Home Blog Page 158

Con người cần Thiên Chúa để sống

Con người cần Thiên Chúa để sống

https://www.philomag.com/dossiers/dieu-une-bonne-idee

Những người có niềm tin và vô thần từ lâu đã bất đồng quan điểm về câu hỏi về sự tồn tại của Chúa. Nhưng có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta đặt lại câu hỏi này. Có lẽ chúng ta nên tự hỏi bản thân, không phải liệu Chúa có tồn tại hay không, nhưng liệu tác động của ý tưởng này là có lợi hay có hại. Một mặt, tin vào Chúa giúp chúng ta tìm được an ủi khi đối diện với thử thách như khi gặp tang tóc và cái chết, chúng ta thấy được ranh giới giữa thiện và ác, khuyến khích chúng ta phát huy các giá trị khác ngoài việc chỉ chăm chú làm giàu. Nhưng ý tưởng về Chúa rất dễ bị lạm dụng. Trong lãnh vực chính trị, chúng ta đã thấy chủ nghĩa hồi giáo đã làm tiêu mòn đà dân chủ của Mùa xuân Ả Rập. Ở các trường đại học, chúng ta có nên lo cho sự trở lại của các nhà sáng tạo và thần học gia, dưới chiêu bài lập luận hợp lý, họ đã dự vào một cuộc đối thoại sai lầm với khoa học đó sao? Và từ quan điểm hiện sinh hơn, có phải người tuân theo Chúa bị chủ nghĩa giáo điều đe dọa đó sao? Nếu thực dụng hơn là siêu hình, chúng ta có thể cá rằng câu hỏi về tác động cụ thể của ý tưởng về Chúa cũng gây tranh cãi như câu hỏi về sự tồn tại của Chúa.

Nếu Chúa không tồn tại, chúng ta sẽ phải phát minh ra Ngài.

Chính triết gia Pháp Voltaire đã nói câu này, như thể ông muốn có một giải pháp cho một vấn đề rất cũ. Trên thực tế, trong nhiều thế kỷ, các tư tưởng gia, các thần học gia đã nỗ lực chứng minh sự tồn tại của Chúa. Họ mơ khám phá ra một công thức dứt khoát có khả năng hoán cải những người hoài nghi. Vô ích. Giác quan và lý trí vẫn không thể tiếp cận được với Thiên Chúa. Hơn nữa, theo quan điểm của chính tín hữu, nếu chúng ta chứng minh sự tồn tại của Thiên Chúa thì việc có đức tin sẽ mất ý nghĩa. Biết là đủ. Vì không ai có thể khẳng định một cách chắc chắn và phổ quát về sự hiện hữu của Thiên Chúa, tại sao chúng ta không thay đổi quan điểm của mình?

Đó là những gì Voltaire đề xuất. Cuối cùng, việc Chúa có thực sự tồn tại hay không không quan trọng nếu con người cần Ngài để sống. Người theo chủ nghĩa thần giáo kết luận rằng, với điều kiện là các giáo điều, văn bản thiêng liêng, hàng linh mục và những điều mê tín là nguồn gốc của sự không khoan dung và bạo lực phải bị loại bỏ, “hệ thống cao siêu này dành cho con người là cần thiết”. Một thế kỷ sau, chúng ta thậm chí có thể khẳng định với triết gia người Mỹ William James (1842-1910) rằng chúng ta phải (lại) đặt câu hỏi về Chúa từ một quan điểm hoàn toàn thực dụng. Chúng ta hãy ngừng hành hạ bản thân vì câu hỏi không thể quyết định được về sự tồn tại của Thiên Chúa  và xem liệu Thiên Chúa có thể được sử dụng để làm cho chúng ta tốt hơn, hạnh phúc hơn, hữu ích hơn cho người khác hay không. Triết gia James đề cao đức tin, không phải vì đức tin đặt chúng ta liên quan đến “một giáo điều tôn giáo thoát khỏi bằng chứng bên ngoài”, mà như một trạng thái tinh thần “mà chúng ta bị cám dỗ để đặt ra vì lợi ích tình cảm của mình” (The Will to Believe, p. 114) . Giả thuyết về Chúa có giá trị nếu đức tin của chúng ta mang lại cho chúng ta lợi ích và góp phần cải thiện nhân loại. Ngoài ra, chẳng phải chúng ta dành thì giờ để tin tưởng một cách khá hợp lý vào những hiện tượng mà chúng ta không chắc chắn đó sao? Mọi người, kể cả những người hoài nghi nhất trong chúng ta, đều tin rằng mọi nguyên nhân đều có kết quả, rằng ngày mai mặt trời sẽ mọc hoặc hành động của chúng ta đều có ý nghĩa. Tác giả William James viết tiếp: “Chúng ta không thể sống hay suy nghĩ nếu không có một mức độ đức tin nào đó. Đức tin đồng nghĩa với một giả thuyết hiệu quả. Sự khác biệt duy nhất tôi nhận thấy là có một số giả thuyết bị bác bỏ ngay trong năm phút và những giả thuyết khác thách thức được với thời gian.” Chỉ có sự khác biệt về mức độ chứ không về bản chất giữa việc tin người phụ nữ bạn yêu sẽ yêu bạn và việc Chúa đã tạo ra chúng ta và tồn tại từ muôn đời. Chúng ta đừng kịch tính hóa mối quan hệ với đức tin và xem đức tin hướng tới ý tưởng về Chúa có thể mang lại cho chúng ta điều gì hữu ích.

Đầu tiên, ý tưởng về Chúa cho phép chúng ta giải tỏa cơn khát siêu hình của mình. Trả lời những câu hỏi không thể quyết định như câu hỏi về sự khởi đầu vạn vật, tính nhất quán và đích đến của chúng. Làm sao chúng ta có thể tưởng tượng chuyển động của các sinh vật tự nhiên tồn tại mà không có động cơ đầu tiên, bản thân nó bất động sao? Làm sao chúng ta có thể chắc chắn không mơ về sự tồn tại của mình và thế giới xung quanh nếu không có người bảo đảm tối cao về tính thực tế và sự gắn kết của nó? Chúng ta có thể gán ý nghĩa gì cho sự hỗn loạn của lịch sử? Vào những thời điểm khác nhau, các triết gia đưa ra những định nghĩa không đồng nhất về nó, viện dẫn ý tưởng về Chúa để trả lời những câu hỏi này và giúp chúng ta ngủ yên.

Có người để nói chuyện

Thứ hai, Chúa có thể giúp ích rất nhiều trong lãnh vực đạo đức. Việc đề cập đến một quy luật có nguồn gốc siêu việt sẽ tránh việc đặt câu hỏi không ngừng về định nghĩa thiện và ác. Nhưng trên hết, đời sống đạo đức, trong sự phức tạp của nó, đã trở nên dễ dàng hơn. Vì ý tưởng về Chúa không chỉ tương ứng với một tập hợp các quy tắc vô hình. Khi được hình thành như một con người, một đối thoại được thiết lập giữa con người và Ngài. Như William James viết: “Nhờ Ngài, đại từ chung chung nhường chỗ cho đại từ Ngài, đại từ đầu tiên trống rỗng và trơ lì, đại từ thứ hai sống động.” Chúng ta cần có một người nào đó để chúng ta hướng những nghi ngờ, lời cầu nguyện, lời cám ơn và ngay cả những hối tiếc giận dữ của chúng ta. Dù chúng ta trải qua hoàn cảnh nào, hạnh phúc, hay bi thảm, chúng ta có Chúa là người đối thoại lý tưởng. Tang tóc, gần chết, ghê tởm, ngạc nhiên, vui mừng trong cuộc sống đều có thể báo cáo, kể cho người mang đến cho chúng một ý nghĩa.

Thứ ba, ý tưởng về Chúa có thể cho thấy đó là hướng dẫn có giá trị để hành động thành công. Tác giả William James đưa ra ví dụ một người bị buộc phải thực hiện cú nhảy nguy hiểm giữa hai ngọn núi. Chỉ có hy vọng và tự tin “sẽ truyền sức mạnh cần thiết để hoàn thành điều mà nếu không có những cảm xúc chủ quan này, có lẽ là không thể thực hiện được.” Ông kết luận “niềm tin là điều kiện căn bản thiết yếu để hiện thực hóa đối tượng của nó”. Đức tin thường tạo ra xác nhận riêng của nó. Ngược lại, “trong một vũ trụ thuần túy của người không có Thiên Chúa, lời kêu gọi năng lượng đạo đức của chúng ta thiếu động lực cần thiết”. Cuối cùng, “khuynh hướng sử dụng năng lượng này là một phần sâu sắc trong các khả năng của bản chất con người, đến nỗi ngay cả khi chúng ta không có lý do siêu hình hay truyền thống nào để tin vào sự tồn tại của Chúa, chúng ta sẽ chỉ đơn giản đưa ra lý do để chúng ta có can đảm sống.”

