Home Blog Page 157

Chân phước Carlo Acutis: một đức tin nhiệt thành có sức lan tỏa

Chân phước Carlo Acutis: một đức tin nhiệt thành có sức lan tỏa

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Nhiều người đã sống qua những giây phút hoặc những ngày tháng bên cạnh Carlo đều nhớ đến đức tin nhiệt thành và lan tỏa của Carlo.

Mới đầu Carlo chỉ là một đứa trẻ, sau đó là một thiếu niên yêu đời, sống đời sống mật thiết với Chúa Giêsu. Carlo rất đơn sơ và tự phát. Đây có lẽ là những đặc điểm quyết định nhất về khả năng thuyết phục của Carlo. Chúng ta cảm nhận được điều này qua các câu chuyện của những người đã có kinh nghiệm này.

Trước hết là cô giáo viên trẻ Elisa. Năm 1995, ông ngoại của Carlo đột ngột qua đời. Mẹ của Carlo là bà Antonia, con một nên phải cùng mẹ là bà Luana quán xuyến gia đình, bà nhờ cô  Elisa lo cho Carlo buổi chiều sau khi Carlo đi học về. Carlo đã quen đi nhà thờ với cô bảo mẫu Elisa nên Carlo muốn cô Elisa đi nhà thờ với mình. Nhờ Carlo nằn nì, cô Elisa bắt đầu về với đức tin của mình. Cô cho biết, sự nằn nì của Carlo không phải là nằng nì của trẻ con, cô ấn tượng trước sự trưởng thành thiêng liêng của Carlo, Carlo biết cầu nguyện và xoa dịu nỗi đau.

Câu chuyện thứ hai liên quan đến ông Rajesh, người giúp của gia đình ở Milan. Rajesh xuất thân từ một gia đình theo đạo hinđu, Bà la môn. Carlo thường nói chuyện với ông về Chúa Giêsu, Tin Mừng, các phép lạ và các bí tích. Carlo cùng đọc kinh với ông. Carlo đã làm cho ông yêu mến Chúa Giêsu, ông xin rửa tội. khi đã là tín hữu kitô, ông thường xuyên cầu nguyện với Carlo và thỉnh thoảng cùng nhau lần hạt Mân Côi. Với Carlo, ông không còn là người “giúp việc” nhưng là “người bạn trung thành của Carlo”.

Họ thường chơi với nhau, Rajesh rất vui đóng trong các video ngắn của Carlo, ông làm chú hề, làm điệp viên. Ông nói trong lời chứng khi Tổng giáo phận Milan làm thủ tục giáo luật phong chân phước cho Carlo:

Với lòng đạo đức sâu sắc và đức tin lớn lao của Carlo, việc Carlo dạy giáo lý cho tôi là việc bình thường, vì tôi theo đạo hinđu thuộc đẳng cấp giáo sĩ Bà La Môn; Carlo nói “tôi sẽ hạnh phúc hơn nếu tôi đến gần Chúa Giêsu và Carlo thường  hướng dẫn tôi đọc Kinh Thánh, Giáo lý Giáo hội Công giáo và hạnh các thánh. Carlo gần như thuộc lòng sách giáo lý và giải thích một cách xuất sắc, giúp tôi hiểu được tầm quan trọng của các bí tích. Carlo rất giỏi giảng dạy các khái niệm thần học mà ngay cả người lớn cũng không thể giải thích được. Dần dần, tôi bắt đầu nghiêm túc nghe lời khuyên và chỉ dạy của Carlo cho đến khi tôi quyết định xin rửa tội. Carlo là người thầy về thế nào là đời sống của một tín hữu kitô và là tấm gương đạo đức đặc biệt. Tôi được rửa tội vì đức tin sâu sắc của Carlo đã lan truyền và đánh động tôi, vì lòng bác ái và sự trong sạch cao thượng của Carlo, điều tôi luôn xem là phi thường. Vì một thiếu niên trẻ, đẹp trai, con nhà giàu thường có một lối sống khác. Carlo là tấm gương cao quý về mặt thiêng liêng, Carlo thánh thiện đến mức tôi cảm thấy tôi muốn thành tín hữu kitô để có thể được rước lễ.

