Home Blog Page 164

Những tương đồng lạ lùng giữa Chân phước Carlo Acutis và chân phước Pier Giorgio Frassati

Những tương đồng lạ lùng giữa Chân phước Carlo Acutis và chân phước Pier Giorgio Frassati

Ảnh ghép Carlo Acutis và Pier Giorgio Frassati / Canva-Aleteia

fr.aleteia.org, Cerith Gardiner, 2024-07-26

Chân phước Pier Giorgio Frassati (1901-1925) và Chân phước Carlo Acutis (1991-2006) sẽ sớm được phong thánh. Dù ngày tháng chưa được ấn định nhưng có thể cả hai sẽ được phong thánh cùng một lúc năm 2025. Cả hai có một cuộc sống gương mẫu làm gương cho các bạn trẻ, họ có những điểm tương đồng thật lạ lùng.

1- Đức tin sâu đậm và yêu kính Bí tích Thánh Thể

Yêu kính Bí tích Thánh Thể và có đời sống cầu nguyện mãnh liệt. Đức tin là nền tảng của đời sống Pier Giorgio. Anh đi lễ thường xuyên, yêu mến Bí tích Thánh Thể và kính mến Mẹ Maria. Chân phước Carlo Acutis yêu kính và xem Bí tích Thánh Thể là “xa lộ lên thiên đàng” của mình. Đi lễ thường xuyên, xưng tội hàng tuần và quảng bá các phép lạ Thánh Thể trên trang web.

2. Làm việc từ thiện và phục vụ người khác

Pier Giorgio Frassati làm việc từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người bệnh trong cộng đồng. Anh thấy Chúa Kitô nơi người anh em mình phục vụ. Anh sẵn sàng tặng đôi giày của anh nếu có người cần. Carlo Acutis cũng vậy, Carlo thích giúp đỡ người khác, làm thiện nguyện viên ở bếp nấu súp, đi dạy giáo lý khi 11 tuổi. Nhiệt tình giúp đỡ người bị thiệt thòi, dùng kỹ năng công nghệ để truyền giáo. Dùng tiền tiết kiệm để mua lều cho người vô gia cư thay vì mua sắm riêng cho mình.

Pier Giorgio Frassati

3. Niềm vui và sự thánh thiện trong đời sống hằng ngày

Pier Giorgio sinh ra trong gia đình giàu có nhưng có cuộc sống rất giản dị. Pier có niềm vui lan tỏa, có óc hài hước, Pier dễ tính, anh có nhiều trò chơi hài hước, đam mê leo núi và có đời sống thánh thiện. Tính tình Carlo vui vẻ yêu đời, thích chơi bóng đá và trò chơi điện tử, đam mê máy tính. Sự thánh thiện của Carlo được thấy trong các sinh hoạt hàng ngày.

 4. Đời sống gia đình

Pier Giorgio sinh ra trong gia đình giàu có. Mới đầu cha mẹ không hiểu về đức tin sâu sắc và các việc làm từ thiện của anh. Pier luôn tôn trọng gia đình, đặt mong muốn của gia đình lên trên mong muốn của mình. Vào cuối đời, khi bà ngoại qua đời ở phòng bên cạnh, Pier âm thầm chịu đựng căn bệnh của mình, không nói cho gia đình biết tình trạng bệnh nghiêm trọng của mình. Sau khi Pier qua đời, thân phụ của anh đã trở lại, nhiều người xem đây là phép lạ đầu tiên của Pier Giorgio. Carlo Acutis cũng có tình cảm gia đình rất mạnh, nhờ Carlo mà mẹ trở lại với đức tin. Từ khi còn nhỏ, Carlo đã nhận biết Chúa và cầu nguyện. Cha mẹ nâng đỡ Carlo trên con đường này, giúp Carlo phát triển đời sống thiêng liêng.

5. Một lòng mộ đạo sớm sủa

Ngay từ khi còn trẻ, Pier Giorgio đã có thiên hướng mạnh mẽ hướng về đức tin. Anh tham gia một số nhóm cầu nguyện, Hội Đức Mẹ và Tông đồ Cầu nguyện. Carlo cũng vậy, Carlo đi lễ và lần hạt Mân Côi mỗi ngày. 11 tuổi Carlo đã đi dạy giáo lý, quan tâm đến lịch sử Giáo hội.

6. Ham học hỏi và sinh hoạt trong trường

Tuy việc học ban đầu gặp khó khăn, nhưng rồi Pier Giorgio cũng ra trường, anh là kỹ sư khai thác mỏ để phục vụ Chúa Kitô tốt hơn giữa những người thợ mỏ. Anh chơi nhiều môn thể thao như cưỡi ngựa, bơi lội, đấu kiếm, leo núi và trượt tuyết. Anh yêu văn chương, có thể đọc  thuộc lòng các đoạn trong Thần khúc của Dante. Ở trường, Carlo là học sinh xuất sắc, đam mê công nghệ, anh làm trang web về các phép lạ Thánh Thể.

7. Nói nhiều ngoại ngữ

Pier Giorgio biết nói nhiều thứ tiếng, ngoài tiếng Ý là tiếng mẹ đẻ, Pier nói được tiếng Pháp, Đức, La-tinh, Hy lạp. Carlo Acutis, sinh ra ở Anh, cha là người gốc Anh, Carlo nói được tiếng Ý và tiếng Anh. Luôn khiêm tốn, Carlo giả vờ không biết câu trả lời cô giáo hỏi để tạo cơ hội cho các bạn trả lời.

8. Các đôi giày

Pier Giorgio thích giúp đỡ người gặp khó khăn. Anh vui vẻ cởi giày tặng người nghèo, trước sự ngạc nhiên của cha mẹ. Khi mới 5 tuổi, Pier đã tặng đôi giày và tất của mình cho người mẹ đang bế em bé chân trần trên tay. Carlo cũng tặng đôi giày cho một người nghèo, đổi lại Carlo lấy đôi giày cũ của họ. Carlo gần với các bạn trẻ ngày nay với quần jean và giày thể thao Nike hơn là các thánh đạo mạo của các thế kỷ đầu tiên của đạo công giáo.

9. Qua đời sớm

Cả hai đều chết trẻ. Pier qua đời lúc 24 tuổi, ngày 4 tháng 7 năm 1925, vì bệnh bại liệt. Gia đình đang quá lo lắng về bệnh và cái chết của bà anh – chỉ ba ngày trước khi Pier qua đời nên đã không nhận ra bệnh của Pier nặng như thế nào. Một đám đông khổng lồ đã đến dự đám tang của Pier, có những người anh đã giúp khi anh còn sống. Chỉ khi đó mọi người mới biết tinh thần quảng đại và phục vụ của anh. Carlo Acutis qua đời vì bệnh bạch cầu ngày 12 tháng 10 năm 2006 lúc 15 tuổi. Giống Pier, Carlo chịu đựng đau đớn, dâng đau đớn của mình để cầu nguyện cho Giáo hoàng và Giáo hội. Đám tang Carlo cũng vậy, rất nhiều người đến tỏ lòng yêu mến người đã ghi dấu ấn trong cuộc đời của họ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Helena Kmie, người có thể là “Carlo Acutis tiếp theo”
Các bài về chân phước Carlo Acutis trên trang Phanxicô

Helena Kmie, người có thể là “Carlo Acutis tiếp theo”

Helena Kmie, người có thể là “Carlo Acutis tiếp theo”

fr.aleteia.org. Philip Kosloski – Bérengère Dommaigné, 2024-07-12

Hình ảnh: arch. Fundacji im. Heleny Kmieć

Tổng giáo phận Krakow, Ba Lan vừa mở án phong thánh cho tôi tớ Chúa Helena Kmie, sinh cùng năm với Carlo Acutis và qua đời năm 2017, sau Carlo Acutis mười một năm.