“Chúng ta không thể sống hay suy nghĩ nếu không có một mức độ đức tin nhất định” William James

Có lẽ vấn đề nằm ở đó. Điều gì xảy ra nếu chúng ta dùng ý tưởng về Chúa theo cách này? Trong lãnh vực siêu hình, nó có thể trở thành yếu tố bảo đảm cho chủ nghĩa giáo điều toàn diện nhất. Chỉ cần nghĩ đến sự tấn công của những người theo chủ nghĩa sáng tạo, kẻ thù của thuyết tiến hóa, là đủ để hiểu chúng ta có thể biến ý tưởng về Chúa thành vũ khí tư tưởng chống lại tính hiện đại và nghiên cứu khoa học. Trong lĩnh vực đạo đức, chúng ta có nguy cơ lớn khi sử dụng ý tưởng về Chúa một cách riêng tư và huyền ảo.

Khi chúng ta gán cho Ngài vai trò người bạn tâm giao riêng tư và người an ủi tối cao, cuộc đối thoại với Thiên Chúa có nguy cơ thay thế cuộc đối thoại với người khác và đối diện với thực tế. Cuối cùng, cảm giác nhiệt tình mà ý tưởng về Chúa mang lại có thể biến thành chủ nghĩa bè phái. Về cơ bản, giải pháp Voltaire là việc trừu tượng hóa ý tưởng về Chúa khỏi nền tảng văn hóa – đó là những câu chuyện sáng lập, tranh chấp thần học, nghi lễ và giáo điều – không loại bỏ bất kỳ rủi ro cố hữu nào theo truyền thống gắn liền với đời sống tôn giáo. Ngược lại, nó mở ra cho họ một lãnh vực vô tận. Bạn có thể là người theo chủ nghĩa thần linh ảo tưởng hoặc người theo chủ nghĩa cuồng tín.

Ý tưởng về Chúa thực sự đóng vai trò như thuốc bổ. Kéo chúng ta ra khỏi lối giải thích hạn chế và theo chiều ngang về các hiện tượng, buộc những ai dự vào phải vượt ra ngoài nó. Điều này có thể mang lại niềm vui, sức mạnh và sự quan tâm đến người khác. Nó cũng có thể dẫn đến việc người khác từ chối và đánh mất thực tại. Chính vì lý do này mà các tôn giáo, khi bản thân không rơi vào tình trạng không khoan dung, đã bao quanh ý tưởng về Chúa qua những sắp xếp, giải thích, nghi lễ, vốn có rất nhiều bộ lọc giữa ý tưởng về Chúa và chúng ta. Trong mọi trường hợp, ý tưởng hay này – đôi khi có thể trở nên rất tệ – cần được xử lý một cách thận trọng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Cựu sứ thần Carlo Viganò lo sợ cho tính mạng của mình

Cựu sứ thần Carlo Viganò lo sợ cho tính mạng của mình

cath.ch, Raphael Zbinden, 2024-08-21

Cựu sứ thần Carlo Maria Viganò không công nhận thẩm quyền của Giáo hoàng | © Tổng Giáo Phận Boston/Flickr/CC BY-ND 2.0

Tháng 7 năm 2024, cựu sứ thần Carlo Maria Vigano bị dứt phép thông công, trong một phỏng vấn với nhật báo Ý Il Messaggero ông lo cho tính mạng của mình. Ông nhắc lại các thuyết âm mưu của ông về Vatican và về Đức Phanxicô.

Ngày 21 tháng 8, cựu sứ thần Viganò nói với nhà báo Franca Giansoldati của nhật báo Ý Il Messaggero: “Sau khi xuất bản quyển hồi ký về vụ McCarrick tháng 8 năm 2018, một trong những người liên hệ của tôi ở Hoa Kỳ cho biết mạng sống của tôi đang gặp nguy hiểm.”

Tổng Giám mục Carlo Maria Viganò là sứ thần tại Hoa Kỳ từ năm 2011 đến năm 2016. Năm 2018, ông công khai cáo buộc Đức Phanxicô che đậy hành vi lạm dụng của hồng y Theodore McCarrick. Cựu hồng y tổng giám mục Washington McCarrick bị kết án lạm dụng tình dục, đặc biệt với trẻ vị thành niên, và bị loại khỏi hàng giáo sĩ năm 2019. Liên quan đến những cáo buộc này, cựu sứ thần Viganò đòi Giáo hoàng phải từ chức. Trong một cuộc điều tra công bố năm 2020, Vatican chứng minh các cáo buộc này là sai, nêu bật trách nhiệm của chính cựu sứ thần Viganò đã xử lý sai vụ việc. Bất chấp tất cả, cựu sứ thần tiếp tục tấn công giáo hoàng Phanxicô và Vatican trong các bài viết mang tính chất của thuyết âm mưu.

Dứt phép thông công

Tháng 7 năm 2024, cựu sứ thần đã chính thức bị Bộ Giáo lý Đức tin dứt phép thông công. Biện pháp này được biện minh bằng những tuyên bố công khai lặp đi lặp lại của cựu sứ thần: “Không công nhận, không vâng phục Giáo hoàng, từ chối hiệp thông với các thành viên trong Giáo hội cũng như tính hợp pháp và thẩm quyền huấn quyền của Công đồng Vatican II.”

Cựu sứ thần xem biện pháp này là “một vinh dự”, cho rằng biện pháp này không hợp lệ vì theo ông chính quyền Vatican không “hợp pháp”. Cựu sứ thần nói: “Họ muốn kết án tử hình tôi, nhưng sự thật không thể bị giết chết.”

“Tôi không muốn có một kết cục như kết cục của Hồng y Pell”

Cựu sứ thần Viganò nghĩ họ tìm cách loại bỏ ông về mặt thể lý. Ông nói với nhật báo Il Messagero ông lo cho tính mạng của mình, ông không “ở một nơi cố định”. Ông nói: “Tôi không muốn có kết cục như kết cục của Hồng y Pell, cũng như kết cục của sứ thần Pietro Sambi tiền nhiệm của tôi ở Washington qua đời năm 2011, bóng gió cho rằng Tổng giám mục Pietro Sambi bị ám sát vì đã “đối đầu gay gắt” với cựu hồng y Theodore McCarrick, Vatican muốn che giấu sự thật về cựu hồng y McCarrick: “Tổng giám mục Sambi chết trong tình huống chưa bao giờ được làm sáng tỏ, sau một vụ phẫu thuật tầm thường. Giấy chứng tử cấp cho Tòa sứ thần không giải thích nguyên nhân cái chết của Tổng giám mục Sambi, và tử thi của Tổng giám mục Sambi chưa bao giờ được thử nghiệm.”

Sau những biến chứng về tim, Hồng y George Pell qua đời tháng 1 năm 2023 cũng trong một vụ phẫu thuật. Cái chết của ông làm dấy lên tin đồn, rằng đây là chuyện “thường lệ” của những vụ bịt miệng để ông không tiết lộ những vụ bê bối tài chính tại Vatican.

Tinh hoa theo chủ nghĩa toàn cầu hóa

Một cách chung chung, cựu sứ thần nhắc lại lý thuyết “tinh hoa theo chủ nghĩa toàn cầu hóa” đang giật dây các chính phủ trên thế giới và cả Vatican. Công đồng Vatican II là công cụ chính để cách mạng hóa Giáo hội, bằng cách tin lành hóa và thế tục hóa để hướng Giáo hội đến sự hiệp nhất đồng bộ với tất cả các tôn giáo. Theo cựu sứ thần, đằng sau tất cả những chuyện này là “dự án Hội Tam điểm: tôn giáo của nhân loại đại kết và toàn diện”.

Ông phủ nhận tin đồn ông có ý định thành lập một “Giáo hội song song” dựa trên mô hình Huynh đoàn Giáo sĩ Thánh Piô X đã tách khỏi Rôma từ năm 1988. Cựu sứ thần thường lấy cộng đồng ly giáo này ra làm ví dụ, nhưng họ giữ khoảng cách với cựu sứ thần.

Xét xử hai anh em sứ thần

Trên nhật báo Il Messagero, cựu sứ thần tức giận khi bị cho là “kẻ ăn cắp, kẻ lừa đảo”, sau phiên tòa xét xử ông chống lại với chính anh ruột của ông là Lorenzo Viganò. Cựu sứ thần có trách nhiệm quản lý tài sản gia đình. Sau cái chết của người cha, cựu sứ thần bị người anh buộc tội đã quản lý sai tài sản thừa kế, không chia tài sản công bằng, giữ một phần đáng kể cho riêng mình.

Năm 2018, tòa án Ý ra phán quyết có lợi cho Lorenzo, ra lệnh cựu sứ thần bồi thường thiệt hại 1.8 triệu âu kim cho Lorenzo.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hành trình dài 32.000 cây số ở bốn quốc gia ở châu Á và châu Đại Dương

Hành trình dài 32.000 cây số ở bốn quốc gia ở châu Á và châu Đại Dương

Hình minh họa

cath.ch, I.Media, 2024-08-20

Từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9-2024 Đức Phanxicô sẽ đi chuyến đi dài nhất và xa nhất trong triều của ngài đến Châu Á và lần đầu tiên ngài đến Châu Đại Dương. 87 tuổi, ngài là giáo hoàng lớn tuổi nhất đi tông du.

Dù chuyến đi này là chuyến đi dài nhất từ trước đến nay của ngài nhưng ngài cũng không vượt kỷ lục của Đức Gioan-Phaolô II, năm 1986 ngài đã đến Châu Á và Châu Đại Dương trong 14 ngày. Nhưng lúc đó Đức Gioan-Phaolô II trẻ hơn do thái gần 25 tuổi! Đức Gioan-Phaolô II là người thích đi du lịch, năm 1987 ngài có chuyến đi 14 ngày đến các nước Nam Mỹ Chi-lê, Uruguay và Argentina.

Từ năm 1978 đến năm 2005, Đức Gioan-Phaolô II đã đi 25 chuyến tông du dài hơn 10 ngày. Đức Phaolô VI và Đức Bênêđíctô XVI chỉ đi 10 ngày một lần, còn Đức Phanxicô thì đó là lần thứ hai ngài đi hơn 10 ngày, sau chuyến đi Cuba và Mỹ năm 2015.

Kể từ chuyến đi Canada năm 2022, ngài là giáo hoàng lớn tuổi nhất đi tông du, một kỷ lục trước đây của Đức Bênêđíctô XVI khi ngài đi Lebanon năm 2012, sáu tháng trước khi ngài từ chức. Khó khăn trong các chuyến tông du đã là một trong những yếu tố làm Đức Bênêđíctô XVI quyết định từ chức.

Sau 11 năm rưỡi làm giáo hoàng, Đức Phanxicô sẽ đi chuyến tông du lần thứ 45, nhiều hơn đáng kể so với Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phaolô VI nhưng sau Đức Gioan-Phaolô II với 104 chuyến đi trong 28 năm. Tương ứng với thời gian làm giáo hoàng thì Đức Phanxicô cũng đi nhiều như Đức Gioan-Phaolô II.

Tháng 9 sắp tới, Đức Phanxicô sẽ đi Châu Đại Dương, lục địa cuối cùng ngài chưa đi. Ngài sẽ đến Papua Tân Ghinê như Đức Gioan Phaolô II đã đi năm 1985 và 1996. Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phaolô VI đã đi lục địa rộng lớn này, tới Úc và Samoa.

Indonesia sẽ là quốc gia thứ 62, Papua Tân Ghinê thứ 63, Đông Timor thứ 64 và Singapore thứ 65 của chuyến đi này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đông Timor, quốc gia có nhiều người công giáo nhất thế giới

Mối đe dọa thân mật

Mối đe dọa thân mật

Bốn phụ nữ kể lại vòng xoáy bạo lực họ bị mắc kẹt, một quá trình phá hủy xảo quyệt để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn.

philomag.com, Tạp chí Triết học số 177 ngày 15 tháng 2-2024, Alexandre Lacroix

Bà Laure tự hỏi: “Tôi không biết các phụ nữ khác có rơi vào trường hợp như tôi không…” Thật ra bề ngoài trông bà không phải là phụ nữ bị tổn thương, khuôn mặt bà bình thản, giọng nói tự tin rõ ràng. Bà nói: “Nhìn lại tôi nghĩ tôi là con mồi lý tưởng, vì tôi quá ngây thơ.” Nhưng ai lại không cả tin khi bắt đầu yêu? Bà gặp Anthony trong câu lạc bộ điền kinh khi bà 27 tuổi. Có sự bất cân xứng trên hành trình của họ: bà đã học ở Úc, làm công việc nhân đạo ở châu Phi, xong thạc sĩ và giám đốc điều hành một công ty đa quốc gia; Anthony xuất thân gia đình khá giả, chưa học xong, lại bị ngồi tù vì tội ma túy. Anh bán sách ở Paris. Họ ở bên nhau mười một năm và có ba đứa con. “Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu một cách thuận lợi, yêu đương nồng nàn nhưng đầy sóng gió. Sau một năm rưỡi, tôi cảm thấy không ổn. Anh đùa với cảm xúc của tôi và hạ giá tôi ở nơi công cộng. Những cú sốc đầu tiên ập đến khi chúng tôi đã ở với nhau 5 năm.”

Bà bị đánh đập như thế nào? “Những cú đấm làm người tôi bị bầm tím. Anh làm suy yếu tâm lý của tôi đến mức tôi nghĩ đó là lỗi của tôi. Tôi sinh đứa con đầu lòng năm 2013 và phát hiện anh lừa dối tôi sau khi tôi sinh con. Tôi cứ tưởng mình ở bên hoàng tử quyến rũ, nhưng bây giờ tôi suy sụp, tôi không còn tự tin, tự trọng.” Bạo lực thể xác có tái diễn không? “Có, tính ra tôi đã bị sáu lần.” Và người thân không can thiệp? “Tôi xấu hổ không nói ra để bảo vệ anh. Sau đó anh khóc lóc xin tha thứ, tôi không thể để anh hạ thấp như thế…”

Làm thế nào bà thoát khỏi tình trạng này? “Tháng 6 năm 2022, tôi bị tai nạn xe đạp rất nặng, tôi phải nằm bất động vài tuần. Sau đó, tôi nhận ra mạng sống của tôi rất quan trọng, tôi gọi số 3919, cơ quan giúp đỡ các nạn nhân bạo lực gia đình. Họ giải thích tôi phải ra khỏi nhà, đến nơi an toàn, thuê luật sư và nộp đơn khiếu nại. Và tôi đã làm. Từ đó trở đi, tôi thấy dễ chịu hơn nhiều, lời nói của tôi rõ ràng hơn, người thân có thể giúp tôi. Những bước phải làm là rất lớn, tôi phải nhận tôi là nạn nhân.” Nhưng bà còn thất vọng về kết quả của tiến trình, thẩm phán các vấn đề gia đình vẫn duy trì quyền giám hộ của Anthony, mặc dù ông tiếp tục hành hạ con cái. Hiện tại ông được miễn trừ hoàn toàn. Nhưng bà sẽ kháng cáo.

Sức mạnh của truyền thống

Vài ngày sau, tôi gặp Meryem, đạo diễn bộ phim ngắn đáng chú ý. Cô lớn lên ở làng Vaucluse có cộng đồng hồi giáo mạnh. Cha mẹ cô từ Marốc qua Pháp trong những 1960 với hy vọng hòa nhập. Nhưng gia đình không hòa nhập được, mẹ cô không nói tiếng Pháp và Meryem lớn lên trong bầu khí khép kín. Cô cho biết: “Tôi thấy khó chịu khi nói về gia đình như vậy, những gì tôi trải qua không liên quan gì đến hồi giáo: tôi nghĩ vấn đề gia đình tôi là sức nặng của truyền thống, khi còn nhỏ tôi không được đi ăn sinh nhật bạn. Đôi khi mẹ che chở tôi, giả vờ đưa tôi đi mua sắm và chờ tôi ngoài xe với cái bụng quặn thắt. Thỉnh thoảng cha tôi đánh mẹ tôi, mọi chuyện đã đi rất xa… Có lần khi tôi 4 tuổi, ông đã rút dao ra. Một lần khác, tôi trộm kẹo M&M ở siêu thị, ngay bãi đậu xe, cha tôi đánh tôi 20 phát trong xe… Nhưng tôi nghĩ đó là chuyện bình thường vì tôi đã làm chuyện ngu ngốc.” Làm sao để giải thích bạo lực ông mang trong mình? “Chìa khóa của một kịch bản điện ảnh là phải hiểu tất cả nhân vật. Nếu tôi áp dụng phương pháp này cho cha tôi, tôi sẽ nói cha tôi lớn lên ở vùng núi Marốc với 14 anh chị em chăn cừu, ông không bao giờ biết dịu dàng hay tình yêu là gì. Qua Pháp ông làm việc một ngày 10 giờ trong vườn nho, bị chủ ngược đãi trả lương 1.100 âu kim mỗi tháng. Ông bị căng thẳng rất nặng.”

Còn với Meryem, vấn đề bắt đầu ở tuổi dậy thì. Bị kiểm soát cay nghiệt thắt chặt.  Khoảng cách của cô với các cô gái khác ngày càng lớn. Ở trường học, cô không được để tóc trần, không có điện thoại di động, không lên mạng xã hội. “Cho đến buổi tối định mệnh khi có bữa tiệc MJC ở làng. Tôi tạo một bức tường. Tôi mua một chai rượu nhỏ không mạnh. Khi đến nơi, tôi choáng người khi thấy một trong các anh tôi đang phá bữa tiệc. Anh không nói gì với tôi mà chỉ cảnh cáo các người khác. Khi tôi kiệt sức, tôi đi về. Về nhà, tôi thấy cha tôi và các anh hùng hổ nhất đứng trước nhà, tôi đái trong quần. Tôi luôn cố tỏ tôi là cô gái ngoan ngoãn, học giỏi, họ cho tôi là cô gái không còn trinh, tôi là con điếm… Thế là anh tôi đánh tôi, dộng đầu tôi vào tường khoảng 30 lần, anh làm mặt mũi tôi méo xẹo, anh nói: “Mày làm gia đình xấu hổ.” Cha tôi để anh tôi đánh. Cuối cùng, cha tôi nhổ nước bọt vào tôi. Tôi không thể đi học ngày mai vì sẽ có báo cáo. Meryem ở nhà ba tháng, đó là may mắn cho cô. Trong thời gian hồi phục, cô đã nghĩ đến việc “bỏ đi.” Nhưng cô nghĩ mình phải đậu tú tài và phải học để có thể sống tự lập. Sau đó, cô được người anh trai giúp đỡ, anh sống cách nhà 5 giờ xe. Anh đi xe đến đón tôi, cho tôi ba mươi giây để chào mẹ rồi đưa tôi đi. Sau đó anh gọi cho cha tôi, cho ông biết kể từ bây giờ tôi sống với anh. Cha tôi trả lời: “Được, đó không phải là vấn đề của cha nữa mà là của con.” Cô chưa bao giờ nghĩ đến việc nộp đơn khiếu nại sao? “Thật buồn cười, đó là chủ đề của bộ phim đầu tiên của tôi. Một nạn nhân ngần ngại nộp đơn khiếu nại, và một trong những người anh của cô nói với cô: “Không thể áp dụng giải pháp của châu Âu cho vấn đề Địa Trung Hải.” Vì ở quê tôi, không ai tống gia đình vào tù. Không trông cậy vào công lý, Meryem làm sao thoát khỏi tình trạng này? “Lúc đầu thì rất tốt. Dưới sự bảo vệ của anh tôi, tôi cảm thấy như được sống lại. Tôi đi dạo phố cả ngày để tận hưởng tự do. Sau đó tôi tiếp tục học ở Paris và rơi vào những quan hệ đồi trụy, độc hại, tôi đã phải chịu đựng những điều không thể chấp nhận. Vì vậy, tôi phải chữa trị phân tâm học để xây dựng lại bản thân. Và còn có điện ảnh: Tôi đưa những trải nghiệm của tôi vào phim, nó có tác dụng thanh tẩy.”

