Home Blog Page 147

Vụ Abbé Pierre: “Tất cả chúng ta đều có thể là những kẻ thờ thần tượng”

Vụ Abbé Pierre: “Tất cả chúng ta đều có thể là những kẻ thờ thần tượng”

la-croix.com, Jean-Guilhem Xerri, Nhà phân tâm học và nhà huấn luyện, 2024-09-20

Jean-Guilhem Xerri là tác giả của nhiều sách nói về đời sống nội tâm và Giáo hội. Với vụ Abbé Pierre lạm dụng tình dục, tác giả phân tích mối quan hệ của chúng ta với việc thờ ngẫu tượng.

Là nhu cầu cố hữu của con người, việc thờ ngẫu tượng lấp đầy sự thiếu tự tin lẽ ra nên được thay thế bằng lòng quý trọng người khác. Không một tháng nào trôi qua mà không có những tố cáo mới về các hành vi lạm dụng hoặc che đậy các hành vi này. Lạm dụng tinh thần, tâm lý, tình dục, với người lớn, trẻ em của cả hai phái nhưng thường là với phụ nữ của những người ở vị trí quyền lực, của các tu sĩ. Ngoài các hành vi của những người nổi tiếng, còn có các “nhân vật” liên quan đến giáo dân trong hàng tu sĩ như Thomas Philippe, Jean Vanier (l’Arche), Marie-Dominique Philippe, nữ tu Alix (Cộng đoàn Thánh Gioan), Ephrạm (Các mối phúc), Thierry de Roucy (Points-Cœur), Georges Finet (Những ngôi nhà từ thiện) …

Thờ thần tượng, một nhu cầu cố hữu của con người

Bây giờ đến lượt Abbé Pierre, người được cả trong và ngoài thế giới kitô giáo tôn vinh, trong nhiều năm liền ông được bầu là nhân vật của năm được “người Pháp yêu thích”. Yêu thích? Với ông cũng như với các nhân vật danh tiếng khác, sẽ chính xác hơn nếu nói đây là hình thức thờ ngẫu tượng làm cho các hành động của họ trở nên khó hiểu hơn.

Sau khi gặp Tổng thống Mandela, chính trị gia Pháp Nicolas Hulot đã nói: “Tôi luôn giữ một khoảng cách để không bao giờ chìm trong việc thờ ngẫu tượng, trước mặt ông, tôi đã bị cám dỗ phải cúi đầu và quỳ gối.” Abbé Pierre là nhân vật tôn giáo, việc thờ ngẫu tượng là chủ đề của nhiều nghiên cứu trong lãnh vực tâm lý, đặc biệt trong phân tâm học.

Các cô gái trẻ điên cuồng vây quanh thần tượng của họ vừa biểu diễn xong. Chắc chắn các cô này không ghen nhau, họ không “cắn xé” nhau, nhưng họ phản ứng như một đám đông thuần nhất, cùng bày tỏ sự ngưỡng mộ và sẽ rất vui khi chia sẻ lọn tóc xoăn của thần tượng với những người chung quanh. Năm 1921 Freud mô tả hiện tượng này trong tác phẩm Tâm lý đám đông và Phân tích bản ngã, bài phân tích của ông vẫn còn mang tính thời sự. Theo Freud, thờ thần tượng là nhu cầu cố hữu đã khắc sâu trong tâm hồn con người. Tiếp theo ông, nhiều nhà tâm lý học khác đã khám phá được những đe dọa trong nhu cầu đánh giá quá cao, lý tưởng hóa, phục tùng, không chỉ trích, không phủ nhận khi chúng ta thờ thần tượng.

Làm sao lấp đầy khoảng trống này?

“Thần tượng” xuất phát từ tiếng Hy Lạp eidôlon, hình ảnh, chỉ sự hữu hình của một hình thức tổng thể. Những gì tôi thấy ở đó gần như tôi đã được đầy đủ và đã làm xong. Thần tượng được đặt vào vị trí của “lý tưởng về cái tôi chưa đạt được của chính mình”. Tâm lý vô nghĩa này có nghĩa là tôi tạo ra một thần tượng cho chính mình, chính xác tôi bước vào mối quan hệ sùng bái thần tượng để lấp đầy khoảng trống giữa Cái tôi chưa hoàn thiện của tôi và Cái tôi tôi mong muốn trở thành. Bằng cách tôn thờ thần tượng, tôi đã lấp đầy chỗ thiếu của mình. Thần tượng là hình ảnh hoàn chỉnh, tổng thể mà tôi tạo ra cho Cái tôi còn thiếu, chưa hoàn thiện của tôi. Và vì tất cả chúng ta đều là những sinh vật không hoàn thiện nên tất cả chúng ta đều có tiềm năng là những người thờ thần tượng.

Thần tượng là phản chiếu khát vọng của tôi. Nó có thể tập trung vào một ngôi sao, một vận động viên, một nhân vật chính trị, cha mẹ nhưng cũng có thể tập trung vào một mong muốn, quan điểm, hệ tư tưởng, thời trang hoặc tôn giáo. Xu hướng này tự nhiên đến mức không phải lúc nào chúng ta cũng ý thức được mình đang ở trong tương tác với thần tượng. Lãnh vực tình yêu là lãnh vực màu mỡ cho việc thờ thần tượng. Vì thế mê điên cuồng là một cách phóng chiếu ảo tưởng của mình lên người khác, không thấy được bản chất thực sự của họ. Khi những nhu cầu cơ bản của tự tin chưa được củng cố đầy đủ ở giai đoạn phát triển đầu tiên, một số người trưởng thành tìm cách bổ sung khi thần tượng hóa bạn đời của mình. Và nếu chúng ta không lớn lên, không phát triển, chúng ta sẽ không tiến bộ, không trưởng thành nội tâm, chúng ta bị vỡ mộng hoặc thất bại trong hôn nhân.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Sáu người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du

Sáu người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du

Giáo dân về hành hương tại đền thánh Đức Mẹ Mễ Du (Hình minh họa)

fr.aleteia.org, Anne-Sophie Retailleau, 2024-09-19

Ngày thứ năm 19 tháng 9, Vatican cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du tại thánh địa Mễ Du, Bosnia-Herzegovina. Kể từ năm 1981, hàng ngày Đức Mẹ hiện ra với bốn phụ nữ và hai người đàn ông. Đây là phán quyết “nihil obstat”, không có gì cản trở ở mức độ cao nhất trong thủ tục điều tra các hiện tượng siêu nhiên. Vì thế với quyết định này, Rôma công nhận những thành quả tích cực của thánh địa, nhưng không bình luận về tính chất siêu nhiên của những lần Đức Mẹ hiện ra. Tại giáo xứ Mễ Du, nam Bosnia-Herzegovina do các tu sĩ dòng Phanxicô quản lý, Đức Mẹ bắt đầu hiện ra với sáu em từ 10 đến 16 tuổi năm 1981. Hai cô gái trẻ Ivanka Ivankovic và Mirjana Dragicevic là những người đầu tiên thấy Đức Mẹ trên Núi Crnica, sau đó là hai thiếu niên Vicka Ivankovic và Marija Pavlovic. Hai cậu bé cuối cùng Ivan Dragicevic, 16 tuổi và Jkov Colo, 10 tuổi cũng được thấy Đức Mẹ hiện ra.

Mỗi người một sứ mệnh

Với từng cá nhân, Đức Trinh Nữ Maria gởi thông điệp và ý chỉ cầu nguyện riêng. Jkov và Vicka nhận sứ mệnh cầu nguyện cho người bệnh. Ivan nhận sứ mệnh cầu nguyện cho giới trẻ và các linh mục. Ivanka cầu nguyện cho các gia đình. Mirjana cầu nguyện cho những người không có đức tin, còn Marija cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục.

Những lần hiện ra đầu tiên từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 1 tháng 7 năm 1981 tạo thành cốt lõi đầu tiên và khá nhất trí trong Giáo hội. Đó là thời điểm Đức Mẹ giới thiệu Mẹ là “Nữ vương Hòa bình”. Nhưng hàng loạt lần hiện ra sau đó vẫn là chủ đề gây nghi ngờ và thảo luận cho đến bây giờ. Hơn nữa, cựu tu sĩ dòng Phanxicô từng là người hướng dẫn tâm linh cho các em bị dứt phép thông công năm 2020, tạo thêm tranh cãi về thánh địa và những lần Đức Mẹ hiện ra từ những năm 1980.

Đã lập gia đình, họ vẫn sống gần Mễ Du

Bây giờ các em đã trưởng thành, đã lập gia đình, cả sáu đều cho biết Đức Mẹ “Gospa” (Bà trong tiếng mẹ đẻ Croatia của họ) hiện ra mỗi ngày với họ. Những lần hiện ra hàng ngày này kéo dài nhiều năm, Vicka khẳng định bà vẫn còn được Đức Mẹ hiện ra mỗi ngày. Với các người khác, Đức Mẹ hiện ra ít nhất mỗi năm một lần, vào ngày kỷ niệm lần hiện ra đầu tiên, ngày sinh nhật Đức Mẹ hoặc ngày lễ Giáng sinh. Họ phát triển một tình cảm sâu đậm với Đức Mẹ. Jakov còn nhận Đức Mẹ là người thay thế cha mẹ vì cha mẹ qua đời rất sớm khi anh còn rất nhỏ.

Nếu Vatican chưa bao giờ tuyên bố về tính xác thực của việc hiện ra, vì rất phức tạp để chứng thực tính chất siêu nhiên của những lần “Gospa” hiện ra với từng người hàng ngày trong nhiều năm. Những lần hiện ra này vượt quá con số 51.000, làm cho việc chứng minh là điều không thể. Năm người vẫn sống gần thánh đường, trừ Marija sống ở Ý. Nhưng tất cả đều đến đây thường xuyên để gặp giáo dân hành hương, ngoại trừ Ivanka, người rất kín đáo và sống hết mình cho gia đình. Vicka cho biết Đức Mẹ vẫn hiện ra hàng ngày, bà làm việc cho Cenacolo, một cộng đồng có trụ sở tại Mễ Du chuyên giúp đỡ những người nghiện ma túy.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Mẹ Mễ Du: “Vâng, nhưng” của Tòa Thánh

Vì sao Vatican thận trọng khi cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du

Vì sao Vatican vẫn kiểm soát các thông điệp ở Mễ Du?

Giàu có, nhưng tất bật

Giàu có, nhưng tất bật

2024-09-16

Vài năm trước, tôi đi cùng một linh mục đến thăm một người bạn chung của chúng tôi. Bạn tôi là một thương gia thành công, sống ở tầng trên cùng một căn hộ rất đắt tiền nhìn xuống thung lũng dòng sông ở thành phố Edmonton, Canada. Ông đưa chúng tôi ra ban công ngắm nhìn thành phố. Thật tuyệt đẹp. Từ ban công, tầm nhìn có thể nhìn xa hàng dặm, bao quát toàn bộ thung lũng dòng sông và hầu hết thành phố.

Chúng tôi nói với ông, chúng tôi rất kinh ngạc. Ông cám ơn lời khen của chúng tôi, ông tiếc là hiếm khi ông ra ban công để ngồi uống trà ngắm cảnh. Tôi xin trích vài lời của ông: “Cha biết đấy, tôi nên đưa một gia đình nghèo nào đó đến đây để xem. Tôi sống trong căn hầm cũng được, vì tôi chẳng bao giờ có thì giờ để tận hưởng cảnh này. Tôi chẳng nhớ lần cuối tôi đã ra đây để ngắm hoàng hôn hay bình minh là lúc nào. Tôi luôn quá bận rộn, quá áp lực, luôn bận tâm. Tôi ở chỗ này phí quá. Tôi chỉ ra đây khi nào có khách và mời họ nhìn quang cảnh này.”

Chúa Giêsu đã nói một điều có thể diễn giải như sau: Lợi ích gì khi được cả thế gian nhưng luôn quá tất bật, quá áp lực để hưởng nó.

Khi Chúa Giêsu nói về việc được cả thế gian mà mất linh hồn, Ngài không hoàn toàn nói về việc sống vô luân, chết trong tội lỗi và xuống hỏa ngục. Thông điệp của Ngài là lời cảnh báo triệt để hơn. Chúng ta có thể đánh mất linh hồn theo nhiều cách, kể cả khi chúng ta tốt lành, tận tụy, và đạo đức. Người trong câu chuyện tôi vừa kể thật ra là người tử tế, đạo đức, tận tụy và tốt lành. Nhưng ông, như chính ông thừa nhận, ông chật vật đấu tranh để là người sống trọn linh hồn, để cuộc đời được phong phú hơn, vì khi chúng ta sống liên tục dưới áp lực, bị thúc ép phải tất bật không ngừng nghỉ, thì không dễ để mỗi sáng thức dậy có thể nói: “Đây là ngày Chúa dựng nên, tôi mừng vui và hân hoan sống ngày này”. Khả năng nhiều hơn chúng ta sẽ nói: “Lạy Chúa, cho con sống qua ngày hôm nay!”

Cũng vậy, khi Chúa Giêsu nói “thật khó để vào Nước Trời” Ngài không chỉ nói đến những người giàu vật chất, tiền bạc và ảnh hưởng, dù chắc chắn Ngài cảnh báo như vậy. Vấn đề Chúa muốn nói đến, đó là một cuộc đời luôn bận rộn, một lịch trình kín mít, một công việc hoặc một đam mê làm chúng ta hết năng lực đến nỗi hiếm khi chúng ta có thì giờ (hoặc nghĩ đến dành thì giờ) để ngắm nét đẹp hoàng hôn, hay vui vì chúng ta khỏe mạnh, có một lịch trình phong phú.

Thú thật, đây cũng là một trong những đấu tranh của tôi. Trong những năm làm mục vụ, tôi được phúc có một lịch trình phong phú, công việc quan trọng, công việc tôi yêu thích. Nhưng tôi cần thành thật thú nhận trong những năm đó, tôi đã quá hối hả, quá áp lực để không thể ngắm hoàng hôn (trừ khi như bạn tôi, mời một khách nào đó ngắm hoàng hôn.)

Tôi cố thoát khỏi chuyện này bằng cách ép mình vào tĩnh nguyện, đi bộ, tĩnh tâm đều đặn vài tuần nghỉ hè hàng năm. Chắc chắn những chuyện này giúp được phần nào, nhưng gần như mọi lúc tôi ở trạng thái nghiện, áp lực, vội vã, khao khát một không gian để tĩnh lặng, để cầu nguyện, để ngắm hoàng hôn, đi dạo công viên, uống ly rượu vang hoặc trầm ngâm bên điếu xì gà. Và tôi nhận ra một nghịch lý mỉa mai: tôi vội vã và vắt kiệt mình để dành ra một chút thì giờ thư giãn!

Tôi không phải là Thomas Merton, nhưng tôi cảm thấy tôi được an ủi với chuyện ngài là ẩn tu nhưng lại quá bận rộn và áp lực khi đi tìm cô tịch. Để tìm cô tịch, ngài dành vài năm cuối đời ở một nơi ẩn tu, tránh tu viện chính, trừ những lúc dự thánh lễ và đọc kinh phụng vụ mỗi ngày. Rồi, khi tìm được cô tịch, ngài ngạc nhiên khi thấy nó khác với điều ngài đã hình dung. Ngài viết trong nhật ký:

Hôm nay, tôi cô tịch vì khoảnh khắc này “là đủ, trong đời sống của một người bình thường, có đói, có ngủ, có nóng, có lạnh, có thức dậy, có đi ngủ. Đắp chăn rồi bỏ chăn, pha cà phê rồi uống. Rã đông đồ trong tủ lạnh, đọc, chiêm niệm, làm việc, cầu nguyện. Tôi sống như các tổ tiên của tôi đã sống trên trái đất, cho đến khi chết. Amen. Không cần phải tuyên bố gì về đời tôi, nhất là về chuyện nó là của tôi… Tôi phải học cách sống sao cho quên đi chương trình và cách thức”.

Và để ngắm hoàng hôn từ ban công!

Khi chúng ta giàu có, bận rộn, áp lực và đầy mối bận tâm, thì thật khó để uống ly cà phê mình pha.

J.B. Thái Hòa dịch

Anne de Braux: “Giáo lý viên, chúng tôi là những người gieo giống”

Anne de Braux: “Giáo lý viên, chúng tôi là những người gieo giống”

Làm thế nào chúng ta có thể giúp trẻ em mở rộng tâm hồn để gặp Chúa Giêsu? Kinh nghiệm của bà Anne de Braux, tác giả, giáo viên, mẹ của bốn đứa con và giáo lý viên.

lavie.fr, Véronique Durand, 2024-09-13

Tại Saint-Jacques, tháng 6 năm 2024. Antoine Boureau / La Vie

Tác giả Anne de Braux chuyển giao đức tin của bà qua những quyển sách minh họa nhỏ cùng viết chung với linh mục Aldric de Bizemont. Hai tác giả giải thích rất giáo dục, dùng từ ngữ thích hợp với các chủ đề không phải lúc nào cũng đơn giản như Thánh lễ, Tuần Thánh, Kinh Lạy Cha, Mùa Vọng, v.v.. Trước khi là giáo lý viên, bà dạy các lớp dự tòng. Bà thích viết để giúp các cha mẹ mới rửa tội dạy con cái theo đời sống của người tín hữu kitô.

Theo bà, trách nhiệm của giáo lý viên là gì?

Bà Anne de Braux. Trách nhiệm của chúng tôi là giúp trẻ em bén rễ trong việc khám phá lời Chúa, vì thế phải nuôi dưỡng gốc rễ này. Chúng tôi không nghiên cứu các chủ đề chính như các thế hệ trước làm, chúng tôi xin họ đọc đi đọc lại Lời hằng sống này, Lời hằng sống có thể biến đổi tâm hồn. Nếu Chúa Kitô lên thuyền của họ và họ không để Ngài ra đi, tôi tin chắc họ sẽ là các tín hữu kitô hạnh phúc. Đó là mong muốn của tôi dành cho họ, nhưng họ có toàn quyền tự do để mở hoặc không mở cánh cửa lòng mình cho Ngài.

Là giáo lý viên, chúng tôi là những người gieo giống. Tôi biết tầm quan trọng của việc đánh thức nội tâm trẻ em, dạy các em ngồi với Chúa trong thinh lặng. Các em được giao phó cho chúng ta phải thấy chúng ta cầu nguyện, không chỉ bằng cách đọc kinh với các em, vì có nhiều em chưa thấy người lớn cầu nguyện.

Sống chung với các em quan trọng như thế nào?

Nếu chúng ta tin chắc Chúa Kitô thay đổi cuộc sống chúng ta thì chúng ta chia sẻ điều này. Lớp học là thời gian vui vẻ để chuẩn bị cho các em bước vào cuộc gặp này. Đó là thời gian trao đổi và khám phá, nơi các em được tự do nói hơn ở trường học. Khi cầu nguyện, tôi xin các em giao một vấn đề gì đó cho Chúa, dù vui hay buồn, một điều gì đó gắn liền với cuộc sống của các em. Khi cả nhóm quây quần chung quanh người chia sẻ, một tình bạn bền chặt sẽ được nảy sinh.

Một buổi học giáo lý diễn ra như thế nào?

Ở trường tôi, các buổi học bắt đầu 10 giờ sáng ngày thứ hai, không bao giờ bắt đầu vào cuối ngày. Chúng tôi chia lớp thành ba nhóm và các phụ huynh điều hành. Chúng tôi dành thì giờ để chào nhau, nhớ lại những gì đã làm tuần trước. Sau đó, chúng tôi đọc một vài bài, cố gắng hiểu bài này nói gì với chúng ta. Chúng tôi đọc thuộc lòng để các em thấm và xin một hai em diễn kịch. Tiếp theo, chúng tôi dùng một bức tranh nghệ thuật hoặc một biểu tượng để xem, tôi muốn các em viết một cái gì các em xúc động để giữ lại, kết thúc chúng tôi đọc lời cầu nguyện. Còn với các em nhỏ hơn, chúng tôi cho các em tô màu, các em rất thích!

Làm thế nào để thu hút sự chú ý của các em?

Vấn đề tập trung là tệ nạn của thời buổi này. Phải chuẩn bị trước buổi học, để thu hút các em, cần phải thay đổi tiến trình, cách giao tiếp. Phút cầu nguyện phải lắng đọng để các em dễ tập trung. Dọn sàn, để các em có thể ngồi xuống sàn, im lặng với cơ thể là một quá trình học tập lâu dài, lý tưởng là có một nhà nguyện gần đó.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô, cuộc hành trình Châu Á như một sự sống lại

Đức Phanxicô, cuộc hành trình Châu Á như một sự sống lại

parismatch.com, Arthur Herlin, đặc phái viên trên máy bay giáo hoàng, 2024-09-19

Tại dinh Tổng thống ở Dili, điện thoại bên cạnh các chai nước chờ được làm phép. © Willy Kurniawan / AFP

Ở tuổi 87, người đứng đầu Giáo hội công giáo đã làm cả thế giới ngạc nhiên khi ngài đi chuyến tông du thứ 45 dài nhất và xa nhất của ngài đến Châu Á và Châu Đại Dương. Dù ngồi trên xe giáo hoàng hay xe lăn, ngài đều giữ tiến trình bận rộn của 12 ngày này. Các cuộc gặp ngoại giao, cái nóng oi bức ẩm ướt của vùng nhiệt đới không làm suy giảm nghị lực phi thường của ngài. Các nơi ngài đến là vùng ngoại vi, nơi sinh sống của những người bị lãng quên, những người nghèo và những người khiêm tốn. Thông điệp của ngài đi khắp thế giới.

Điều khó tin, không ai tin được đã thành hiện thực không thể chối cãi ngày 6 tháng 9. Abbé Pierre, biểu tượng bác ái của nước Pháp lại là kẻ săn mồi tình dục. Giáo hội và những người thân cận ông đều biết. Ở Pháp, tiết lộ này là tiếng sét vang dội, gây tiếng vang đến cả các nhà báo trong nhóm nhỏ đi theo chuyến tông du của Đức Phanxicô. Thật khó để không hỏi về việc này, nhưng phải chờ cuộc họp báo trên máy bay khi về Rôma. Ngài trả lời ngay: “Đó là điểm tế nhị và đau đớn. Dù mọi điều tốt lành Abbé Pierre đã làm, chúng ta thấy ông là kẻ có tội nặng. Đó là thân phận con người. Không có chuyện che đậy để không thấy.” Sự náo loạn mạnh mẽ đột nhiên làm gián đoạn, ngài nói đùa: “Câu hỏi gây sốc? Nhưng việc lạm dụng tình dục trẻ em và trẻ vị thành niên là một tội ác! Thật đáng xấu hổ!” Ngài nói tiếp: “Vatican có biết không? Sau khi Abbé Pierre qua đời, có, tôi biết chắc chắn điều này nhưng trước đó thì tôi không biết.”

Đức Phanxicô: “Abbé Pierre là tội phạm khủng khiếp”

Đức Phanxicô vẫn ngồi. Sự mệt mỏi thấy rõ trên gương mặt ngài nhưng ngài lúc nào cũng cười. Ngài vừa đi 33.000 cây số, đến thăm bốn quốc gia Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore, vượt hai đại lục trong 12 ngày, không nghỉ ngơi ngày nào. Một sức mạnh phi thường với người trong nhiều năm đã có nhiều vấn đề sức khỏe: nhiễm trùng đường phổi, cắt bỏ ruột, tắc ruột, đau đầu gối, đau xương hông. Tháng 11 năm ngoái, chuyến đi dự định đến Abu Dhabi đã phải hủy bỏ và kể từ chuyến đi Marseille năm trước, ngài không rời Rôma. Những người như Thánh Tôma “phải thấy mới tin” đều cảm thấy bối rối: mặc dù sợ hãi và nghi ngờ, hành trình Châu Á vẫn duy trì và chương trình đầy tham vọng được thực hiện từng điểm một. Năng lượng của Đức Phanxicô đã tạo ấn tượng. Dường như ngài được nâng đỡ, hồi sinh nhờ hành trình này, thể xác mệt mỏi, tiếp thêm sinh lực cho trái tim.

Bộ trưởng Bộ Tôn giáo Indonesia (trái), nghi thức chào đón long trọng ở phi trường Jakarta ngày 3 tháng 9. REUTERS / © Guglielmo Mangiapane

Ngài không che giấu: nếp sống của Vatican đè nặng lên ngài.

Rời xa giáo triều, rời xa Argentina quê hương của ngài, Đức Phanxicô đi tông du, lãnh vực ngài rất xuất sắc, tính hiếu kỳ và đồng cảm đưa ngài đi một cách tự nhiên. Ngài không giấu giếm: công việc thường ngày của Vatican đè nặng lên ngài, chính trị, dù đó là một phần trách nhiệm của ngài, nhưng cũng làm ngài mệt mỏi. Trong cuộc gặp riêng với các nhà truyền giáo của một cộng đồng lạc lõng ở miền Bắc Papua Tân Ghinê, ngài tâm sự theo cách riêng của ngài nhưng đầy hài hước: “Anh em có biết, các tu sĩ Dòng Tên nào tệ nhất sẽ được gởi đến những nơi khổ nhất không? Hãy nhìn tôi: Giám mục Rôma!” một thành viên trong đoàn của ngài kể lại, họ vừa ngạc nhiên vừa cười.

Đức Phanxicô dâng thánh lễ tại Sân vận động Gelora Bung Karno, Jakarta ngày 5 tháng 9. REUTERS / © Dita Alangkara

Chuyến đi truyền giáo khó quên của Đức Phanxicô đến tận cùng thế giới

Vô số các lần nói chuyện, các cuộc gặp đặc biệt với giáo dân: mỗi chuyến đi đều có một nhịp sống mãnh liệt. Với Đức Phanxicô còn hơn nữa, ngài thích được ra ngoài gặp mọi người, mỉm cười, đùa giỡn, chúc phúc cho trẻ em và người bệnh. Nhưng lần này, thử thách đặc biệt khó khăn với người phải ngồi xe lăn. Tất cả được chuẩn bị cho tình trạng này của ngài, nhưng ngài hài lòng với cái tối thiểu. Trong các chuyến bay, ngài ngồi trên chiếc ghế chỉ rộng hơn chiếc ghế của phi hành đoàn. Một ảnh Đức Mẹ để trước ghế ngài, chi tiết duy nhất phân biệt nơi ngài ngồi với người khác.

Tại đền thánh Đức Mẹ ở Port Moresby, Đức Phanxicô gặp người dân địa phương trong y phục truyền thống của họ ngày 7 tháng 9. REUTERS / © Guglielmo Mangiapane

Mũ truyền thống của bộ tộc Vanimo, ở Papua ngày 8 tháng 9. REUTERS / © Guglielmo Mangiapane

“Ngài giữ vững vì ngài tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình của ngài, như nhạc sĩ theo bản dàn bè”

Khi không đi chào các nhà báo, ngài bỏ chiếc áo choàng trắng, chỉ mặc y phục đơn giản của linh mục: quần đen và áo có cổ Rôma. Một bác sĩ và hai y tá theo ngài, trang bị thuốc và máy trợ tim, một số quản gia đi theo ngài, đặc biệt người đẩy xe lăn, người ngài hoàn toàn tin tưởng. Một người khác mang chiếc túi đựng hồ sơ cá nhân và các bài diễn văn của ngài. Những cử chỉ nhỏ nhất của ngài đều được hiểu. Tất cả những gì ngài làm là giơ tay lên một chút để người quản gia đưa cho ngài viên kẹo hoặc tràng chuỗi tùy theo người ngài gặp. Khoảng mười cận vệ Thụy Sĩ và hiến binh Vatican được  chọn kỹ lưỡng để luôn ở bên cạnh ngài.

Đức Phanxicô họp báo trên chuyến bay từ Singapore về Rôma: đi Pháp, Donald Trump và Abbé Pierre

Một người đi trong đoàn của ngài giải thích: “Ngài giữ vững vì ngài tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình của ngài, như kim đồng hồ, như nhạc sĩ theo bản dàn bè.” Ngài ngủ phòng đơn và đôi khi ngài ở căn phòng khiêm tốn nhất của Tòa sứ thần. Đặc ân duy nhất ngài cho phép mình: xin ở gần Nhà Tạm để “ngủ trong sự hiện diện của Chúa”. Đi ngủ sớm, dậy lúc bình minh khi 4h30 sáng, ngài bắt đầu tìm hiểu các bài diễn văn sẽ đọc trong ngày. Ngài dâng thánh lễ lúc 7 giờ 30 sáng, ăn sáng, nghỉ ngơi trước khi làm các việc đầu tiên.

Giáo dân tại công viên Tasi Tolu, Dili, thủ đô của Đông Timor. 600.000 giáo dân (một nửa dân số) dự thánh lễ ngày 10 tháng 9. REUTERS / © Willy Kurniawan 

Ngoài những chăm sóc này, Đức Phanxicô lấy năng lượng từ việc tiếp xúc với các em bé, với người nghèo, người bị bỏ rơi, người bị trục xuất.

Một vài khoảnh khắc tự do cũng được lên kế hoạch, nhưng không phải lúc nào ngài cũng tuân theo. Khi đến Jakarta sau chuyến bay kéo dài 13 giờ, ngài đã tiếp người tị nạn Afghanistan, Sri Lanka, Rohingya và Sudan và các em mồ côi thay vì nghỉ ngơi ngay. Thói quen đã được hình thành, những ai bị lãng quên sẽ là ưu tiên trong chuyến đi của ngài. Vì ngoài những sắp xếp và chăm sóc dành cho ngài, ngài còn lấy năng lượng qua việc tiếp xúc với các em bé, với những người bị bỏ rơi, những người cơ cực, những người bị lưu đày, trước mặt họ, gương mặt ngài sáng lên.

Sự tương phản đặc biệt nổi bật trong cuộc gặp với những người thiểu năng trí tuệ ở Jakarta. Với tấm lòng dịu dàng và kiên nhẫn, ngài ôm họ, có người ngài ôm rất lâu để mang đến cho họ chút an ủi. Nhưng một lúc sau, ngài mất kiên nhẫn trước các linh mục Indonesia đến hôn tay. Phía sau ngài, các quản gia ra dấu để họ đừng quỳ xuống. Không có gì giúp được, với mỗi dấu hiệu tôn trọng, sự mệt mỏi lại hiện rõ trên khuôn mặt của ngài.

Tại Sân vận động Sir John Guise, một thanh niên Papuan mang mặt nạ truyền thống hàng thế kỷ ngày 8 tháng 9. Hình ảnh / © Zuma Press

Nhiều người không nề nắng nóng ra đường gặp ngài ở thủ đô Đông Timor ngày 9 tháng 9. AFP / © Yasuyoshi Chiba

600.000 tín hữu dự thánh lễ ở Đông Timor, một nửa dân số!

Ngài trung thành với nguồn gốc bình dân của mình; không ngạc nhiên, dù đã ở 7 ngày ở Indonesia và Papua, nhưng ngài vẫn còn năng lực ở Đông Timor. Trên máy bay về Rôma, ngài nói với các nhà báo: “Tôi phải nói với các bạn, tôi đã yêu đất nước này.” Đất nước sống trong tình trạng nghèo đói, với dân số 97% là kitô hữu, họ đặt tất cả hy vọng vào chuyến thăm của ngài. Vì vậy khi máy bay hạ cánh, một cảnh tượng hiếm hoi, các kỹ thuật viên phi trường đã quỳ xuống khi ngài xuống máy bay, trán của họ chạm vào đôi giày ngài. Lần này ngài đồng ý. Chắc chắn vì những dấu hiệu tôn trọng này không hề là vì địa vị của ngài. Ngày hôm sau, trong thánh lễ được cử hành buổi tối, 600.000 người, một nửa dân số đất nước đã có mặt! Một số người chờ từ 4 giờ sáng dưới cái nắng chói chang để không bỏ lỡ sự kiện. Chuyến thăm gần đây của một giáo hoàng đến đất nước này là chuyến đi của Đức Gioan-Phaolô II năm 1989. Người dân náo nức chờ ngài, ngài phải đi xe giáo hoàng để chào họ.

Papua Tân Ghinê: “Người dân chúng tôi đoàn kết trong đức tin nhờ các nhà truyền giáo”.

Đưa “thế giới của vùng ngoại vi” về trung tâm là điều mà ở bên kia địa cầu, ngài cố gắng để làm. Tại Port Moresby, trước đám đông người Papua, một số mặc y phục truyền thống với lông chim vùng nhiệt đới, với vòng cổ bằng răng chó, vẽ mặt vẽ người đủ màu sắc hình ảnh, Đức Phanxicô nói với họ, Chúa muốn “phá vỡ khoảng cách”: “Có lẽ anh chị em nghĩ mình ở vùng đất xa xôi khi sống trên hòn đảo vĩ đại này, nằm ở biên giới của thế giới, nhưng Chúa Kitô muốn làm cho anh chị em cảm thấy mình ở trung tâm trái tim Ngài.”

Ở một đất nước, nơi 54% phụ nữ nói họ đã phải chịu đựng bạo hành thể xác, nơi mà theo tổ chức phi chính phủ Plan International, gần một phần tư đàn ông thừa nhận họ đã từng phạm tội hiếp dâm, Đức Phanxicô chọn cách để gởi một tín hiệu mạnh mẽ: “Phụ nữ làm đất nước tiến lên. Chúng ta đừng quên họ, họ ở tuyến đầu trong sự phát triển con người và thiêng liêng.”

Phóng viên Arthur Herlin. © Paris Match

Singapore là điểm dừng chân cuối cùng của hành trình mệt nhọc nhưng đầy sinh lực của Đức Phanxicô. Ở đây một lần nữa, ngài không tha cho ngài. Ngài bỏ bài phát biểu soạn sẵn, ngài ứng khẩu trước các bạn trẻ chủ đề ngài yêu thích, “lòng dũng cảm của tình yêu”.

Singapore, trạm dừng chân của Giáo hoàng, diễn đàn được chọn để hướng đến Trung Quốc

Để phản ánh sự chấp nhận rủi ro điên rồ mà chuyến marathon này cho thấy, với một giáo hoàng mong manh, ngài kêu gọi mọi người phải đi ra khỏi vùng thoải mái “nơi chúng ta bị béo phì”. Ngài nhấn mạnh một cách tinh nghịch: “Quý vị đừng để cái bụng mập phì, như thế cái đầu cũng bị mập theo!” làm cả phòng bật cười, trước khi đột nhiên lấy lại nghiêm túc, ngài nói những lời như vang vọng những dòng cuối của bản di chúc: “Khi anh chị em không còn trẻ nữa, khi anh chị em là những ông bà nội ngoại, anh chị em hãy dạy những gì chúng ta vừa nói cho con cháu mình.”

Marta An Nguyễn dịch

Abbé Pierre: Bài học từ cú sa ngã

Abbé Pierre: Bài học từ cú sa ngã

Hàng loạt tiết lộ về bạo lực tình dục của Abbé Pierre đã đưa đến sự sụp đổ của biểu tượng: từng bù-lon một bị tháo khỏi bệ. Nhà khảo luận Antoine-Marie Izoard giải thích bài học rút ra từ vụ này.

famillechretienne.fr, Antoine-Marie Izoard, giám đốc biên tập của báo Gia đình Kitô giáo, 2024-09-17

Đã đến lúc phải vạch trần. Sau hàng loạt tiết lộ về các vụ tấn công tình dục của Abbé Pierre, nhiều người tự hỏi chúng ta có nên đổi tên hàng trăm địa điểm công cộng – đường phố, quảng trường, trường học, v.v. – mang tên ông không. Tại Esteville, làng Norman, nơi đặt hài cốt của ông đã có quyết định: đài tưởng niệm sẽ bị đóng cửa. Quỹ Abbé-Pierre sẽ được đổi tên và tại nhiều chi nhánh cuả Trung tâm Ê-mau, chân dung người sáng lập bị gỡ xuống. Chưa kể vô số hội trường giáo xứ mang tên ông, các sách giáo lý ca ngợi ông, hình ảnh đen tối của ông sẽ bị xóa bỏ.

Sau cú sốc đầu tiên của Trung tâm Ê-mau tiết lộ vào tháng 7, bây giờ có thêm 17 lời khai mới buộc tội Abbé Pierre là “kẻ tấn công tình dục hàng loạt” với hành vi không kiềm chế được. Một số lời khai này thật đáng sợ. Tính chất và tầm quan trọng công việc của ông đã làm mọi người phải im lặng. Cú sốc càng nặng hơn khi ông được khen ngợi vì cống hiến cả cuộc đời cho những người dễ bị tổn thương nhất. “Nhân vật được người Pháp yêu thích” được tôn vinh 16 lần, ông nổi tiếng là tiếng nói của người nghèo trong mùa đông 1954.

Abbé Pierre bị vạch mặt, vì tôn trọng những nạn nhân, những lời nói của họ từng chút một được giải thoát. Nhưng che biểu tượng bằng tấm màn để nó ít sáng hơn là không đủ. Điều quan trọng là phải hiểu vì sao rất nhiều người biết mức độ nghiêm trọng của những hành vi này, trong số những cộng tác viên thân cận của ông và trong Giáo hội, lại có thể giữ im lặng. Đó cũng là rút ra bài học từ vụ việc này. Trên tất cả, Đức Phaolô VI đã nói, thế giới cần những “nhân chứng” có “một cuộc sống thực sự cộng hưởng với Tin Mừng”. Tuy nhiên, trong quá trình đi tìm các chứng nhân đích thực, chúng ta cẩn thận đừng phong thánh trước thời hạn cho những linh mục, tu sĩ nam nữ, những người hơi quá thường xuyên được chú ý. Thậm chí khi họ hoạt động như các phần tử tự do.

Giáo hội phải cảnh giác, phải thực thi công lý, phải có lòng thương xót. Giáo hội khuyến khích giới truyền thông thận trọng khi đưa tin những nhân vật truyền cảm hứng cho thế giới. Kinh nghiệm cho thấy không phải lúc nào Giáo hội cũng biết cách làm… Đức Phanxicô nhìn nhận Abbé Pierre đã làm “rất nhiều điều tốt lành” nhưng cũng là “một tội nhân khủng khiếp”. Nếu ông không thể tự bảo vệ mình trước công lý của con người, nhưng trước Đấng Tạo Hóa, ông không thoát khỏi công lý của Thiên Chúa. Chúng ta cầu nguyện cho các nạn nhân và không quên cầu nguyện cho ông.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tổng giám mục  Moulins-Beaufort: Trách nhiệm của Giáo hội trong vụ Abbé Pierre

Vụ Abbé Pierre: “Xã hội không còn chịu được sự toàn quyền của một số người” 

Vụ Abbé Pierre: “Chúng ta tạo ra một thần tượng hơn là thực thi công lý”

Tổng giám mục  Moulins-Beaufort: Trách nhiệm của Giáo hội trong vụ Abbé Pierre

Tổng giám mục  Moulins-Beaufort: Trách nhiệm của Giáo hội trong vụ Abbé Pierre

Tổng giám mục Eric de Moulins-Beaufort

fr.aleteia.org, Cécile Séveirac, 2024-09-16

Trong một chuyên mục đăng ngày thứ hai 16 tháng 9 trên nhật báo Le Monde, Tổng giám mục Eric de Moulins-Beaufort, chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp nói về những cáo buộc mới nhất về lạm dụng tình dục của Abbé Pierre. Thẳng thắn công nhận một số giám mục đã được thông báo về vụ lạm dụng nghiêm trọng này, ngài nhắc lại, đã có các biện pháp để chống lại Abbé Pierre và Giáo hội không thể bị cho là người duy nhất chịu trách nhiệm về sự im lặng để chặn những vụ bê bối này.

Nhận ra lỗi của mình, đúng, nhưng hoàn toàn chịu trách nhiệm về những sự việc mà Abbé Pierre bị buộc tội thì không. Đó là thông điệp Giáo hội Pháp muốn nói lên qua tiếng nói của Tổng giám mục Éric de Moulins-Beaufort ngày thứ hai 16 tháng 9. Ngài phát biểu trên nhật báo Le Monde về hành động của Giáo hội và mức độ hiểu biết của Giáo hội về các sự kiện của vụ Abbé Pierre, linh mục đã qua đời năm 2007.

Ngài cho biết, một số giám mục có lẽ đã biết về hành vi lệch lạc và nguy hiểm của Abbé Pierre khi ông còn sống, “các biện pháp đã thực hiện” để ngăn chặn các lệch lạc này, trong đó có chữa trị tâm thần. Ngài thừa nhận: “Chúng ta có thể đánh giá chúng là không đủ, chúng ta hối hận vì đã giữ rất bí mật, nhưng đây là phản ứng của cách làm việc thời đó, ở trong Giáo hội cũng như trong toàn xã hội.”

“Chúng ta đang nói về ai khi nói: Giáo hội?”

Hội đồng Giám mục Pháp đã xin Vatican dỡ bỏ thời hiệu phổ biến các tài liệu lưu trữ, Tổng giám mục Éric de Moulins-Beaufort nhấn mạnh đến các công việc được thực hiện gần đây để bảo đảm các trường hợp lạm dụng tình dục của các tu sĩ phải được xử lý một cách nghiêm túc. Ngài kêu gọi tất cả các cơ quan, tổ chức khác cũng làm như vậy. Ngài lấy làm tiếc vì Giáo hội đã phổ biến và ca ngợi Abbé Pierre trong suốt cuộc đời của ông và cả sau khi ông qua đời: “Giáo hội không phải là cơ quan  duy nhất chịu trách nhiệm về việc tôn vinh này. Nhưng giới truyền thông, chính trị, văn hóa, văn học và nhiều tổ chức khác cũng không hơn gì Giáo hội, cũng không tố cáo các hành động này, không khuyến khích các nạn nhân lên tiếng, không bao giờ đề cập đến vấn đề tấn công tình dục của Abbé Pierre. Giáo hội tránh xa các vấn đề của Abbé Pierre vì ông hầu như luôn sống xa rời bất kỳ khuôn khổ đúng đắn nào của Giáo hội.”

Ngài kết thúc bằng việc làm sáng tỏ vấn đề độc thân của các linh mục, một vấn đề bị nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi, họ xem việc dỡ bỏ là phương tiện chống lại nạn lạm dụng tình dục. Tổng giám mục trả lời: “Việc thách thức Giáo hội và đời sống độc thân của linh mục không phù hợp với những gì mà các vụ tấn công tình dục do Abbé Pierre gây ra.”

Ngày 12 tháng 9, cơ quan truyền thông Mediapart hỏi vấn đề này với nữ tu Véronique Margron, chủ tịch Hội đồng Tu sĩ Pháp, sơ cũng đồng ý với quan điểm này: “Đây không phải là vấn đề, không có nghĩa ngày mai vợ của các linh mục sẽ là tấm bình phong để ngăn chặn các ông khỏi bạo lực tình dục.”

Linh mục Dòng Tên Patrick C. Goujon, giáo sư thần học tâm linh và tín lý (Khoa Loyola Paris) nói: “Chúng ta đã cho phép dựng lên một thần tượng, thay vì thực thi công lý”. Theo linh mục, những tiết lộ liên quan đến các vụ tấn công tình dục của Abbé Pierre với nhiều phụ nữ cho thấy mối nguy hiểm của Giáo hội khi cho phép dựng lên các thần tượng.”

Linh mục đặt câu hỏi về tầm nhìn của chúng ta về sự thánh thiện cũng như sự hoàn hảo.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm

Abbé Pierre: Bài học từ cú sa ngã

Vụ Abbé Pierre: “Xã hội không còn chịu được sự toàn quyền của một số người” 

Vụ Abbé Pierre: “Chúng ta tạo ra một thần tượng hơn là thực thi công lý”

Bỏ lại sự nô dịch và pharaô

Bỏ lại sự nô dịch và pharaô

Ronald Rolheiser, 2024-09-02

Một trong những câu chuyện tôn giáo lớn nhất trong lịch sử là câu chuyện Xuất hành, câu chuyện về một dân tộc được giải thoát khỏi cảnh nô lệ, nhờ phép lạ đi qua được Biển Đỏ, rồi tự do đứng trên một bờ biển mới.

Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với câu chuyện này. Một quốc gia dân tộc Israel đã sống dưới ách nô lệ của Ai Cập trong nhiều năm. Trong những năm này, họ cầu nguyện để được giải phóng, nhưng hơn bốn trăm năm mà không được.

Rồi Thiên Chúa ra tay. Thiên Chúa cử ông Môsê đối đầu với Pharaô đã nô dịch dân Israel, rồi khi Pharaô chống cự, Thiên Chúa cho một loạt tai ương trút xuống, cuối cùng Pharaô phải thả dân Israel ra khỏi ách nô lệ và cho họ ra đi.

Ông Môsê bắt đầu dẫn dân Israel ra khỏi Ai Cập, nhưng khi họ vừa đi thì Pharaô đổi ý, đem quân đội đuổi theo, khi đó dân Israel bị kẹt ở bờ Biển Đỏ, không thể đi tiếp.

Chính lúc đó, Thiên Chúa làm phép lạ củng cố đức tin của người Do Thái. Ngài đã rẽ nước làm đôi và cho dân đi qua biển mà chân khô ráo. Rồi khi quân đội Ai Cập đuổi đến, nước ập về như cũ và nhấn chìm toàn bộ binh lính, khi đó người nô lệ chạy trốn đứng trên một bờ biển mới, được tự do thoát khỏi kẻ áp bức.

Cả người tín hữu kitô và người Do Thái đều tin phép lạ này có thật trong lịch sử, và là một trong hai phép lạ nền tảng mà Thiên Chúa đã làm. Với người tín hữu kitô, phép lạ nền tảng thứ hai là phép lạ Chúa Giêsu Phục sinh. Đức tin Do Thái giáo phụ thuộc vào sự thật về phép lạ Biển Đỏ, và đức tin kitô giáo phụ thuộc vào sự thật về Chúa Giêsu Phục sinh.

Hơn nữa, cả Do Thái giáo và Kitô giáo đều cho rằng những phép lạ này (đã xảy ra trong lịch sử, có thời gian và địa điểm) vốn được định cho mọi thời và mọi nơi và có thể được tham dự thông qua nghi lễ (theo một cách có thật, mặc dù nằm ngoài lịch sử).

Trong Do Thái giáo, phép tính như sau: khi tách Biển Đỏ và để dân Israel thoát nạn, Thiên Chúa làm một phép lạ, biến đổi hiện thực về mặt vật chất. Tuy nhiên, dù về mặt lịch sử, chỉ có một thế hệ thực sự đi qua Biển Đỏ, thì đây là một phép lạ vượt quá thời gian, địa điểm, lịch sử và siêu hình bình thường. Nó vô tận và có thể được nhiều thế hệ sau cùng tham dự.

Như thế nào? Thông qua nghi lễ, thông qua sự tưởng niệm mang tính nghi lễ phép lạ nguyên thủy đó, chính là lễ Vượt qua.

Khi người Do Thái mừng lễ Vượt qua, họ tin không chỉ họ tưởng nhớ một chuyện đã xảy ra khi Thiên Chúa tách Biển Đỏ, họ tin mỗi một người trong số họ, vào hàng thế kỷ sau, đang thực sự bước qua Biển Đỏ. Họ không chỉ tưởng nhớ một sự kiện lịch sử, họ đang tích cực tham gia vào sự kiện đó.

Có thể giải thích chuyện này thế nào? Làm sao có thể giải nghĩa một sự kiện có thể tồn tại ngoài không gian và thời gian? Không thể. Theo định nghĩa, hiện tượng học không thể giải thích phép lạ được. Chính vì vậy mới gọi là phép lạ. Vì thế chúng ta không thể giải thích cả việc đi qua Biển Đỏ, lẫn tính hiệu lực của sự kiện đó ngoài thời gian.

Người tín hữu kitô cũng tin một điều như vậy về cuộc xuất hành của Chúa Giêsu, đi từ cái chết đến phục sinh. Chúng ta tin chuyện này đã  xảy ra trong lịch sử, có thật, trong một sự kiện đã biến đổi thần kỳ vật lý bình thường của trái đất. Và như các anh chị em Do Thái, chúng ta cũng tin sự kiện xảy ra duy nhất, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, là điều mà chúng ta có thể tham dự, một cách có thật và thông qua nghi lễ, cụ thể là tưởng nhớ qua Kinh Thánh và qua việc cử hành Bí tích Thánh Thể.

Với kitô hữu, đây là chức năng đặc biệt của Kinh nguyện Thánh Thể trong việc cử hành nghi thức Thánh Thể. Kinh nguyện Thánh Thể không chỉ là lời cầu nguyện để Chúa Kitô hiện diện trong bánh và rượu, mà còn là lời cầu nguyện để cái chết và phục sinh của Chúa Giêsu hiện diện khi chúng ta tham dự. Cũng như người Do Thái tin lễ Vượt qua là thực sự đi qua con đường Thiên Chúa đã tạo ra cho họ để hướng đến tự do, thì kitô hữu chúng ta cũng tin rằng trong phép Thánh Thể, chúng ta cũng thực sự bước qua con đường kỳ diệu từ sự chết đến sự sống mà Chúa Giêsu đã tạo qua hành trình từ cái chết đến phục sinh của Ngài.

Và, trong chuyện này có lời mời gọi cho tất cả những ai tham dự Bí tích Thánh Thể: đó là trong phần kinh nguyện Thánh Thể, chúng ta hãy tự hỏi, thế lực nào đang nô dịch tôi? Pharaô nào đang giam cầm tôi? Một hình ảnh xấu về mình? Hoang tưởng? Nỗi sợ? Một vết thương nào đó? Tổn thương? Chứng nghiện? Tôi có thể đi với Chúa Kitô đến một nơi mới không còn sự nô lệ này nữa không? Phép lạ phục sinh của Chúa Giêsu, cũng như cuộc Xuất hành, đã xảy ra trong lịch sử, nhưng cũng vượt thời gian và không gian, có sẵn cho chúng ta để chúng ta bỏ lại những Pharaô đang làm chúng ta bị nô dịch, để chúng ta đến với tự do, trên một bờ biển mới.

J.B. Thái Hòa dịch

Vụ Abbé Pierre: “Xã hội không còn chịu được sự toàn quyền của một số người” 

Vụ Abbé Pierre: “Xã hội không còn chịu được sự toàn quyền của một số người” 

la-croix.com, Bà Axelle Brodiez-Dolino, Giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia NRS trong lịch sử đương đại. 2024-09-17

Đối diện với những tiết lộ mới về vụ bạo lực tình dục của Abbé Pierre, một số thành phố và cơ quan thông báo họ sẽ đổi tên các địa điểm và cơ quan mang tên ông, bắt đầu từ Hiệp hội Abbé Pierre. Theo bà Axelle Brodiez-Dolino, sử gia và giám đốc nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia CNRS, vấn đề chính nằm ở việc thiếu tinh thần đoàn kết.

Một người gỡ chân dung Abbé Pierre ngày 12 tháng 9 năm 2024. Jean-François FREY / L’ALSACE/MAXPPP

“Chúng ta có nên xóa tên Abbé Pierre không?” Một câu hỏi nhắc đến sự khác biệt rõ ràng về hoàn cảnh, về vấn đề đã khuấy động các cuộc tranh luận năm 2020: “Chúng ta có nên tháo bù-lon các bức tượng không?” (những nhân vật có quá khứ phân biệt chủng tộc). Nhận thức được mặt tối của một số nhân vật vĩ đại – đặc biệt khi các hành động này cho thấy sự thật của một xã hội mang tính hệ thống rộng lớn – họ hạ bệ các hình ảnh này. Nỗi đau của quá trình: chúng ta đã quá gắn bó với các hình ảnh này và tính đương đại của nó. Kinh thánh nói: “Mỗi việc có thời của mình” (Sách Giảng viên 3,1). Và bây giờ chúng ta ở trong thời của bàng hoàng, phẫn nộ, tức giận và nổi loạn – và điều này lại là một điều lành mạnh. Rồi sẽ đến lúc chúng ta phải tìm hiểu lịch sử, được hỗ trợ nhờ quyết định can đảm mở lưu khố của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Giáo hội Pháp (CNAEF). Trung tâm Ê-mau Abbé Pierre sẽ quyết định trong tinh thần dân chủ xem có xóa tên và gỡ bỏ chân dung của người sáng lập không. Dù thế nào, quyết định sẽ khó khăn. Trong hơn nửa thế kỷ, Abbé Pierre là hiện thân của lòng tốt, đồng cảm, vị tha, bình đẳng, công lý và lẽ phải, ông hy sinh bản thân và bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất, là “tiếng nói của những người không có tiếng nói”. Khuôn mặt gương sáng bây giờ lại thành khuôn mặt gương tối: người bảo vệ nạn nhân bây giờ lại là người lạm dụng nạn nhân, phụ nữ và trẻ vị thành niên dễ bị tổn thương. Trung tâm Ê-mau, một Hiệp hội đoàn kết phải trung thành với quan điểm đạo đức của mình để tiếp tục hoạt động, duy trì lòng tin của các tình nguyện viên và các nhà tài trợ.

Cũng như toàn thể xã hội, bây giờ Trung tâm Ê-mau phải giải cấu trúc và tái thiết: lên án mặt tối, tìm một nơi chốn cho mặt sáng; chấm dứt tình trạng anh hùng hóa và mang một danh tính quái gở – đúng hơn là lột xác một con người để được tái sinh hoàn toàn vào các giá trị.

Từ năm 1957, Abbé Pierre đã thất sủng?

Lịch sử của Trung tâm Ê-mau cho thấy công việc này sẽ không quá khó khăn: toàn bộ của tổ chức đã tan rã cực kỳ nhanh chóng (ít nhất là từ năm 1957 và chính xác là do những vụ bê bối hiện đã được tiết lộ) đã phá vỡ tình đoàn kết của người sáng lập, làm nảy sinh một cuộc chiến tranh chiến hào kéo dài nhiều thập kỷ giữa “những người có có thiện cảm với Abbé Pierre”, những người không biết và vẫn trung thành, và “những người ở Trung tâm Ê-mau”, những người ở địa vị cao biết sự thật và biến Abbé Pierre thành nhân vật thất sủng. Vì thế, theo một nghĩa nào đó, sự xa cách với người sáng lập đã có từ lâu. Hơn nữa, im lặng và xem thường nạn nhân là không xứng đáng với Giáo hội. Abbé Pierre không điều khiển Trung tâm Ê-mau sau khi ông ở Thụy Sĩ vào năm 1957-1958. Cuối cùng, Trung tâm có một ngoại lệ là vẫn giữ tên người sáng lập cho đến cuối năm 1987.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tổng giám mục  Moulins-Beaufort: Trách nhiệm của Giáo hội trong vụ Abbé Pierre

Abbé Pierre: Bài học từ cú sa ngã

Vụ Abbé Pierre: “Chúng ta tạo ra một thần tượng hơn là thực thi công lý”

Vụ Abbé Pierre: “Chúng ta tạo ra một thần tượng hơn là thực thi công lý”

Vụ Abbé Pierre: “Chúng ta tạo ra một thần tượng hơn là thực thi công lý”

Linh mục Dòng Tên Patrick C. Goujon, giáo sư thần học tâm linh và tín lý (Phân khoa Loyola Paris)

Theo Linh mục Patrick Goujon, những tiết lộ liên quan đến các vụ tấn công tình dục của Abbé Pierre với nhiều phụ nữ cho thấy mối nguy hiểm của Giáo hội khi để các thần tượng ở trong hàng ngũ của mình, linh mục đặt vấn đề về cái nhìn của chúng ta về sự thánh thiện.

la-croix.com, Linh mục Patrick C. Goujon, 2024-07-29

“Khốn cho các ngươi khi được mọi người ca tụng, vì các ngôn sứ giả cũng đã từng được cha ông họ đối xử như thế (Lc 6, 26). Với chúng tôi, Abbé Pierre là hiện thân của công lý, không những ông chỉ chăm sóc người nghèo mà còn lật đổ trật tự bác ái. Ông không cho đi khối tài sản dư thừa mà Giáo hội sở hữu. Ông không làm từ thiện. Ông chia sẻ cuộc sống của người nghèo và nâng cao phẩm giá họ qua công việc. Công việc ở Trung tâm Ê-mau sẽ tiếp tục để công chính của Đấng Thiên sai được thể hiện. Chúng tôi hy vọng vào điều này. Nhưng công lý này vẫn tiếp tục bị xem thường vì thể chế che đậy sự thật.

Sau báo cáo của một chuyên gia trên báo Le Monde cho biết nhiều chi tiết. Henri Grouès, tên thật của ông, đã được đưa đi điều trị tâm thần vào cuối những năm 1950 vì chứng cưỡng bức tình dục, lý do của những vụ tấn công tình dục. Các thành viên của hàng giám mục nhận thức được công việc của Trung tâm Ê-mau.

Hình Abbé Pierre bị bôi đen trên một bức tường.

Dựng thần tượng

Vì thế chúng ta thích tạo ra một thần tượng hơn là thiết lập sự thật và thực thi công lý. Chắc chắn, chưa phải lúc để bảo vệ phụ nữ, nhưng những gì Henri Grouès đã phạm, theo quan điểm đầy đủ của những người có trách nhiệm, đã bị Kinh thánh cũng bị giáo luật và luật Hình sự lên án “không được thèm muốn vợ chồng người”. Chúng ta muốn lan truyền hình ảnh một người tốt với mọi người và đặc biệt là với những người nghèo nhất. Nhìn từ xa, ông là thánh!

Trong những năm 1980, Abbé Pierre đã làm dịu đi những nét đặc trưng của chủ nghĩa đạo đức nghiêm khắc ở Pháp và Giáo hội nói chung. Một lập luận hoài nghi chăng? Chúng ta đọc những điều tương tự trong Tin Mừng của các nhà chức trách tôn giáo. “Bạn không hiểu gì cả; bạn không thấy lợi ích của bạn là gì: thà một người chết còn hơn là cả dân tộc bị diệt vong”… Ở đây, logic bị đảo lộn. Bạn không thấy vấn đề sao? Tốt hơn hết là hy sinh một vài nạn nhân và duy trì thần tượng của mình để hình ảnh Giáo hội có lợi cho chúng ta qua người này. Chủ nghĩa trọng nam và giáo quyền không gặp khó khăn gì khi nắm tay nhau. Thế nào là hôn trộm và sờ ngực xét về Sự thật được cứu rỗi trong thời kỳ nguy hiểm này? Chúng ta có hình ảnh thánh thiện nào để cho phép chúng ta đón nhận? Vào cuối đời, ông thú nhận ông gặp khó khăn về khiết tịnh. Ông đã có một mối quan hệ lãng mạn, có đồng thuận. Điều này làm cho ông càng đáng yêu hơn, giá như các linh mục được phép kết hôn. Quý vị thấy, Giáo hội là người mẹ hiền, mẹ không xua đuổi đứa con trai yếu đuối của mình…

Một người gỡ chân dung Abbé Pierre ngày 12 tháng 9 năm 2024. Jean-François FREY / L’ALSACE/MAXPPP

Ông chính là hình ảnh của người đạo đức tốt. Roland Barthes trong quyển Thần thoại năm 1957, đã xác định được những đặc điểm của ông: bộ râu dòng Phanxicô, cây gậy của người hành hương, áo choàng của công nhân, của người lính. Những ca tụng trên phương tiện truyền thông mang cho ông vẻ ngoài của một nhà tiên tri, giữ cho ông đủ vui vẻ để chính quyền không lo lắng về giọng điệu cách mạng của ông. Cũng trong những năm này, Giám mục Jacques Gaillot phải chịu một số phận khác, không phải vì những hành vi đáng trách mà vì quan điểm của giám mục. Abbé Pierre xuất hiện trên màn ảnh truyền hình như đến từ một thời đại khác. Có vẻ như ông đang nói chuyện với Thánh Phanxicô Assisi. Ông mặc áo dòng, bảo đảm tính xác đáng trong mắt chúng ta. Với tuổi tác, sức yếu, ông với nữ tu Emmanuel là hình ảnh gương mẫu của Giáo hội Pháp. Với sự thẳng thắn, tính hài hước tinh quái nhưng có phần ngây thơ của cả hai, họ làm dịu đi sự khắc nghiệt của những gương mặt chính thức mới của Giáo hội trong những năm 1980 và những năm sau đó. Trước hết, cả hai đều là bậc thầy của Chúa nhân lành. Sống trên thùng rác ở Cairo hay thu gom quần áo cũ không phải là việc ở trong tầm tay mọi người, có bao nhiêu nhà nhân đạo làm được như vậy. Abbé Pierre có chân trong Tiệm ăn của Trái Tim (Resto du Coeur). Nhiều người không tin vào Chúa có thể vui mừng với tín hữu kitô nơi khuôn mặt của lời kêu gọi yêu thương người anh em này.

Nhưng sau đó làm sao để biết sự khác biệt?

Có hai nhận xét cần thiết. Trước hết, chúng ta đừng cho cái ác sẽ thắng. Nếu việc tiết lộ liên tiếp các vụ bê bối làm người dân khó tin tưởng vào linh mục và tu sĩ – và chúng ta có thể hiểu điều này – thì điều này sẽ dẫn đến cám dỗ phán xét vội vàng và bất công. Biện pháp khắc phục ở đây rất đơn giản: chỉ cần các tổ chức của Giáo hội không che giấu những người có hành vi bị pháp luật lên án là đủ.

Thánh nhân, anh hùng hoàn hảo?

Yếu tố thứ hai là trách nhiệm của tất cả chúng ta. Các vị thánh không phải là những anh hùng hoàn hảo, để họ được cho là ngang hàng với Thiên Chúa khi còn sống. Chúng ta phải chống lại cám dỗ lý tưởng hóa những người làm điều tốt. Như thể họ đang trở thành ngoại lệ và thoát khỏi những khó khăn mà tất cả chúng ta phải đối diện. Sự thánh thiện tiết lộ cho chúng ta thấy qua sự phản kháng và sự dữ đang xâm chiếm tất cả chúng ta, Thiên Chúa sẽ làm việc với chúng ta như thế nào để mang lại công lý và sự thật trên trái đất. Trên bản tin tuần trước, một người đàn ông được Abbé Pierre cứu thoát khỏi cảnh nghèo đói đã tuyên bố: “Chúng tôi xem Abbé Pierre là Chúa, chúng tôi bị rớt từ trên cao.” Sự chính xác trong lời nói của anh không phủ nhận những điều tốt đẹp đã mang lại mà là ảo tưởng chúng ta đã rơi vào. Khốn thay cho những người duy trì nó! Môsê, người bảo vệ lề luật, cũng là người tố cáo các ngẫu tượng, vì chúng làm cho tín hữu quay lưng lại với Thiên Chúa rất gần gũi. Khi khám phá vụ Abbé Pierre: “Chúng tôi tức giận, ghê tởm nhưng không cam chịu.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Abbé Pierre: Bài học từ cú sa ngã

Tổng giám mục  Moulins-Beaufort: Trách nhiệm của Giáo hội trong vụ Abbé Pierre

Vụ Abbé Pierre: “Xã hội không còn chịu được sự toàn quyền của một số người” 

Bài mới nhất