Carlo giải thích cho tôi tầm quan trọng của việc đến gần Bí tích Thánh Thể mỗi ngày, cầu nguyện với Đức Mẹ bằng chuỗi Mân Côi, cố gắng noi theo nhân đức của Đức Mẹ. Carlo luôn nói với tôi, các nhân đức chủ yếu có được là nhờ sống đời sống bí tích mãnh liệt và Bí tích Thánh Thể là đỉnh cao của đức ái. Qua bí tích này, Chúa làm chúng ta trở nên những con người trọn vẹn, được tạo dựng theo hình ảnh của Ngài và Carlo trích dẫn thuộc lòng chương Thánh Gioan nói về Chúa Giêsu: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta, Ta ở trong người ấy và Ta sẽ làm cho người đó sống lại vào ngày sau hết.” Sau đó Carlo giải thích cho tôi hiểu, Bí tích Thánh Thể là trái tim của Chúa Kitô. Một ngày nọ, Carlo nói với tôi về tầm quan trọng của việc hiến mình cho Thánh Tâm Chúa Giêsu các ngày thứ sáu đầu tháng, và cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ ngày thứ bảy đầu tháng trong năm tháng. Carlo nói: “Trái Tim Chúa Giêsu và Trái Tim Mẹ Maria hiệp nhất bất khả phân ly. Khi rước lễ chúng ta được tiếp xúc trực tiếp với Đức Mẹ và các thánh trên thiên đàng. Thiên Chúa rất vui mừng khi các linh hồn đến với hồng ân lớn lao là Thánh Thể.” Carlo cũng chuẩn bị cho tôi lãnh nhận bí tích Thêm Sức, Carlo giải thích bí tích này rất quan trọng. Carlo nói với tôi, từ khi nhận bí tích Thêm Sức, Carlo cảm thấy mình có một sức mạnh huyền nhiệm bao phủ, từ đó lòng kính mến Thánh Thể của Carlo được tăng lên. Tôi phải nói tôi cũng cảm thấy như vậy khi lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Điều làm tôi ấn tượng nhất về Carlo là sự trong sáng tuyệt vời và sự trung thành với thánh lễ hàng ngày của Carlo. Carlo có một cái nhìn sáng rực về đức tin công giáo đến nỗi Carlo thu hút mọi người bằng sự thanh thản và dịu dàng khi trình bày các chân lý đức tin.

Nhưng điều đặc biệt với tôi là ảnh hưởng của Carlo trên gia đình. Bà ngoại Luana của Carlo trong án phong chân phước cho Carlo ở Tổng giáo phận Milan đã tuyên bố: “Cả tôi và cha mẹ Carlo đã không giữ đạo như Carlo, Carlo đã đưa chúng tôi đến với đức tin. Chính Carlo đã đưa chúng tôi đến với Thiên Chúa, với đức tin, đến niềm vui tin vào Thiên Chúa là điều tốt đẹp. Phần lớn cuộc đời của tôi, dù tôi học trường công giáo mười năm, nhưng tôi không là người công giáo giữ đạo sốt sắng. Nhờ Carlo, từ khi còn nhỏ đã xin tôi đi lễ với em, với mẹ của em, tôi tìm lại được đức tin đã mất trong tôi.”

Tính hiếu kỳ, những câu hỏi Carlo đặt ra về Chúa Giêsu, về các thánh, về các bí tích đã khuyến khích chúng tôi đào sâu đức tin của mình qua việc học tập. Trung kiên đi lễ hàng ngày, chầu Mình Thánh Chúa, cầu nguyện riêng trong ước muốn liên tục noi gương Chúa Giêsu, sống bác ái tình huynh đệ vơi tất cả mọi người, đã giúp chúng tôi sống đức tin một cách chât thực và đích thực hơn. Tấm gương của Carlo khuyến khích chúng tôi đi vào trọng tâm đức tin và bác ái huynh đệ, tách mình ra khỏi những gì dư thừa. Chẳng hạn, chúng tôi rất ấn tượng khi thấy Carlo cực kỳ rộng lượng với người khác, nhưng lại rất kiềm chế với bản thân, không dễ dàng thuyết phục Carlo mua thêm áo quần mới. Carlo nói em không cần gì thêm. Vào đầu năm học, khi chúng tôi muốn mua thêm cho Carlo đôi giày mới, Carlo luôn từ chối. Carlo chỉ có một đôi giày và nếu nó chưa mòn thì vẫn còn mang được! Với tiền tiết kiệm, Carlo muốn chúng tôi giúp những người Carlo biết họ đang cần giúp đỡ. Các bạn cùng lớp và các bạn cùng chơi đều biết Carlo không chạy theo thời trang, luôn ăn mặc đàng hoàng, không thích nổi bật.