Rơi vào điên rồ. Chúng tôi xấu hổ quá nên không nói ra, chúng tôi cố gắng bảo vệ chồng”. Laure

Dimitra, phụ nữ Pháp gốc Hy lạp, giải thích: “Nghịch lý thay, chính lúc tôi cảm thấy hạnh phúc trong đời thì tôi lại rơi vào bẫy. 26 tuổi, tôi đang nghiên cứu ở Athens về quyền của những người tị nạn có liên hệ với phiến quân. Tôi gặp một người đàn ông tôi đã có mối quan hệ thân thiện. Elias sống lưu vong, anh chia sẻ quan điểm chính trị và điện ảnh của tôi. Một mở đầu của anh.” Sau bốn tháng, chúng tôi sống dưới một mái nhà như một cặp. Mọi chuyện tốt đẹp dù Elias nghi ngờ lòng tốt của bạn bè Dimitra, chỉ trích họ, tạo một khoảng cách chung quanh Dimitra. “Anh bắt đầu nhắm vào tôi, giận dữ, buồn bã, tự hủy… Anh cảm thấy không được công nhận đủ, không được yêu thương đủ, rồi bắt đầu trách móc tôi vì những ưu điểm của tôi: phụ nữ châu Âu da trắng. Và tôi thường có xu hướng biện minh cho anh về mặt xã hội học, nhưng tôi xem việc tôi chịu đựng những cơn thịnh nộ của anh là bất công vì tôi không làm gì anh cả.” Khi bầu khí quá căng thẳng, cô đến nhà bạn bè trong hai hoặc ba ngày. Cho đến buổi tối định mệnh khi Elias bùng giận. “Khuôn mặt của anh biến đổi. Có vẻ như anh đang ở trong cơn mê sảng bộc phát hoặc trong tình trạng mất thăng bằng cực độ. Anh hét the thé. Anh ném bàn vào gương vỡ tan tành. Anh đẫm máu. Anh đập vỡ tất cả các cửa sổ. Sức mạnh của anh gấp mười.” Hoảng sợ, Dimitra trốn trong góc, không biết làm sao ra khỏi phòng, Elias dọa giết cô. Cô nhặt những mảnh thủy tinh để tự vệ nếu anh tấn công. “Vì vậy không cần suy nghĩ, tôi quyết định đi theo con đường của anh: tôi nói anh đúng, tôi không xứng đáng, tôi xin anh đừng bỏ tôi. Tôi hứa với anh từ giờ trở đi tôi sẽ làm bất cứ điều gì anh muốn. Anh bình tĩnh lại ngay lập tức. Anh nói: “Tốt, em đã nhận sai lầm. Từ giờ trở đi em sẽ không đi trốn nữa, em sẽ không cần điện thoại.” Elias ăn thẻ SIM ngay trước mắt. Và để ăn mừng, anh đi mua bia và thuốc lá. Cô chờ năm phút trước khi trốn. Nhưng trước sự khó hiểu của người thân, cô về lại.

Elias xin lỗi. Anh giải thích tối hôm đó anh đang cai ma túy và anh đã kiềm chế được bản thân vì anh không đánh cô. “Vì vậy, chúng tôi trở lại đời sống vợ chồng, nhưng tôi bị tổn thương. Anh không cần phải đe dọa tôi, tôi vâng lời anh.” Một ngày nọ, họ đi dạo trong khu phố tồi tàn ở Athens, Elias hung hãn. Dimitra đẩy anh ra. Anh đánh cô chảy máu. Một chiếc xe dừng lại để giúp cô, nhưng Elias nhặt được một cây cột và người lái xe phải bỏ đi. Dimitra chạy đến một khách sạn bốn sao, Elias bị các nhân viên an ninh chận lại, họ gọi cảnh sát. “Tại đồn cảnh sát, họ không khuyên tôi nên khiếu nại. Một cảnh sát còn nói với tôi: “Cô đáng bị đánh như vậy, chúng tôi biết!” Họ chỉ giữ Elias ba hoặc bốn giờ để tôi có thì giờ lấy đồ đạc ra đi.” Vài ngày sau, Elias tấn công một người trên đường và phải vào tù. Dimitra đến thăm ở phòng thăm. “Đó chính là cú quyết định. Trong ba giờ, chúng tôi nói chuyện rất hợp với nhau. Đó là lúc tôi nhận ra vấn đề. Tôi trở về Pháp vĩnh viễn, tôi được theo dõi tâm lý ở bệnh viện Saint-Anne để hồi phục.”

Khả năng chịu va chạm hay khả năng sống sót

Bạo lực không chỉ được che giấu sau cánh cửa đóng kín giữa nạn nhân và kẻ hành hạ, nó còn ảnh hưởng đến người xung quanh và kêu gọi người khác cũng làm.

Bằng chứng là câu chuyện của Charlotte, lớn lên trong hoàn cảnh cha cô ngược đãi mẹ cô. “Chúng tôi sống ở Halles trong những năm 1990, cha tôi là giám đốc quảng cáo, hơi đẹp trai. Mẹ tôi là nhân viên văn phòng bình thường. Cha tôi xuất thân từ một gia đình người Malta, sinh ra ở Cairo, lớn lên có tài xế, có người hầu. Mẹ tôi không học cao, bà bị thống trị về mặt xã hội và kinh tế. Cha tôi cực kỳ bạo lực, thường xuyên cãi vã ở nhà hàng hoặc trên đường phố. Nếu mẹ tôi nấu ăn và cha tôi ngửi thấy mùi đồ ăn trên áo quần của ông, ông sẽ trút giận lên bà, túm tóc, bứt tóc bà, đánh bà, máu chảy khắp nơi. Mẹ tôi phải nghỉ làm cho đến khi dấu vết biến mất.” Không ai can thiệp ư?” “Không, không ai muốn dính đến chuyện vợ chồng. Đó là điều cấm kỵ. Thỉnh thoảng hai vợ chồng dì tôi đến xoa dịu. Nhưng họ bỏ mặc chúng tôi. Bây giờ tôi hiểu họ đã không giúp đỡ trẻ vị thành niên đang gặp nguy hiểm.” Có ba trẻ vị thành niên, Charlotte có hai anh. Charlotte ở gần phòng cha mẹ và nghe cha cô hành hạ mẹ cô, sau đó là im lặng, cô sợ mẹ cô chết. Thử thách này kéo dài 25 năm. “Rồi mọi chuyện trở nên cân bằng hơn, mẹ tôi đi học lại, đi thi, cha tôi hơn mẹ tôi 13 tuổi, ông suy yếu vì trầm cảm. Cuối cùng mẹ tôi ly dị được với cha tôi.” Ông vô cùng đau khổ, ông điện thoại quấy rầy mẹ tôi, đợi mẹ tôi ngoài nhà. “Mẹ tôi làm lại cuộc đời với người đàn ông trẻ hơn bà nhiều tuổi nhưng rất lạ lùng và đáng lo ngại. Có lúc tôi nghĩ mẹ tôi được giải thoát, nhưng mẹ tôi lại mắc bệnh thoái hóa thần kinh. Mẹ bị tê liệt và không nói được. Mẹ tôi đi trị liệu ngôn ngữ, và tôi được biết mẹ tôi thường bị bầm tím. Mẹ ở với tên đao phủ mới, mẹ không có khả năng tự vệ nhưng tỉnh táo.” Charlotte cầm cự cho đến lúc đó, cuối cùng cô phải vào bệnh viện tâm thần trong bảy tuần. Kể từ đó, cô vẽ tranh để xua đuổi câu chuyện của mình. Và các anh trai của cô một người bị tâm thần phân liệt, một người nghiện rượu. Họ chưa bao giờ có mối quan hệ tình cảm và có con. Câu chuyện của cô không có ngã thoát. Tôi nghĩ đến khả năng bền va để phục hồi. Trước khi trở thành thuật ngữ tâm lý học, thuật ngữ bền va mô tả đặc tính của một số kim loại như thép, xoắn nhưng không bị gãy, sau đó trở lại hình dạng ban đầu. Nhưng khoa học vật liệu cung cấp một từ khác, với tôi phù hợp hơn với câu chuyện của Charlotte, cũng như của Laure, Myriem hay Dimitra: sự tồn dư, biến đổi kim loại bằng nam châm, bền bỉ nhưng không vĩnh viễn. Vì vậy, dù cú sốc không làm gục ngã, nhưng nó vẫn thấm nhuần và biến đổi con người từ bên trong, ảnh hưởng lâu dài đến đời sống tình cảm. Đây chính là toàn bộ vấn đề của bạo lực: một cú đánh tắt đi nhanh chóng nhưng hiệu ứng của nó kéo dài vô tận.

Marta An Nguyễn dịch

Khí cụ của Chân phước Carlo Acutis: Chuỗi Mân Côi và Bí Tích Thánh Thể

Khí cụ của Chân phước Carlo Acutis: Chuỗi Mân Côi và Bí Tích Thánh Thể

Chân phước Carlo Acutis trong ngày rước lễ lần đầu 16 tháng 6-1998

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Carlo đã nói: “Sau Bí tích Thánh Thể, chuỗi Mân côi là khí cụ mạnh nhất…” Lời cầu nguyện của Carlo có mối liên hệ gì với Bí tích Thánh Thể không?

Nếu chúng ta không xem Bí tích Thánh Thể là sự hiện diện thường trực của Chúa Giêsu trong Nhà tạm, chúng ta sẽ không hiểu cuộc đời của Carlo. Đời sống thiêng liêng của Carlo nằm ở mầu nhiệm Thánh Thể.

Khi còn rất nhỏ, cô bảo mẫu Beata đã đưa Carlo đi lễ vì cô có thói quen đi lễ hàng ngày. Carlo tự nguyện đi, Carlo chưa được rước lễ. Sau đó, khi lên 7, ngày 16 tháng 6 năm 1998, Carlo được rước lễ lần đầu, kể từ đó Carlo sốt sắng đi lễ hàng ngày, chầu trước hoặc sau thánh lễ.

Ngày hôm sau khi được rước lễ lần đầu, Carlo rạng rỡ tươi cười nói với chúng tôi: “Luôn kết hợp với Chúa Giêsu là chương trình sống của con.” Chắc chắn Carlo đã dâng mình cho Bí tích Thánh Thể để được lớn lên trong ân sủng thánh hóa và đó là cách Carlo nhìn thấy cánh cửa thiên đàng rộng mở. Khía cạnh chính Carlo dành cho Bí tích Thánh Thể có lẽ Carlo nhận từ các nữ tu ở Perego, họ có linh đạo sâu sắc về Thánh Thể. Tại nhà thờ của họ và trước sự hiện diện của cộng đoàn, Carlo được rước lễ lần đầu. Vài ngày sau, Carlo viết: “Càng lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, chúng ta sẽ càng trở nên giống Chúa Giêsu, và từ trái đất này, chúng ta sẽ được nếm trước thiên đàng.” Carlo cho mình là người rất may mắn, Carlo nói:

Xét về mọi mặt, chúng ta may mắn hơn nhiều so với những người sống cách đây hơn hai ngàn năm bên cạnh Chúa Giêsu ở Palestine. Dĩ nhiên các tông đồ, các môn đệ thời đó có thể gặp Ngài, chạm vào Ngài, nói chuyện với Ngài nhưng họ vẫn bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Nhiều người phải đi bộ hàng dặm đường để gặp Ngài và không phải lúc nào cũng có thể đến gần Ngài vì Ngài luôn bị đám đông vây quanh. Ông Giakêu đã phải leo lên cây để nhìn thấy Ngài. Còn chúng ta, chúng ta chỉ cần đến nhà thờ gần nhất là đã có “Giêrusalem”.

Những người đã sống với Chúa Giêsu không thể nhận Bí tích Thánh Thể như chúng ta để được Chúa Giêsu biến đổi và làm chúng ta ngày càng hòa nhập với Ngài. Ngài đã nói với chúng ta: “Vậy các con sẽ nên hoàn thiện như Cha các con trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48), Ngài ẩn mình trong Thánh Thể để ban cho chúng ta linh hồn và thần tính của Ngài, giúp chúng ta được thánh hóa. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đến với Ngài: “Nếu ai khát, ai tin vào Thầy hãy đến với Tôi mà uống! Như Kinh thánh đã nói: “Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7, 37-38).

Carlo nói: “Nếu mọi người hiểu được tầm quan trọng của Bí tích Thánh Thể, sẽ có rất nhiều người sắp hàng để rước lễ đến nỗi chúng ta sẽ không vào nhà thờ được nữa.” Với Carlo, Bí tích Thánh Thể là thực tại siêu nhiên nhất, vì Chúa hiện diện ở đó và cũng là thực tại mọi người dễ dàng đến với Chúa Giêsu: là dấu hiệu thực sự về lòng nhân từ của Ngài dành cho chúng ta.

Marta An Nguyễn dịch

Đông Timor, quốc gia có nhiều người công giáo nhất thế giới

Đông Timor, quốc gia có nhiều người công giáo nhất thế giới

Đạo công giáo còn đại diện cho nền độc lập của dân tộc. Vì thế Đông Timor là quốc gia có nhiều người công giáo nhất thế giới sau Vatican.

Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Dili | Wikimedia Commons

acistampa.com, Andrea Gagliarducci, 2024-08-20

Khi Đức Gioan-Phaolô II đến Đông Timor năm 1989, đó là lúc Đông Timor nổi dậy đòi độc lập. Đức Gioan-Phaolô II thường có thói quen hôn đất khi xuống máy bay, nhưng lần này hôn đất có nghĩa chấp nhận sự chiếm đóng của Indonesia. Ngài vẫn đứng, và đất được đưa lên gần môi để ngài hôn.

Thái độ của ngài cho thấy lập trường của Giáo hội trước những đòi hỏi độc lập của Đông Timor, một đất nước có khoảng 1,4 triệu dân và nằm ở khu vực phía đông nam của quần đảo Indonesia, trong số này 98% là người Công giáo.

Đạo công giáo đã theo các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đến Đông Timor thế kỷ 16 vì Đông Timor là thuộc địa của Bồ Đào Nha trong bốn thế kỷ, ngoại trừ một thời gian ngắn trong Thế chiến thứ hai Đông Timor bị Nhật chiếm đóng. Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính của đất nước, cùng với tiếng Tetum, ngôn ngữ ở Nam Bán Đảo.

Ngày 28 tháng 11 năm 1975, Đông Timor độc lập. Chín ngày sau khi tuyên bố độc lập, Đông Timor bị Indonesia xâm chiếm và xung đột kéo dài hàng thập kỷ giữa những người theo chủ nghĩa độc lập và quân đội Indonesia. Một cuộc xung đột đã tạo những mất mát và nhiều người dân bị mất tích, cuộc tàn sát vẫn còn là một phần ký ức chung.

Khi cuộc nội chiến bắt đầu, chỉ có 20% dân theo đạo công giáo. Nhưng Giáo hội nhanh chóng trở thành điểm tham chiếu vì Giáo hội viện trợ và hỗ trợ tinh thần, các giáo sĩ công giáo tố cáo các vi phạm nhân quyền, trong một số trường hợp Giáo hội còn giúp những người đấu tranh giành độc lập.

Vì vậy năm 1989 Đức Gioan-Phaolô II đến thăm trong bầu khí căng thẳng, thánh lễ ngài cử hành cũng không thoát bạo lực, nhiều người biểu tình ném ghế và cảnh sát Indonesia cầm gậy can thiệp.

Năm 1991 mọi chuyện còn xấu hơn, khoảng 250 thường dân không có vũ khí đã bị lực lượng an ninh Indonesia giết chết trong một đám tang tại nghĩa trang Santa Cruz ở Dili. Tất cả vẫn không thay đổi sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1999 do Liên Hiệp Quốc giám sát, người dân bỏ phiếu đòi độc lập, những người phản đối bị đàn áp, 1.400 người bị giết gồm cả các linh mục và nữ tu.

Khoảng hai phần ba dân số sống ở những ngôi làng nhỏ, biệt lập về mặt địa lý. Một nửa đất nước sống trong tình trạng nghèo cùng cực (dưới 1,90 đôla một ngày) và một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng.

Dù gặp khó khăn, người dân vẫn giữ vững đức tin. Không giống các quốc gia khác, chủng viện bị đóng cửa vì không có chủng sinh, Đông Timor có hàng trăm chủng sinh có thể bị từ chối vì thiếu cơ sở vật chất.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Độc thân – Nên nói gì đây?

Độc thân – Nên nói gì đây?

Ronald Rolheiser, 2024-08-19

Vài năm trước, một bài xã luận của Frank Bruni đăng trên  New York Times có tựa đề Giá của Độc thân (The Wages of Celibacy). Bài viết  tuy mang tính khiêu khích nhưng công bằng. Chủ yếu tác giả đặt nhiều câu hỏi khó và cần thiết khi nghiên cứu các vụ bê bối tình dục đã ảnh hưởng đến chức linh mục công giáo trong nhiều năm qua, tác giả cho rằng đã đến lúc phải xem xét lại chế độ độc thân với con mắt trung thực và can đảm, tự hỏi mặt trái của chế độ này có lớn hơn những lợi ích tiềm tàng hay không. Tác giả không đưa ra quyết định chắc chắn về vấn đề này; ông chỉ nói, với lối sống đã khấn, chế độ độc thân có nhiều rủi ro hơn mức bình thường. Gần cuối bài ông viết: “Văn hóa độc thân có nguy cơ kìm hãm phát triển tình dục và biến những ham muốn tình dục thành những cử chỉ lén lút, đau khổ. Nó hạ thấp mối liên hệ cơ bản và có thể là không thể cưỡng lại được của con người. Có gì lạ khi một số linh mục vẫn ráng có những mối liên hệ đó, theo những cách lén lút, thiếu thận trọng và đôi khi mang tính phá hoại không?”

Đây không phải là câu hỏi bất kính. Đây là câu hỏi cần thiết. Chúng ta cần có can đảm để đối diện với câu hỏi: liệu độc thân có thực sự bất thường cho tình trạng con người không? Độc thân có nguy cơ cản trở sự phát triển tình dục không?

Một nhà báo đã hỏi tu sĩ Thomas Merton (1915-1968) độc thân là như thế nào. Tôi ngờ rằng câu trả lời của ông sẽ làm cho những người mộ đạo ngạc nhiên vì ông thực sự tán thành quan điểm của tác giả Bruni. Câu trả lời của ông: “Độc thân là địa ngục! Bạn sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án khi Ngài nói: ‘Đàn ông sống một mình không tốt!’” Tuy nhiên, khi thừa nhận như vậy, ngay lập tức Merton nói, chỉ vì độc thân không phải là tình trạng bình thường của con người, nhưng không có nghĩa là nó không thể đơm hoa kết trái tốt đẹp, có lẽ sự đơm hoa kết trái độc đáo của nó gắn liền với mức độ phi thường và bất thường của nó.

Về bản chất, Merton muốn nói độc thân là bất thường và làm chúng ta sống trong tình trạng không được Tạo Hóa mong muốn; nhưng, bất chấp và có lẽ là vì sự bất thường đó, nó có thể đặc biệt có ích, cho cả người sống độc thân và những người xung quanh.

Cũng như vô số người khác, tôi biết điều này là đúng vì tôi đã được nuôi dạy sâu sắc là tín hữu kitô và là con người, cuộc sống của các linh mục, nữ tu và anh em đã khấn độc thân chạm đến cuộc sống của tôi và chính xác “sự bất thường” của họ đã giúp họ trở nên vô cùng hiệu quả.

Hơn nữa, sự bất thường đặc biệt này có thể có sức hấp dẫn riêng của nó. Tôi đã làm linh hướng cho một chàng trai trẻ đang phân vân không biết có nên vào dòng Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm hay nên đính hôn với một cô gái trẻ. Đây là quyết định đau đớn vì anh muốn cả hai. Phân định của anh dù lãng mạn quá mức khi anh nói về cả hai lựa chọn, nhưng đồng thời lại cũng rất chín chắn. Đây là cách anh mô tả tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình:

Tôi lớn lên ở một vùng nông thôn và là người anh cả gia đình. Khi tôi 15 tuổi, cha tôi còn trẻ, một buổi tối trước khi ăn tối, cha tôi lên cơn đau tim. Vì không có xe cứu thương để gọi, chúng tôi quấn cha vào xe và mẹ tôi ngồi băng sau ôm cha, còn tôi, một thiếu niên sợ hãi lái xe đến bệnh viện cách nhà khoảng 15 dặm. Cha tôi mất trước khi đến bệnh viện. Dù bi thảm, nhưng có nét tốt đẹp trong đó. Cha tôi chết trong tay mẹ tôi. Vẻ đẹp bi thảm này in dấu trong tâm hồn tôi. Trong tâm trí tôi, trong tưởng tượng của tôi, đó là cách tôi muốn chết – trong vòng tay của vợ tôi. Với hoang mang này, tôi rất do dự khi vào Dòng Hiến Sĩ vì phải độc thân. Nếu tôi là linh mục, tôi sẽ không chết trong vòng tay con người. Tôi sẽ chết như những người độc thân – trong đức tin nhưng không trong vòng tay con người.

Một ngày nọ, khi cố gắng phân định tất cả những điều này, tôi thấy một hình ảnh khác: Chúa Giêsu không chết trong vòng tay của người bạn đời, Ngài chết một mình, trong cô đơn. Tôi luôn có điểm yếu về sự cô đơn của những người độc thân, tôi luôn bị thu hút bởi những người như triết gia Soren Kierkegaard, Mẹ Têrêxa, bà Dorothy Day, các tu sĩ Thomas Merton và Daniel Berrigan, những người không chết trong vòng tay người bạn đời. Nhưng cũng có một vẻ đẹp thực sự trong cách họ chết!

Tác giả Bruni đã đúng khi cảnh cáo độc thân là bất thường và đầy nguy hiểm. Nó có nguy cơ cản trở sự phát triển tình dục và đặc biệt là hạ thấp mối liên hệ cơ bản của con người theo lệnh của Kinh thánh, cụ thể là giáo điều nhân học cơ bản có trong câu chuyện về Chúa tạo ra cha mẹ đầu tiên của chúng ta và tuyên bố con người sống một mình là không tốt (và nguy hiểm)!

Độc thân làm chúng ta sống trong cô đơn mà chính Chúa đã lên án, nhưng đó cũng là cô đơn mà Chúa Giêsu đã chết cho chúng ta, và đó là  biểu hiện tình yêu sáng tạo nhất của lịch sử loài người.

Marta An Nguyễn dịch
Hình vui:

Ý nghĩa đau khổ theo kitô giáo

 

 

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

 

Làm thế nào Carlo lại có được cảm giác đau đớn và thống khổ như thế của người tín hữu kitô?

Có lẽ Carlo cảm nhận được đau đớn và thống khổ khi đọc hạnh các thánh và bài viết của các ngài. Chẳng hạn lời dạy của Thánh I-Nhã: “Nếu Thiên Chúa gởi đến cho bạn nhiều đau khổ, đó là dấu hiệu cho thấy Ngài có những kế hoạch lớn lao dành cho bạn và chắc chắn Ngài mong muốn biến bạn thành một vị thánh.” Carlo cũng biết câu chuyện của Thánh Têrêsa Avila, một ngày nọ, trên đường về tu viện, một cơn bão bất ngờ ập đến, bà bị ngã ngựa và té xuống bùn. Bà nói với Chúa Giêsu: “Nếu đây là cách Chúa đối xử với bạn của Chúa thì con không ngạc nhiên khi Chúa có quá ít bạn!”

Carlo xúc động trước kinh nghiệm sống của Chân phước Alexandrina Maria da Costa. Chân phước nhận các dấu thánh và nằm liệt giường suốt mười bốn năm, chỉ được nuôi dưỡng bằng Bí tích Thánh Thể. Chúa đã hiện ra với chân phước và ban chương trình sống cho chân phước: “Yêu thương, chịu đau khổ và đền tạ.” Sau đó chính Mẹ Maria đã hiện ra để khuyến khích chân phước dự vào chương trình tế lễ này. Alexandrina Maria nói: “Đức Mẹ đã ban cho tôi một ân sủng lớn lao. Đầu tiên là cam chịu, sau đó là hoàn toàn tuân theo ý Chúa, và cuối cùng là ước muốn chịu đau khổ.”

Carlo biết con đường dẫn đến cuộc sống hạnh phúc phải đi qua  “cửa hẹp”, như chính Chúa Giêsu đã nói (Mt 7:1) và mọi sự hiệp lại vì lợi ích chúng ta nếu chúng ta tin tưởng dâng lên Chúa.

Carlo viết: “Điều kỳ lạ là mọi đau khổ đều có hai mặt: đó là hậu quả của tình trạng rối loạn trước đó đã gây ra tội và hành động thanh tẩy của lòng thương xót Chúa, hoàn toàn kết hợp với công lý của Ngài. Với khôn ngoan vô hạn của Ngài, Thiên Chúa bảo đảm, sự dữ, sự phản kháng Thiên Chúa là hữu ích cho những ai yêu mến Ngài để họ được thanh tẩy và được thánh hóa. Carlo xem lòng thương xót và công lý của Thiên Chúa là mối liên kết chặt chẽ. Thiên Chúa không bỏ rơi con người trong tình trạng hỗn loạn, không bỏ mặc con người một mình, nhưng liên tục gõ cửa trái tim con người để ban ân sủng và bình an.

Để hiểu được điều gì đó về mầu nhiệm đau khổ, Carlo luôn trích dẫn Kinh Thánh: “Chấp nhận những nỗi khổ phải chịu một cách bất công vì lòng tôn kính Thiên Chúa, thì đó là một ân huệ” (1 Pr 2:19). Hoặc câu của tiên tri Isaia, người tôi tớ đau khổ của Chúa: “Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. (Isaia 53 :11-12).

Người Tôi Tớ đau khổ của Đấng xóa bỏ “tội lỗi thế gian” mà bệnh tật chỉ là một trong nhiều hậu quả. Tiên tri Isaia, người sống ít nhất sáu trăm năm trước cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đã loan báo một điều vĩ đại: đau khổ của Đấng Công Chính mang lại sự cứu rỗi cho mọi người, xóa bỏ tội lỗi của người khác. Lời tiên tri này trở thành hiện thực với cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Chỉ có Lễ Phục Sinh của Chúa Giêsu mới đảo ngược được ý nghĩa của đau khổ, cứu chuộc con người, biến đau khổ thành cứu rỗi đời đời cho tất cả các môn đệ của Ngài. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo viết: Sự tha thứ tội lỗi và phục hồi hiệp thông với Thiên Chúa dẫn đến sự tha thứ các hình phạt đời đời của tội lỗi. Nhưng hình phạt tạm thời của tội lỗi vẫn còn. Người tín hữu kitô phải cố gắng, kiên nhẫn chịu đựng mọi đau khổ và thử thách đủ loại, và khi ngày đến, thanh thản trước cái chết để chấp nhận những hình phạt tạm thời này của tội lỗi như một ân sủng; phải chuyên tâm qua việc bác ái, cầu nguyện và thực hành sám hối khác để hoàn toàn bỏ mình khỏi “con người cũ” và mặc lấy “con người mới” (Êp 4, 24).

Marta An Nguyễn dịch

Những ngày tháng bận rộn sắp tới của Đức Phanxicô

Những ngày tháng bận rộn sắp tới của Đức Phanxicô

Hình ảnh Alberto PIZZOLI / AFP

Ở tuổi 87, Đức Phanxicô chuẩn bị những tuần căng thẳng sắp đến, chuyến tông du nước ngoài dài nhất, xa nhất của ngài kể từ năm 2013 và một số các cuộc họp quan trọng sắp đến của ngài.

famillechretienne.fr, I.Media, 2024-08-20

Hành trình của mọi kỷ lục

Từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9, Đức Phanxicô có chuyến tông du thứ 45, dài 12 ngày, chuyến dài nhất triều. Ngài sẽ đến bốn quốc gia: Indonesia, Đông Timor, Singapore và Papua Tân Ghinê. Với Papua Tân Ghinê, Đức Phanxicô lần đầu đến Châu Đại Dương, cách Rôma hơn 14.000 cây số, một  kỷ lục của ngài.

Sau chuyến đi Canada năm 2022, ngài giữ chức vô địch giáo hoàng lớn tuổi nhất đi nước ngoài. Sức khỏe của ngài có vẻ tốt hơn so với mùa đông vừa qua, nhưng lịch đi của ngài sẽ uyển chuyển để ngài có thì giờ nghỉ ngơi.

Nhưng uyển chuyển này sẽ không quá lớn vì chương trình đã được ấn định: 44 giờ bay, trong đó có 4 giờ bay trực thăng đi Papua Tân Ghinê, với 32.000 cây số trong 7 chuyến bay, đọc 16 bài phát biểu và bài giảng. Một nhà ngoại giao ở Rôma tự hỏi: “Ngay cả với người 50 tuổi, họ phải có sức khỏe mới đi được, tôi không biết ngài lấy đâu ra sức lực khi đã 87 tuổi?”

Một công nghị phong tân hồng y

Tại Rôma, nhiều nhà quan sát đang chờ công nghị phong tân hồng y sắp tới. Hiện tại có 124 hồng y là ứng viên bỏ phiếu nếu có mật nghị. Cuối năm nay sẽ có 4 hồng y 80 tuổi nên sẽ không được bầu mật nghị. Đức Phaolô VI ấn định con số 120 hồng y cho mật nghị, rất có thể Đức Phanxicô không chờ con số này giảm để bổ sung. Gần đây trong một phỏng vấn, nhà báo Gerard O’Connell thân cận với Đức Phanxicô cho biết ngài sẽ tổ chức công nghị trước cuối năm nay.

Rôma lúc nào cũng có những dự đoán nhưng Đức Phanxicô là người đua ra quyết định cuối cùng và ngài thường có những quyết định bất ngờ. Phần nào ngài đã phá vỡ truyền thống “ghế hồng y” thường giao cho giám mục của các giáo phận rất lớn như Milan, Venice, Naples, Turin, Krakow, Paris, Dublin, Berlin và Los Angeles, nhưng truyền thống này bây giờ không còn.

Và ngài đưa ra những lựa chọn rất cá nhân, được thấy rõ trong trường hợp giám mục trẻ người Ý Giorgio Marengo được phong hồng y năm 2022. Là nhà truyền giáo ở Mông Cổ từ đầu những năm 2000, giám mục đứng đầu một Giáo hội chỉ có 1.400 tín hữu.

Hồng y Marengo: Đức Phanxicô đi Mông cổ, một khích lệ lớn lao cho một Giáo hội non trẻ

Một chuyến đi gay go đến Bỉ và Luxembourg

Sau chuyến tông du Châu Á-Châu Đại Dương đầu tháng 9, Đức Phanxicô sẽ đi Luxembourg và Bỉ từ ngày 26 đến 29 tháng 9. Tại hai quốc gia ở trung tâm châu Âu trước đây Giáo hội công giáo đóng vai trò trung tâm, nhưng trong nhiều thập kỷ qua, hai quốc gia này đã phải đối diện với làn sóng thế tục hóa rất mạnh.

Trong chuyến đi nhân kỷ niệm 600 năm thành lập Đại học Công giáo Louvain, ngài sẽ nói đến tình trạng người công giáo trong một xã hội thế tục hóa, về việc kết thúc cuộc sống vì chế độ an tử đã được hợp pháp hóa ở hai nước này. Vấn đề lạm dụng tình dục cũng sẽ là một chủ đề của chuyến đi, ngài đã lên kế hoạch để gặp riêng các nạn nhân.

Và khi dừng chân ở Luxembourg, ngài muốn vinh danh giáo phận của hồng y Jean-Claude Hollerich, tổng tường trình của Thượng hội đồng về tính đồng nghị, người trung thành với ngài. Ở Bỉ, ngài cũng sẽ đề cập đến vấn đề nhạy cảm như vấn đề chức phó tế nữ hay phong chức cho các ông đã lập gia đình, nhưng tại Bỉ vấn đề ít trực diện hơn so với cách tiếp cận của người Đức đang rơi vào bế tắc với Rôma.

Một Thượng Hội đồng Thế giới sắp kết thúc

Tháng 10 sắp tới, hơn 450 người tham gia (hồng y, giám mục, linh mục, giáo dân nam nữ) sẽ về Rôma để tiếp tục họp. Sau nhiều tháng tham vấn địa phương và lục địa, kể từ tháng 10 năm 2023, Giáo hội đã suy ngẫm ở cấp độ toàn cầu về việc đón nhận và tham gia nhiều hơn cũng như bớt giáo sĩ hơn. Đặc biệt của Thượng hội đồng này là có sự hiện diện của giáo dân, họ được quyền bỏ phiếu mà bình thường chỉ các giám mục mới được quyền bỏ phiếu.

Vào cuối tháng 10, trong phiên họp cuối cùng ở Rôma, các thành viên của Thượng hội đồng sẽ đề xuất những phương hướng cải cách cho giáo hoàng. Các vấn đề được bàn đến gồm việc thành lập mục vụ cho giáo dân đặc biệt mục vụ “lắng nghe và đồng hành”, giáo dân giảng lễ, sự minh bạch trong quá trình ra quyết định và quản lý, cả ở cấp độ mục vụ lẫn về mặt lạm dụng tình dục hoặc tài chính. Vấn đề chức phó tế nữ tuy không được bàn đến trong lần này, nhưng có một ủy ban tiếp tục đào sâu vấn đề này. Tháng 3 năm ngoái, Đức Phanxicô đã giao phó cho mười nhóm làm việc một số lượng lớn các chủ đề bao gồm các chủ đề nhạy cảm như chức phó tế nữ, luật độc thân linh mục, sự bao gồm người đồng tính, tiến trình bổ nhiệm giám mục..v..v.. Năm 2025 các nhóm này sẽ phải đưa ra kết luận của họ.

Năm Thánh sắp đến

Năm Thánh 2025 đang được chuẩn bị tại Rôma để đón nhận 30 triệu du khách trong dịp này, các công trường xây dựng đã làm việc trong nhiều tuần qua. Đầu tháng 6 khi Đức Phanxicô đến tòa thị chính Rôma, ngài trấn an: “Dòng người hành hương, khách du lịch và người dân về Rôma trong dịp này sẽ là một gánh nặng cho Rôma, nhưng đây cũng là một khía cạnh vĩ đại của Rôma, Rôma có cơ hội phát triển về mặt dân sự, xã hội, kinh tế và văn hóa.”

Ngày 24 tháng 12, Đức Phanxicô sẽ mở Cửa Thánh Đền thờ Thánh Phêrô, trong Sắc lệnh Năm Thánh, ngài mời gọi giáo dân lên đường tìm ý nghĩa cuộc sống. Tổng cộng sẽ có 35 sự kiện quan trọng được tổ chức tại Rôma trong Năm Thánh: các lễ kỷ niệm dành cho gia đình, giới trẻ, linh mục, người bệnh, chính trị gia, vận động viên, tù nhân, v.v. Đây là cuộc chạy marathon của ngài, ngài còn dự định đến Thổ Nhĩ Kỳ để kỷ niệm 1700 năm thành lập Hội đồng Đại kết Nicaea.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Josée Kamoun: “Dịch thuật là đánh cuộc mọi người có thể hiểu nhau”

Josée Kamoun: “Dịch thuật là đánh cuộc mọi người có thể hiểu nhau”

lepelerin.com, Faustine Prévot, 2024-08-19

Bà Josée Kamoun © Camille McOuat

Bà Josée Kamoun, nhà anh giáo học đề nghị có quyển Từ điển dành cho những người yêu thích dịch thuật chứa đầy tài liệu tham khảo và trí tưởng tượng.

Phỏng vấn bà Josée Kamoun

Xin bà cho biết bà tiếp cận một bản dịch như thế nào?

Bà Josée Kamoun: Tất cả đều tùy. Có một số bài trôi chảy ngay từ cái nhìn đầu tiên. Ngược lại có những bài tôi cảm thấy xa lạ. Khi đó tôi làm một điều tra nhỏ, đọc một tác phẩm khác của tác giả, một chuyên luận triết học… Tôi cũng trao đổi với các tiểu thuyết gia về điều họ muốn nói, như tôi đã làm với tác giả Mỹ Philip Roth. Dịch thuật là thách thức: những người ở cách nhau rất xa, cách nhau hàng trăm năm vẫn có thể hiểu được nhau.

 Ơn gọi này của bà đến từ đâu?

Từ niềm vui của tôi, từ năm lớp sáu tôi đã xuất sắc trong các bài dịch tiếng la-tinh. Và năm 15 tuổi với tiếng Anh qua trào lưu nhạc rock của những năm sáu mươi. Và cũng nhờ tôi ngưỡng mộ tài năng của bà ngoại, bà thực sự là nhà tiên phong, bà là nhân viên tiếng Pháp ở Scotland năm 1920. Có lẽ tôi cũng cố hàn gắn vết thương bản sắc. Chứng mất trí nhớ đau đớn của cha tôi, ông rất muốn làm người Pháp đến mức ông giấu nguồn gốc Sicily của ông với chúng tôi, suốt đời cha tôi nói ông là người đảo Corse. Và nỗi đau của chính tôi khi tôi nghĩ tôi sẽ không chết ở Tunis, nơi tôi sinh ra.

Dịch thuật mang nét thiết yếu nào của xã hội như thế nào?

Dịch thuật là khai mở bản thân, theo nghĩa của Phúc âm. Mở ra với văn hóa nước ngoài, mọi người hiểu nhau khi trở thành một phần của người khác, mình có thể trở thành chính mình hơn. Hơn nữa, dịch thuật còn có nghĩa là bảo vệ kho tàng di sản phi vật thể của nhân loại. Khoa Ung thư của Solzhenitsyn được phát sóng bằng tiếng Anh ở phương Tây vào cuối những năm 1960, đã thoát khỏi sự tàn phá của chế độ cộng sản và tiết lộ sự tàn bạo của các trại cải tạo.

Bà nói có hai quan niệm về sự đa dạng của ngôn ngữ dẫn đến hai trường phái dịch thuật…

Theo quan niệm Babylon, con người muốn lên tới Chúa nên đã bị chia rẽ bằng hàng ngàn ngôn ngữ. Gắn liền với cái nhìn chăm chú nghề nghiệp, người dịch tỉ mỉ ghép các mảnh lại với nhau. Ngược lại, với Lễ Hiện Xuống, tất cả đều được tha: các tông đồ rao giảng và dân ngoại nghe Chúa Thánh Thần bằng ngôn ngữ của họ. Từ đó xuất hiện tầm nhìn thứ hai: tin vào sự cộng sinh kỳ diệu với tác giả, điều đã xảy ra cho tôi với Jonathan Coe và Cuộc đời rất riêng tư của ông Sim (La vie très privée de Mr Sim, 2011). Nhưng lần lượt tất cả chúng ta đều là người “Babylon” và “Ngũ Tuần”.

Tháp Babel, của Pieter Bruegel the Elder (1863) © Hình ảnh di sản / AURIMAGES

Có hai kiểu hiển thị văn bản gốc: làm nổi bật sự khác biệt về văn hóa hoặc chuyển đổi nó. Bà ưu tiên cho loại nào?

Những người được gọi là “người tìm kiếm” bám sát ngôn ngữ gốc, trong khi những “người nhắm mục tiêu” đi chệch khỏi ngôn ngữ gốc, tạo cho độc giả ảo tưởng tác phẩm được viết bằng ngôn ngữ của họ. Ví dụ nguyên mẫu là Trời đang mưa chó mèo (nghĩa đen: It’s raining cats and dogs) người dịch chuyển thành “Trời mưa to”. Vì tiếng Anh là bá chủ nên tôi không thấy cần phải để nó sáng hơn tiếng Pháp. Nhưng một lần nữa, tôi và các đồng nghiệp bị dao động giữa hai quan điểm.

Trong những tượng đài văn học, bà nói khi chết bà muốn làm việc về Moby Dick của Herman Melville. Vì sao?

Vì nhân vật Thuyền trưởng Ahab, thủy thủ đoàn của ông và người đọc có cùng một mong muốn, đó là hoàn thành cuộc săn bắt cá voi trắng mang tính siêu hình. Khám phá mâu thuẫn của màu sắc này, biểu tượng của thiêng liêng nhưng cũng của sự trống rỗng, Melville gợi ý Moby Dick hiện thân cho sự chóng váng của con người: chúng ta đang đi tìm mọi thứ hay không tìm gì cả? Như nhà ngữ văn Barbara Cassin tóm tắt, đó là quyển tiểu thuyết không thể dịch được, đến nỗi trong nhiều năm làm chung, chúng tôi không bao giờ làm xong.

Với những tác phẩm ngày xưa nhưng bây giờ gây sốc, như quyển Cuốn theo chiều gió về chế độ nô lệ, quan điểm của bà là gì?

Tất cả phụ thuộc vào sự quan tâm về tài liệu chúng ta dành cho quyển sách. Như trường hợp của James Bond, chúng ta xuất bản không đổi một dấu phẩy, dù là thêm ghi chú: chúng ta sẽ không biến một điệp viên Chiến tranh Lạnh, người phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính, thành con cừu non! Chúng ta cần biết chúng ta đến từ đâu. 

Bà đã làm phiên bản về những tác phẩm đen tối như 1984 của George Orwell, tác phẩm làm sáng tỏ thời đại chúng ta như thế nào?

Có những chế độ ngăn cản việc nói ra một số sự thật. Nhưng tác phẩm 1984 gợi lên việc viết lại Lịch sử. Năm 2017, các tác phẩm cổ điển bán rất chạy vì người Mỹ đã đưa ra mối liên hệ đúng đắn với việc ông Trump đắc cử Tổng thống Mỹ. Ngay cả khi thông tin sai lệch chưa có, ông vẫn là người đầu tiên đảm nhận khái niệm “sự thật thay thế”, ông tạo được tên tuổi nhờ chương trình truyền hình thực tế The Apprentice năm 2004.

Nghề nghiệp của bà nhìn AI như thế nào?

Với văn xuôi đơn giản, trí tuệ nhân tạo cung cấp cơ sở để chúng tôi “biên tập hậu kỳ”. Năm 2022, tôi đã thử nghiệm AI trên quyển tiểu sử của Philip Roth, tôi dành nhiều thì giờ để sửa những điểm không chính xác hơn là viết lại bản thảo đầu tiên. Còn với các văn bản văn học, vai trò của chúng tôi là làm phong phú chúng bằng sự nhạy cảm, liên kết các ý tưởng, chiều sâu cuộc sống chúng ta. Đó là lý do vì sao tháng 10 năm ngoái, tôi đã ký vào bản tuyên ngôn của tập thể Bằng xương và bằng thịt (En chair et en os) kêu gọi những người sáng tạo và phân phối các tác phẩm trí tuệ từ chối bất kỳ việc sử dụng AI nào.

Sự xuất hiện này đã làm rung chuyển một tập đoàn, cuối cùng đã giành được danh hiệu quý tộc…

Trên thực tế, chúng tôi không còn bị coi là “kẻ phản bội” các phiên bản gốc mà là những nhà vô địch trong việc tái tạo thế giới toàn cầu hóa nơi các biên giới đang bị xóa nhòa. “Trái tim tôi đã trở nên có khả năng chấp nhận mọi hình thức”, của nhà thơ Sufi Ibn Arabi, là câu trích dẫn trong Quyển Từ điển của tôi. Tôi tin vào cộng đồng con người.

Bản dịch: hai phiên bản cho một đoạn độc thoại

Để hiểu tầm quan trọng của vai trò của người phiên dịch, đây là ví dụ kinh điển với dấu kép đơn của Juliet trong vở kịch của nhà viết kịch người Anh William Shakespeare, Romeo và Juliet:

Của tôi, đêm tối! Hãy đến, Romeo, hãy đến: anh sẽ làm đêm thành ngày, khi anh đến trên đôi cánh của đêm, anh sáng hơn lớp tuyết mới trên lưng quạ đen. Bản dịch của François-Victor Hugo (1860)

Đêm hãy đến, đến Romeo! Hãy đến, ngày của tôi trong đêm. Vì, trên đôi cánh của màn đêm, anh sẽ yên nghỉ trắng hơn tuyết trên lưng quạ. Bản dịch của Yves Bonnefoy (1985)

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất