Home Blog Page 146

Kể từ khi bị mù, linh mục José “đem nhiều người đến với Chúa hơn”

Kể từ khi bị mù, linh mục José “đem nhiều người đến với Chúa hơn”

famillechretienne.fr, Mónica Muđoz – Bérengère Dommaigné , 2024-04-12

Linh mục Mêxicô José Humberto Negrete Lezo, 56 tuổi, bị mù vì bệnh tiểu đường nặng. Ngài chia sẻ trên trang Aleteia về những khó khăn bệnh tật cũng như các ơn ngài nhận trong sứ vụ từ khi ngài bị bệnh.

Nhà văn Antoine de Saint-Exupéry viết trong quyển sách Hoàng tử bé nổi tiếng của ông: “Chúng ta chỉ nhìn rõ bằng trái tim. Điều cốt yếu mắt phàm không thấy được.” Một thấu triệt được linh mục Lezo cảm nhận từ gần 30 năm nay. Cha bị mù từ 7 năm nay, cha chia sẻ trên trang Aleteia về kinh nghiệm khó khăn của bệnh tật nhưng lại phong phú về mặt thiêng liêng.

Cha sinh tại Mêxicô tháng 5 năm 1968, chịu chức ngày 27 tháng 7 năm 1996 lúc 28 tuổi. Khoảng 10 năm trước cha bị bệnh tiểu đường nặng ảnh hưởng đến thần kinh thị giác, thấy không rõ cho đến khi bị mù hẳn. Cha cho biết mới đầu rất khó khăn, cha tức giận và không muốn theo ý Chúa. Nhưng dần dần, cha bắt đầu chấp nhận: “Thời gian đã xoa dịu và trấn an tôi. Tôi không nói tôi xem thường đau khổ vì tôi là con người, nhưng tôi thấy được ý nghĩa thiêng liêng của căn bệnh. Trải nghiệm cuộc sống đau đớn làm tôi nhạy cảm hơn với những người đau khổ, bệnh tật, những người xin tôi lắng nghe họ, những người xin tôi dành cho họ thêm chút thời gian. Khi đó thời gian là của họ.”

Hãy khóc và cầu nguyện

Đắm mình trong suy tư, cha José giải thích thêm: “Đúng là từ quan điểm con người, cuộc sống mất hết ý nghĩa với căn bệnh này, vì mình bị cô lập, cả anh em linh mục cũng xa cách và phân biệt đối xử. Nhưng từ quan điểm thần học và thiêng liêng, đó là cả một phong phú. Từ khi tôi bị mù, tôi đã kéo được nhiều người về với Chúa hơn là lúc tôi sáng mắt. Chính vì tôi hiểu nỗi đau của họ nên tôi cảm thấy gần gũi với họ hơn. Nhưng bị mù vẫn là chuyện rất khó khăn với tôi. Đang thấy màu sắc, con người, đời sống bình thường bỗng nhiên không còn thấy nữa. Tôi phải để tang cho hoàn cảnh này, như thử tôi mất đi một người rất thân yêu. Nhưng phải cầu nguyện rất nhiều với Chúa vì với người tàn tật, không có Chúa, họ không sống được. Chúng ta khóc nhưng chúng ta phải cầu nguyện!”

Cha José Humberto (bên trái) trong thánh lễ tại giáo phận của ngài. Rectoría del Señor Atado a la Columna

Cha José cử hành thánh lễ như thế nào?

Cha José vẫn sống ở nhà xứ kế bên giáo xứ của ngài. Ngài dâng thánh lễ mỗi ngày, có người phụ tá đọc nhỏ các bài đọc để ngài lặp lại trên micrô, đứng cạnh ngài khi ngài Truyền phép. Có nhóm phụng vụ thay phiên nhau đọc Tin Mừng, sau đó ngài giảng. Nếu không có thừa tác viên giúp ngài cho rước lễ cũng không sao, ngài tự lo được, ngài cười nói: “Khuyết tật của tôi là thị giác chứ không phải vận động!”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Sébastien, người vô thần trở lại ở Mễ Du và trở thành linh mục

Sébastien, người vô thần trở lại ở Mễ Du và trở thành linh mục

fr.aleteia.org, Raphaelle Coquebert, 2021-11-30

Linh mục Sébastien Brière.

Một sự trở lại đặc biệt! Tại Đền thánh Đức Mẹ Mễ Du, nơi anh Sébastien Brière, 25 tuổi tình cờ ở đó và anh đã trở lại! Ngày nay, anh là linh mục và vẫn rất gắn bó với nơi thiêng liêng này.

Trên bình diện con người, không ai tưởng tượng có ngày Sébastien, đứa con một nhút nhát và sống nội tâm, lớn lên trong một gia đình thờ ơ với đức tin, một ngày nào đó quyết định dâng mình cho Chúa: “Ở nhà chỉ có bà ngoại là giữ đạo. Bà năn nỉ cha mẹ tôi cho tôi rửa tội. Cha mẹ tôi mất mười năm để nghe lời bà. Tôi theo bà đi lễ Giáng sinh, Chúa nhật Lễ Lá, lễ Phục sinh nhưng không hiểu gì hết và giáo lý chẳng hấp dẫn gì với tôi.”

Không có câu hỏi hiện sinh nào làm Sébastien thắc mắc, anh sống cuộc sống yên bình: anh muốn thành nhà thiết kế phong cảnh, một trong các người chú rất xúc động khi đi hành hương Đức Mẹ Mễ Du, đã khuyến khích anh đến đó. Để làm vừa lòng chú, anh đi Mễ Du kết hợp với các công việc từ thiện, đi thăm các trại tị nạn và các trại mồ côi, với anh, đi những nơi này còn hơn đi lễ!

Được sự hiện diện của Chúa cuốn hút

Ngày 23 tháng 12 năm 2002, anh đến Mễ Du, anh buộc phải ghi vào ô “thánh lễ”. Nhà thờ giáo xứ đông đúc, buổi lễ bắt đầu, nghĩ đến việc phải đứng cả tiếng đồng hồ làm anh nản. Giây phút dâng Mình Máu Thánh Chúa bắt đầu: trong khi cộng đoàn quỳ, nước mắt anh tuôn chảy, anh khóc suốt thời gian ở đây: “Tôi không hiểu chuyện gì xảy ra trong lòng tôi, nhưng đây là những giọt nước mắt của niềm vui chứ không phải của buồn bã.”

Mẹ Maria đã nắm tay tôi để dẫn tôi đến với Con của Mẹ

Khi về lại Pháp, anh không còn là con người cũ. Anh nói: “Tôi quá vui, lòng tôi nhẹ nhõm, tôi bắt đầu lần chuỗi mỗi ngày, đi lễ mỗi chúa nhật. Mẹ Maria đã nắm tay tôi dẫn tôi đến với Con của Mẹ. Những người chung quanh tôi sửng sốt nhưng họ tôn trọng tôi. Hôm nay tôi nhận ra những vụng về do lòng nhiệt thành chiêu dụ tôi đã phạm phải!”

Từ hoán cải đến thánh hiến

Năm 2003, Sébastien trở lại Mễ Du nhiều lần: đức tin mới của anh ngày càng tràn ngập, càng lớn mạnh trong lòng anh. Năm 2004, anh đưa cô Isabelle bạn của anh đến đó, cô cũng được trở lại. chính cô là người thấy được ơn gọi trong lòng anh. Anh nói: “Chưa giây phút nào tôi nghĩ đến việc làm linh mục. Qua Đức Mẹ, Chúa đã mạc khải cho tôi. Sau một năm phân định, tôi quyết định đi tu và tôi có một bình an lớn lao.”

Chịu chức năm 2011 ở Nhà thờ Thánh giá Orléans, hàng năm linh mục luôn tổ chức cho giáo xứ biết nơi đã làm cho linh mục trở lại. Năm 2018, linh mục được bổ nhiệm làm cha quản nhiệm Vương cung thánh đường Đức Mẹ Cléry (Loiret), nơi có tượng Đức Trinh Nữ với các nhân đức kỳ diệu đã thu hút người hành hương từ thế kỷ 13.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Sau khi chinh phục Thung lũng Silicon, cô Montserrat Medina Martínez quyết định dâng mình cho Chúa

Sau khi chinh phục Thung lũng Silicon, cô Montserrat Medina Martínez quyết định dâng mình cho Chúa

fr.aleteia.org, Dolors Massot, Agnès Pinard Legry, 2022-09-12

Montserrat Medina khi 34 tuổi đã là doanh nhân Tây Ban Nha, cô bán công ty khởi nghiệp của cô cho Paypal, cô dâng mình cho Chúa. @Deloitte_ES

Đó là những gì chúng ta gọi là khởi nghiệp rực rỡ. Cuộc hành trình của Montserrat Medina Martínez, năm nay 37 tuổi vừa ấn tượng vừa bất ngờ. Năm 2019, tạp chí Tây Ban Nha Business Insider nổi tiếng đã chọn cô là một trong “21 phụ nữ trẻ Tây Ban Nha đang cách mạng hóa thế giới khởi nghiệp”. Cô là kỹ sư đến từ Valencia, Tây Ban Nha nhận học bổng để học tiến sĩ toán học tại Đại học Stanford. Các dừng các nghiên cứu năm 2011 để thành lập Jetlore, một công ty có trụ sở tại Thung lũng Silicon, San Mateo, California, chuyên cung cấp dữ liệu cho các công ty lớn để họ có dữ liệu thích hợp với nhu cầu khách hàng của họ. Công ty của cô đơn giản là cách mạng hóa hoạt động tiếp thị qua e-mail giúp các công ty lớn như GroupeeBay tăng doanh số bán hàng của họ qua kênh này. Một công việc thành công đã không thoát tay Paypal, họ mua công ty của cô.

Montserrat Medina @Deloitte_ES

Thành công không đợi tuổi, cô tiếp tục sự nghiệp: cô thành đối tác của Deloitte. Cô được tạp chí MIT Technology Review bình chọn là một trong 10 tài năng Tây Ban Nha dưới 35 tuổi xuất sắc nhất. Cô nhận huy chương đồng Giải thưởng Stevie 2017 khen thưởng các nhà lãnh đạo nữ xuất sắc nhất. Nhưng sau hai năm đảm nhiệm chức vụ đứng đầu bộ phận dữ liệu và trí tuệ nhân tạo của một trong bốn công ty tư vấn và kiểm toán lớn nhất thế giới, cô nhìn lại bản thân và quyết định… chuyển hướng.

Từ Thung lũng Silicon đến Tu viện Santa Ana

Và cô quyết định vào Tu viện chiêm niệm Augustinô ở thị trấn Sant Mateu, Castellon, miền đông Tây Ban Nha, cô là nữ tu. Cuối năm 2020, trước khi “biến mất” khỏi Deloitte, cô viết thư cho ban giám đốc giải thích quyết định của cô. Cô cho biết thành công và tiền bạc không làm cô hạnh phúc, cô muốn đi tìm một hạnh phúc hơn.

Đáp lại lời kêu gọi của Chúa, cô cho biết cô đã tìm được “kho tàng” được nói đến trong Tin Mừng: “Thật tiếc là tôi phải từ giã Deloitte. Tôi quyết định bỏ tất cả để theo tiếng gọi của Chúa. Tôi xin các bạn hiểu quyết định của tôi. Tôi muốn sống trong ân sủng của Chúa. Tôi cảm thấy khi theo tiếng gọi này, cuộc sống của tôi mang một ý nghĩa mới, mang hạnh phúc đến cho tôi.”

Lời nói cảm động của cô đã tác động đến các sinh viên trẻ mới tốt nghiệp, họ đang đi tìm cho mình một con đường thế giới chuyên nghiệp. Cô tiếp tục: “Tôi đã dùng tất cả tài năng mà lòng nhân lành vô hạn của Thiên Chúa ban cho tôi, nhưng tôi dùng cho vinh quang riêng của tôi để có nhiều của cải thế gian. Tôi đã tận dụng tài năng của tôi để kiếm lợi cho riêng tôi, tôi đã lừa dối chính tôi, nó không làm cho tôi hạnh phúc, mà còn làm trầm trọng thêm khoảng trống ngày càng lớn trong tâm hồn tôi. Tôi không hiểu vì sao tôi đã không làm gì để xứng đáng với tài năng Chúa ban cho tôi trong những năm qua. Tôi không biết Ngài có kế hoạch gì cho tôi trong tương lai, nhưng điều duy nhất tôi biết chắc chắn, đó là tôi biết tôi có kho báu. Khi đáp lại lời kêu gọi này, tôi cảm thấy cuộc sống của tôi có một ý nghĩa mới làm cho thấy mình may mắn và hạnh phúc.”

Marta An Nguyễn dịch

Về mặt thiêng liêng chúng ta có thể tiến bộ nếu không có người hướng dẫn không?

Về mặt thiêng liêng chúng ta có thể tiến bộ nếu không có người hướng dẫn không?

famillechretienne.fr, Linh mục Gauthier de Chaillé, 2024-09-12

Linh mục Gauthier de Chaillé, giáo xứ Yvelines, Giám đốc Hiệp hội Huynh đệ Lộ Đức trả lời câu hỏi của ông Gabriel: “Chúng ta có thể tiến bộ trên con đường thiêng liêng mà không cần hướng dẫn không?”

Những câu hỏi lớn về đức tin đi theo năm tháng

Người hướng dẫn thiêng liêng hơi giống nhà huấn luyện thể dục thể thao… Trong lãnh vực thể thao, chúng ta có thể tự mình tiến bộ nhờ ý chí, tìm giúp đỡ chỗ này chỗ kia. Chúng ta tìm lời khuyên của huấn luyện viên khi gặp khó khăn sau chấn thương, khi có thử thách cần vượt lên, khi là vận động viên cấp cao… tóm lại khi chúng ta thực sự cảm thấy cần giúp đỡ. Đời sống tâm linh cũng vậy: hầu hết chúng ta có thể đến với Chúa mà không cần người cố vấn lâu dài. Thiên Chúa gởi Thần Khí của Ngài đến giúp chúng ta, Ngài lo cho chúng ta. Cuộc hành trình bình thường của đời sống thiêng liêng được nuôi dưỡng bằng bí tích và đọc Lời Chúa. Chúa hướng dẫn cuộc sống của những ai biết lắng nghe Chúa, tuy nhiên có những lúc chúng ta cần lời khuyên và cần người đồng hành. Nhưng không phải ai cũng cần và ai cũng có kinh nghiệm tốt.

Chúng ta đừng rơi vào hiện tượng thời trang, ai cũng có mình cũng có! Dĩ nhiên các linh mục sẵn sàng hướng dẫn cho những ai cần, nhưng họ không thể đồng hành với tất cả mọi người. Ngày càng có ít người cần đến linh mục đồng hành và các linh mục cũng không thấy cần thiết phải đồng hành với ai đó lâu dài. Vì thế sẽ sai lầm khi nói mọi người đều cần, chúng ta đưa ra một yêu cầu không thể thực hiện được. Đó là lý do mỗi người phải có khả năng nhận định mình có cần linh mục đồng hành hay không và liệu đó có phải là chuyện “xa xỉ” hay không…

Chúng ta đừng quên các tu sĩ không phải ai cũng là linh mục, có những nữ tu, giáo dân được đào tạo để đồng hành, để là người bạn tâm linh. Tất cả đều là những người nâng đỡ chúng ta trên con đường nên thánh. Các linh mục không độc quyền về việc đồng hành. Sự giúp đỡ của người khác có thể cực kỳ thành công và chúng ta không nên xem thường. Để giúp mọi người có được hỗ trợ phù hợp và cần thiết, các người hướng dẫn phải nói rõ cho đương sự biết điểm này điểm kia là điểm cần thiết trong việc đồng hành. Và khi hoàn thành, người hướng dẫn phải nói với đương sự việc hướng dẫn đến đây đã tốt, cần nhường chỗ cho người khác… Trong lãnh vực này cũng như trong các việc của đời sống thiêng liêng, chúng ta phải tôn trọng điều cơ bản hàng đầu là tự do! Hướng dẫn nào cũng phải được phát triển trong tinh thần tự do, không có tự do là giam cầm về mặt thiêng liêng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Những thông điệp tốt đẹp của các vị thánh trẻ gởi đến thế hệ hôm nay

Những thông điệp tốt đẹp của các vị thánh trẻ gởi đến thế hệ hôm nay

fr.aleteia.org, Mónica Mudoz, Ban biên tập Aleteia, 2024-09-17

Giới trẻ và thanh thiếu niên thời buổi này đối diện với nhiều thách thức và câu hỏi. Tuy nhiên, các em có thể trông cậy vào các chân phước, các thánh cùng lứa tuổi để họ mang đến cho các em thông điệp hy vọng.

Ở tuổi này, các em đối diện với nhiều thách thức trong việc định hướng cuộc sống: theo đuổi ngành học nào, nghề nghiệp nào, làm thế nào để đối phó với những điều không ưng ý, với đau khổ? Trong những thập kỷ gần đây các thánh trẻ cũng đã phải đối diện với những vấn đề tương tự. Đó là lý do vì sao khi các em lắng nghe Chân phước Carlo Acutis, Chân phước Chiara Badano, bậc đáng kính Chiara Corbella, vận động viên lướt sóng Guido Shäffer hay Claire de Castelbajac các em có thể rút được những bài học quan trọng. Những anh hùng đức tin trẻ này đã biết phó thác vào Chúa và để lại thông điệp hy vọng cho giới trẻ ngày nay.

1. Biết chọn lựa

Các thánh trẻ này cũng đứng trước các chọn lựa như mọi người, đi tu hay lập gia đình. Guido Shäffer người Brazil đã quyết định đi tu làm linh mục: sau chuyến tông du của Đức Gioan-Phaolô II đến thành phố của Guido năm 1997, năm 2000 Guido đã từ giã công việc và người yêu chưa cưới để vào chủng viện. Đó là quyết định Guido đã can đảm làm sau một thời gian dài phân định. Như thế các chân phước, các thánh cũng đã trải qua thời kỳ nghi ngờ và bấp bênh dài ngắn, họ là những người cầu bàu để giúp các bạn trẻ có được một chọn lựa trong cuộc sống.

2. Kiên định với cam kết của mình

Các thánh trẻ này đích thực là tấm gương vì họ kiên định với cam kết của mình trong cuộc đời ngắn ngủi của họ. Họ truyền giáo như Carlo Acutis, đã làm cuộc triển lãm ảo về các phép lạ Thánh Thể trên thế giới; họ phục vụ các bệnh nhân AIDS và những người cùng khổ ở các khu ổ chuột Rio de Janeiro như Guido Shäffer người Brazil. Ngay cả khi cận kề cái chết, họ vẫn không từ bỏ các hoạt động của mình, qua đó họ mang lại vinh quang cho Chúa và xây dựng cho những người chung quanh. Họ giữ cam kết sâu sắc của họ cho đến hơi thở cuối cùng.

3. Không sợ khổ

Ở thời buổi xã hội tìm mọi cách để tránh đau khổ, các thánh trẻ này hiểu việc chịu đau vì bệnh tật với Chúa Kitô có thể giúp họ thánh hóa mình. Chiara Luce Badano, Claire de Castelbajac, Carlo Acutis đã tìm con đường nên thánh trong đau bệnh, họ không sợ đau đớn hay chết chóc, tin chắc mình  đang ở trong vòng tay Chúa. Vì vậy, khi Carlo Acutis đột nhiên bị bệnh bạch cầu tàn khốc, Carlo dâng đau đớn của mình cho Chúa để cầu nguyện cho Giáo hoàng và Giáo hội, để được lên Thiên đàng. Tất cả các bạn trẻ này đã tìm thấy sức mạnh để đối diện với bệnh tật bằng cách phó thác hoàn toàn vào ý Chúa, vào sự quan phòng thiêng liêng của Ngài. Họ hiểu kế hoạch của Chúa đôi khi khác, nhưng luôn luôn tốt hơn kế hoạch của con người.

4. Ở trong niềm vui

Những khó khăn của cuộc sống không bao giờ làm giảm niềm vui của các thánh. Có khi họ khóc và buồn bã, nhưng đức tin giúp họ vượt lên thử thách và mỉm cười ôm thập giá của mình. Chiara Luce Badano qua đời khi 18 tuổi vì căn bệnh ung thư tàn khốc, dù đang bệnh nhưng niềm vui của cô tràn ngập. Cô thường an ủi những người đến thăm. Tương tự như vậy, tôi tớ Chúa Chiara Corbella, mẹ của một em bé một tuổi, đối diện với nỗi đau bệnh tật và xa gia đình, nhưng cô tìm thấy sức mạnh để mỉm cười và tràn ngập niềm vui đến cuối đời. Cô hiểu chỉ khi kết hợp với Chúa Kitô cô mới có thể vượt qua những thử thách này.

Các thánh trẻ này hiểu cuộc sống chỉ có giá trị đích thực nếu có sự hiện diện của Thiên Chúa, khi đó mới được thánh thiện. Vì vậy, họ trở thành mẫu mực cho giới trẻ thuộc nhiều thế hệ có khát khao nên thánh.

Marta An Nguyễn dịch

 

Vì sao Vatican vẫn kiểm soát các thông điệp ở Mễ Du?

Vì sao Vatican vẫn kiểm soát các thông điệp ở Mễ Du?

famillechretienne.fr, Cyriac Zeller và I.Media Agency, 2024-09-20

Vatican tuyên bố “không có gì cản trở” về mặt thiêng liêng với thánh địa Mễ Du, Bosnia-Herzegovina, nhưng kêu gọi hết sức thận trọng và duy trì một hình thức kiểm soát các thông điệp tiềm năng trong tương lai có thể có ở đây.

Trong cuộc họp báo ngày thứ năm 19 tháng 9, Hồng y Bộ Giáo lý Đức tin Victor Manuel Fernandez bật đèn xanh cho việc tôn kính Đức Mẹ Mễ Du, nhưng ngài rất dè dặt.

Giáo dân hành hương bên cạnh Đức Mẹ Mễ Du ở đồi Đức Mẹ hiện ra ở Medjugorje, Bosnia.  ARMIN DURGUT/AP/SIPA

Cuộc tranh luận chung quanh Đức Mẹ Mễ Du có thực sự kết thúc không? Ngày 20 tháng 9 này, Tòa Thánh cho phép việc tôn kính Đức Mẹ ở thánh địa Mễ Du, xác định các “thông điệp” trong tương lai sẽ phải được phê duyệt trước khi công bố. Quyết định này được một số nhà quan sát xem là biện pháp đặt dưới sự giám sát nơi đã gây tranh cãi trong hơn 40 năm.

Kể từ lần “hiện ra” đầu tiên với sáu trẻ năm 1981, Mễ Du thành nơi hành hương nổi tiếng thế giới, đồng thời hệ thống cấp bậc công giáo cũng bị phân chia. Một số giám mục địa phương Mostar bày tỏ sự dè dặt và một ủy ban điều tra được thành lập dưới thời Đức Bênêđíctô XVI đã nêu lên những nghi ngờ về tính xác thực của hiện tượng này và cách ứng xử của “những người được thấy Đức Mẹ hiện ra”.

Giáo hội kêu gọi thận trọng

Năm 2019, Giáo hội công giáo chính thức cho phép hành hương đến Mễ Du, nhưng Đức Phanxicô nhiều lần chỉ trích, ngài xem Đức Mẹ bị cho là “người quản lý bưu điện”. Các người được Đức Mẹ hiện ra cho biết Đức Mẹ vẫn hiện ra với họ, có khi hàng ngày. Rôma xem việc tôn kính này là “tích cực” và “gây dựng”, nhưng vẫn thận trọng, và không công nhận bản chất siêu nhiên của những lần hiện ra, kêu gọi cảnh giác với một số thông điệp, đồng thời khuyến nghị phải thận trọng khi giải thích.

Hồng y Fernández cho biết, sự chấp thuận này không bảo đảm sẽ không có vấn đề gì trong tương lai và Vatican sẽ can thiệp trong trường hợp có những vấn đề làm phiền tín hữu. Tất cả các thông điệp chưa được công bố hoặc thông điệp trong tương lai sẽ được Tổng giám mục tông tòa Aldo Cavalli chấp thuận trước khi phổ biến. Hồng y cảnh báo về những sai sót tiềm ẩn trong các thông điệp mới, khuyên các tín hữu không nên xem các thông điệp này mang tính gây dựng cho đến khi được phê duyệt.

Linh mục Tomislav Vlasic linh hướng cho những người được Đức Mẹ hiện ra bị dứt phép thông công

Linh mục Tomislav Vlasic linh hướng cho những người được Đức Mẹ hiện ra bị dứt phép thông công năm 2020 . Trong trường hợp có nghi ngờ về một thông điệp, Tổng giám mục tông tòa có thể tham khảo với Bộ Giáo lý Đức tin, Bộ sẽ cố gắng phản hồi nhanh chóng. Để đưa ra phán quyết, Bộ xác định Bộ không liên lạc trực tiếp với những người được Đức Mẹ hiện ra nhưng gởi cho họ “một số gợi ý” thông qua Tổng giám mục tông tòa trong một thư mật. Ngài giải thích, dù việc tiếp xúc với những người được Đức Mẹ hiện ra không bị cấm, nhưng không nên tiếp xúc, mục đích là để duy trì sự cân bằng tâm lý của họ.

Hồng y cũng đề cập đến những lời chỉ trích những người này, họ bị buộc tội nói dối hoặc thu lợi tài chính từ các sự kiện. Ngài nhắc dù các lần hiện ra có nguồn gốc thiêng liêng nhưng không bảo đảm sự thánh thiện của những người được thấy Đức Mẹ hiện ra.

Ngài thừa nhận họ bị bỏ mặc khi đối diện với một tình huống ngoài tầm kiểm soát của họ, việc này liên quan đến linh mục linh hướng đầu tiên Tomislav Vlasic của họ bị dứt phép thông công năm 2020. Dù có những khó khăn, Hồng y kêu gọi không nên quỷ hóa Mễ Du.

Không công nhận bản chất siêu nhiên của các lần hiện ra

Ngài nhấn mạnh hiện tượng Mễ Du không đưa ra những vấn đề lớn về mặt giáo lý, nhưng cần tránh quá đề cao thông điệp. Ngài cũng bác bỏ ý kiến cho rằng một ngày nào đó Vatican sẽ công nhận bản chất siêu nhiên của những lần hiện ra, ngài nhắc lại chỉ có giáo hoàng mới có thể phán quyết về những hiện tượng này, và Đức Phanxicô đã nói ngài sẽ không làm.

Hồng y cũng nêu rõ việc cho phép tôn kính ở Mễ Du đã không được hợp pháp hóa, “các tu sĩ Phanxicô bất đồng chính kiến” còn ở đó, một nhóm đã xung đột với giáo phận từ những năm 1970. Khi được hỏi về các cuộc hiện ra ở Garabandal, Tây Ban Nha, Hồng y cho biết trường hợp này ở trong tình trạng “curatur”, có nghĩa cho phép tôn kính riêng tư nhưng không khuyến khích tôn kính công khai.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Mẹ Mễ Du: “Vâng, nhưng” của Tòa Thánh

Sáu người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du

Vì sao Vatican thận trọng khi cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du

Vì sao Vatican thận trọng khi cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du

Vì sao Vatican thận trọng khi cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du

Gần 15 năm sau cuộc điều tra tông tòa, ngày 19 tháng 9, Vatican công bố một ghi chú công nhận hoa trái thiêng liêng tốt lành cho hàng triệu giáo dân hàng năm hành hương Đức Mẹ Mễ Du, nhưng Vatican kêu gọi nên thận trọng.

lavie.fr, Marie-Lieùvine Michalik. 2024-09-20

Đức Mẹ Mễ Du ở đồi Đức Mẹ hiện ra ở Medjugorje, Bosnia.  ARMIN DURGUT/AP/SIPA

Ngày thứ năm 19 tháng 9, Hồng y Victor Manuel, bộ Giáo lý Đức tin công bố “Nihil non obstat, không có gì ngăn cản”sau các nghiên cứu lâu dài và chuyên sâu về hiện tượng Mễ Du. Nằm ở phía nam Bosnia-Herzegovina, thánh địa đã là chủ đề gây tranh cãi từ khi thành lập năm 1981.

Vào năm 1981, đất nước vẫn còn là một phần của Nam Tư dưới sự kiểm soát của Liên Xô, sáu em bé cho biết các em đã thấy Đức Mẹ hiện ra trong vài ngày. Ba em cho biết các em vẫn còn được Đức Mẹ hiện ra mỗi ngày.

Kể từ đó, khách hành hương đổ xô về ngọn đồi ở vùng nông thôn này. Ông Andrea Tornielli, Tổng biên tập Truyền thông Vatican cho biết, dù địa điểm hiện ra chưa được Vatican công nhận hoàn toàn, nhưng chỉ trong tháng 8 năm nay đã có 325.000 người rước lễ. Mỗi năm có hơn ba triệu du khách đến đây.

Nhiều dấu chỉ cho thấy Chúa Thánh Thần hoạt động

Sau cuộc điều tra kéo dài 14 năm, đôi khi có những ý kiến trái ngược nhau, tuần này Vatican công nhận ở mức độ cao nhất theo các tiêu chuẩn vừa được thông qua vào tháng 5 vừa qua về việc phân biệt rõ hơn các hiện tượng siêu nhiên. Trong số sáu quy tắc được Vatican xác định có thêm ba quyết định thận trọng: prae oculis habeatur (“được xem xét”), curatur (“sửa chữa”) và sub tasko (“theo ủy quyền”); cũng như hai biện pháp cấm can thiệp khi “các điểm quan trọng và rủi ro có vẻ nghiêm trọng”.

Vì thế khi ra phán quyết nihil non obstat với Mễ Du, như Vatican đã làm với Pellevoisin (Indre) vào cuối tháng 8, Bộ công nhận “có nhiều dấu hiệu cho thấy Chúa Thánh Thần hoạt động giữa cuộc xung đột thiêng liêng”, nhưng không “chắc chắn về tính xác thực siêu nhiên của hiện tượng này”.

Hồng y nói thêm: “Vatican có thái độ hết sức tôn trọng trước lòng mộ đạo rất phổ biến nơi những người hành hương đến đây để tìm sức mạnh, bình an nội tâm, ân sủng để được thánh thiện hơn. Trên hết, đây là nơi bình yên, đơn giản nhưng mang nhiều điều tốt đẹp.” Trong báo cáo dài 18 trang có tựa đề “Nữ vương Hòa bình, ghi chú về trải nghiệm thiêng liêng gắn liền với Mễ Du”, Bộ vinh danh thông điệp hòa bình và niềm vui do Đức Trinh Nữ mang đến, phù hợp với sứ điệp của Tin Mừng.

Tuy nhiên, Bộ xin thận trọng với những từ ngữ nói Đức Mẹ tức giận hoặc “dự án của Đức Mẹ” với Giáo hội, một dự án có thể khác với dự án của Thiên Chúa. Bộ nhắc lại: “Các cuộc gặp ở Mễ Du nhắc chúng ta nhớ lời dạy của Tin Mừng, chứ đây không phải là thông điệp trái ngược hoặc xuyên tạc. Một số thông điệp cho rằng Đức Mẹ ra lệnh về ngày tháng, địa điểm, các khía cạnh thực tế, đưa ra quyết định về các chủ đề thông thường phải được cộng đồng phân định.”

Các thông điệp tiếp theo sẽ phải được “đánh giá và phê duyệt” trước khi được xem là “những văn bản mang tính xây dựng”. Một điểm cần cảnh giác, kết luận của ghi chú này không hàm ý phán xét về đời sống đạo đức của những người thấy Đức Mẹ hiện ra.

Việc nhìn nhận thành quả thiêng liêng không xa lạ gì với linh đạo của Đức Phanxicô. Năm 2013, trong tông huấn Niềm vui Tin mừng Evangelii gaudium, ngài nhắc lại lòng mộ đạo bình dân là “vectơ của đức tin “được thể hiện trong một nền văn hóa”. Ngài thường nhắc nhở, bất kỳ người trung gian nào giữa Thiên Chúa và dân Ngài đều có ơn gọi duy nhất là dẫn đến Chúa Kitô và không quay lưng với Ngài. Vì thế sứ điệp Đức Mẹ Mễ Du là phục vụ Chúa, chứ không phục vụ cho người thấy Đức Mẹ hiện ra.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Mẹ Mễ Du: “Vâng, nhưng” của Tòa Thánh

Vì sao Vatican vẫn kiểm soát các thông điệp ở Mễ Du?

Sáu người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du

Giáo dục thiêng liêng, một giáo dục khẩn cấp?

Giáo dục thiêng liêng, một giáo dục khẩn cấp?

la-croix.com, Nhà tiểu luận Jean de Saint-Cheron, người phụ trách chuyên mục trên báo La Croix, 2024-06-10

Trong chuyên mục này, Jean de Saint-Cheron đặt câu hỏi về mối quan hệ của chúng ta với “đời sống thiêng liêng.” Với một số người đó là một cách sống, với một số người khác, đó là các giá trị thiêng liêng. Tác giả cho rằng “điều thiêng liêng” đã bị loại ra khỏi tính siêu việt của nó, vì thế phải đưa nó về lại nguồn cội của nó.

Tác giả Jean de Saint-Cheron ở sân Viện Công giáo Paris tháng 12 năm 2022. Aleister Denni

Ngày nay, cùng với hệ sinh thái, chúng ta có thể thấy rõ hành tinh Trái đất đang trỗi dậy, thay thế cho cái siêu việt không thể tranh cãi, đây là một hình thức mới của điều thiêng liêng. Nhưng cho đến bây giờ, ngoài Đại tướng de Gaulle và Lực lượng Kháng chiến, và ở một mức độ thấp hơn là đội tuyển bóng đá Pháp khi họ thắng giải vô địch World Cup làm cho người dân Pháp đoàn kết, thì gần như người Pháp không đồng ý với nhau về những gì là thiêng liêng!

Đi tìm điều thánh thiêng…

Với một số người, “tự do, đó là điều thánh thiêng”; nhưng với người thời nay làm sao chúng ta hiểu họ nghĩ tự do là gì, khi tự do là cái gì tuyệt đối cá nhân, những cuộc đấu tranh được cho là phổ biến thì chỉ hoàn toàn vì ích kỷ. Với một số người khác, nguồn gốc kitô giáo của nước Pháp là thiêng liêng, nhưng đằng sau chúng ta thấy có nguy cơ to lớn về một chủ nghĩa bản sắc vật chất nổi lên, vừa làm xơ cứng vừa gây chia rẽ, chủ nghĩa phi hiện thực lạc hậu của nó không có tương lai.

Còn theo một số người khác, nước Pháp là vùng đất chào đón tất cả những người bị đàn áp và tất cả những người bất hạnh trên trái đất vốn thiêng liêng, và ở đây chúng ta thấy một sự tuyệt đối hóa của một hệ tư tưởng, dù cao quý như thế nào thì có một ngày chúng ta sẽ tìm thấy, nhưng bây giờ thì rơi vào bế tắc. Cuối cùng, với những người theo điều 17 của Tuyên ngôn về Nhân quyền và Công dân năm 1789 thì tài sản là “quyền thiêng liêng và bất khả xâm phạm” duy nhất. 

… Không có siêu việt

Vấn đề là không còn ai tin vào siêu việt. Vì thế không ai có thể nghiêm túc khẳng định sự tồn tại của một cái gì đó hoàn toàn bứt khỏi con người, thứ đi trước, đoán trước đồng thời lại có được đức tính khiêm nhường tự tin của con người. Nhưng điều thiêng liêng không có tính siêu việt chẳng khác gì một hình thức thờ hình tượng, một thứ ngoại giáo, nơi mọi người tôn thờ vị thần nhỏ của mình theo nghi thức, nguyên tắc, cách làm việc, tầm nhìn của họ về mọi thứ.

Vậy mà Tin Mừng đã đảo ngược hoàn toàn thiêng liêng tính: không chỉ các nghi thức, lời cầu nguyện và các đối tượng của Luật bị cho là không còn tính thiêng liêng, thậm chí còn bị cho là ít thánh thiện. Đó là những dấu hiệu đơn giản để nói lên việc thể hiện tình yêu. Những dấu hiệu càng khiêm tốn khi chúng ta hiểu Thiên Chúa, Đấng vĩnh cửu và toàn năng chưa ai nhìn thấy đã mạo phạm chính mình khi trở thành một hài nhi, một nhà tiên tri, bị chết trên thập giá, không những bị xúc phạm mà còn bị đánh đập.

Vậy chúng ta còn tuyên xưng Tin Mừng ở năm 2024 được nữa không? Một lần nữa, thi sĩ Charles Péguy đã hiểu: điều cần tìm lại trước tiên chính là niềm tin thiêng liêng của tuổi thơ, của học sinh còn ở trong lớp học: “Nhà nước và Giáo hội đã cho chúng ta những lời dạy hoàn toàn trái ngược nhau. Điều đó không quan trọng, chúng chỉ là những bài học. Nhưng có một điều gì đó rất thiêng liêng trong việc giảng dạy ở thời thơ ấu, trong lần đầu tiên đứa trẻ mở mắt nhìn thế giới, có điều gì đó rất tôn giáo đến nỗi hai lời dạy này gắn liền với trái tim chúng ta và chúng ta biết rõ chúng sẽ được liên kết vĩnh viễn. Chúng ta cùng yêu Nhà nước và Giáo hội, chúng ta yêu cả hai cùng một trái tim, đó là trái tim của đứa trẻ, và với đứa trẻ, đó là một thế giới rộng lớn, và cả hai tình yêu, vinh quang và đức tin của chúng ta, với chúng ta đó là thế giới rộng lớn, là thế giới mới.”

Marta An Nguyễn dịch

Đức Mẹ Mễ Du: “Vâng, nhưng” của Tòa Thánh  

Đức Mẹ Mễ Du: “Vâng, nhưng” của Tòa Thánh

Đền thờ Đức Mẹ Mễ Du trong ngày lễ hội | © Pierre Pistoletti

cath.ch, I.Media, 2024-09-24

Trong cuộc họp báo ngày 19 tháng 9 năm 2024. Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, Hồng y Victor Manuel Fernández cho phép việc thờ phượng ở thánh địa Mễ Du, Bosnia-Herzegovina, nhưng trong tương lai các thông điệp sẽ phải được phê duyệt trước khi công bố.

Kể từ lần “hiện ra” đầu tiên với sáu trẻ năm 1981, danh tiếng của Thánh địa Mễ Du lan rộng khắp thế giới, tạo các ý kiến ​​trái ngược nhau trong hàng giáo phẩm công giáo. Ngoài những cảnh báo của nhiều giám mục địa phương ở Mostar, một ủy ban điều tra được thành lập dưới thời Đức Bênêđíctô XVI đã bày tỏ sự dè dặt, đặc biệt về tính xác thực của hiện tượng và về đời sống cá nhân của “những người được Đức Mẹ hiện ra”. Dù năm 2019, Giáo hội đã chính thức cho phép hành hương nhưng Đức Phanxicô đã nhiều lần chỉ trích ý tưởng của một Đức Trinh Nữ Maria như “người quản lý bưu điện”. Hàng ngày những người được Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du vẫn còn nhận thông điệp của Đức Mẹ.

Hôm nay Rôma cho phép tôn kính “Nữ Vương Hòa Bình”, xem thông điệp của Đức Mẹ Mễ Du là “tích cực” và có tác dụng “nâng cao tinh thần”. Nhưng cảnh giác vẫn là điều cần thiết. Vatican không bình luận về bản chất siêu nhiên của những lần hiện ra và bày tỏ một số dè dặt với một số thông điệp, đồng thời kêu gọi thận trọng khi giải thích các thông điệp này. Hồng y Victor Manuel Fernández nhấn mạnh: “Cảnh báo Nihil obstat (Không có gì ngăn cản) không giải quyết được mọi thứ trong tương lai, Rôma sẽ can thiệp nếu có những vụ bê bối có thể gây nhầm lẫn cho tín hữu. Các văn bản chưa xuất bản và các văn bản tương lai phải được đánh giá và phải được phép của Tổng Giám mục tông tòa Aldo Cavalli được Đức Phanxicô bổ nhiệm năm 2018 trước khi xuất bản. Khi chưa được chấp thuận, chúng ta không nên cho đây là văn bản mang tính xây dựng. […] Có thể có sai sót trong các nội dung mới. Nếu Giám mục tông tòa thấy những thông điệp này có điều gì đó không rõ ràng có thể gây nhầm lẫn, ngài sẽ cho chúng tôi biết và chúng tôi sẽ cố gắng trả lời sớm nhất có thể.”

Giáo dân hành hương bên cạnh Đức Mẹ Mễ Du ở đồi Đức Mẹ hiện ra ở Medjugorje, Bosnia.  ARMIN DURGUT/AP/SIPA

Thận trọng với những người được Đức Mẹ hiện ra

 Để đưa ra phán quyết của mình, Bộ Giáo lý Đức Tin đã không liên lạc với những người được Đức Mẹ hiện ra. Tuy nhiên, ngài cho biết ngài đã gởi “một số gợi ý” trong một thư ngài sẽ đọc cho họ và sẽ được giữ bí mật. Trả lời báo chí, ngài cho biết các quan hệ với những người này “không bị cấm” nhưng “không được khuyến khích”. Một lời cảnh báo đặc biệt biện minh cho sự cân bằng tâm lý của họ, đôi khi họ có thể bị những người hành hương tạo áp lực. Hồng y lưu ý có nhiều chỉ trích về những người này, bị cáo buộc nói dối hoặc tưởng tượng quá đáng. Dù những lần hiện ra có tính cách linh thiêng, nhưng điều này không bảo bảm cho “sự thánh thiện” của họ: “Họ cũng có thể phạm tội nặng, cũng yếu đuối như nhiều người khác”. Ngài thừa nhận, những người này “bị bỏ mặc một chút khi đối diện với những tình huống ngoài tầm kiểm soát của họ”. Ngài cũng nói về linh mục người Croatia dòng Phanxicô Tomislav Vlasic, linh hướng đầu tiên của họ, đã bị dứt phép thông công năm 2020 vì truyền bá giáo lý đáng nghi ngờ và bất tuân Rôma. Ngài lưu ý Mễ Du không đặt “vấn đề về giáo lý” như những nơi khác nhưng luôn có nguy cơ “quá cuồng tín về thông điệp”: “Ngay cả khi Đức Mẹ ban cho bạn một thông điệp, điều đó không có nghĩa bạn là con rối… bản phải có trách nhiệm của mình.”

Hồng y đã đến thăm thánh địa Mễ Du, ngài loại trừ khả năng Đức Phanxicô sẽ nhận ra bản chất siêu nhiên có thể có của hiện tượng này. Theo tiêu chuẩn mới về điều tra các hiện tượng siêu nhiên, chỉ có Giáo hoàng mới có thể quyết định.

Hồng y Fernández cho biết, việc công nhận được tôn kính ở Mễ Du không hợp pháp hóa “các tu sĩ Phanxicô nổi loạn” sống ở đó, một cộng đồng đã duy trì xung đột quyền lực với giáo phận từ những năm 1970.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Vì sao Vatican vẫn kiểm soát các thông điệp ở Mễ Du?

Sáu người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du

Vì sao Vatican thận trọng khi cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du

Bác sĩ Boris Cyrulnik: “Bộ não con người chỉ có thể phát triển khi tiếp xúc với người khác”

Bác sĩ Boris Cyrulnik: “Bộ não con người chỉ có thể phát triển khi tiếp xúc với người khác”

Bác sĩ tâm thần kinh Boris Cyrulnik / EUGÉNIE BACCOT POUR LA VIE

Ngay từ những giây phút đầu tiên cuộc đời, một gắn bó an toàn và chắc chắn là điều cần thiết với trái tim con người. Bác sĩ tâm thần kinh Boris Cyrulnik nhắc chúng ta về nhu cầu cơ bản là phải nuôi dưỡng các kết nối này.

lavie.fr, Véronique Châtel, 2024-09-09

Bác sĩ Boris Cyrulnik luôn đưa ra giả thuyết dựa trên những gì ông trải nghiệm bằng xương bằng thịt. Từ quyển sách này qua quyển sách khác ông viết khi ba mươi tuổi, ông kể câu chuyện cá nhân của ông. Ông bị cha mẹ bỏ rơi lúc 4 tuổi, họ buộc lòng phải bỏ con vì để con khỏi bị thành người Do Thái, cha mẹ gởi ông đến một trường học. Ông bị bắt năm 7 tuổi, trong một cuộc đột kích ở Bordeaux, ông trốn thoát cùng ngày, rồi cuộc sống bí mật từ nơi ẩn náu này đến nơi ẩn náu khác cho đến khi Giải phóng. Ðồng cảm với những anh hùng văn học, nhờ họ ông vượt lên được thử thách: Rémi của Hector Malot (Không gia đình), Oliver Twist của Charles Dickens, Trẻ em của Jules Vallès và đặc biệt là Tarzan của Edgar Rice Burroughs. Vì vậy, cậu bé Boris Cyrulnik bị giam hãm trong thời kỳ chiếm đóng, bị đi học trễ nhưng lại là học sinh giỏi nhất. Mười lăm năm sau, ông dựng lên một danh sách anh hùng cho riêng mình, Archibald Joseph Cronin, Frank Gill Slaughter, Albert Schweitzer, tất cả đều là bác sĩ, nên ông trở thành bác sĩ tâm lý thần kinh. Ông khai triển một khái niệm của chính kinh nghiệm của ông: khả năng phục hồi. Hay khả năng của trái tim con người, nếu được che chở tốt, sẽ tiếp tục phát triển “khỏe mạnh” sau khi rơi vào trạng thái đau đớn về tâm lý. Trong bài tiểu luận cuối cùng của ông, Bốn mươi tên trộm trong tình trạng thiếu thốn cảm xúc, ông kể lại rằng sự sống còn về mặt tâm lý của ông nhờ vào những con vật, những loài mà ông thiết lập mối liên kết bất cứ lúc nào ông có cơ hội. Khi còn nhỏ, ông thích quan sát hoạt động của đàn kiến hoặc nói chuyện với con chó của người hàng xóm, nó đứng im chăm chú khi ông kể cho nó nghe những bất hạnh của mình. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ tâm thần kinh, nhiều lần ông xác nhận nhờ quan sát động vật nên ông hiểu được tình trạng con người, giải thích vì sao khi ông nghiên cứu các mối quan hệ trên sự phát triển não bộ, nó thường đi vòng qua thế giới động vật.

Làm thế nào để kết nối với người khác tác động trên sự phát triển của chúng ta?

Bác sĩ Boris Cyrulnik. Bộ não con người chỉ có thể phát triển qua tiếp xúc với người khác. Đó là điều tôi cố gắng giải thích chi tiết trong Ủy ban về “1.000 ngày đầu tiên của đứa trẻ” do chính phủ thành lập vào năm 2019. Sự phát triển  bộ não được hướng dẫn qua ba hốc cảm giác: tử cung của phụ nữ mang thai, ngôi nhà của cha mẹ khi đứa trẻ lớn lên và những người nó quan hệ bằng lời nói. Trong bụng mẹ, thai nhi rất nhạy với các chất hóa học tạo ra từ cảm xúc của người mẹ. Nếu người mẹ mang thai trong môi trường an toàn, êm dịu, thoải mái, bà sẽ tiết ra những hormone có lợi cho sức khỏe của bà và thai nhi. Nếu bà bị căng thẳng, bất an, bà sẽ trải qua những cảm xúc tiêu cực sản sinh ra các chất hóa học – như cortisol – gây độc cho bào thai -, và như thế sẽ làm suy yếu hệ thống thần kinh phát triển não bộ em bé, đứa bé lớn lên với tình trạng suy giảm nhận thức.

Vậy sự bất hạnh của người mẹ là nguồn gốc bất hạnh của con mình?

Chính xác. Vì thế việc đảm bảo sức khỏe cho bà mẹ khi mang thai là rất quan trọng. Nhưng điều gì làm họ không vui? Bạo lực gia đình thường bắt đầu trong thời kỳ mang thai, tình trạng bất an xã hội và cảm giác bất an. Khi sinh ra, chúng ta đã bị ảnh hưởng bởi chín tháng trong bụng mẹ. Chúng ta đã có mối liên kết với cảm xúc của mẹ. Chăm sóc phụ nữ mang thai đồng nghĩa với việc ngăn ngừa tai họa cho con người.

Điều gì xảy ra khi sinh?

Một người mẹ được che chở, được có người khác ở bên cạnh, có gia đình quan tâm đến việc con mình sẽ ra đời sẽ cảm thấy an toàn. Bà sẽ yên tâm cho con, tương tác tốt với con và đứa trẻ sẽ lớn lên trong môi trường giàu liên kết. Nó sẽ có mọi thứ cần để phát triển. Khi 10 tháng, trẻ con đã có được kiểu gắn bó thấm nhuần trí nhớ và sẽ quyết định sự gắn bó này trong tương lai. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu chứng minh chỉ 70% trẻ sơ sinh cảm thấy được gắn bó an toàn; 30% không an toàn.

Hậu quả của hai loại gắn bó này sẽ là gì?

Chính từ nền tảng an toàn của em bé, em bé sẽ có thể khám phá thế giới một cách độc lập. Nếu trẻ con cảm thấy mình xứng đáng được yêu thương, được bảo vệ thì nó sẽ cảm thấy mình xứng đáng được sống và có quyền khám phá những gì xung quanh mình. Những trải nghiệm cảm xúc ban đầu qua các mối ràng buộc bảo vệ, sự chú ý và cử chỉ trấn an sẽ ảnh hưởng đến quỹ đạo cảm xúc xã hội của một cá nhân trong suốt cuộc đời của họ. Tôi nhớ một đứa bé tôi chăm sóc khi mới hành nghề, mẹ của em khi đó mới 15 tuổi, sống trong cảnh cô đơn thiếu thốn vật chất. Cô có thói quen đặt con vào bồn tắm khi ra ngoài. Và cô đi ra ngoài rất nhiều, đứa bé ngồi hàng giờ với bốn bề màu trắng không phản chiếu gì, không kích thích não bộ. Đó là lý do vì sao não bộ khi mới sinh khỏe mạnh nhưng vẫn không thể hoạt động và phát triển như lẽ ra phải phát triển. Khi tôi gặp em bé này, em bé mắc chứng rối loạn tự kỷ nghiêm trọng và không thể chữa khỏi. Làm thế nào chúng ta có thể giải thích có rất nhiều trẻ em bất an? Thật là nghịch lý. Ở phương Tây, phụ nữ chưa bao giờ có nhiều cơ hội phát triển cá nhân đến như vậy và chưa bao giờ phụ nữ bị trầm cảm khi sinh con nhiều đến vậy. Trầm cảm và tỷ lệ tự tử ở các bà mẹ có con từ 3 đến 4 tháng tuổi tăng vọt trong những năm gần đây.

Vì sao?

Vì nền văn hóa chúng ta tạo điều kiện và khuyến khích sự cô độc của những bà mẹ trẻ, tạo một tấn công tâm lý rất lớn. Phụ nữ giải phóng mình qua công việc; họ giành được quyền làm chủ đời sống, con đường sống, theo đuổi việc học mình mong muốn, thoát khỏi răn dạy của gia đình, đây là một tiến bộ vượt bậc. Họ không còn phụ thuộc vào người cha dẫn họ đến bàn thờ, vào người chồng đã đưa họ từ nhà thờ về nhà. Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ tự cô lập mình, cắt đứt mối quan hệ gia đình và cộng đồng để giúp họ chào đón đứa con của mình. Họ thường ở nhà một mình với bạo chúa họ yêu mến gọi là “em bé”. Sự hiện đại không phải là yếu tố bảo vệ các bà mẹ, cuộc chạy nước rút mang tính xã hội làm họ căng thẳng vô cùng. Phụ nữ làm việc quá sức, bị kiệt sức nhiều hơn nam giới.

Vậy tầm quan trọng của việc trẻ em tiếp xúc với những người gắn bó với các em là gì? Và tầm quan trọng của việc nghỉ sau khi sinh tăng lên 28 ngày là gì?

Tôi ủng hộ việc mở rộng này. Một đứa bé cần được trải nghiệm sự gắn bó an toàn, nếu không đó sẽ là sa mạc cảm xúc với những hậu quả não bộ tôi nói ở trên. Nhưng nếu trẻ em chỉ có một hình ảnh gắn bó thì sự gắn bó này có thể biến thành nhà tù cảm xúc. Vì vậy phải cho em bé có những hình ảnh gắn bó khác. Sự hiện diện của người cha – hay người đóng vai người cha – là rất cần thiết. Và thời gian người cha được nghỉ sáu tháng sau khi con sinh sẽ có lợi cho việc tạo các mối ràng buộc. Trong quá khứ, người cha là chủ gia đình và không bao giờ là thành viên của gia đình. Ngày nay, người cha cho con mình một không gian cảm giác phong phú và đa dạng.

Giác quan thứ ba chúng ta cần là gì?

Đó là của lời nói. Lời nói bắt đầu từ trong bụng mẹ. Cách đây vài năm tôi quan sát tại văn phòng của tôi ở Toulon. Chúng tôi thấy những tần số thấp trong giọng nói của người mẹ đã vượt qua hàng rào nước ối và rung lên trán, miệng và bàn tay của thai nhi. Khi người mẹ nói, như thể bà đang vuốt ve trán, miệng và bàn tay con mình đang bế. Và khi ra đời, em bé quay đầu nhìn về hướng âm thanh mà em đã biết, đó là mẹ em. Hình ảnh thần kinh cũng cho thấy thùy thái dương bên trái của não em bé bắt đầu tiêu thụ năng lượng như thế nào khi mọi người xung quanh nói. Và khu vực này đã mở rộng khi chúng tôi nói chuyện trực tiếp với em. Bà Françoise Dolto đã đoán trước điều này từ những quan sát lâm sàng: em bé không phải là cơ quan tiêu hóa, chúng hiểu những gì chúng ta nói với chúng. Hình ảnh đã chứng minh điều này. Khi được nói chuyện, em bé sẽ cấu trúc nên bộ não của mình. Thêm nữa, em bé thích âm thanh của lời nói, điều này giải thích từ 4 tháng đến 10 tháng em bé bập bẹ và nếu em bé được trả lời, em bé sẽ bập bẹ tiếp. Một điều chắc chắn khác: đứa trẻ càng lớn lên trong thế giới ngôn ngữ với những câu chuyện và từ ngữ thì em bé sẽ càng có khả năng lưu trữ trong trí nhớ nhiều hơn. Ngôn ngữ và sẽ có thể nói lên được bản thân khi trẻ bắt đầu nói khi lên ba.

Điều quan trọng là những lời này được nói bởi con người?

Các nghiên cứu cho thấy khi chúng ta thay điện thoại thông minh thành người trông trẻ, em bé sẽ không còn cử động nữa. Em bé như bị thôi miên. Các em bé bị cha mẹ giao cho màn hình trông, chúng yên lặng và để cha mẹ yên, nhưng chúng không học cách hiểu nét mặt của mình, đặc biệt là nét mặt của mẹ, người mà chúng nhận ra giọng nói rất rõ. Một cái cau mày, một cái bĩu môi, một cái nháy mắt… Tất cả đều quan trọng để trẻ em hiểu được sự cấm đoán trước khi mẹ nói. Sự hiện diện của con người xung quanh em bé tạo tương tác, tạo cho não bộ kích thích khứu giác và màu sắc. Các em bé không được tương tác sẽ gặp khó khăn trong đời sống ngôn ngữ. Vào lớp mẫu giáo học 200 hoặc 300 chữ không dễ chịu khi được kích thích và để có được 2.000 hoặc 3.000 chữ! Như thế trẻ em sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi hiểu cô giáo và sẽ tiến bộ trong học tập. Nếu không các em sẽ buồn vì không hiểu và khó tiếp tục học. Ở đây chúng ta có những mầm mống của bất công và chia rẽ xã hội. Ngược với những gì đã được khẳng định từ lâu, không phải mọi thứ đều có nguồn gốc di truyền. Chính cấu trúc của môi trường đã cấu trúc nên sự phát triển của bộ não, dù tích cực hay không.

Vì sao khi  chúng ta cần người khác rất nhiều, chúng ta lại xem trọng quyền tự chủ, khả năng tự bảo vệ mình?

Trái tim con người không thể phát triển nếu không có sự kết nối. Nó cần thay đổi, nếu không não sẽ bị teo lại. Nhưng văn hóa của chúng ta không tính đến điều này. Nó thúc đẩy hiệu suất cá nhân. Chúng ta biết một cách khoa học và lâm sàng những gì phải làm để bảo vệ phụ nữ để con cái họ được an toàn, nhưng chúng ta không làm. Bộ não cần được kích thích các giác quan để phát triển và hoạt động tốt nhưng chúng ta ngày càng sống tách biệt với nhau. Người cao tuổi bị mất trí nhớ về từ ngữ vẫn giữ được trí nhớ về cảm giác và cử chỉ. Họ vẫn nhạy cảm với màu sắc, nét mặt, âm nhạc và cử chỉ. Vậy mà chúng ta cho rằng học tập dựa trên bằng cấp quan trọng hơn là nhận thức bằng giác quan! Chúng ta ngày càng có nhiều em bé phi thường, nói tiếng Anh như người Anh khi mới 8 tuổi, nhưng không có ý thức với người khác và thiếu đồng cảm.

Tại sao được người khác bao quanh là cần thiết trong suốt cuộc đời?

Sau khi có được một an toàn nội tâm nào đó, chúng ta sẽ ít cần người khác hơn. Giống như động vật, con người được hình thành bởi môi trường tiến hóa. Nhưng con vật đến tuổi dậy thì và thích nghi hoặc chết thì con người vẫn tiếp tục tiến hóa và học hỏi. Mạch não tiếp tục hoạt động, đặc biệt nhờ vào tương tác với người khác và niềm vui chúng ta có được khi đi xem phim, đọc sách, xem triển lãm, v.v. Trong các viện dưỡng lão, những người ở cuối đời vẫn xem các buổi hòa nhạc, chơi bài. Trong nhiều thiên niên kỷ, chúng ta nghĩ bộ não bị khóa bên trong hộp sọ, nhưng ngày nay chúng ta phát hiện đó là cơ quan có mối quan hệ đáng kinh ngạc. Nó giúp chúng ta tiếp xúc với bối cảnh trước mắt và có khả năng ghi nhớ và tưởng tượng với các sự kiện trong quá khứ và tương lai.

Nhu cầu của chúng ta đối với người khác được công nhận, nhưng người khác lại làm chúng ta lo lắng. Chúng ta là trung tâm của những kết nối đã trở nên đáng ngờ. Làm thế nào để giải thích?

Động vật cũng gặp khó khăn khi tiếp xúc với người lạ. Phản ứng đầu tiên của chúng là sợ hãi, nhưng chúng sử dụng các nghi thức tương tác để chế ngự bản thân. Những biểu hiện xoa dịu của chúng muốn báo hiệu cho người kia: “Đừng lo lắng, tôi sẽ không ăn thịt bạn, con bạn, hoặc lấy thức ăn của bạn. Tôi chỉ tìm kiếm sự hợp tác để thỏa mãn nhu cầu.” Một số con nhện đực đến gần con cái bằng cách đưa cho con cái một con muỗi được bọc trong kén. Và khi con nhện cái chuẩn bị mở kén thì con nhện đực sẽ làm tình. Nơi con mòng biển, con đực bắt được con cá và đưa cho con cái. Nếu con cái nuốt chửng là con cái muốn nói với con đực, anh không quan tâm đến tôi. Nhưng nếu nó giữ con cá trong miệng, nó muốn nói với con đực nó muốn tiếp tục được tán tỉnh. Ở gấu trúc, con cái chiếm ưu thế khi con cái muốn giao hợp, nó đi trước con đực và vẫy đuôi. Nếu con đực không phản ứng, nó sẽ làm lại. Hiểu đây là một bước tiến, con đực đồng ý hoặc không đi xa hơn. Do đó, ở động vật, nỗi sợ hãi về những điều chưa biết được kiểm soát bởi một tập hợp các tập tục thuần hóa.

Điều này không có ở con người sao?

Dĩ nhiên có. Chúng ta đã phát triển đủ loại nghi thức lịch sự tôn kính. Chẳng hạn chúng ta có thói quen đến gần người chưa quen bằng cách nói những chuyện bình thường như thời tiết, chúng ta mời đồng nghiệp ăn để có tinh thần thân thiện trong văn phòng. Nhưng chúng ta bị mắc kẹt trong văn hóa chạy nước rút, đến mức càng ngày chúng ta càng dành ít thì giờ cho những việc này. Nghiêm trọng hơn, chúng ta không còn dạy điều này cho con cái. Hơn nữa, trong một hoặc hai thế hệ vừa qua, sự phát triển cá nhân đã phát triển. Trước đây, việc quan tâm đến bản thân chỉ liên quan đến các tầng lớp đặc quyền. Nhưng mối quan tâm đến sự phát triển cá nhân, tự cho mình là trung tâm có tác động tai hại làm tổn hại đến các mối quan hệ xã hội. Tôi giữ được phản xạ của thế hệ tôi. Khi ở trên xe buýt, tàu điện ngầm hoặc xe điện, trước khi tôi đi ra, tôi hỏi người đứng trước xem họ có định xuống xe không. Câu hỏi này nhằm để họ tránh qua để tôi đi, để di chuyển thông suốt hơn. Nhưng hôm nay, khi tôi hỏi câu này, họ nghĩ tôi muốn gây chuyện với họ: “Vì sao người này muốn nói chuyện với tôi? Họ muốn gì ở tôi? Tôi không biết họ”… Kết quả là muốn ra ngoài, tôi phải chen. Một số nghi thức tương tác đã biến mất.

Liệu việc đưa ra đối xử lịch sự có đủ để chúng ta làm việc với nhau tốt hơn không?

Chắc chắn là không. Khả năng quản lý cảm xúc, đặc biệt là với nỗi sợ của người khác phụ thuộc vào cách bảo đảm an toàn cho đứa trẻ. Trong những năm đầu tiên, đứa trẻ không thể bình tĩnh một mình. Nếu chúng ta để đứa bé đối diện với nỗi đau, hạch hạnh nhân ở não sẽ kích hoạt và tiết ra các phân tử căng thẳng, cortisoladrenaline. Tuy nhiên, cortisol cực kỳ độc hại với não của trẻ. Ở mức độ cao, cortisol có thể phá hủy các tế bào thần kinh ở những vùng não thiết yếu dẫn đến rối loạn hành vi – lo lắng quá mức, hung hăng, v.v. Một đứa trẻ thường xuyên phải một mình đối diện với căng thẳng một mình khi thành thanh thiếu niên và sau đó là người lớn sẽ cảm thấy mọi thứ là một cuộc tấn công.

Chúng ta trải qua thời đại không khoan dung, rút lui này như thế nào, nơi chỉ có thể kết nối với những người giống như chúng ta?

Điều này làm tôi đau buồn rất nhiều. Tôi bắt đầu đời sống với những bài diễn văn toàn trị đưa đến cái chết của 50 triệu người trên hành tinh và tiêu diệt 6 triệu người Do Thái. Tôi đang đi đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời và tôi nghe lại những bài phát biểu tương tự này. Từ lâu tôi đã tin, qua văn hóa, chúng ta có thể làm cho mọi người cảnh giác với các ngôn ngữ toàn trị, tôn trọng màu da, tôn giáo của người khác. Tôi cam kết với tư cách là nhà khoa học, vì tôi hy vọng hành động, chứng từ và sự hiểu biết của tôi sẽ giúp tạo ra điều “không bao giờ xảy ra nữa”. Chứng kiến sự trở lại của cùng một quá trình tư duy toàn trị làm tôi đặt câu hỏi về ý nghĩa công việc của mình.

Marta An Nguyễn dịch

Boris Cyrulnik: “Gặp gỡ người khác là bước đầu tiên hướng tới nhân loại”

Bài mới nhất