Khi Carlo biết có người đang ở xa Chúa, Carlo cầu nguyện cho họ ngay, Carlo nói: “Nếu Chúa quan phòng đặt họ bên cạnh con thì đó là để con có thể cầu nguyện thay cho họ.” Như vậy, lần hạt Mân Côi, cầu nguyện với Đức Trinh Nữ Pompeii, đi lễ mỗi ngày với những ý chỉ này, Carlo đã nhận được vô số ơn chữa lành thể xác và hoán cải. Một ngày nọ, Carlo gặp một phụ nữ ốm yếu, tàn tật, sống xa đức tin. Bà nói với Carlo đã 40 năm bà không đi lễ. Carlo bắt đầu cầu nguyện và nhờ những người khác cầu nguyện cho bà. Sau một thời gian, không những được khỏi bệnh phần xác, bà trở lại, xưng tội và đi lễ hàng ngày như Carlo.

Hiện nay chúng ta có thể nói Carlo là “người có ảnh hưởng” rất xác thực và hiệu quả của Chúa. Chắc chắn, không phải là “người có ảnh hưởng” của một thế giới không biết đến Chúa,  từ chối Đấng Tạo Hóa, Đấng Cứu Rỗi, chúng ta chỉ cần đọc báo, lên mạng là thấy các ngôi sao rất đáng ngờ, thường bị các phương tiện truyền thông khen ngợi và đánh giá quá cao. Tôi nghĩ đến các diễn viên, ca sĩ, cầu thủ bóng đá, những “người có ảnh hưởng” đủ mọi thể loại, họ đưa ra những lý tưởng, có thể xuất sắc, nhưng số phận sẽ trở thành tro bụi. Đây là những điều tốt bề ngoài, tạm thời, đôi khi giả dối, không liên quan gì đến những điều tốt đẹp lâu dài của đức tin và đức ái. Carlo đặt tất cả vào đức tin và đức ái.

Ngoài ra còn có các bậc thầy về cuộc sống, các pháp sư, các chiêm tinh gia, họ được nhiều người tìm đến trong hy vọng giải quyết được những bất an, lo lắng để tìm được con đường ánh sáng. Carlo đã tìm thấy được an toàn, hạnh phúc, ánh sáng nơi Chúa Giêsu. Và, bằng nhiệt tình và đơn sơ của một em bé, Carlo đã giúp nhiều người tìm được an toàn, hạnh phúc, ánh sáng.

Marta An Nguyễn dịch

Niềm đam mê với sự biến đổi bản thể

Niềm đam mê với sự biến đổi bản thể

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Chúng tôi xin hỏi bà Antonia, có lần bà cho biết Carlo đã thiết kế và biên soạn một phần quyển sách Các phép lạ Thánh Thể và Cội nguồn kitô giáo của châu Âu. Carlo cũng cộng tác trong quyển sách nhỏ về Giáo lý Thánh Thể, trong đó việc biến thể được giải thích một cách đơn giản.

Carlo kinh ngạc trước mầu nhiệm của biến thể. Qua việc cử hành bí tích, bánh và rượu trở nên Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Và vì sự thay đổi này, Chúa Giêsu Kitô hiện diện dưới hình bánh và rượu theo bản chất, không theo hình thể và số lượng. Chẳng hạn, bản chất của tôi là cố định, tôi là tôi khi còn nhỏ cũng như khi lớn lên, bản chất của tôi không phát triển theo cơ thể, không tăng không giảm theo tuổi. Bản chất vẫn như cũ trong tôi. Tương tự như vậy, Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, không theo hình thể lớn nhỏ khi truyền phép, nhưng theo bản chất của Ngôi Lời nhập thể, một bản thể luôn hiện diện trong Bí tích Thánh Thể. Để suy ngẫm dễ dàng về những chân lý đức tin này, Carlo chép lại một số câu của các tác giả thánh thiện:

Để có thể trở nên như vậy, không chỉ nhờ tình yêu mà còn nhờ vào sự hòa nhập với xác thịt thiêng liêng này. Đây là hiệu quả do lương thực Chúa Cứu Thế ban để giúp chúng ta nhận thức được sự nồng ấm và tình yêu quá mức của Ngài. Đó là lý do vì sao Ngài hiệp nhất, hòa trộn nhiệm thể Ngài với thân thể chúng ta, để tất cả chúng ta nên một thân, một đầu… Đây là điều Chúa Giêsu Kitô đã làm cho chúng ta; Ngài không chỉ tỏ mình ra cho những ai muốn thấy Ngài, mà Ngài còn tự mình chạm vào, nắm lấy, hấp thụ theo cách nồng nàn nhất. Cha mẹ thường giao con cái cho người vú nuôi. Còn Ta, Ta nuôi chúng bằng thịt của Ta, Ta cho chính Ta là của ăn… Trong nhập thể, Ta lấy thịt và máu của các con để chúng ta là một, giữa chúng ta là chung: Ta ban cho các con thịt và máu này, nhờ đó mà các con có cùng bản chất với Ta.

 Để suy niệm về sự hiện diện thực sự và đích thực của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, Carlo chép đoạn này của Thánh Tôma Aquinô: Thật vậy, thịt Ta là của ăn đích thực và máu Ta là của uống đích thực (x. Ga 6, 55). Thật ra tin những gì nói về máu và thịt của Chúa là ẩn dụ và dụ ngôn; vì thế loại trừ cách giải thích này, Ngài nói: “Thịt Ta là của ăn đích thực” như thể Ngài nói: “Đừng nghĩ tôi nói theo nghĩa bóng, nhưng thực ra thịt tôi chứa trong thức ăn của những người tin và máu tôi trong bí tích trên bàn thờ, theo lời khi truyền phép : “Đây là Mình Ta… đây là Máu Ta, Máu của Giao Ước Mới” (Mt 26, 27-28); Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì ở trong Ta và Ta ở trong người ấy (Ga 6:56)”. Ở đây, Chúa nói đến thức ăn thiêng liêng, thức ăn mang sự sống đời đời, và Ngài lập luận như sau: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta là hiệp nhất với Ta; nhưng ai kết hợp với Ta thì được sự sống đời đời; vậy nên ai ăn thịt và uống máu Ta thì có sự sống đời đời…” Tuy nhiên, có một cách ăn khác làm chúng ta không ở trong Chúa Kitô và Chúa Kitô không ở trong chúng ta, đó là trường hợp của những người đến với Bí tích Thánh Thể với tấm lòng dối trá. Vì trong một trái tim như vậy, bí tích không có hiệu lực. Lời nói dối là khi biểu hiệu bên ngoài không tương ứng với bên trong, bề ngoài chỉ là Chúa Kitô tháp nhập vào người đón nhận Ngài. Vì vậy, ai không mong muốn có kết hợp này và không cố gắng loại bỏ mọi thứ cản trở nó, là kẻ nói dối. Vì vậy, Chúa Kitô không ở trong người ấy và người ấy cũng không ở trong Chúa Kitô.

“Tất cả các bí tích đều được thực hiện nhờ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” Đây là lời Thánh Tôma Aquinô viết và Carlo chép lại. Sự hy sinh của Chúa Giêsu, hiến tế tình yêu của Ngài dâng lên Chúa Cha để cứu rỗi chúng ta và cho chúng ta hạnh phúc vĩnh cửu đã thấm máu của Ngài trên thập giá, và ngày nay, tuy không đổ máu nhưng hiến tế vẫn tiếp tục trong thánh lễ. Và những điều tốt lành chúng ta có được là nhờ hy tế thập giá, điều tốt lành tuyệt hảo là Chúa Thánh Thần vì thế thánh lễ là trọng tâm và nguồn năng lượng cho toàn bộ cuộc sống, cho hệ thống giáo dục chúng ta. Mỗi gia đình phải hướng tới hy lễ thánh thiện: một ngày không có thánh lễ là một ngày không có nắng! Chúng ta biết mọi ân sủng đều có nguồn gốc chính từ lòng thương xót của Chúa Ba Ngôi và hy sinh của thập giá. Dấu thánh giá nhắc chúng ta về những sự thật này cách rất đơn giản, nên chúng ta phải có ý thức khi cầu nguyện, cùng nhau cầu nguyện như trong cùng một gia đình: để trí thông minh của mình suy niệm về Lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu và lễ Phục sinh của chúng ta.

Chúng ta tạ ơn vì tất cả những hồng ân Thiên Chúa ban cho chúng ta, bắt đầu từ việc Ngài hiến thân trong các bí tích khác nhau.