Câu chuyện về nhà truyền giáo Helena Kmie

Trong những năm gần đây, chúng ta biết nhiều về Chân phước Carlo Acutis, người đam mê Thiên Chúa sẽ sớm được phong thánh. Bây giờ chúng ta tìm hiểu cô Helena Kmie, người Ba Lan, cũng sinh cùng năm 1991 như Carlo Acutis, bị giết 2017 trong một sứ mệnh nhân đạo ở Bolivia. Ngày chúa nhật lòng thương xót Chúa 7 tháng 4 năm 2024, Tổng giám mục Marek Jędraszewski, giáo phận Krakow đã mở án phong chân phước và phong thánh cho Helena Kmie, cô được tuyên bố là tôi tớ Chúa.

Hình ảnh: arch. Fundacji im. Heleny Kmieć

Một cô gái trẻ linh động

Helena Kmie sinh ngày 9 tháng 2 năm 1991 ở Krakow, cùng năm sinh với Chân phước Carlo, là con thứ hai của ông bà Jan Kmiecia và Agnès Bejska. Nhưng vài tuần sau khi sinh, Helena mồ côi mẹ. Cô được rửa tội ngày 14 tháng 4 năm 1991 tại nhà thờ giáo xứ và lớn lên trong một gia đình giữ đạo sốt sắng. Thân phụ tái hôn với bà Barbara Zając. Helena rước lễ lần đầu năm 2000, Helena thêm sức năm 2006. Helena học âm nhạc và công nghệ kỹ thuật ở Đại học Công nghệ Silesian, Gliwice. Trong thời gian học, cô làm thiện nguyện viên và đi truyền giáo. Sau đó, cô vào Đoàn Truyền giáo Tình nguyện của Tu hội Linh mục Salvatorian. Năm 2012, cô được cử đi làm sứ mệnh đầu tiên ở Hungary. Sau đó, cô đi Zambia, Romania và cuối cùng là Bolivia, nơi cô bị sát hại thảm khốc ngày 24 tháng 1 năm 2017, cô mới 25 tuổi.

Vì người giết cô không giết vì đức tin công giáo nên cô không được xem là người tử đạo, nhưng án phong thánh dựa trên “đức tính anh hùng” của cô. Những lời chứng thu thập trong quá trình điều tra về đức tính anh hùng của cô được công bố năm 2018 (cho đến nay chỉ có tiếng Ba Lan) cho biết một điều rất đặc biệt: “Khi Cha Król đến thăm gia đình Helena ngay sau khi biết tin về cái chết bi thảm của cô, cha cho biết, dù cha mẹ cô rất đau buồn, nhưng bà Barbara được an ủi khi Helena được rước lễ một ngày trước khi bị sát hại, nên cô qua đời trong tình trạng ân sủng.”

Hình ảnh: arch. Fundacji im. Heleny Kmieć

“Tôi biết Chúa và tôi không thể giữ Ngài cho riêng tôi”

Trong tiến trình phong chân phước, cáo thỉnh viên vụ phong chân phước cho biết: “Helena đã thấm nhuần tư tưởng của Chân phước François Marie de la Croix Jordan, nhà sáng lập dòng tu Salvatorian chúng tôi ‘chừng nào còn có một người trên thế giới không biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của thế giới thì chúng ta chưa nghỉ ngơi được.’” Đó là cách Helena viết trong các bài viết của cô, đặc biệt là trong đơn xin học để đi truyền giáo: “Tôi đã nhận được ân sủng của Chúa, Ơn nhưng không Chúa ban cho mọi người, Dar Darmo Dany Do Dawania, tôi phải chia sẻ món quà này cho mọi người! Tất cả những kỹ năng tôi có, những tài năng tôi phát triển không dành cho riêng tôi, tôi phải dùng chúng để giúp đỡ người khác. Món quà lớn nhất là tôi biết Chúa và tôi không thể giữ nó cho riêng mình, tôi phải chia sẻ, tôi giúp ai đó, làm họ cười, làm họ hạnh phúc hơn, dạy họ điều gì đó, đó là điều tôi muốn làm!”

Hình ảnh: arch. Fundacji im. Heleny Kmieć

Một nhân vật Ba Lan đầy cảm hứng

Xúc động trước thông báo về cái chết đột ngột của Helena năm 2017, ngày 7 tháng 2 năm 2017, Tổng thống Ba Lan đã truy tặng  Huân chương Chữ thập Vàng vì các công việc từ thiện và xã hội của Helena. Tang lễ ngày 19 tháng 2 năm 2017 của Helena được Hồng y Stanisaw Dziwisz cử hành. Sau khi tiến hành điều tra cuộc đời của Helena tháng 12 năm 2022, Tổng Giáo phận Krakow bắt đầu tiến trình phong chân phước cho Helena Kmie, tháng 4 năm 2024, sắc lệnh được tuyên bố. Lễ phong chân phước cử hành ngày 10 tháng 5 tại Kracovie, cô có danh hiệu tôi tớ Chúa. Sắc lệnh đặc biệt nêu rõ: “Gương mẫu của Người Tôi Tớ Chúa chắc chắn là nguồn cảm hứng cho mọi người, đặc biệt các bạn trẻ, để họ theo đuổi ơn gọi nên thánh của mình với tinh thần đam mê và dấn thân qua hoạt động tình nguyện và truyền giáo”. Từ đó giới trẻ có một hình ảnh mới đương đại để cầu nguyện và cầu bàu.

Marta An Nguyễn dịch

Giọng nói của Chân phước Carlo Acutis trong ký ức

Giọng nói của Chân phước Carlo Acutis trong ký ức

Trích sách “Chuyển giao đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Antonia, bà thường nói trước công chúng, một trong những lúc khó khăn nhất là lúc bà nhìn thi thể Carlo đặt trong quan tài, giọng của Carlo như hiện lên trong trí bà.

Đúng vậy, lời của Carlo rõ mồn một trong tâm trí tôi: “Mẹ ơi, dù khi tất cả giấc mơ của chúng ta tan vỡ thì chúng ta cũng không bao giờ cho phép mình để hoài nghi lấn chiếm và để trái tim mình trở nên chai cứng. Từ bất cứ một thất vọng nào cũng sẽ luôn có một giấc mơ mới.” Đó là cách Carlo thể hiện sự lạc quan sâu sắc của mình. Kể từ khi Carlo qua đời, tôi đã học được, dù khi tất cả mọi chuyện dường như ngược lại, thì chúng ta không bao giờ ngừng mơ ước, với một tấm lòng đam mê và lạc quan. May mắn là tương lai không nằm trong tay chúng ta! Nhưng tương lai cũng không ở trong bàn tay của một “cơ hội” chướng khí. Tương lai ở trong tay Chúa. Thậm chí tương lai là chính Thiên Chúa. Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã chết và sống lại, là mục đích, là mục tiêu của sự tồn tại trần thế của chúng ta. Xác quyết này chúng ta có được nhờ đức tin, đức tin làm cho chúng ta tràn đầy hy vọng: cái chết chắc chắn bị đánh bại, vì cái chết chẳng gì khác hơn là cánh cửa mở vào cõi vĩnh hằng.

Carlo nói, nhận thức này không phải là yếu tố để thúc đẩy chúng ta tách  khỏi cuộc sống này, nó cũng không phải là lối thoát để tới thiên đàng trong tình trạng hoàn toàn không quan tâm đến hiện tại. Nhưng ngược lại. Một khi chúng ta xác định tương lai là Chúa, chúng ta dấn thân vào hiện tại, biết đó là con đường duy nhất dẫn đến tương lai. Bây giờ tôi phải học cách sống say mê thực tại chung quanh tôi, một thực tại hoàn toàn hướng về Thiên Chúa. Vì thế tôi mở rộng tầm nhìn và hướng đến những chiều không gian mà lẽ ra tôi không thể đến được. Đức tin đã soi sáng thực tại, soi sáng thời điểm hiện tại, đức tin cho phép chúng ta xé bỏ các bức màn vượt ra ngoài thế giới nhỏ bé của những bề ngoài và mâu thuẫn, mở ra cho chúng ta đến với vô tận.

Những lời của Carlo về chủ đề này còn chính đáng hơn: “Sự tồn tại của chúng ta trên hành tinh Trái đất này mang một ý nghĩa. Một ý nghĩa có thể được hiểu là con đường trực tiếp nhưng mang tính cá nhân đến với Đấng Cứu Rỗi. Vì vậy, vấn đề của chúng ta, vấn đề của tôi, vấn đề của bạn: đó là đẩy nhanh cuộc gặp này, thực hiện cuộc gặp này, biến cuộc gặp này thành hiện thực.”

Marta An Nguyễn dịch

Các câu tweet của Đức Phanxicô tháng 7-2024

Các câu tweet của Đức Phanxicô tháng 7-2024

Chúng ta cùng cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo chính trị để họ phục vụ người dân; để họ làm việc vì sự phát triển con người toàn diện và lợi ích chung, chăm sóc những người bị mất việc làm và ưu tiên cho những người nghèo nhất. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 30 tháng 7-2024

Hôm nay chúng ta mừng Ngày Thế giới Ông bà và Người lớn tuổi. Tương lai chúng ta tùy thuộc rất nhiều vào việc ông bà và các cháu học cách cùng sống chung với nhau. Chúng ta đừng quên người lớn tuổi! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 28 tháng 7-2024

Phúc âm hôm nay kể cho chúng ta nghe phép lạ bánh và cá (Ga 6:1-15) trong đó các nhân vật chính thực hiện ba cử chỉ mà Chúa Giêsu sẽ lặp lại trong Bữa Tiệc Ly: dâng hiến, tạ ơn và chia sẻ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 28 tháng 7-2024

Bằng cách gần gũi với người lớn tuổi, nhìn nhận vai trò không thể thay thế của họ trong gia đình, trong xã hội và trong Giáo hội, chúng ta sẽ nhận được nhiều ơn, nhiều ân sủng, nhiều phúc lành! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 27 tháng 7-2024

Tinh thần Thế vận Olympic và Paralympic là liều thuốc giải độc cho thảm kịch chiến tranh và bạo lực. Ước mong thể thao xây dựng các cây cầu, phá bỏ rào cản, thúc đẩy các mối quan hệ hòa bình. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 26 tháng 7-2024

Trong khi hòa bình thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng, tôi chân thành xin mọi người tôn trọng lệnh ngưng bắn Thế vận với hy vọng giải quyết được xung đột và lập lại hòa hợp. Xin Chúa soi sáng lương tâm của các nhà cầm quyền. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 25 tháng7-2024.

Chúng ta cần một liên minh mới giữa người trẻ và người già, để những người có kinh nghiệm lâu năm trong cuộc sống gieo mầm hy vọng cho những người đang lớn lên. Vì thế chúng ta học được nét đẹp của cuộc sống và xây dựng một xã hội huynh đệ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 24 tháng 7-2024

Xin anh chị em cầu nguyện cho hòa bình. Chúng ta đừng quên Ukraine, Palestine, Israel, Miến Điện và rất nhiều quốc gia khác đang có chiến tranh. Chúng ta đừng quên, chúng ta đừng quên, chiến tranh là một thất bại! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 21 tháng 7-2024

Chúng ta hãy cẩn thận với sự chuyên chế của việc làm, để học cách dừng lại một chút thời gian trong ngày cho chính mình và cho Chúa, tìm một chút “sa mạc” nội tâm giữa những ồn ào náo nhiệt và hoạt động thường ngày. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 21 tháng 7-2024. Đức Phanxicô trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật. #Angélus

Cuộc sống luôn đáng sống và luôn có hy vọng cho tương lai, dù khi mọi sự gần như tiêu tan. Sự tồn tại của mỗi người là ơn duy nhất cho chúng ta và cho người khác. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta; Ngài lắng nghe, vui mừng và khóc với chúng ta. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 20 tháng 7-2024

Cầu nguyện là sức mạnh đầu tiên của niềm hy vọng. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 18 tháng 7-2024 Năm cầu nguyện. #YearOfPrayer

Nguyện xin Đức Mẹ Cát Minh an ủi và ban hòa bình cho tất cả các dân tộc bị áp bức vì chiến tranh kinh hoàng. Xin anh chị em đừng quên Ukraine, Palestine, Israel và Myanmar đang bị chiến tranh tàn phá. Chúng ta cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 16 tháng 7-2024

Chúng ta cùng là một cộng đồng Tin Mừng. Để làm được điều này, chúng ta cần điềm tỉnh, tập hợp các nguồn lực, các quyên góp, để được tự do, để mọi người có những gì họ cần để sống đúng phẩm giá và đóng góp cho sứ mệnh. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 14 tháng 7-2024. Tin Mừng trong ngày.

Trong ngày chúa nhật biển cả hôm nay, chúng ta vinh danh các thủy thủ. Chúng ta cùng cầu nguyện xin Đức Maria, Ngôi Sao Biển đồng hành với tất cả những người có công việc gắn liền với biển cả và gia đình họ, hướng dẫn họ trên con đường đến với Chúa Kitô. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 14 tháng 7-2024

Vấn đề của thế giới chúng ta không phải là việc trẻ con sinh ra, nhưng là vấn đề của tính ích kỷ, của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tiêu dùng làm cho con người trở nên tự đủ, cô đơn và không hạnh phúc. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 11 tháng 7-2024

Xin anh chị em lặp lại cam kết cầu nguyện và làm việc cho hòa bình: cho Ukraine đang bị đau khổ, cho Palestine và Israel, cho Sudan, Miến Điện và tất cả các dân tộc đang đau khổ vì chiến tranh. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 7 tháng 7-2024

Chúa ẩn mình trong góc tối cuộc sống và trong các thành phố của chúng ta; sự hiện diện của Ngài được thấy trên các khuôn mặt hằn sâu vì đau khổ. Chúa hiện diện thương yêu nơi thể xác thương tích của những người khốn cùng, những người bị lãng quên, những người bị loại bỏ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 7 tháng 7-2024

Không có hy vọng, chúng ta sẽ là những nhà quản lý, những người giữ thăng bằng hiện tại, không phải là nhà tiên tri, là người xây dựng tương lai. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 7 tháng 7-2024

Dửng dưng là căn bệnh ung thư của chế độ dân chủ; tình huynh đệ làm cho các mối quan hệ xã hội được phát triển. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 7 tháng 7-2024

Không có Chúa Thánh Thần, Giáo hội bất động, đức tin chỉ là học thuyết, luân lý chỉ là nghĩa vụ, chăm sóc mục vụ chỉ là công việc. Nhưng với Chúa Thánh Thần, đức tin là sự sống, tình yêu của Chúa chinh phục chúng ta, hy vọng được tái sinh. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 7-2024

Chúng ta cùng cầu nguyện để bí tích Xức dầu mang lại sức mạnh của Chúa cho người lãnh nhận cũng như cho người thân yêu của họ, luôn là dấu hiệu hữu hình của lòng trắc ẩn và niềm hy vọng cho tất cả mọi người. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 2 tháng 7-2024

Cầu nguyện làm cho cuộc sống rung động. Cầu nguyện có vẻ như chuyện trừu tượng, xa các vấn đề. Nhưng cầu nguyện lại là nền tảng vì chúng ta không thể đến với cầu nguyện một mình. Chúng ta không tuyệt đối, một khi ai nghĩ mình tuyệt đối, họ thất bại. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 1 tháng 7-2024. #AnnéeDePrière

 

 

Thế vận hội 2024: Chính lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh

Thế vận hội 2024: Chính lúc tôi yếu là lúc tôi mạnh

Trình diễn tốt nhất, được ngưỡng mộ nhiều nhất nói lên tất cả về thể thao. Nhưng có một cái gì đó rất mạnh khi… bị thua! Tinh thần Thế vận có cả hai điều này.

la-croix.com, Arnaud Alibert, Tổng biên tập báo La Croix, Emeline Sauser, 2024-08-01

Vì có rất nhiều chuyện, rất nhiều đề tài chung quanh Thế vận nên chúng ta thường quên chủ đích của Thế vận là tinh thần thể thao: nguyên tắc đầu tiên thi đấu, bạn phải là người giỏi nhất trong lãnh vực của mình, biến sôi nổi chinh phục thành thông điệp phổ quát về việc vượt lên chính mình. Tất cả các nghi thức xung quanh vận động viên đều nhằm mục đích tạo ra bối cảnh cho một tình huynh đệ, trong đó thành tích không còn là sỉ nhục của người thua trận, nhưng là vinh danh tất cả những người tham gia.

Thế vận hội thu hút sự kỳ diệu từ chiều hướng tâm linh dành riêng cho con người, nơi mọi người đều cảm thấy vinh dự khi thấy mình đứng trên bục vinh quang. Bất kỳ độc giả nào trong chuyên mục của tôi, dù không phải là vận động viên, đều có thể ngây ngất về con người của mình, một sinh vật có khả năng thuần hóa nước, ngựa, bánh xe và bóng, ngay cả cản trở sức mạnh và kỹ năng của… kẻ thù.

Rõ ràng, không phải mọi thứ đều là niềm vui; nhiều giọt nước mắt chảy dài dưới chân bục vinh quang và sân Olympic tràn ngập những giấc mơ tan vỡ về những tấm huy chương không bao giờ có được. Trên thực tế, thất bại này rất tàn khốc vì Thế vận không chỉ là một “trò chơi”; nó là một phần tồn tại của vận động viên, điều này mang lại cho cuộc thi một điều gì đó rất quan trọng với họ. Vậy làm thế nào chúng ta có thể bảo đảm mình không bị thua?

Linh đạo do thái giáo-kitô giáo mở ra một con đường. Dù linh đạo này liên quan đến dân tộc được chọn giữa các quốc gia hay tiên tri của dân mình, mọi người đều có một logic cho hành động: pars pro toto, theo nghĩa đen là một phần của tổng thể. Trong việc làm của Thiên Chúa, người được chọn không phải để cai trị nhưng là người mang dấu chỉ cho mọi người. Các huy chương là sự ngưỡng mộ của chúng ta trước sức mạnh, kỹ năng và hy sinh để đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật thể thao, vinh danh tất cả các vận động viên.

Ở đó, chúng ta cảm nhận được tình huynh đệ phổ quát giữa con người với nhau, miễn là chúng ta có tâm hồn sẵn sàng để làm chuyện này, một hình thức khiêm tốn để cho người khác nói lên những gì họ có trong mình. Và đó là vận may của người thua vì sự hiệp thông này thường nằm ở tầm mức giác quan và lý trí của những người thua hơn là trong tâm trí của người đã có vinh quang của một huy chương.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Phương pháp Bergoglio

Phương pháp Bergoglio

romatoday.it, Elder Red, 2024-07-25

Khi Đức Phanxicô bắt đầu cải cách Giáo triều Rôma, hình ảnh Giáo hoàng Gioan-Phaolô I Luciani lập tức hiện lên trong tâm trí nhiều người. Có lẽ do ảnh hưởng của thuyết âm mưu trong môi trường tự nhiên đằng sau các hàng cột Bernini của Đền thờ Thánh Phêrô, theo phản xạ, một số trong chúng ta lo cho số phận của giáo hoàng “đến từ nơi tận cùng thế giới”. Tôi nhớ mùa xuân năm 2013, lời của một giám mục sống “lâu năm” ở các hàng cột này nói: “Xin quý vị đừng quên, ông ấy là tu sĩ Dòng Tên! Với người trẻ, “tu sĩ Dòng Tên” không mang nhiều ý nghĩa; triều giáo hoàng quá dài của Đức Gioan-Phaolô II đặt các dòng khác vào trọng tâm sinh hoạt mục vụ; “huyền thoại đen” chung quanh các tu sĩ Dòng Tên bị cho là một loạt cuộc chiến nội bộ, đặc biệt do cú sốc Nam Mỹ và cộng đồng hải ngoại gắn liền với thần học giải phóng.

Hình ảnh Đức Gioan-Phaolô II giận dữ giơ tay ở sân bay Managua trước mặt Ernesto Cardenal, một trong các cha đẻ của thần học giải phóng, quỳ gối trước Vị Đại Diện Chúa Kitô chờ phép lành của ngài, nhiều người trong chúng ta vẫn còn nhớ. Đó là thời điểm cần thiết để “bảo đảm” giáo lý công giáo, và chính vì lý do này mà Hồng y Joseph Ratzinger đã là cánh tay đắc lực của Đức Gioan-Phaolô II. Sau nhiều thế kỷ các tu sĩ Dòng Tên được xem là cánh tay đắc lực của giáo hoàng, bây giờ họ phải trả giá cho sự gần gũi của họ với thần học giải phóng, đặc biệt ở Nam Mỹ, lần đầu tiên họ bị nhìn với con mắt nghi ngờ.

Việc họ bị gạt ra ngoài lề trong một phần tư thế kỷ này đã có hai tác động trái ngược nhau: thứ nhất họ chứng kiến sự suy giảm “quyền lực đen” (thường gán cho các tu sĩ Dòng Tên) ở Vatican; thứ hai hình ảnh của họ nhân văn hơn, bớt ủ rũ hơn, giúp phá bỏ hàng loạt định kiến chống lại họ. Bắt đầu từ việc bầu chọn Giáo hoàng! Người ta thường nói sẽ không bao giờ có một giáo hoàng Dòng Tên. Đó sẽ là một sức mạnh to lớn. Và đã như vậy trong nhiều thế kỷ. Chúng ta thử làm một so sánh, ở Ý, vì sợ đảo chính, trong 30 năm người chỉ huy binh sĩ chưa bao giờ là một binh sĩ, họ nói: “Sẽ quá đi sâu vào sự việc, quá nhận thức về mọi động lực, quá gần với một cấu trúc mạnh mẽ.”

Vì vậy, trong mật nghị năm 2005, Hồng y Martini (một tu sĩ Dòng Tên khác) nhắc đến tên Tổng Giám mục Jorge Mario Bergoglio gần như vô danh của Buenos Aires, Hồng y muốn tạo một đối đầu mạnh trong mật nghị lịch sử này, kết thúc một trong những triều giáo hoàng quan trọng và dài nhất lịch sử ngàn năm của Giáo hội. Ngài nêu tên nhưng “giấu” đặc sủng của đương sự và gần như ngài chắc chắn về kết quả. Đúng vậy, lúc đó mọi người nhắm vào giá trị thần học tuyệt đối, đó là môi trường của Joseph Ratzinger. Ở đây một lần nữa là phương pháp của Dòng Tên: “Thời gian có lợi cho chúng ta, chúng ta không phụ thuộc vào lịch sử ngắn ngủi của cuộc đời cá nhân mình, chúng ta thuộc về một dòng tư tưởng có ngàn năm tuổi. Hành động của tinh thần đưa đến một hiểu biết tốt hơn về Tin Mừng, đến một nhận thức: “Maturetur” (Dei Verbum 12).

Và đúng vậy, từ ngày 12 đến ngày 13 tháng 3 năm 2013, sau năm vòng bỏ phiếu, Bergoglio là giáo hoàng, ngay lập tức ngài gởi tín hiệu cách mạng đầu tiên: Phanxicô! Và đó là giáo hoàng Dòng Tên đầu tiên; giáo hoàng Nam Mỹ đầu tiên; giáo hoàng đầu tiên có tên Phanxicô. Chỉ trong một ngày, điều mới lạ nảy sinh, và như thế là đủ! Nhưng phương pháp của Dòng Tên, phương pháp đình chỉ thời gian vẫn chưa đến. Suy cho cùng, đó là phương pháp để giữ mọi người ngồi cùng bàn, tránh đổ vỡ và tổn hại. Với những người biết động lực của Vatican, sự hiệp nhất là giá trị nền tảng: Ut unum sint! Để nên một! Và khuôn mẫu này đặc biệt áp dụng cho các vấn đề thần học. Vì thế, Thượng Hội đồng là công cụ để thực hiện phương pháp này, để sự hiệp thông được thể hiện trong hành vi phụng vụ đưa ra những quyết định mà qua đó Giáo hội tuyên xưng, “Tin Mừng không thay đổi nhưng chính chúng ta là người bắt đầu hiểu Tin Mừng rõ hơn (Roncalli)” (Alberto Melloni trong Corriere della Sera ngày 26 tháng 10-2023). Một Công đồng thành từng mảnh (Christoph Theobald), một công cụ đặc biệt của guồng máy được Đức Phaolô VI thành lập năm 1965 với tông thư Apostolica sollicitudo. Ý tưởng là để duy trì kinh nghiệm sống của Công đồng Vatican II, thông qua một hội đồng tư vấn gồm các đại diện của hàng giám mục công giáo có nhiệm vụ cố vấn giáo hoàng trong việc điều hành Giáo hội hoàn vũ. Bergoglio dùng công cụ này và điều chỉnh nó cho phù hợp với quan điểm của mình. Các thượng hội đồng của ngài không chỉ mở rộng cho hàng giám mục, mà còn rộng mở cho các nhà thần học, các dòng, các hiệp hội, tín hữu kitô của các Giáo hội khác. Ngài dùng phương pháp công đồng, nghĩa là đối đầu chặt chẽ và cần thiết giữa các giám mục và các người bên ngoài, các thần học gia hay đại diện các hiệp hội, buộc các giám mục phải lắng nghe, phải đối đầu với một điều gì đó “bên ngoài chúng ta”; một thế giới trong đó Bergoglio gọi là “bệnh viện dã chiến”.

Đó là cách mà những chủ đề cấm kỵ, chuyện không thể chạm tới như việc những người ly dị được rước lễ, sự tương thích giữa hôn nhân và chức linh mục, chức tư tế nữ bắt đầu được thảo luận, những chủ đề mang lại sự mới mẻ cho phụ nữ và đàn ông không cư trú ở Vatican. Làn sóng này mang đến lời khuyên cụ thể cho các giám mục, cẩn thận để không đứng ngoài thế gian. Và đó là phương pháp đã chiến thắng: trong Thượng Hội đồng về Amazon, vấn đề các linh mục kết hôn đã được đưa ra vô số lần trong các cuộc can thiệp; nhưng Đức Phanxicô đã không nhấn mạnh quan điểm, thừa nhận những gì đã xảy ra nhưng trong Tông huấn hậu Thượng hội đồng Querida Amazonia (2020) ngài không đề cập đến chủ đề này. Trong số những điều khác, việc chọn lựa các diễn giả, Hồng y Cláudio Hummes, rất gần với thần học giải phóng trong những năm 1970 và các quan điểm của Giám mục Elder Camara, một trong những bạn thân của ngài, không phải là người chống chức phó tế nữ, vì thế đây không phải là chuyện ngẫu nhiên. Đó là cách Bergoglio “mở đường” cho thần học giải phóng khi ngài tiếp Gustavo Gutiérrez, thần học gia Pêru; được hồng y bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin người Đức Gerhard Ludwig Müller lúc đó đã làm việc rất lâu trong cuộc họp này. Như vậy ứng với lời của linh mục Ugo Sartorio (giám đốc Messaggero di Sant’Antonio) viết trên nhật báo L’Osservatore Romano khi Đức Bergoglio nhậm chức: “Với một giáo hoàng người Mỹ Latinh, thần học giải phóng không thể tồn tại lâu trong bóng tối. Ngày nay, nhờ Thượng Hội đồng, chủ đề linh mục kết hôn không còn là điều cấm kỵ vì trên thực tế đã có các linh mục lập gia đình trong các cộng đồng kitô giáo khác.”

Mặt khác, “mẹ của mọi trận chiến” liên quan đến chức phó tế nữ, chúng ta thấy rõ sự đối nghịch của mọi người với chủ đề này: với người bảo thủ là đi ngược với Phúc âm; với người cấp tiến, làm suy yếu vị thế của Giáo hội trong cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ. Vì thế tên của Thượng Hội đồng là: Vì một Giáo hội đồng nghị: hiệp thông, tham gia và sứ mệnh. Đây là Thượng hội đồng tế nhị nhất. Hồng y Jean-Claude Hollerich tu sĩ Dòng Tên là tổng tường trình. Lần này và cũng là lần đầu tiên, Thượng hội đồng kéo dài hai phiên họp, lần đầu năm 2023 và lần thứ nhì tháng 10 năm 2024. Với hai tài liệu, một tài liệu tạm thời vào cuối phiên họp năm 2023 và một tài liệu làm việc, được trình bày cách đây vài ngày. Hồng y Grech, tổng thư ký của Thượng hội đồng cho biết, chức phó tế nữ sẽ không được đề cập trong phiên họp tiếp theo vì Đức Phanxicô đã giao cho bộ Giáo lý Đức tin (đứng đầu là hồng y Argentina Víctor Manuel Fernández) nghiên cứu vấn đề này, trong bối cảnh mục vụ rộng lớn hơn, với sự cộng tác của tổng thư ký Bộ Giáo lý Đức tin. Theo hướng dẫn của Đức Phanxicô, việc nghiên cứu chuyên sâu sẽ tiếp tục. Mọi thứ đều mở ra cho phụ nữ và nam giới. Chúng ta đã thấy khi Đức Phanxicô mở mục vụ giáo dân giúp lễ và đọc sách cho phụ nữ, trong mục vụ mới dành cho giáo lý viên có sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Thượng Hội đồng đã không đặt ra vấn đề về việc truyền chức linh mục cho phụ nữ, vì toàn thế giới chưa đặt vấn đề này. Một số Giáo hội địa phương đã nêu lên vấn đề chức phó tế cho nữ, và một ủy ban có trách nhiệm đào sâu suy tư thần học về điểm này. Chức phó tế là thừa tác vụ có chức thánh, không phải là thừa tác vụ linh mục, nhưng là thừa tác vụ phục vụ. Câu hỏi thứ hai, sau suy tư này, liệu thừa tác vụ thụ phong này có thể mở ra cho phụ nữ hay không. Nhưng đây là một phần của một tiến trình, và chúng ta không nên nghĩ rằng mọi tiến trình đều kết thúc ở phiên họp này của Thượng Hội đồng.

Giáo hội sẽ tiến lên một cách đồng nghị, dân Chúa sẽ tiến bước trong lịch sử một cách đồng nghị. Và sẽ có những câu hỏi cần được trả lời. Maturetur! Chủ đề không còn là điều cấm kỵ nữa! Sẽ không phải vào tháng 10, có lẽ sẽ với giáo hoàng tiếp theo, nhưng câu chuyện sẽ chín dần. Một Giáo hội có khả năng ở giữa mọi người, có khả năng lên tiếng và đáp lại đời sống cụ thể của đức tin, của Populus Dei, của Nhiệm thể. Đây là phương pháp Bergoglio, của con đường Dòng Tên. Đặt ra đề tài, phá điều cấm kỵ, nói về nó, nếu chưa thống nhất thì phải chờ: diễn biến của lịch sử, cái chết của các đối thủ, sự bất đồng chính kiến thu hẹp lại. Chờ cho đến khi trưởng thành, Maturetur. Và ở thời điểm đó, ngay cả những chủ đề nhạy cảm nhất về mặt thần học cũng sẽ là những giai đoạn quản trị thông thường. Cánh bảo thủ cuối cùng đã hiểu được phương pháp của Bergoglio và nhận ra thời gian lại có lợi một cách nghịch lý cho vị giáo hoàng già; do đó đây là những cuộc tấn công chưa từng có trên báo chí (các Câu hỏi của các Hồng y…); và các cuộc tấn công hỗn loạn, không thể tưởng tượng nổi dưới vòm Thánh Phêrô chỉ cách đây vài năm! Họ đã thử mọi cách, nhưng giáo hoàng già vẫn kiên quyết tiếp tục phương pháp của mình: giữ mọi người ở trong nhà, cho đến khi cuộc ly giáo trở nên vô lý! Trong khi đó, Hồng y đoàn đã thay đổi, Giáo triều đã thay đổi, các cơ quan quản lý đã thay đổi và ngày càng thích ứng với một Giáo hội hậu công đồng và hậu Âu châu.

Một Giáo hội mà trung tâm ơn gọi là ở các nước đang phát triển, chỉ cần nhìn vào số liệu thống kê về nguồn gốc của các hồng y trong Hồng y đoàn là thấy. Có tin đồn Đức Phanxicô và những người bạn thân của ngài đã đưa ra dấu hiệu về việc kế vị ngài. Vì thế tu sĩ Dòng Tên già chờ đợi hoa trái của Tin Mừng chín muồi trọn vẹn trong sự hiểu biết của ngài về lịch sử.

Marta An Nguyễn dịch

Nhái lại Bữa Tiệc Ly trong lễ khai mạc Thế vận hội không có gì là phạm thượng

Nhái lại Bữa Tiệc Ly trong lễ khai mạc Thế vận hội không có gì là phạm thượng

liberation.fr, Bernadette Sauvaget, 2024-07-29

Những người bị xúc phạm vì chương trình của ông Thomas Jolly, người chỉ huy buổi lễ khai mạc Thế vận hội, bị cho là nhái lại bức tranh Bữa Tiệc Ly của Chúa Kitô dường như họ quên bức tranh này của họa sĩ Leonardo da Vinci chỉ là bức tranh mô tả. Việc ám chỉ nó không cấu thành hành vi phạm tội dưới bất kỳ hình thức nào.

Lễ khai mạc Thế vận mang tính chất toàn cầu. Viện hồi giáo Al-Azhar ở Cairo lên án “tiến trình” bị cho là nhái lại Bữa Tiệc Ly, bữa ăn cuối cùng Chúa Kitô thiết lập Bí tích Thánh Thể, một trong những bí tích chính của kitô giáo. Trong một thông cáo báo chí, Viện cho biết: “Việc xúc phạm đến Chúa Kitô hoặc một trong các nhà tiên tri là hành vi cực đoan, tàn bạo và thiếu suy nghĩ”. Trên thực tế, cuộc tranh cãi đã vượt ngoài thế giới công giáo. Ngày thứ hai ông Samuel Peterschmitt, nhà lãnh đạo truyền giáo nổi tiếng người Pháp, đứng đầu siêu nhà thờ ở Mulhouse đã gởi thư ngỏ cho Tổng thống Pháp, ông thu được 20.000 chữ ký phản đối nước Pháp đã chọn cách giới thiệu mình như một quốc gia ngoại giáo công khai chống lại đức tin kitô giáo.

Không ai công khai nói đây là “phạm thượng”, nhưng thật ra các phản ứng độc hại của cuộc tranh cãi không khác gì những tranh cãi gay gắt xung quanh các bức biếm họa về tiên tri Mohammed giữa những năm 2000. Dù có lời giải thích của ông Thomas Jolly và ban tổ chức Olympic, cuộc tranh cãi vẫn chưa lắng xuống. Ngược lại là đàng khác. Linh mục Paul-Adrien dòng Đa Minh lên tiếng: “Tôi thuộc về thế hệ tín hữu kitô không chấp nhận việc mình bị nhổ vào mặt.” Linh mục trực tiếp phát động chiến dịch mang tính biểu tượng để mang lại danh dự cho Chúa.

Nhưng họ tìm ở đâu những “cảnh chế nhạo và phạm thượng” như các giám mục Pháp nói, như các bình luận ngày càng sôi nổi nói? Chúng ta thừa nhận trình tự này đã được chính những người tổ chức tranh luận khi đề cập đến bức Bữa Tiệc Ly nổi tiếng của họa sĩ Leonardo da Vinci. Không ai có thể phủ nhận tác phẩm danh tiếng này là di sản nghệ thuật và văn hóa thuần túy. Chắc chắn không phải là thần học hay phụng vụ công giáo. Bức tranh là tượng trưng. Bức tranh không phải là bí tích kitô giáo. Tóm lại, việc nhắc đến bức tranh không phải là một hành vi phạm tội. Trừ khi chúng ta thánh hóa tác phẩm của Vinci, vì thế điều này giống với việc thờ hình tượng, một trong những lỗi lầm lớn bị Kinh thánh lên án.

Trong lễ khai mạc, không có lúc nào các nhân vật trong bức tranh này bắt chước điều gì về Bí tích Thánh Thể. Nếu nhìn bức tranh dưới quan điểm của người có đức tin thì bức tranh có thể bị cho là báng bổ. Không có chuyện này trong chương trình của ông Thomas Jolly. Phải thực sự muốn thấy Chúa Giêsu ở khắp mọi nơi để nhận ra tác phẩm này nhái Ngài qua  nhân vật DJ Barbara Butch và vầng hào quang của bà mà có người đơn giản cho đó là hào quang của Tượng Nữ thần Tự do.

Ngược lại, những lời lên tiếng buộc tội này tiềm ẩn một nguy cơ không thể bỏ qua: kể từ khi chủ nghĩa tôn giáo chính thống quay trở lại vào cuối những năm 1970, các cuộc tranh luận về tội báng bổ đã trở nên sôi nổi. Và đôi khi là giết người.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Cái chết của Carlo giữa nỗi đau và thanh thản

Cái chết của Carlo giữa nỗi đau và thanh thản

 

Trích sách “Chuyển giao đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Tôi nhớ như thể hôm qua cuộc điện thoại mà Antonia nói với tôi Carlo đã qua đời. Tôi vẫn còn kinh ngạc trước sự kiềm chế nỗi đau của bà,  sự thanh thản như đỉnh Olympus toát ra từ lời nói của bà. Làm thế nào bà giải thích được chuyện này?

Nhìn lại sự việc, tôi phải nhận ra những chuyện này trong các câu nói của Carlo, như “Chúa đã thức con dậy một cách tốt đẹp”, “Con sẽ không sống sót khi rời bệnh viện”, “Con xin dâng đau đớn của con để cầu nguyện cho Giáo hoàng” – những câu này có vẻ như lạ với chúng tôi, nhưng thật ra đó là kết quả của cách Carlo nhìn mọi sự, cả khi bi thảm và đau đớn: Carlo nhìn dưới ánh sáng kế hoạch của Thiên Chúa.

Carlo luôn sống với đôi mắt hướng về Chúa: cảm nghiệm được sự hiệp thông trong tình bằng hữu với Ngài. Carlo có được sự hiệp thông này nhờ đi lễ, chầu Mình Thánh Chúa, nhờ sống trong tình bác ái anh em. Carlo như chìm trong sự hiệp thông thiết yếu này. Đời sống hiệp thông là ơn thánh hóa, như được hiệp thông vĩnh cửu. Không có khác biệt cơ bản nào giữa cuộc sống ân sủng dưới thế và cuộc sống vinh quang trên trời. Carlo luôn hiệp thông với Chúa. Trừ những trở ngại như nguy cơ sa vào tội lỗi, ý chí không kiên định, không ở trong tình trạng yêu mến và tin tưởng làm cho sự hiệp thông không được trọn vẹn và tràn ngập. Chúa Giêsu nói điều này rõ ràng khi Ngài nói về cuộc phán xét cuối cùng: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6, 36-38).

Nhìn sự việc theo cách này, chúng tôi hiểu Carlo đã giúp chúng tôi chuẩn bị cho ngày Carlo qua đời. Dĩ nhiên chúng tôi rất đau, nhưng chúng tôi không buồn. Chúng tôi không tuyệt vọng hay lo lắng, nhưng như cha nói, chúng tôi thanh thản. Chúng tôi xác tín: cái chết, dù sớm và bi thảm được sống cùng với Chúa Giêsu, Đấng qua cái chết của Ngài đã mang sự sống vinh quang cho tất cả mọi người. Khi các bạn hỏi Carlo nghĩ gì về tương lai, Carlo trả lời:

Chúng ta không có một thành phố ổn định ở đây, nhưng chúng ta khao khát thành phố này vào ngày mai, khi chúng ta được nâng lên trạng thái siêu nhiên, được cứu chuộc và được cứu độ, chúng ta được định sẵn về cõi vĩnh hằng với Thiên Chúa, “đồng vĩnh cửu”. Cái chết không phải là kết thúc mọi thứ, không phải là thảm họa. Không phải là một kết luận chết người. Cái chết là chuyển đổi sang đồng vĩnh cửu. Nếu chúng ta xem mình đi qua thế giới này, biết mọi thứ ở đây chỉ là tạm bợ, nếu chúng ta khao khát những điều trên cao, đặt cược mọi thứ ở đó, chúng ta sẽ đặt sự tồn tại của mình vào cái tiếp theo vượt xa hơn thế, thì mọi thứ sẽ vào thứ trật đó, trở nên cân bằng, tất cả đều có chiều hướng tốt đẹp, mọi thứ đều được nuôi dưỡng bằng hy vọng. Nếu chúng ta nghĩ ngày mai là một tương lai gần để chuẩn bị, thì một trong những đức tính quan trọng nhất của đời sống thiêng liêng sẽ được phát huy: niềm hy vọng. Hy vọng không phải là hơi thở thơ mộng, không phải là một cảm xúc, cũng không phải là lối thoát để chúng ta không cam kết, nhưng hy vọng là nhân đức đối thần thứ hai, như hạt giống gieo vào chúng ta qua phép rửa tội.

Và Carlo xin các bạn chú ý đến một số cách thể hiện thông thường:

Chúng ta thường nói: ở đây ở đó, ở trên ở dưới. Cách nói và suy nghĩ này làm tương đối hóa mọi sự. Nếu chúng ta suy nghĩ như vậy, chúng ta trở thành nô lệ, bị điều kiện hóa theo thời gian và không gian. Nếu chúng ta thoát khỏi những xiềng xích này, nếu chúng ta quen với những điều ở trên cao, nếu chúng ta có niềm tin vào thế giới bên kia, nếu chúng ta xem cuộc sống là bàn đạp để hướng về cõi vĩnh hằng, thì cái chết sẽ trở thành lối đi, trở thành cánh cửa, trở thành phương tiện. Cái chết sẽ mất đi khía cạnh kịch tính của nó. Khía cạnh chết người, dứt khoát của nó. Trừ tà cái chết. Thiêng liêng hóa cái chết. Thánh hóa cái chết. Đó là bí mật. Khi đó chúng ta sẽ không nghĩ về nó nữa, không nói về nó nữa, chúng ta sẽ không xem nó tuyệt đối, là hủy diệt hoàn toàn, là nhưng chúng ta nhìn cái chết trong ánh sáng, trong hơi ấm và trong chiến thắng của Chúa Kitô phục sinh.

Marta An Nguyễn dịch

Giải thích sự kín đáo của Đức Phanxicô về những tranh cãi ở Thế vận hội Paris

Giải thích sự kín đáo của Đức Phanxicô về những tranh cãi ở Thế vận hội Paris
fr.aleteia.org, Cyprien Viet, 2024-07-31
Cảnh tượng diễn ra ngày thứ sáu 26 tháng 7 trong lễ khai mạc Thế vận hội Paris đã làm người xem kinh ngạc, đặc biệt cảnh các nữ hoàng drag nhái lại Bữa Tiệc Ly. Dù có rất nhiều tranh cãi về vụ này, nhưng Đức Phanxicô khá kín đáo. Một quan điểm khơi lên các câu hỏi, nhìn từ Rôma chúng ta có thể thấy một số chìa khóa để giải thích.
Cựu tổng thống Donald Trump lên án “đây là chuyện đáng xấu hổ”,  chính trị gia Pháp Jean-Luc Mélenchon cho rằng “liều lĩnh làm tổn thương các tín hữu khi chúng ta muốn nói chuyện với thế giới là chuyện vô ích”, tỷ phú Elon Musk tố cáo “đây là hành động thiếu tôn trọng tín hữu kitô”. Các giám mục Pháp lên án các cảnh này đã làm tín hữu kitô bị tổn thương.
Trong bối cảnh này, lời của Đức Phanxicô trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật 28 tháng 7 được mọi người chú ý. Một lần nữa, ngài tránh không nhắc đến Thế vận nhưng ngài tố cáo “một vụ bê bối mà cộng đồng quốc tế không dung thứ, nó đi ngược lại với tinh thần huynh đệ của Thế vận hội”. Ngài lên án thế giới tiếp tục chế tạo, buôn bán vũ khí, lãng phí tài nguyên để gây ra các cuộc chiến tranh lớn nhỏ.
Đức Phanxicô gần như không bao giờ xem truyền hình, ngài không thích xem các hình ảnh trên mạng xã hội, nhưng ngài được thông báo các tin tức cần thiết. Một nguồn tin Rôma cho biết, ngài không thích hành động dưới áp lực của giới truyền thông.
Các giám mục có trách nhiệm “thực hiện công việc”
Một cách để hiểu thái độ của ngài là nơi nguyên tắc bổ trợ, ngài giao cho các giám mục trách nhiệm trả lời, giải quyết vấn đề một cách thẳng thắn với người chịu trách nhiệm về hồ sơ. Giám mục Emmanuel Gobilliard, giáo phận Digne, đại biểu Thế vận hội đảm nhận vai trò người phát ngôn không chính thức của Giáo hội nhận xét: “Sự chế nhạo chống kitô giáo làm mọi người chia rẽ thay vì hiệp nhất.” Giám mục Gobilliard soạn thông cáo cho các giám mục Pháp để nói lên sự tổn thương của người công giáo, họ mong muốn được đóng góp vào sự thành công của Thế vận hội Olympic Paris.
Tổng giám mục Vincenzo Paglia, chủ tịch Học viện Giáo hoàng về Sự sống ủng hộ quan điểm này: “Các giám mục Pháp thật nhân từ và can đảm. Tôi hoàn toàn tán thành tuyên bố của họ.” Một dấu hiệu cho thấy Rôma ủng hộ các giám mục Pháp: ngay lập tức cơ quan truyền thông Vatican đăng thông báo này.
Hồng y Jean-Claude Hollerich, Tổng giám mục Luxembourg tố cáo việc này là không thể chấp nhận: “Tôi buồn. Chúng tôi tôn trọng đa dạng nhưng chúng tôi muốn xã hội châu Âu tôn trọng các tín hữu kitô, không làm gì để chống lại tình cảm tôn giáo của họ.”
Quan điểm phê phán của Đức Thánh Cha Phanxicô về văn hóa Pháp
Trong một một phỏng vấn trên báo La Croix năm 2016, Đức Phanxicô chỉ trích nước Pháp đã phóng đại chủ nghĩa thế tục, xem các tôn giáo như một văn hóa nhóm chứ không phải văn hóa theo đúng nghĩa. Về vụ Charlie (báng bổ tiên tri Mohammed của hồi giáo), vài ngày sau vụ tấn công ngày 7 tháng 1 năm 2015, trên máy bay từ Phi Luật Tân về Rôma, ngài nhấn mạnh: “Chúng ta không thể khiêu khích, không thể xúc phạm, chế nhạo đức tin của người khác. Có rất nhiều người nói xấu, chế nhạo, coi thường tôn giáo người khác, xem tôn giáo như đồ chơi: đó là những người khiêu khích.” Lời này cũng có thể áp dụng cho lễ khai mạc Thế vận hội Olympic. Ngày thứ bảy, sau khi người phát ngôn của ban tổ chức cho rằng họ mong muốn có một thay đổi sau các cảnh khiêu khích này, nhưng ngày hôm sau họ đã lùi bước trong chiến lược truyền thông mới của Ủy ban, một phát ngôn khác cho biết bà “vô cùng hối tiếc” nếu người xem cảm thấy khó chịu trước các cảnh này.
Ngoại giao Olympic
Một nguồn tin ngoại giao cho biết Tòa Thánh “tránh vướng vào những tranh cãi với Thế vận Olympic đang tiến hành”. Trong những năm gần đây, Đức Phanxicô đã có nhiều buổi gặp gỡ với các liên đoàn thể thao. Vatican là quốc gia nhỏ nhất thế giới nhưng có một đội đua xe đạp tranh giải thế giới.
Đức Phanxicô giữ khoảng cách với một số tiếng nói công giáo tố cáo Thế vận hội Olympic là sự kiện có tính cách tà giáo, về điểm này, ngài tiếp tục đường lối của các vị tiền nhiệm, hỗ trợ tinh thần thể thao đã có từ thời Giáo hoàng Piô năm 1903, đó là mốc quan trọng trong lịch sử lâu dài giữa mối quan hệ của các giáo hoàng với tinh thần Thế vận, điều này sẽ không bị nghi ngờ chỉ vì một cảnh do có những sở thích khác nhau.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Con đường ít ai đi

Con đường ít ai đi

Ronald Rolheiser, 2024-07-29

Hai con đường rẽ ra trong một khu rừng – và tôi, tôi chọn con đường ít ai đi, đó là cả một khác biệt.

Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với lời của nhà thơ Mỹ Robert Frost (1874-1963), ông đã nói vô số lần trong các bài phát biểu tốt nghiệp và trong các dịp khác như một thách thức: chúng ta không nên đi theo đám đông, nhưng dám đi trên con đường của chính mình, nâng nỗi cô đơn của mình lên một tầm cao mới. Đúng, Chúa Giêsu cũng mời gọi chúng ta như thế khi chúng ta đứng trước hai con đường rất khác nhau.

Trong Bài giảng trên núi, Chúa Giêsu tóm tắt nhiều lời dạy quan trọng của Ngài. Nhưng những lời này dễ bị hiểu lầm và thường chúng ta hợp lý hóa nó. Phần lớn chúng ta không nắm bắt được điểm chính yếu ở lời dạy này: đức hạnh chúng ta phải sâu sắc hơn đức hạnh của các luật sĩ và của người biệt phái pharisêu. Vấn đề ở đây là gì?

Hầu hết các luật sĩ và người pharisêu đều là những người tốt, chân thành, tận tụy, mộ đạo, có đức hạnh cao. Họ tuân giữ các Điều răn, họ là các ông các bà giữ công lý nghiêm ngặt. Họ công bằng với mọi người, rất nhân từ và quảng đại với người lạ. Vậy, họ còn thiếu gì? Đúng, họ tốt nhưng chưa đủ. Vì sao?

Vì chúng ta có thể là người đạo đức, hoàn toàn công bằng và quảng đại nhưng chúng ta vẫn có thể căm ghét, trả thù và hung bạo vì đó là những chuyện chúng ta vẫn có thể làm một cách công bằng. Công lý nghiêm ngặt cho phép chúng ta có thể ghét người ghét mình. Trả thù khi bị đối xử bất công và có thể ủng hộ án tử hình. Mắt đền mắt!

Nhưng khi làm như vậy, chúng ta luôn làm những gì đến một cách tự nhiên. Yêu người yêu mình là chuyện tự nhiên, ghét người ghét mình cũng là chuyện tự nhiên. Nhưng đức hạnh thực sự đòi hỏi nhiều hơn thế. Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta đến với điều gì đó cao cả hơn. Ngài xin chúng ta yêu người ghét chúng ta, chúc phúc cho người nguyền rủa chúng ta, không bao giờ tìm cách trả thù và tha thứ cho những kẻ giết chúng ta – kể cả những kẻ giết người hàng loạt.

Phải thừa nhận, đây không phải là con đường dễ đi. Hầu như mọi bản năng tự nhiên trong chúng ta đều chống lại điều này. Phản ứng tự phát khi chúng ta bị oan là gì? Chúng ta muốn trả thù. Phản ứng tự phát khi chúng ta nghe tin kẻ nổ súng trong vụ thảm sát đã bị giết là gì? Chúng ta cảm thấy nhẹ nhõm. Phản ứng tự phát của chúng ta khi  kẻ giết người không hối hận bị hành quyết là gì? Chúng ta cảm thấy vui vì hắn đã chết; chúng ta không thể kiềm chế các phản ứng này. Công lý đã được thực thi. Một điều gì đó đã được thực thi trong vũ trụ. Sự phẫn nộ về mặt đạo đức của chúng ta đã được xoa dịu. Đã có một kết luận.

Có một kết luận không? Không. Những gì chúng ta cảm thấy chỉ là giải thoát về mặt cảm xúc, là thanh tẩy; nhưng có một khác biệt rất lớn giữa thanh tẩy và sự khép lại thực sự. Mặc dù về mặt tâm lý, sự giải thoát về mặt cảm xúc có thể lành mạnh, chúng ta được Chúa Giêsu và tất cả những gì cao cả nhất bên trong chúng ta mời gọi đến với một điều gì đó khác, đến một con đường vượt ra ngoài cảm giác giải thoát về mặt cảm xúc, cụ thể là con đường ít người đi để đến với lòng trắc ẩn: hiểu biết và tha thứ rộng lớn hơn.

Để đánh giá điều này, chúng ta nên xem lại cách Đức Gioan-Phaolô II giải quyết án tử hình. Ngài là giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử Giáo hội hai ngàn năm lên tiếng phản đối án tử hình. Ngài không nói án tử hình là sai, vì theo công lý nghiêm ngặt, án tử hình có thể được thực hiện. Ngài chỉ nói chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu mời gọi chúng ta làm điều khác: tha thứ cho kẻ giết người.

Nói thì dễ! Khi nghe tin vụ xả súng hàng loạt, suy nghĩ và cảm xúc của tôi không tự nhiên hướng đến sự hiểu biết và thông cảm với kẻ xả súng. Tôi không đau khổ về việc người này đã đau khổ như thế nào để làm việc này. Tôi không thông cảm với những người có vấn đề tinh thần, những người bị tổn thương để họ có thể làm những chuyện như vậy. Nhưng, cảm xúc tự nhiên của tôi là đi con đường của nhiều người đi: đây là người xấu xa, họ đáng chết! Sự đồng cảm và tha thứ không phải là điều đầu tiên tôi nghĩ đến trong những tình huống này. Thù hận và muốn trả thù: có.

Tuy nhiên, đó lại là con đường của cảm xúc, con đường được lựa chọn nhiều hơn. Điều này dễ hiểu. Ai muốn thông cảm cho kẻ giết người, kẻ ngược đãi, kẻ bắt nạt?

Nhưng đó chỉ là cảm xúc khi chúng ta trút giận. Có điều gì đó khác bên trong chúng ta luôn kêu gọi chúng ta đến với điều cao cả hơn, cụ thể: đến với thông cảm và thấu hiểu mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trong Bài giảng trên núi. Hãy yêu kẻ ghét mình. Chúc phúc cho kẻ nguyền rủa mình. Tha thứ cho kẻ làm hại mình.

Hơn nữa, đức hạnh này không phải là điều chúng ta có thể có một lần và được mãi mãi. Không. Đức tin làm việc theo cách: có ngày chúng ta đi trên mặt nước, có ngày chúng ta chìm lỉm như tảng đá. Vì vậy, giống như nhà thơ Robert Frost nói, có những khi chúng ta thấy mình đứng giữa hai con đường. Một con đường nhiều người đi, con đường của căm thù, trả thù, con đường cảm thấy mình là nạn nhân; con đường kia ít người đi, mời tôi đi trên con đường của lòng trắc ẩn, thông cảm và tha thứ cao cả hơn.

Tôi sẽ chọn con đường nào? Đôi khi là con đường này, đôi khi là con đường kia; dù tôi biết con đường nào Chúa Giêsu đang mời tôi.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất