Home Blog Page 148

Đức Phanxicô chủ trì nghi thức đền tạ xin tha thứ tội lỗi cho Giáo hội

Đức Phanxicô chủ trì nghi thức đền tạ xin tha thứ tội lỗi cho Giáo hội

cath.ch, Maurice Page, 2024-09-18

Cổng phán xét cuối cùng của Nhà thờ Thánh Nicolas ở Fribourg

Phiên họp tiếp theo của Thượng Hội đồng về tương lai Giáo hội – một dự án lớn bắt đầu năm 2021 nhằm làm cho Giáo hội có nhiều giáo dân tham gia nhiều hơn và ít giáo sĩ hơn – sẽ được bắt đầu ngày 1 tháng 10 tại Đền thờ Thánh Phêrô bằng buổi canh thức sám hối với Đức Phanxicô và các nạn nhân bị lạm dụng.

Ngày 16 tháng 9, Ban tổ chức giải thích công việc của các thần học gia về mười chủ đề nóng bỏng trong Giáo hội sẽ được trình bày tại phiên họp này. Điều mới mẻ của năm nay: trước ngày khai mạc phiên họp thứ hai 368 thành viên sẽ tham dự một buổi đền tạ xin tha thứ. Sự kiện quan trọng này kết thúc hai ngày tĩnh tâm, bắt đầu với chứng từ của ba người là nạn nhân lạm dụng tình dục, chiến tranh và bị dửng dưng khi di cư. Hồng y Mario Grech, tổng thư ký Thượng Hội đồng cho biết, sau các chứng từ là nghi thức đền tạ, nêu lên những tội làm đau đớn và xấu hổ nhất. Ngài nhấn mạnh tất cả giáo dân được mời gọi để thông công phần của họ trong đau khổ của những nạn nhân vô tội. Cuối cùng, Đức Phanxicô nhân danh tất cả tín hữu kitô  xin Chúa tha thứ và xin tất cả giáo dân tha thứ. Thượng Hội đồng muốn nói với mọi người, Giáo hội đang trong tiến trình hoán cải, nhận ra những giới hạn, những điểm yếu của mình. Ban tổ chức đặc biệt mời các bạn trẻ đến tham dự buổi đền tạ này. Hồng y Jean-Claude Hollerich, tổng tường trình Thượng hội đồng nhấn mạnh: “Những người trẻ phải chịu đựng tội lỗi của chúng ta, tội lỗi của Giáo hội, và tốt đẹp khi họ hiểu chúng ta không tự hào về những gì Giáo hội đã làm chưa tốt”.

Trong số các sự kiện lớn khác của Thượng Hội đồng, ngày 11 tháng 10 sẽ có buổi cầu nguyện đại kết với các đại biểu các giáo phái kitô giáo khác, năm nay có 16 đại diện, năm ngoái chỉ có 12 đại diện. Ngày 2 tháng 10 khi bắt đầu cuộc họp, các chuyên gia sẽ trình bày các chủ đề tranh luận năm ngoái, quản trị trong Giáo hội, vai trò phụ nữ và vấn đề chức phó tế nữ. Ban thư ký Thượng Hội đồng cho biết Đức Phanxicô đã thành lập mười ủy ban gồm các chuyên gia, nhà thần học, nhà giáo luật để nghiên cứu những vấn đề quan trọng trong kỳ họp năm 2023. Những vấn đề này cần được đào sâu và việc thành lập các nhóm nghiên cứu là câu trả lời cho phiên họp đầu tiên của Thượng Hội đồng, họ sẽ trình bày những gì họ đang làm, kế hoạch hành động và cách họ dự định tiến về phía trước. Kết quả của các nhóm sẽ được trình lên Đức Phanxicô trước tháng 6 năm 2025.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Châu Phi ngày càng lớn mạnh trong ngành ngoại giao của Tòa Thánh

Châu Phi ngày càng lớn mạnh trong ngành ngoại giao của Tòa Thánh

cath.ch, I.Media, 2024-09-16

Đức ông Julien Kaboré, 56 tuổi, được Hồng y Pietro Parolin phong giám mục | © Tin tức Vatican

Đức ông Julien Kaboré, 56 tuổi, tân Sứ thần Tòa thánh tại Ghana, được hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin phong giám mục tại Đền thờ Thánh Phêrô, một dấu hiệu mới cho thấy sự trỗi dậy của Châu Phi trong bộ máy ngoại giao Tòa Thánh.

Sau thánh lễ, Hồng y Philippe Ouedraogo, Tổng Giám mục Danh dự của Ouagadougou nói với I.Media: “Đây là vinh dự cho toàn thể người dân Burkina Faso, chứ không chỉ riêng cho Giáo hội.” Thánh lễ cử hành với sự có mặt của một số giáo dân, người thân của tân giám mục, đặc biệt là thân phụ của Giám mục từ Burkina Faso và Ghana về. Trong bài giảng, Hồng y Parolin giải thích: “Chức vụ Sứ thần Tòa Thánh phải hướng tới việc rao giảng hòa bình và công lý, đặc biệt là giữa các nhà lãnh đạo Quốc gia, nhiều nhà lãnh đạo đã không bảo đảm cho công dân của họ sự thanh thản và an ninh này.”

Chức vụ sứ thần phải hướng tới “việc rao giảng hòa bình và công lý”,  Hồng y Parolin | © Truyền thông Vatican

Đức ông Julien Kaboré sinh ngày 18 tháng 6 năm 1968 tại Zorgho, miền trung Burkina Faso, làm Sứ thần Tòa thánh tại Ghana sau 20 năm phục vụ trong cơ quan ngoại giao của Vatican. Chịu chức ngày 8 tháng 7 năm 1995 tại Tổng giáo phận Koupéla, ngài bắt đầu làm việc trong ngành ngoại giao Tòa thánh ngày 1 tháng 7 năm 2004. Ngài đã làm sứ thần ở Kenya, Papua Tân Ghinê, Costa Rica, Hàn Quốc, Croatia, Trinidad và Tobago, Phi Luật Tân và Ireland. Một số phái đoàn từ các quốc gia này đã về Rôma dự lễ nói lên kỷ niệm tốt đẹp và tình cảm của họ với ngài, ngài phát triển tình bạn lâu dài ở các quốc gia nơi ngài làm việc. Ngoài tiếng Pháp, ngài còn nói được tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha. Trong bối cảnh đau thương của các cuộc chiến đau thương giữa các lực lượng dân quân thánh chiến kể từ năm 2015, và đặc biệt là vụ thảm sát Barsalogho làm cho hàng trăm người thiệt mạng ngày 24 tháng 8, Giám mục Kaboré nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các sáng kiến hòa bình do Giáo hội địa phương lãnh đạo. Ngài đề cập đến Tam Nhật được Hội đồng Giám mục Burkina-Niger tổ chức từ ngày 12 đến ngày 14 để cầu nguyện cho hòa bình và sự sống ở các làng mạc và đất nước.

Ngày càng có nhiều sứ thần Châu Phi

Lễ tấn phong này đánh dấu một giai đoạn mới về đại diện của Châu Phi trong ngành ngoại giao của Vatican. Phản ánh sự tiến triển của người Châu Phi trong nhiều giáo phận phương Tây, ngày càng có nhiều giáo phận Châu Phi gởi sinh viên về Rôma học ở Giáo hoàng Học viện Giáo hội, có biệt danh là “trường của các Sứ thần”.

Chỉ đến năm 1998, “sứ thần giáo hoàng” đầu tiên của một quốc gia Châu Phi mới được phong: Đức ông Augustin Kasujja, quốc tịch Uganda, ngài làm việc tại Tunisia và Algeria từ năm 1998 đến năm 2004, tại Madagascar từ năm 2004 đến năm 2010, tại Nigeria từ năm 2010 đến năm 2016, và cuối cùng là ở Châu Âu, Bỉ và Luxembourg, từ năm 2016 đến năm 2021. Sứ thần đầu tiên đến từ một quốc gia châu Phi nói tiếng Pháp là Đức ông Léon Léon Kalenga Badikebele (1956-2019), quốc tịch Congo. Ngài là Sứ thần Tòa Thánh tại Ghana từ năm 2008 đến 2013, sau đó ở El Salvador và Belize từ năm 2013 đến 2018, và cuối cùng ở Argentina từ năm 2018 cho đến khi ngài qua đời tại Rôma ngày 12 tháng 6 năm 2019 bên lề cuộc họp ba năm một lần của các Sứ thần. Đặc biệt, Đức Phanxicô đã đích thân cử hành tang lễ cho “đại sứ” quê hương ngài tại Đền thờ Thánh Phêrô, với sự hiện diện của tất cả sứ thần ở Rôma.

Các sứ thần Châu Phi nói tiếng Pháp

Ngoài Đức ông Kaboré, hai sứ thần khác đến từ Châu Phi nói tiếng Pháp hiện đang hoạt động trong mạng lưới ngoại giao của Tòa thánh. Đức ông Dieudonné Datonou, người Bénin giữ chức vụ Sứ thần Tòa Thánh tại Burundi từ năm 2021. Trước đây ngài là người điều phối các chuyến tông du của Đức Phanxicô trong vài tháng, đặc biệt là chuyến đi khó khăn của Đức Phanxicô tới Iraq tháng 3 năm 2021. Đức ông Jean-Sylvain Émien Mambé ở Biển Ngà đã giữ chức vụ Sứ thần Tòa Thánh tại Mali và Guinea từ năm 2022, ngài đã được Hồng y Parolin phong giám mục tại Abidjan ngày 7 tháng 5 năm 2022.

Vị trí chiến lược các sứ thần châu Phi khác đến từ khu vực nói tiếng Anh

Đức ông Fortunatus Nwachukwu, quốc tịch Nigeria, là nhân vật nổi bật dưới triều Đức Bênêđíctô XVI, đứng đầu Bộ Ngoại giao từ năm 2007 đến năm 2012. Sau đó, ngài giữ chức vụ Sứ thần Tòa thánh tại Nicaragua, Caribê trước khi đảm nhận vị trí chiến lược là quan sát viên thường trực của Tòa thánh tại Liên Hiệp Quốc ở Geneva. Năm 2023, ngài được Đức Phanxicô đưa về Vatican làm thư ký cho Bộ Truyền giáo. Đức ông Jude Thaddeus Okolo, người Nigeria đã là Sứ thần Tòa thánh tại Cộng hòa Séc từ năm 2022. Trước đây, ngài từng là Sứ thần tại Ai-len, quốc gia ngài chào đón Đức Phanxicô trong chuyến tông du khó khăn năm 2018. Đức ông Novatus Rugambwa, quốc tịch Tanzania, là sứ thần tòa thánh ở Angola, Honduras, sau đó ở New Zealand, nhưng ngài về Rôma năm 2024 vì bị suy yếu sau cơn đau tim. Đức Giám mục Brian Udaigwe, gốc Cameroon, đã giữ chức vụ Sứ thần Tòa thánh tại Sri Lanka từ năm 2020 sau khi phục vụ ở Benin và Togo.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chuyến đi Châu Á cho thấy Đức Phanxicô còn rất nhiều năng lực để cuốn hút đám đông

Chuyến đi Châu Á cho thấy Đức Phanxicô còn rất nhiều năng lực để cuốn hút đám đông

87 tuổi, đi đứng khó khăn, chuyến đi Châu Á cho thấy Đức Phanxicô còn rất nhiều năng lực để cuốn hút đám đông

yahoo.com/news, Nicole Winfield, 2024-09-15

Đức Phanxicô trong chuyến đi Châu Á từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9

Đây là chuyến đi dài ngày nhất triều của ngài, một trong những chuyến đi dài nhất từ trước đến nay của các giáo hoàng về số ngày và quãng đường đi. Dù đã 87 tuổi, đi đứng khó khăn vì đầu gối đau, còng lưng vì đau thần kinh tọa, dường như ngài đang ở trong giai đoạn đẹp nhất đời ngài.

Đức Phanxicô gặp các bạn trẻ của Scholas Occurrentes tại Trung tâm Thanh thiếu niên Grha Pemuda ở Jakarta, Indonesia ngày thứ tư 4 tháng 9 năm 2024. (Ảnh AP/Tatan Syuflana, Pool)

Với một nửa dân số Đông Timor tụ tập tại một công viên ven biển, ngài không thể không chiều lòng họ khi chào tạm biệt, ngài đi thật lâu trên xe giáo hoàng sau khi mặt trời đã lặn, sân vận động lúc đó được chiếu sáng bằng màn hình điện thoại di động.

Đã khuya, nhiệt độ và độ ẩm đã biến công viên Tasitolu thành lò hơi, hầu hết các nhà báo đã về khách sạn có máy lạnh để xem thánh lễ trên truyền hình. Đức Phanxicô thách thức những ai nghi ngờ không biết ngài có đi nổi chuyến đi gian khổ này hay không, khi mọi chuyện không thuận lợi như ý muốn.

“Anh chị em có bao nhiêu con!” Đức Phanxicô ngạc nhiên trước đám đông 600.000 người, đây là số lượng người tham dự đông nhất từ trước đến nay cho một sự kiện tính theo tỷ lệ dân số đất nước ngài đến thăm.

“Một dân tộc dạy con cái mình mỉm cười là một dân tộc có tương lai.”

Chuyến đi này là bằng chứng cho thấy, dù tuổi cao, dù bị bệnh, dù lệch bảy múi giờ, ngài vẫn có thể làm giáo hoàng, vẫn đủ khả năng như ngày ngài mới nhậm chức, vẫn tận tụy với công việc.

Điều này không thể nào đúng hơn khi ngài ở vùng ngoại vi của thế giới, giữa người dân bị các cường quốc lãng quên, nơi ngài đi ra ngoài bài diễn văn soạn sẵn để đến với giáo dân.

Đó là chuyến đi kéo dài 11 ngày đến Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore, ngài đi gần 33.000 cây số chỉ tính với phương tiện máy bay. Chuyến đi ngài đã lên kế hoạch từ năm 2020 nhưng không thực hiện được vì Covid.

Bốn năm, một số lần nhập viện (vì bệnh đường ruột và phổi), cuối cùng ngài đã kên đường. Dường như ngài thích thú khi được rời Vatican, tránh được sự nặng nềkhi bị “nhốt” cả năm, phần lớn để chống chọi với cơn viêm phế quản kéo dài. Trong các chuyến đi, ngài thường có khuynh hướng nhắc lại những chuyện chính yếu ngài muốn nói.

Ngài có bài diễn văn soạn sẵn khi dự các cuộc họp nghi thức với các nguyên thủ quốc gia, khi nói trước các nhà ngoại giao Vatican. Nhưng khi gặp giáo dân, các bạn trẻ, các linh mục và nữ tu địa phương, ngài thường bộc lộ bản chất thật của ngài, ngài bỏ bài đã chuẩn bị qua một bên để nói chuyện ngẫu hứng, truyền tải những gì ngài muốn nói với họ. Làm như thế ngài được đám đông phấn khích, nhưng các thông dịch viên kinh hãi, công việc của các nhà báo thêm phức tạp, và chúng ta biết ngài tràn đầy năng lượng khi ngài đi ra khỏi lề. Ngài đã ra khỏi lề rất nhiều lần ở Châu Á – trong cuộc họp báo trên máy bay từ Singapore về Rôma, ngài khuyên người công giáo Mỹ nên bỏ phiếu cho người mà họ nghĩ “ít tệ hơn” .

Nước đầu tiên ngài đến là Indonesia, đất nước tế nhị nhất trong chuyến đi vì đây là đất nước có dân số hồi giáo lớn nhất thế giới. Vatican sẽ không muốn nói hoặc làm bất cứ điều gì có thể tạo khó chịu. Ngay khi gặp Tổng thống Joko Widodo, ngài hăng hái, ca ngợi tỷ lệ sinh tương đối cao của Indonesia và lấy làm tiếc ở phương Tây, có một số người “thích nuôi chó nuôi mèo hơn”.

Ngài thường xuyên lưu ý ở Ý, đất nước có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới. Với chuyến đi được các phương tiện truyền thông loan tin rộng rãi, những chỉ trích của ngài được chú ý thêm. Ngay lập tức, các nhà bình luận Mỹ cho rằng ngài dự vào cuộc tranh luận của “những phụ nữ không con nuôi mèo” đang làm giao động chính trường Hoa Kỳ, không có dấu hiệu nào cho thấy ngài nghĩ đến ông JD Vance.

Trong khoảnh khắc tế nhị nhất ở nhà thờ hồi giáo Jakarta lớn nhất Đông Nam Á, ngài bỏ nghi thức sang một bên, hôn tay giáo sĩ Nasaruddin Umar và đưa lên má để tỏ lòng biết ơn.

Ở Papua Tân Ghinê, Đức Phanxicô phấn khích khi ngài đến Vanimo nơi chỉ có 11.000 người dân xa xôi trong rừng rậm, ở đây ngài khó có thể đến được vì phi trường Vanimo không có thang đưa xe lăn lên xuống máy bay, việc đem theo thang là điều không thể.

Và ngài nhất quyết đi Vanimo, cuối cùng xe lăn của ngài cũng leo được “dốc” máy bay chở hàng C-130 không lực Úc dành cho ngài, chở theo hàng tấn thuốc men và các vật dụng khác.

Dù có các lo ngại đáng kể về mặt an ninh khi đến một khu vực bị các tranh chấp giữa các bộ lạc làm chia rẽ, Đức Phanxicô rất phấn khởi khi ngài vào rừng rậm, ngài cảm thấy thoải mái. Có hàng chục linh mục và nữ tu truyền giáo người Argentina đã sống ở Vanimo với cộng đồng địa phương trong nhiều năm, họ mời ngài đến thăm. Họ trang trí sân khấu đơn giản trước nhà thờ bằng tượng Đức Mẹ Lujan thân thiết của Argentina được Đức Phanxicô đặc biệt kính mến, ngoài ra ngài còn được uống trà Argentina ở đây.

Ở Đông Timor, ngài đã phải nói về vấn đề có lẽ nhạy cảm nhất làm lu mờ chuyến thăm: trường hợp Giám mục Carlos Ximenes Belo, người anh hùng dân tộc được kính trọng, được Giải Nobel Hòa bình cho chiến dịch giành độc lập bất bạo động. Vatican cho biết năm 2022 đã trừng phạt Belo, hiện đang sống ở Bồ Đào Nha, vì đã lạm dụng tình dục các bé trai và ra lệnh cho ông không được liên lạc với Đông Timor.

Đức Phanxicô không nhắc đến tên Belo và không gặp các nạn nhân của Belo, nhưng ngài tái khẳng định nhu cầu bảo vệ trẻ em khỏi lạm dụng. Trong chuyến đi, không có bài phát biểu chính thức nào nhắc đến tên giám mục Belo, nhưng cuộc đấu tranh giành độc lập của Đông Timor được nhắc đến nhiều lần.

Tại Singapore, điểm dừng chân cuối cùng, một lần nữa, Đức Phanxicô bỏ qua bài phát biểu khi gặp các thanh niên Singapore sáng thứ sáu 6 tháng 9.

“Đó là bài phát biểu tôi đã chuẩn bị”, ngài chỉ tay vào bài phát biểu, sau đó ngài bắt đầu cuộc tranh luận tự phát với các bạn trẻ về nhu cầu phải có can đảm, phải chấp nhận rủi ro. Ngài hỏi họ: “Điều gì tệ hơn, mắc lỗi vì đi theo một con đường nhất định, hay không có lỗi vì ở nhà?”.

Ngài trả lời câu hỏi với câu trả lời có thể giải thích cho quyết định mạo hiểm của chính ngài khi ngài đi chuyến đi Châu Á này: “Một người trẻ không dám mạo hiểm, sợ mắc sai lầm, là một ông già. cha hy vọng các con sẽ tiến về phía trước. Xin các con đừng quay lại. Đừng quay lại. xin các con chấp nhận rủi ro”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hình ảnh Đức Phanxicô trong chuyến đi Châu Á từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9

 Ở Đức, chủ yếu các linh mục trẻ là các linh mục bảo thủ

Ở Đức, chủ yếu các linh mục trẻ là các linh mục bảo thủ

Một nghiên cứu gần đây cho thấy các linh mục trẻ ở Đức chủ yếu là các linh mục bảo thủ, họ chống lại các cải cách trong Giáo hội. Giải thích của nhà xã hội học Nikita Katsuba.

cath.ch, Jacqueline Straub, 2024-8-16

Nghiên cứu cho thấy chỉ có một thiểu số linh mục trẻ Đức ủng hộ cải cách trong Giáo hội | ©DR Hình minh họa

Giáo sư Nikita Katsuba, nhà khoa học xã hội và cộng tác viên khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu Mục vụ Ứng dụng tại Đại học Ruhr ở Bochum. Theo yêu cầu của Hội đồng Giám mục Đức, cùng với nhà thần học và nhà khoa học xã hội Matthias Sellmann, Giáo sư Nikita Katsuba viết quyển sách Các Tân Linh mục mới là ai? (Wer wird Priester? nhà xuất bản Echter, Würzburg phát hành tháng 5-2024). Quyển sách nghiên cứu về xã hội học và động lực của các chủng sinh.

Nghiên cứu của giáo sư có đưa đến kết luận đáng ngạc nhiên nào không? 

Giáo sư Nikita Katsuba: Nghịch lý thay, điều làm tôi ngạc nhiên là các kết quả không có gì ngạc nhiên, trong chừng mực chúng xác nhận hình ảnh rập khuôn chúng ta đã có về các linh mục.

Ngày nay đa số các linh mục ngày càng ít đại diện trên bình diện xã hội.

Họ xuất thân từ các gia đình công giáo, nhận được giáo dục tôn giáo của Giáo hội, có những suy nghĩ quan trọng về Giáo hội trong giai đoạn quyết định của quá trình xã hội hóa; họ duy trì những ý tưởng bảo thủ – không muốn nói là lỗi thời – về nghề nghiệp và chức vụ linh mục. Họ ủng hộ quan niệm bảo thủ của xã hội và của Giáo hội. Các trường hợp ngoại lệ là thiểu số.

Theo tài liệu cho biết, giáo sư đã nghiên cứu về các linh mục từ năm 2010 đến năm 2021.

Đó là các linh mục trẻ với trung bình tuổi là 37. Thói quen và lối sống của họ rõ ràng khác biệt với người cùng tuổi trong xã hội.

Các linh mục đã phát triển như thế nào trong 30 năm qua?

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ với các linh mục chịu chức từ năm 2010 đến 2021 nên chúng tôi không so sánh được với các thời kỳ trước. Tuy nhiên, nếu so sánh với Nghiên cứu của linh mục giáo sư thần học gia Paul Zulehner năm 2000 thì chúng tôi thấy có nhiều điểm tương đồng.

Giáo sư Nikita Katsuba, nhà nghiên cứu khoa học xã hội tại Đại học Ruhr (Đức) | ©DR

Dù không có linh mục nào trong nghiên cứu của chúng tôi tại chức năm 2000, nhưng những người chúng tôi hỏi đều có một động lực tương tự trong chức vụ của họ. Chúng tôi thấy có ba động lực: giáo xứ, phụng vụ và nhà thờ bình dân. Vì thế các linh mục ngày nay giống với các linh mục thời giáo sư Paul Zulehner trình bày ở thời kỳ trước, dù xã hội đã thay đổi nhiều từ đó.

Với thói quen truyền thống công giáo, phần lớn các linh mục ngày càng ít đại diện ở bình diện xã hội như trường hợp của các linh mục cách đây vài thập kỷ. Họ tạo thành nhóm bảo thủ ngày càng già đi và mất dần vị thế.

“Nghiên cứu cho thấy người công giáo Đức tin tưởng vào Giáo hội tin lành hơn Giáo hội công giáo”

Giáo sư có thấy ở đây là tác động gián tiếp của việc thế tục hóa không?

Tầm quan trọng của tôn giáo và Giáo hội tiếp tục giảm sút từ gia đình gốc. Chúng ta đang chứng kiến một tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt thần học ơn gọi: phần lớn các linh mục xuất thân từ các gia đình công giáo giữ đạo, nhưng lòng đạo của họ ngày càng giảm sút. Với sự suy giảm này, khả năng có ơn gọi ngày càng ít.

Các linh mục của ngày mai sẽ như thế nào?

Trong các đề nghị chiến lược chúng tôi đưa ra dựa trên kết quả nghiên cứu, chúng tôi có hai kịch bản. Trong kịch bản được gọi là “tập trung”, mục vụ ơn gọi sẽ tiếp tục ở môi trường công giáo và sẽ cố gắng giải quyết cho các thanh niên trong môi trường này.

Trong kịch bản thứ hai được gọi là “sự đa dạng hóa”, Giáo hội có thể cố gắng khắc phục hạn chế này, cởi mở với người khác và cuối cùng là người chủ động, là nơi dấn thân hấp dẫn cho thế hệ trẻ từ những môi trường trung dung – như trong quá khứ – và từ đó khuyến khích ơn gọi mới cho nam giới trong các tầng lớp xã hội khác nhau.  Chỉ có kịch bản thứ hai này mới có thể chống lại sự sụt giảm nghiêm trọng về số lượng.

Điều gì sẽ xảy ra cho việc này?

Những việc này đòi hỏi phải định hướng lại cách tiếp cận có hệ thống với mọi khía cạnh của Giáo hội – từ các vấn đề đạo đức đến các hoạt động hành chính của Giáo hội. Câu trả lời cho câu hỏi Giáo hội chọn con đường nào trong số này định hình cho tương lai của chức linh mục, phản ánh qua mục vụ ơn gọi, con đường đào tạo, cũng như chính sách tuyển dụng. Liệu nó sẽ tiếp tục đi theo con đường bảo thủ và tuyển những người phù hợp với con đường này hay nó sẽ mở ra theo sự đa dạng của xã hội hiện đại? Vì các linh mục là gương mặt và nhân vật lãnh đạo, cuối cùng họ sẽ là người định hình cho Giáo hội.

Như thế có ý nghĩa gì với tương lai của Giáo hội khi các linh mục trẻ hầu hết xuất thân từ các cấu trúc gia đình bình dân, phần lớn là người bảo thủ và chống lại cải cách, như nghiên cứu của giáo sư cho thấy?

Điểm này cho thấy ý kiến của các đại diện quan trọng trong Giáo hội và xã hội – kể cả người công giáo – ngày càng khác nhau trong nhiều vấn đề liên quan đến chính trị, đạo đức và Giáo hội. Một cuộc khảo sát của Giáo hội Tin lành Đức thực hiện cho thấy người công giáo Đức đã không hài lòng với Giáo hội của họ như thế nào. Thậm chí nghiên cứu còn cho thấy một thực tế đánh kinh ngạc: người công giáo Đức tin vào Giáo hội tin lành nhiều hơn Giáo hội công giáo. 

“Chỉ có một trong bốn linh mục sẽ bỏ phiếu cho việc phong chức phụ nữ”

Sự mất niềm tin thể hiện qua việc giáo dân rời bỏ thể chế. Tuy nhiên, hầu hết các linh mục trẻ khá hài lòng với Giáo hội của họ, chắc chắn họ cần các hình thức thiêng liêng hơn, nhưng lại lưỡng lự trước những cải cách cơ bản. Thật khó hình dung Giáo hội phải đối diện với tình huống phức tạp này nếu không có các linh mục của thế hệ mới.

Điều gì sẽ xảy ra nếu hiện nay Giáo hội có thể có những chủng sinh  như vậy cho chức linh mục?

Người đầu tiên trong số họ sẽ chưa là linh mục trong 8 năm tới. Để có một tác động đáng kể đến chức linh mục, số lượng của họ cần tăng lên trong ít nhất 10 năm nữa. Như thế có nghĩa những thay đổi về ơn gọi phải được bắt đầu từ bây giờ và kết quả chỉ có thể thấy được trong 20 năm nữa. Nhưng số lượng người bỏ đi, hoặc qua đời quá đông nên Giáo hội khó có thể bù đắp được với thời gian này.

Còn khả năng của các linh mục trẻ hiện tại trong việc thực hiện các tiến trình và cải cách đồng nghị thì sao?

Chúng tôi có thể nói, chung chung những chủ đề này ít được các linh mục trẻ quan tâm. Khi được hỏi Giáo hội nên được cải cách như thế nào, hơn 3/4 các linh mục trẻ nói đến việc đào sâu chiều kích thiêng liêng, định hướng rõ ràng hơn về việc truyền tải nội dung đức tin. Chỉ có 37% ủng hộ việc tăng thêm giáo dân tham gia vào Giáo hội. Các chủ đề phi dân chủ hóa trong Giáo hội hay việc bãi bỏ nghĩa vụ độc thân chỉ được khoảng 30% ủng hộ. Và chỉ có một trong bốn linh mục sẽ bỏ phiếu cho việc phong chức cho phụ nữ.

Vì thế các tiến trình đồng nghị không phải là trung tâm chú ý của họ.

Nghiên cứu cho thấy một nhóm tương đối nhỏ các linh mục trẻ (khoảng 18%) ủng hộ tất cả các chủ đề này và nhìn chung, họ hầu như không phù hợp với hình ảnh bảo thủ về nguồn gốc và tầm nhìn của họ về thế giới linh mục. Nếu các tiến trình đồng nghị thành công, nhóm này có thể là nguồn hy vọng.

“Các linh mục trẻ nhắm đến việc sống linh đạo riêng của mình và trở thành mục tử”

Các giáo phận đã mắc phải những sai lầm nào trong việc tìm kiếm và đào tạo các tân linh mục?

Nghiên cứu cho thấy chìa khóa của giải pháp không chủ yếu nằm trong tay các giáo phận. Sự thiếu hụt linh mục không liên quan đến việc đào tạo hay thăng tiến nghề nghiệp của họ, mà liên quan đến sự mất niềm tin nói chung vào Giáo hội. Một số linh mục được phỏng vấn cho biết họ gặp sự chống đối của gia đình, bạn bè khi họ cho biết họ sẽ đi tu. Đặc biệt vì các trường hợp lạm dụng cũng như hình ảnh kém cỏi của Giáo hội, Giáo hội không còn được kính trọng như trước. Để thay đổi điều này, chúng ta cần một thay đổi mang tính hệ thống mà các giáo phận rõ ràng không thể tự mình thực hiện được.

 Làm thế nào việc đào tạo linh mục có thể được cải thiện?

Cuộc nghiên cứu cho thấy các linh mục trẻ có ý hướng sống linh đạo riêng của họ và muốn trở thành mục tử hơn. Nhưng hình ảnh này không còn phù hợp với thực tế vì ngày nay số linh mục ngày càng ít, họ thường phải quản lý các giáo xứ khổng lồ gọp lại. Vì thế việc đào tạo linh mục sẽ tốt hơn nếu họ được chuẩn bị để đảm nhận các chức vụ lãnh đạo, phát triển kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp.

Các dữ liệu thu thập có thể áp dụng ở Thụy Sĩ hoặc cung cấp thông tin cho các linh mục ở đây không?

Chúng tôi chỉ phỏng vấn các linh mục trẻ người Đức. Nhưng dữ liệu của Mỹ cho thấy một xu hướng bảo thủ nào đó trong số các linh mục công giáo so với toàn xã hội. Vì thế hiện tượng này có lẽ mang tính quốc tế. Tôi không thể đoán trước được bước ngoặt bảo thủ nào cho toàn Giáo hội. Nhưng chúng ta có thể đưa ra giả thuyết, chức linh mục ở các nước công nghiệp đang trải qua những biến đổi tương đương với những biến đổi của thế tục hóa. Dù sao chúng ta cũng chỉ dự đoán.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô: “Abbé Pierre là tội phạm khủng khiếp”

Đức Phanxicô: “Abbé Pierre là tội phạm khủng khiếp”

Ngày thứ sáu 13 tháng 9, Đức Phanxicô đã bình luận về những cáo buộc ngày càng gia tăng về bạo lực tình dục của Abbé Pierre.

la-croix.com, Mikael Corre, 2024-09-13

Vatican biết vụ Abbé Pierre lúc nào? Trong cuộc họp báo trên máy bay từ Singapore về Rôma ngày thứ sáu 13 tháng 9, Đức Phanxicô cho biết: “Vatican đã biết vụ này sau khi Abbé Pierre qua đời. Nhưng tôi không biết, tôi chưa là giáo hoàng khi Abbé qua đời năm 2007. Tôi không biết về những gì Vatican biết, tôi không có mặt ở đây và tôi cũng không nghĩ đến việc phải xem xét vụ này.”

Abbé Pierre bị buộc tội bạo lực tình dục với phụ nữ, với trẻ vị thành niên. Ngày thứ sáu 6 tháng 9, có thêm 17 vụ tố cáo khác cọng thêm 7 vụ đã tố cáo vào mùa hè này. Các sự kiện xảy ra từ năm 1957 đến năm 2000 tại Pháp, Hoa Kỳ, Maroc và Thụy Sĩ.

Một “kẻ có tội khủng khiếp”

Trên máy bay, trả lời câu hỏi của báo Le Monde “ngài có thông điệp nào cho các nạn nhân của Abbé Pierre? Và vì sao một nhân cách như vậy lại có thể phạm một tội tày trời như vậy?” Đức Phanxicô trả lời: “Quý vị đã chạm đến một điểm rất đau đớn, rất tế nhị. Những người làm điều rất tốt, nhưng họ lại là kẻ có tội khủng khiếp. Đó là thân phận con người chúng ta.”

Ngài nói: “Những việc làm dù tốt đến đâu cũng không biện minh cho việc che đậy các tấn công tình dục của họ. Chúng ta không thể nói: che đậy đi, đừng tiết lộ! Tội lỗi công khai là công khai. Và họ phải bị lên án. Abbé Pierre là người đã làm rất nhiều điều tốt nhưng ông cũng là kẻ tội lỗi. Chúng ta phải rõ ràng và không được che giấu.” Một số chức sắc Giáo hội đã được cảnh báo về những cáo buộc chống lại Abbé Pierre. Ngày 12 tháng 9, Hội đồng Giám mục Pháp thông báo sẽ mở thư khố cho các nhà báo và nhà nghiên cứu.

“Một loại ma quỷ”

Mở rộng chủ đề, Đức Phanxicô xem cuộc chiến chống tội phạm trẻ em và tất cả các hình thức lạm dụng là trách nhiệm tập thể. Ngài nói: “Chống lạm dụng là điều tất cả chúng ta cần phải làm. Không chỉ chống lạm dụng tình dục, nhưng chống lại mọi hình thức lạm dụng: lạm dụng xã hội, lạm dụng giáo dục, lạm dụng tâm lý con người, lạm dụng tự do…”

Ngài đề nghị một cách đọc thiêng liêng về những hành vi làm suy yếu phẩm giá, ngài nhấn mạnh: “Theo tôi, lạm dụng là một điều ma quỷ! Bởi vì bất kỳ hình thức lạm dụng nào đều hủy hoại phẩm giá con người, bất kỳ hình thức lạm dụng nào đều tìm cách phá hủy tất cả những gì chúng ta là: hình ảnh của Thiên Chúa. Tôi mừng khi thấy các vụ này được đưa ra công khai. Ba năm trước, chúng tôi đã tổ chức một cuộc họp với các chủ tịch Hội đồng Giám mục về các trường hợp lạm dụng tình dục và các lạm dụng khác. Một thống kê của Liên Hiệp Quốc cho biết, 42 đến 46% các vụ lạm dụng xảy ra trong gia đình, với những người ở gần (…) Lạm dụng tình dục trẻ em và trẻ vị thành niên là một tội ác! Thật là xấu hổ!”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các bài học của Abbé Pierre

Đức Phanxicô thấy cái hợp lý, cái không hợp lý của hai ứng cử viên “chống lại sự sống” Kamala Harris và Donald Trump

Đức Phanxicô thấy cái hợp lý, cái không hợp lý của hai ứng cử viên “chống lại sự sống” Kamala Harris và Donald Trump

Trở về sau chuyến đi 12 ngày đến Châu Á và Châu Đại Dương, ngày thứ sáu 13 tháng 9, trong cuộc họp báo trên máy bay, Đức Phanxicô chỉ trích hai ứng viên Tổng thống Mỹ, ngài lên án Đảng Dân chủ bảo vệ quyền phá thai, Đảng Cộng hòa trục xuất người di cư.

lemonde, AFP, 2024-09-14

Đức Phanxicô họp báo trên máy bay đưa ngài từ Singapore về Rôma ngày thứ sáu 13 tháng 9 năm 2024. GUGLIELMO MANGIAPANE / AFP

Đức Phanxicô thường nói đến người di cư, họ bị các xã hội phương Tây ruồng bỏ, ngài phản đối mạnh mẽ việc phá thai, ngài xem đây là “giết người”.

Hai chủ đề này là trọng tâm của chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ ngày 5 tháng 11, cả hai chủ đề đều không được ngài ủng hộ. Trở về sau chuyến đi mệt mỏi đến Châu Á và Châu Đại Dương, ngài chỉ trích quan điểm của ứng cử viên đảng Cộng hòa Donald Trump và Kamala Harris Đảng Dân chủ về các chủ đề này: “Cả hai đều chống lại cuộc sống. Dù đó là giết trẻ em trong bụng mẹ hay trả người di cư về nước. Tôi không phải là người Mỹ, tôi không thể bỏ phiếu ở Mỹ, nhưng việc trả người di cư về nước, không cho họ cơ hội làm việc, từ chối tiếp nhận họ, đó là vấn đề nghiêm trọng. Về mặt đạo đức chính trị, nói chung không đi bầu là không được. Điều này không tốt, chúng ta phải bỏ phiếu và phải chọn cái ít xấu hơn, ít ác hơn. Người dân chọn ai, tôi không biết, ai cũng có lương tâm của mình.”

Khi được yêu cầu bình luận về những nhận xét này, bà Karine Jean-Pierre, phát ngôn viên của Nhà Trắng cho biết: “Tôi không nói chuyện với Tổng thống về những bình luận của Giáo hoàng về cuộc cuộc bầu cử sắp tới.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Một hình ảnh mới của linh mục

Một hình ảnh mới của linh mục

Vụ Abbé Pierre làm rung chuyển Giáo hội. Không bỏ qua nhưng cũng không giam mình trong bóng tối. Tổng biên tập Arnaud Alibert của báo La Croix, Dòng Mông Triệu tìm được an ủi trong tin vui: một người cha gia đình Chanđê được phong linh mục.

la-croix.com, Arnaud Alibert, Tổng biên tập báo La Croix, 2024-09-13

Hình minh họa

Lần đầu tiên trong Giáo hội Pháp một người cha gia đình được phong chức và làm mục vụ ở quận 18 Paris. Nhưng phải nói rõ đây là Giáo hội Chanđê để không bị hiểu lầm. Ngày chúa nhật 1 tháng 9, tại nhà thờ Thánh Tôma-Tông đồ ở Sarcelles, Hồng y Louis Raphael Sako, đứng đầu Giáo hội Chanđê đã phong linh mục cho ông Amar Agag.

Một cơ hội để nhắc, Giáo hội công giáo có 23 Giáo hội Đông phương và Thượng phụ Sako là giáo hoàng của Giáo hội này. Điều chúng ta cần hiểu, Giáo hội Rôma chỉ là một trong trong số nhiều biểu hiện khác của Giáo hội công giáo.

Trong câu chuyện đáng chú ý này, linh mục Amar Agag dùng từ “kêu gọi” nhiều lần để nói về ơn gọi của mình. Với linh mục, chắc chắn Chúa đang gọi ông, vì ông đã 38 tuổi, đã có gia đình và có ba người con. Như thế ngày nay ở Pháp, Chúa Kitô đang kêu gọi các ông đã kết hôn làm linh mục. Một hồng y đã chứng thực điều này! Vậy liệu Giáo hội Rôma có sửa đổi kỷ luật của mình không? Không có gì bắt buộc Giáo hội phải làm, và có lẽ thời điểm hiện tại chưa phải là thời điểm tốt nhất.

Chúng ta cần lưu ý, mỗi lần có một trường hợp cưỡng bức tình dục làm rung chuyển Giáo hội – hiện nay là vụ Abbé Pierre – thì vấn đề về đời sống độc thân của linh mục lại được đặt ra. Dĩ nhiên là hai việc chẳng liên quan gì với nhau, nhưng các phương tiện truyền thông và mạng xã hội đã tạo ra mối liên hệ.

Làm thế nào để thoát khỏi cái bẫy này? Trước tiên chúng ta phải nhìn nhận, thần học công giáo nói chung, đặc biệt là thần học hôn nhân đặt người phối ngẫu trong mối quan hệ giữa người với người. Nhưng trong tất cả các chuyện săn mồi, người đi săn đều vồ nạn nhân như một đồ vật. Theo nghĩa này, hôn nhân là nơi giáo dục cần thiết để tôn trọng người khác; hôn nhân buộc người này người kia không được chiếm giữ nhau, nhưng hiến thân cho nhau. Cuối cùng, như Giáo hội Chanđê chứng minh, hôn nhân hoàn toàn phù hợp với thần học mục vụ trong đó linh mục, mục tử nhân lành, hiến thân cho dân mình.

Vì thế, điều quan trọng chúng ta mong đợi nơi các linh mục là họ phải sống trong sự thật, họ hiến thân cho Thiên Chúa và cho người khác, với lời hứa không lấy lại những gì họ đã được ban cho.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Di sản của chúng ta: sinh lực chúng ta để lại

Di sản của chúng ta: sinh lực chúng ta để lại

Ronald Rolheiser, 2024-09-09

Vài năm trước, vào thời điểm báo chí nước Mỹ quá tập trung vào một vụ quấy rối tình dục lớn, tôi hỏi ba nữ đồng nghiệp: “Điều gì gây ra quấy rối tình dục? Ranh giới nào không được vượt qua? Cái gì là hành vi vô tội và cái gì là quấy rối?” Họ trả lời: “Đây không phải là vấn đề về ranh giới rõ ràng, một bình luận hoặc một hành vi quá trớn nào đó. Đúng hơn, chúng ta biết điều gì là vô tội và điều gì là không. Chúng ta thấy sinh lực ẩn dưới hành vi đó. Chúng ta biết khi nào là quấy rối và khi nào là không.”

Tôi chắc chắn điều này đúng trong hầu hết trường hợp. Tất cả chúng ta đều có rađa nội tâm rất nhạy bén. Chúng ta cảm nhận một cách tự nhiên và nắm bắt được sinh lực đang tồn tại – dù căng thẳng, an tâm, ghen tị, chấp thuận, ngây thơ, hay hung hăng. Chúng ta thấy được điều này ở những em bé còn nhỏ, cả những em bé mới lên hai, chúng có thể cảm nhận được sự căng thẳng đang có trong người.

Thánh Gioan Thánh Giá thần nghiệm đã viết về khái niệm này trong phân định linh hướng. Ngài nêu lên, làm sao để phân định mình đang ở trong đêm tối tâm hồn thật sự (một điều lành mạnh) hay đang buồn nản vì trầm cảm hoặc vì có hành vi vô đạo đức. Ngài đưa ra một vài tiêu chuẩn để phân định, nhưng cuối cùng, tất cả đều quy về cách chúng ta nắm bắt được sinh lực người đó đang tỏa ra. Họ đem lại oxy cho căn phòng hay họ đang hút oxy? Khi nghe họ, bạn có thấy mình bị nản lòng không? Nếu có, thì lời nói của họ không mang tính thiêng liêng, không lành mạnh. Những người thật sự ở trong đêm tối tâm hồn, thì dù có đấu tranh nội tâm, họ vẫn đem lại sinh lực tích cực và làm cho bạn thêm hứng khởi thay vì nản lòng.

Mục đích của tôi khi chia sẻ vấn đề này không phải để chúng ta phê phán hay phán xét người khác nhưng để biết nắm bắt sinh lực họ tỏa ra (dù trong vô thức, chúng ta đã làm rồi). Điều tôi muốn nêu bật: đây là thách thức mỗi chúng ta phải chủ tâm kiểm điểm xem mình mang lại sinh lực gì và để lại gì.

Mỗi người chúng ta cần can đảm tự hỏi: Tôi đem lại sinh lực gì? Tôi đem lại sinh lực nào cho bữa ăn gia đình? Cho buổi họp cộng đoàn? Cho những người bàn chuyện chính trị và tôn giáo với tôi? Cho các đồng nghiệp và cộng sự của tôi? Cho nhóm xã hội tôi tham gia? Và sâu sắc hơn, là cha mẹ, là người lớn tuổi trong cộng đồng, tôi đem lại sinh lực gì cho con cái, cho người trẻ? Là người đi dạy hoặc làm mục vụ, tôi mang sinh lực gì khi hướng dẫn người khác?

Đây là câu hỏi quan trọng. Tôi thường đem lại sinh lực gì và để lại gì? Chán nản? Giận dữ? Hỗn loạn? Ghen tương? Hoang tưởng? Cay đắng? Trầm cảm? Bất ổn? Hay tôi đem lại và để lại một chút ổn định, bình tĩnh, vui vẻ, một sinh lực đem lại phúc lành thay vì nguyền rủa người khác? Rốt cùng tôi để lại gì?

Trong Phúc âm Thánh Gioan, khi Chúa Giêsu nói lời từ biệt, Ngài đi thì tốt hơn cho các môn đệ, vì nếu không họ sẽ không nhận được Thần khí của Ngài, và Thần khí của Ngài, ơn cuối cùng Ngài ban,  đó là bình an. Chúng ta cần lưu ý hai điểm: thứ nhất, các môn đệ không thể nhận hoàn toàn những gì Chúa Giêsu ban cho đến ngày Ngài thật sự ra đi, thứ hai, ơn thật sự, di sản thật sự Chúa Giêsu để lại cho họ, chính là bình an.

Thoạt nhìn điều này có vẻ hơi lạ, các môn đệ chỉ có thể nhận trọn sinh lực này khi Ngài ra đi và để lại Thần Khí cho họ. Điều này cũng đúng cho mỗi chúng ta. Chỉ sau khi chúng ta rời khỏi một nơi nào đó thì sinh lực chúng ta để lại mới rõ ràng nhất. Có thể sau khi chúng ta chết, sinh lực chúng ta để lại sẽ là di sản thực sự của chúng ta. Nếu chúng ta sống trong cay đắng giận dữ, trong ghen tương và không sẵn lòng chấp nhận người khác, nếu cuộc sống chúng ta gieo hỗn loạn và bất ổn, thì đó là những gì chúng ta sẽ để lại, và sẽ luôn là một phần di sản của chúng ta. Ngược lại, nếu chúng ta đáng tin cậy và sống quên mình, có đạo đức, hiếu hòa với người khác, đem lại bình thản và vững vàng, thì như Chúa Giêsu, chúng ta sẽ để lại món quà bình an. Đó sẽ là di sản của chúng ta, là oxy chúng ta để lại cho hành tinh này sau khi chúng ta ra đi.

Và đây không phải là chuyện người nào có thể thổi bừng căn phòng bằng sự hóm hỉnh và hài hước, dù những chuyện này cũng tốt, nhưng đúng hơn, ai là người toàn vẹn cá nhân để đem lại tin tưởng và ổn định cho người khác?

Với tất cả những điều này, chúng ta tự hỏi: khi bước vào một căn phòng, tôi đang đem oxy vào hay tôi đang hút oxy của phòng đó?

J.B. Thái Hòa dịch

Đức Mẹ trên máy bay của Đức Phanxicô

Đức Mẹ trên máy bay của Đức Phanxicô
Trên tất cả các chuyến bay của Đức Phanxicô, khi nào cũng có tượng Đức Mẹ được gắn trước ghế của ngài. Mỗi thứ bảy hàng tuần, phóng viên Mikael Corre thường trực của báo La Croix ở Rôma đưa quý độc giả vào hậu trường của đất nước Vatican nhỏ nhất thế giới này.
la-croix.com, Mikael Corre, 2024-09-14
Ngày thứ hai 2 tháng 9, chuyến bay AZ4000 đưa Đức Phanxicô đi Đông Nam Á, bắt đầu chuyến đi 12 ngày của ngài đến Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore. Như tất cả các chuyến tông du, một bức ảnh A4 của Đức Mẹ được gắn trước hàng ghế đầu của ngài. Trong mười ba giờ mười lăm phút bay, Đức Mẹ ở bên cạnh ngài, ngài đặt một bó hoa gần đó.
Bức ảnh này là ảnh Đức Trinh Nữ Bonaria (thắp sáng không khí trong lành), bổn mạng thành phố Sardinia. Các giáo hoàng Gioan Phaolô II, Bênêđíctô XVI đã đến Cagliari, thánh địa của Đức Mẹ bảo vệ thủy thủ và du khách ở vùng này.
Lòng kính mến Đức Mẹ Bonaria bắt đầu ngày 25 tháng 3 năm 1370, khi thuyền trưởng của một con tàu bỏ cái rương lớn ra để làm nhẹ con tàu đang chòng chành vì gió. Chiếc hộp rơi xuống biển trôi vào đất liền, một tu sĩ Dòng Khất sĩ mở ra và thấy bức tượng Đức Mẹ.
Trên chuyến bay giữa Dili và Singapore là ảnh Đức Mẹ Loretto của vương cung thánh đường Thánh gia vùng Marche của Ý. Đức Phanxicô không gắn bó với một bức ảnh nào, ngài không thờ hình tượng.
Trong giờ Kinh Truyền Tin ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời 15 tháng 8, ngài nói: “Xin anh chị em đừng nghĩ Đức Mẹ như tượng sáp bất động, nhưng Mẹ là người chị, người mẹ với đôi dép mòn đã đi theo Chúa Giêsu.” Ngài trích dẫn quyển sách của linh mục Ý Carlo Carretto Phúc thay những ai đã tin (Beata te che hai creduto): “Đức Mẹ là người đi trước chúng ta, Mẹ nhắc chúng ta cuộc sống là hành trình liên tục để đi đến cuộc gặp cuối cùng.”
Sau chuyến đi này, Đức Phanxicô sẽ đi Bỉ và Luxembourg từ ngày 26 đến 29 tháng 9 để cám ơn các “nữ tu mang dép mòn”. Và ước nguyện của ngài là được chôn ở nhà nguyện nhỏ trong đền thờ Đức Bà Cả.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chuyến tông du của Đức Phanxicô: hình ảnh Giáo hoàng của miền Nam Bán cầu

Giáo hoàng tại Châu Á hay Giáo Hội Hoàn Vũ

Bảo vệ gia đình, trục chính của chuyến tông du Châu Á của Đức Phanxicô

Đức Phanxicô đặt tên một loài hoa lan theo tên ngài

Giáo hoàng tại Châu Á hay Giáo Hội Hoàn Vũ

Giáo hoàng tại Châu Á hay Giáo Hội Hoàn Vũ

france-catholique.fr, Gérard Leclerc, 2024-09-11

Hình ảnh / © Antoine Mekary / Godong

Chuyến đi Á Châu dài ngày nhất trong triều của Đức Phanxicô đã minh chứng ngài luôn kiên định với chức vụ của ngài. Đến từ Châu Mỹ Latinh, ngài có khả năng cảm nhận rõ hơn tính phổ quát của Giáo hội. Điều này được thấy rõ qua Công đồng Vatican II, với sự hiện diện của các giám mục đến từ Thế giới thứ ba, đặc biệt là Châu Phi và từ đó Giáo hội phát triển trong đường hướng này. Qua các chuyến đi khắp nơi, các giáo hoàng đã minh chứng điều này. Riêng với Đức Phanxicô, ngài còn thể hiện rõ khuynh hướng mở rộng ra ngoài Âu Châu qua việc phong các hồng y.

Châu Âu truyền giáo một thời

Châu Âu, nơi bắt đầu mục vụ truyền giáo phi thường đã đáp lại lời mời gọi của Chúa Kitô đem Tin Mừng rao giảng đến muôn dân. Một minh chứng hùng hồn, Đức Phanxicô đến Papua, tập hợp 35.000 giáo dân dự thánh lễ ở thủ đô Port Moresby. Từ hàng thế kỷ, nước Pháp là nước có các nhà truyền giáo đi khắp muôn nơi.

Giám mục Jean-Louis Riocreux, người am hiểu vùng này nói với chúng tôi: “Ba giám mục đầu tiên của đại diện tông tòa Papua là người Pháp, trong đó có Giám mục Boismenu, một mục tử phi thường đã ở lâu năm trên đất nước chúng tôi. Rôma đang tiến hành phong chân phước cho ngài.”

Việc mở rộng đức tin kitô giáo trên thế giới vẫn tiếp tục, ngược với nơi từng là động lực truyền giáo phát sinh. Chúng ta cần suy nghĩ đến sự tương phản này, đặc biệt liên quan đến việc xóa bỏ một tinh thần mộ đạo bình dân đang tồn tại rất nhiều ở các lục địa khác. Bản thân Đức Phanxicô dường như ít quan tâm đến châu Âu đang hỗn loạn, ngài ít đến các quốc gia ở lục địa này.

Có tin đồn ngài sẽ đến Paris vào tháng 12 để dự lễ khai trương long trọng Nhà thờ Đức Bà Paris (nhưng trên máy bay từ Singapore về Rôma ngày 13 tháng 9, ngài xác nhận ngài sẽ không đi). Hình ảnh sự tái sinh sau năm năm tái thiết có thể minh họa cho câu chuyện của một đổi mới.

Cảm xúc mãnh liệt do trận hỏa hoạn năm 2019 gây ra đã chứng minh bản sắc lịch sử tôn giáo sâu sắc của nước Pháp được cộng đồng quốc tế xem là một bản sắc văn hóa. Lúc xảy vụ hỏa hoạn, một linh mục Việt Nam cho biết ở nhà thờ quê hương ông đã gióng lên hồi chuông báo tử. Một mẫu gương tuyệt vời về sự hiệp thông Giáo hội, một Giáo hội phổ quát luôn biết ơn những sứ giả đầu tiên của Tin Mừng.

Ở tận cùng thế giới, Đức Phanxicô đến để làm chứng cho sự phong phú của một đức tin lan rộng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chuyến tông du của Đức Phanxicô: hình ảnh Giáo hoàng của miền Nam Bán cầu
Đức Mẹ trên máy bay của Đức Phanxicô
Bảo vệ gia đình, trục chính của chuyến tông du Châu Á của Đức Phanxicô
Đức Phanxicô đặt tên một loài hoa lan theo tên ngài

Bài mới nhất