trước nữa. Trước đây, các linh mục chờ giáo dân đến nhà thờ để giải tội, để cử hành thánh lễ, và cử hành các bí tích khác. Còn bây giờ, để lan truyền Tin mừng, bạn phải đi ra khỏi giáo xứ và cho mọi người thấy tình yêu Thiên Chúa và cách đức tin có thể triển nở trong đời sống thường ngày.

Giáo hoàng thường nói rằng, bản tính của Giáo hội là ‘đi ra’ khỏi bản thân mình. Cha có theo dõi huấn từ của ngài hay không?

Chúng tôi dõi theo mọi chuyện: từ các bài giảng của ngài trong các thánh lễ ban sáng ở Nhà trọ Martha, các diễn văn, bài giáo lý hôm thứ tư, các hội nghị và công du của ngài. Chúng tôi bắt kịp mọi sự ngài nói và làm, nhờ vào internet. Chúng tôi nắm bắt được mọi chuyện. Có thể trễ hơn một ngày, nhưng vẫn đến được.

 

Cha có ý kiến gì không?

Giáo hoàng Phanxicô là một ơn Chúa ban cho Giáo hội thời nay, và cho toàn thể nhân loại. Những việc ngài đề xuất rất thích đáng với hoàn cảnh hiện thời của Giáo hội và xã hội Trung Quốc.

Giáo hoàng Phanxicô nói rằng còn đường chúng ta cần đi theo đã được vạch ra trong thư của Đức Bênêđictô XVI gởi Giáo hội Trung Quốc vào năm 2007. Có đúng như vậy không?

Tất nhiên rồi. Thư này chỉ ra một đường ranh rất quan trọng. Chỉ rõ cho thấy những người Công giáo Trung Quốc phải đương đầu và sống trong hiện tại với tất  các vấn đề của mình ra làm sao.

Một trong những vấn đề đó là sự phân rẽ giữa cái gọi là Công giáo ‘hợp pháp’ và Công giáo ‘bất hợp pháp.’ Có vẻ như điều này lại thường được thúc đẩy bởi các tham vọng cá nhân và đấu đá quyền lực

Thói tham danh vọng và tranh chấp vị trí lãnh đạo, cũng có trong những phân rẽ hiện thời. Buồn thay, trong Giáo hội đã có sự tranh chấp quyền lực suốt 2000 năm qua. Nhưng, ở Trung Quốc ngày nay, về căn bản đây là kết quả của áp lực từ bên ngoài. Có sự phân rẽ về cách mà chính quyền đối xử với Giáo hội, và những phân rẽ này đã cô lại chai cứng hơn nữa qua dòng lịch sử. Vậy nên, nếu vấn đề quan hệ với chính quyền được giải quyết, thì có thể chữa lành sự phân rẽ giữa những người Công giáo qua thời gian. Bởi thế, vấn đề quan hệ của Giáo hội với nhà cầm quyền chính trị cần phải được giải quyết càng sớm càng tốt.

 

Một vài người nói rằng nếu Tòa Thánh thương lượng với chính quyền Trung Quốc, thì rơi vào nguy cơ trở nên dễ bảo hay thậm chí là ‘phản bội chính mình.’ 

Ngược lại thì đúng hơn. Chính bởi có vấn đề, nên mới cần tìm các giải pháp thông qua việc tận tâm đối thoại và thương lượng với chính quyền, thiết lập các kênh đối thoại ngoại giao nữa. Đây là cách để cố gắng vượt qua các chướng ngại đang thổi bùng sự phân rẽ. Đây là con đường cần phải theo, để hướng đến sự hiệp nhất Giáo hội. Ngay cả khi nó có nguy cơ mạo hiểm và có thể bị hiểu lầm.

Tại sao?

Bởi sự phân rẽ bắt rễ từ vết thương vẫn luôn hằn dấu trong quan hệ giữa Giáo hội và Trung Quốc kể từ thời xưa. Nó là một vết thương hở, cần được xoa dịu và chữa lành. Sự rạn nứt này giữa Giáo hội và Trung Quốc, vốn cũng được phản ánh trong xã hội Trung Quốc, cần phải được giải quyết, bởi một trong những tác động của nó là gây nên phân rẽ giữa những người Công giáo ‘hợp pháp’ và ‘bất hợp pháp.’ Cần phải phân tích lịch sử để hiểu được các nguyên do, và điều này chỉ có thể đạt được qua đối thoại giữa Giáo hội và chính quyền.

Nhiều người nói rằng Giáo hội không nên quá tin tưởng vào Trung Quốc, và phải có một vài bảo đảm mới được.

Tôi nghĩ rằng, bất kỳ kiểu suy nghĩ nào theo kiểu tranh chấp cho đến tận cái kết cay đắng hay một kiểu chiến tranh lạnh, đều đi ngược lại với tâm hồn Kitô giáo.  Các xung đột và sai lầm trong quá khứ, cần phải được đưa ra thảo luận, chúng ta cần có một tâm hồn biết hoán cải, biến đổi. Chính Giáo hoàng Phanxicô đã nói như thế. Đây là con đường mà những người Công giáo chúng ta cũng như chính quyền cần đi theo, để phục hồi quan hệ, và chỉnh đốn mọi sự cần được thay đổi, mở ra một giải pháp mới, và gạt sang một bên những quyết định sai trái trong quá khứ. Tất cả mọi người cần phải làm phần việc nhỏ của mình để đạt được sự hòa hợp, hòa giải và hòa bình. Đây là con đường của Tin mừng. Tư tưởng Trung Hoa cũng ủng hộ bất kỳ điều gì thúc đẩy hòa giải và giải quyết các bất đồng khác biệt.

Ai cần phải đi bước đầu tiên?

Các bước đầu tiên đã được thực hiện rồi. Chúng tôi ủng hộ tất cả mọi bước đi mà giáo hoàng đang làm để truyền ý chí của ngài cho việc đối thoại. Một Kitô hữu luôn luôn cố gắng là người đi bước trước để đem lại hòa giải và chữa lành các vết thương của con người và xã hội. Vậy nên, thật đúng đắn khi Giáo hội đi bước trước. Cứ giữ khoảng cách thì chẳng tốt chút nào. Đây không phải là một cuộc thi xem ai sẽ đi bước tiếp theo, nhưng là xem ai đi bước đầu tiên trước.

Nhưng các cộng đoàn Công giáo sẽ phản ứng thế nào nếu đối thoại giữa Trung Quốc và Tòa Thánh trở nên cụ thể rõ ràng?

Đại đa số sẽ chào mừng việc đối thoại với chính quyền, như một cách để giải quyết các vấn đề của Giáo hội. Đây là cách để làm cho đời sống của các tín hữu trở nên nhẹ nhàng hơn.

Ngay cả các cộng đoàn ‘bất hợp pháp’? Liệu có nguy cơ làm trầm trọng thêm sự phân rẽ hay không?

Hầu hết các thành viên của cộng đoàn bất hợp pháp cũng sẽ ủng hộ giải pháp này. Lúc đầu, một nhóm nhỏ thấy phiền lòng, họ nói rằng Giáo hoàng không hiểu và Giáo hội không nên bị mất mặt. Nhưng theo thời gian, họ hiểu ra và sẽ đi theo con đường mọi người cùng đi.

Về các giám mục, thư của Đức Bênêđictô năm 2007 có viết: ‘Tôi tin tưởng rằng có thể đạt được thỏa ước với Chính quyền để giải quyết các vấn đề nhất định về việc chọn các ứng viên cho chức giám mục.’

Để là một phần của Giáo hội Công giáo, các giám mục cần phải thông hiệp với Giáo hoàng, Đấng kế vị thánh Phêrô. Trong những hoàn cảnh thông thường, sự thông hiệp này được thể hiện công khai. Cho dù là bằng cách nào đi nữa, thì các tân giám mục phải được bổ nhiệm một cách độc lập. Việc bổ nhiệm phải do Giáo hoàng chỉ định, hoặc tán thành và thừa nhận. Chúng ta có thể thảo luận về chuyện này. Nhưng đây là điểm đầu tiên cần thực hiện.

Còn có các tiêu chuẩn then chốt khác cần có hay không?

Cương vị lãnh đạo mục vụ và giáo luật của Giáo hội ở Trung Quốc phải được thực hiện qua các giám mục. Các cơ quan như ủy ban đại diện Công giáo và Liên hiệp Công giáo Yêu nước, có thể giải tán. Mà cũng có thể giữ lại nhưng không được thực hành quyền quyết định về các vấn đề mục vụ, bí tích và giáo luật có ảnh hưởng đến đời sống Giáo hội, vốn không phải là một tổ chức chính trị. Mọi chuyện đã thay đổi rất nhiều kể từ thập niên 1950 và 1970. Nếu không giải tán các cơ quan này, thì có thể thay đổi chúng theo hướng tích cực, và biến thành những công cụ chức năng và thực tiễn sao cho phù hợp hơn với mối liên hệ giữa các thể chính trị và Giáo hội trong bối cảnh ngày nay. Phải thấy được sự tiến bộ trong các quy chế của các cơ quan này. Các quy chế nói rằng các cơ quan này không can thiệp vào các vấn đề liên quan đến đời sống đức tin. Các cơ cấu và cơ quan có thể cập nhật hóa để tương thích hơn với bản tính của Giáo hội. Điều quan trọng là các cơ quan này không được cố gắng kiểm soát các giám mục về các vấn đề đời sống nội bộ của Giáo hội.

Giáo hội Công giáo ở Trung Quốc đang sống. Nhưng, như Đức Bênêđictô XVI từng nói, đức tin đôi khi như ngọn lửa có thể lụi tắt. Điều gì bảo vệ ngọn lửa này, ngay cả trong những nghịch cảnh?

Ngày nay, ai ai cũng dùng điện thoại di động. Nó là một công cụ hữu ích. Nhưng khi hết pin, và bạn không sạc được, thì nó không hoạt động và trở nên vô dụng. Giáo hội cũng như vậy. Chúng tôi có thể đấu tranh cho hiệp nhất. Nhưng nếu không hiệp nhất trong tình yêu của Thiên Chúa, qua lời cầu nguyện, thì chẳng thành được sự gì. Và tất cả mọi nỗ lực xây dựng hiệp nhất của chúng ta đều sẽ rơi vào vô vọng.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

‘Tôi cầu nguyện mỗi ngày cho giải pháp thương lượng ở Trung Đông’

Middle EastVatican Insider

Roma

‘Thời điểm này, chúng ta đặc biệt thấy lo lắng và đau buồn vô cùng trước những gì đang diễn ra ở Trung Đông, đặc biệt là Irắc và Syria.  Tôi nghĩ đến tất cả những người đang sống ở vùng này, những anh chị em Kitô giáo và các nhóm thiểu số, những người chịu tác động của một cuộc xung đột kéo dài và đau đớn.’ Đây là những lời của giáo hoàng Phanxicô trong buổi tiếp kiến Ủy ban Quốc tế Hợp tác Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống Đông phương.

‘Tôi hiệp cùng các bạn cầu nguyện cho một giải pháp thương lượng và nài xin Chúa ban sự tốt lành và lòng thương của Ngài trên tất cả những người đang phải hứng chịu bi kịch thảm khốc này.  Tất cả mọi Kitô hữu đều được kêu gọi chung tay làm việc, đón nhận và tin tưởng nhau, vì hòa bình và công lý.’

Giáo hoàng nhắc tiếp đến vấn đề đối thoại đại kết. ‘Các cách thức thể hiện sự thông hiệp giữa các giáo hội trong các thế kỷ đầu tiên,’ và các bí tích, đặc biệt là phép rửa tội, là những tâm điểm quan trọng trong công việc của Ủy ban Quốc tế Hợp tác Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống Đông phương. Giáo hoàng Phanxicô mở lòng với các thành viên của ủy ban hiện diện trong sảnh Hội đồng: ‘Tôi hi vọng rằng công việc này sẽ đem lại hoa trái phong phú cho nghiên cứu thần học chung của chúng ta, và giúp chúng ta cảm nghiệm được trọn vẹn tương quan huynh đệ của mình.’

Trong buổi tiếp kiến, giáo hoàng cũng ‘với lòng cảm kích sâu sắc …’ nhắc lại ‘sự tận tâm đầy hứng khởi đối với đối thoại của Đức ngài Ignatius Zakka Iwas, Thượng phụ của Giáo hội Chính thống Syria của Antioch và Toàn Miền Đông, đã qua đời năm ngoái.’

Các Giáo hội Chính thống Đông phương chỉ chấp nhận 3 Công đồng đại kết đầu tiên là Nicaea, Constantinople and Ephesus. Có tổng cộng 6 giáo hội Chính thống Đông phương là Giáo hội Chính Thống Coptic ở Ai Cập/ Tòa thượng phụ Chính thống Syria của Antioch và Toàn Miền Đông ở Damascus/ Giáo hội Tông tòa Armenia với trung tâm là Etchmiadzine/ Địa hạt tự trị Armenia ở Antelias, Li Băng/ Giáo hội Chính thống Ethiopia/ Giáo hội Chính thống Eritrea/ và Giáo hội Chính thống Syro-Malankara

J.B. Thái Hòa dịch

Hai biểu kế của Kitô hữu: ký ức và hi vọng

Christians' two parametersVatican Radio

Giáo hoàng Phanxicô cảnh báo rằng các Kitô hữu lãnh đạm hâm hẩm, đánh mất ký ức và nhiệt tâm của cuộc gặp ban đầu với Chúa Giêsu, họ đang có nguy cơ nghiêm trọng là để ma quỷ đi vào nhà mình. Giáo hoàng giải thích rằng, các Kitô hữu phải luôn luôn giữ được ký ức về cuộc gặp ban đầu với Chúa Kitô, và giữ được hi vọng nơi Ngài để tiến tới với sự dũng cảm của đức tin.

Đây là những lời của giáo hoàng Phanxicô trong thánh lễ ban sáng ngày thứ sáu, 30-01, tại Nguyện đường nhà trọ thánh Martha.

Lấy ý suy niệm từ thư gởi tín hữu Do Thái, Giáo hoàng Phanxicô nói rằng, những người không còn nhớ buổi gặp ban đầu với Chúa Giêsu, là những người trống rỗng trì trệ phần hồn, và đó chính là những người hâm hẩm. Giáo hoàng nhấn mạnh rằng, không bao giờ được quên ngày gặp gỡ ban đầu với Chúa.

Kitô hữu lãnh đạm đang lâm nguy trầm trọng

‘Ký ức của chúng ta nhớ về ơn sủng đã nhận được, là điều quá quan trọng, bởi khi xa lìa lòng nhiệt tâm đến từ ký ức của tình yêu ban đầu đó, thì các Kitô hữu rơi vào một nguy cơ lớn, một đức tin hâm hẩm. Những Kitô hữu hâm hẩm. Họ ở đó, bất động, và đúng, họ là Kitô hữu, nhưng đã mất đi ký ức về tình yêu ban đầu. Và họ cũng mất đi nhiệt tâm. Hơn nữa, họ mất đi sự kiên nhẫn, không chấp nhận chịu đựng các vấn đề với tinh thần yêu thương của Chúa Giêsu, không biết dung thứ và gánh vác các khó khăn … Các Kitô hữu hâm hẩm, thật tội nghiệp, họ đang lâm nguy trầm trọng.’

Giáo hoàng Phanxicô nói rằng khi ngài nghĩ về các Kitô hữu hâm hẩm, ngài bị đánh động bởi hai hình ảnh khó chịu, một là chuyện thánh Phêrô kể về con chó ăn lại những gì nó mửa ra, và hình ảnh kia được Chúa Giêsu kể về những người từ bỏ ma quỷ và quyết định theo bước tin mừng nhưng rồi ma quỷ trở lại với viện binh hùng hậu, thì họ lại mở cửa chào đón chúng vào nhà mình. Giáo hoàng nói rằng việc này giống như ăn lại thứ mà mình đã mửa ra vậy.

‘Một Kitô hữu có hai biểu kế, là ký ức và hi vọng. Chúng ta phải khơi lên ký ức để khônng đánh mất cảm nghiệm tuyệt mỹ của tình yêu ban đầu, vốn nuôi dưỡng hi vọng cho chúng ta. Nhiều khi hi vọng đó chìm trong tăm tối, nhưng Kitô hữu vẫn tiến tới. Người đó tin tưởng và tiến tới bởi họ biết rằng khi tìm kiếm Chúa Giêsu, thì hi vọng đó không bao giờ khiến chúng ta thất vọng. Hai biểu kế này là những bộ khung trong đó chúng ta có thể bảo vệ ơn cứu độ của những người thiện tâm đến từ Thiên Chúa.’

Giáo hoàng nói rằng phải bảo vệ ơn cứu độ này để hạt cải nhỏ xíu sẽ lớn lên và sinh hoa trái.

‘Thật thương tâm và đau đớn khi thấy nhiều Kitô hữu, quá nhiều Kitô hữu, chỉ đi được nửa đường, quá nhiều Kitô hữu vấp ngã trên con đường đến gặp Chúa Giêsu, rồi đi xa khỏi cuộc gặp với Ngài. Mà như thế là họ đánh mất ký ức về tình yêu ban đầu, và không còn hi vọng nữa.’

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Bài mới nhất