Marta An Nguyễn dịch

Sự can dự của cha mẹ vào hành trình đức tin của Chân phước Carlo Acutis

Sự can dự của cha mẹ vào hành trình đức tin của Chân phước Carlo Acutis

Bà Antonia (mẹ Carlo), ông Rajesh, ông Andrea (cha của Carlo) và Carlo Acutis

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Antonia và Andréa, ông bà xác nhận Carlo đã có ảnh hưởng trên ông bà. Nhưng chắc chắn ông bà cũng mang đến cho Carlo một điều gì đó. Con đường tin vào Chúa Kitô không bao giờ đơn độc, đó là hành trình mà mọi người cùng nhau thực hiện. Là cha mẹ, ông bà can dự như thế nào vào hành trình này?

Có lẽ hình ảnh mô tả đúng nhất cho hành trình này là thẩm thấu: chúng tôi nhận và chúng tôi cho. Tất cả diễn ra một cách nhẹ nhàng, không gượng ép, vui vẻ, nhiệt tình, giản dị và yêu thương nhau.

Nhìn lại, chúng tôi nhận ra đi hành hương là yếu tố giúp chúng tôi phát triển trên con đường thiêng liêng. Chúng tôi đi rất nhiều, nhưng chúng tôi chỉ có thể nhớ lại một số. Chẳng hạn lần đi Paris, một thành phố thanh lịch có rất nhiều viện bảo tàng và rất nhiều chứng từ đức tin. Ở Rue du Bac, chúng tôi đến nhà của các Nữ Tử Bác Ái, nơi Thánh Vinh Sơn Phaolô và Thánh Catarina Labourê được chôn ở đó. Năm 1830 Đức Mẹ hiện ra với Thánh Catarina, Đức Mẹ cho Catarina xem tấm ảnh phép lạ có dòng chữ: “Ôi Đức Maria vô nhiễm, xin cầu cho chúng con là kẻ chạy đến cùng Mẹ.” Ở phía sau là cây thánh giá khắc chữ “M”, ở phía dưới có hai trái tim, một trái tim Thánh Tâm Chúa Giêsu đội mũ gai, trái tim kia bị đâm bằng gươm là Trái tim Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Và Catarina đã nghe những lời này: “Con làm tượng theo mẫu này. Ai tin và mang tượng này sẽ nhận được ơn lớn lao.” Biết được chi tiết này, Carlo nhận xét: “Qua tấm ảnh này, Chúa muốn nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt của Đức Mẹ trong công cuộc cứu rỗi. Ngoài việc Mẹ là trung gian của mọi ân sủng, Chúa còn muốn nói với chúng ta, Mẹ đồng công cứu chuộc nhân loại: chữ “M” của Đức Mẹ giao nhau với chữ “I” của Chúa Giêsu trên thập giá, có nghĩa Đức Mẹ gắn với hy tế cứu chuộc của Chúa Giêsu.”

Chúng tôi đến thăm một nhà thờ ở Đường Des Archives, tại đây, Phục sinh năm 1290 đã có một phép lạ Thánh Thể xảy ra: một người không tin, người này ghét đức tin công giáo và không tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, họ nhận Mình Thánh Chúa và xúc phạm, họ dùng dao chém nhiều nhát rồi vứt vào nước sôi. Nhưng bánh thánh tự đứng dậy trước mặt kẻ phạm thượng, ông quá hoảng sợ. Sau đó, một phụ nữ sasan đem bánh thánh cất vào chén và đem ngay đến cho linh mục quản xứ. Tin tức lan nhanh khắp Paris, đến nỗi giám mục, nhà vua và người dân quyết định biến ngôi nhà của người phạm thượng thành nhà nguyện để lưu giữ bánh thánh.

Chúng tôi cũng có chuyến hành hương đi Tây Ban Nha năm 2005. Chúng tôi ghi tên cho Carlo học trường trung học Lêô XIII ở Milan do các cha Dòng Tên thành lập. Vì vậy, chúng tôi muốn đi Manresa ở Catalonia, nơi Thánh I-Nhã sống 11 năm và đã trở lại ở đây: từ một kỵ sĩ quý tộc tính khí nóng nảy, ngài thành người bạn thân tình, nhiệt tình làm tông đồ cho Chúa. Và chính tại Manresa, ngài viết các Bài tập Linh thao, chia sẻ cảm nghiệm được giải thoát và cứu rỗi trong cuộc gặp với Chúa Giêsu. Chúng tôi cũng đến Đền thánh Đức Mẹ Montserrat của các tu sĩ dòng Biển Đức, tại đây, ngày 24 tháng 3 năm 1522, Thánh I-Nhã đã bỏ gươm và dao găm trên bàn thờ Đức Mẹ, khoác áo hành hương lên đường, như dấu hiệu cho cuộc sống mới của ngài là môn đệ của Chúa Giêsu.

Sau đó chúng tôi đến Barcelona. Carlo vô cùng ngạc nhiên khi thấy vương cung thánh đường Sagrada Familia do kiến trúc sư Antoni Gaudf xây. Trong sổ tay hành trình, Carlo viết: “Tính độc đáo là trở lại với nguồn gốc, là Thiên Chúa… Sự sáng tạo tiếp tục không ngừng qua trung gian con người. Con người không sáng tạo nhưng khám phá và bắt đầu từ những khám phá này. Những ai tìm kiếm quy luật tự nhiên để tạo ra tác phẩm mới là những người cộng tác với Đấng Tạo Hóa; những người sao chép không cộng tác. Đó là lý do vì sao tính nguyên bản bao gồm việc quay trở lại với điểm gốc.”

Trước khi bắt đầu những chuyến hành hương này, chúng tôi đọc và ghi lại những nơi chúng tôi muốn đến thăm. Chúng tôi đã học một điều gì đó về cuộc đời của chân phước Gaudi và những thành tựu quan trọng của ngài. Vương cung thánh đường Sagrada Familia được xây dựng để “đánh thức những trái tim nguội lạnh đang ngủ quên, khơi dậy đức tin và mang lại sự ấm áp cho lòng bác ái”: đây là những gì chúng ta có thể đọc trong Đạo luật chính thức về việc đặt viên đá đầu tiên xây đền thờ ngày 19 tháng 3 năm 1882 . Khi biết đang mở án phong thánh cho Gaudi, Carlo cầu nguyện xin Gaudi cầu bàu với Chúa Giêsu, tôn vinh Chúa Giêsu, Đấng thực sự hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, để Ngài là của ăn thức uống cho chúng ta.

Lộ Đức là nơi hành hương quan trọng. Khi Carlo đứng trước hang đá Massabielle, Carlo dâng mình cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ, lập lại lời hứa lần hạt Mân Côi mỗi ngày. Sau khi uống nước tại hang đá Đức Mẹ, Carlo tiếp tục cầu nguyện hơn một giờ. Sau đó chúng tôi đến thăm ngôi nhà khiêm tốn của Bernadette ở Moulin de Boly. Đọc chuyện Đức Mẹ hiện ra và thông điệp Đức Mẹ nhắn với Bernadette với lời xin Bernadette hy sinh, Mẹ sẽ không cho Bernadette có hạnh phúc ở đời này nhưng ở đời sau, Mẹ lặp lại thông điệp này ba lần: “Sám hối! Sám hối! Hãy ăn năn sám hối!”, Mẹ kêu gọi mọi người lần chuỗi Mân Côi, Carlo hưởng ứng việc Đức Mẹ kêu gọi cầu nguyện, ăn năn sám hối và hy sinh cho người khác. Khi về Ý, Carlo giải thích với các bạn tầm quan trọng của các cuộc hiện ra năm 1858. Carlo xúc động trước kinh nghiệm của Bernadette, cô gái trẻ nghèo khổ mù chữ được Chúa và Đức Mẹ chọn vì đơn sơ và khiêm tốn. Trong lần hiện ra ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ cho Bernadette biết, Mẹ là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Bernadette hoàn toàn không biết ý nghĩa của tên này, cũng không biết bốn năm trước đó, Đức Piô IX đã công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Carlo viết trong ghi chú của mình:

Mẹ Thiên Chúa. Sinh vật được nâng lên đến vô cùng. Khi hiến mình và phó mình vào Thiên Chúa, Mẹ biết mình là Mẹ Thiên Chúa. Từ nay trở đi, một người trong chúng ta được nâng lên, được thăng hoa lên: Mẹ Thiên Chúa: ba chữ, một bài thơ. Vũ trụ đã rung chuyển, đã quan tâm đến Mẹ. Trên thiên đàng cũng vậy, các Tổng lãnh thiên thần, các Thiên thần, các Vương quốc, các Quyền lực, các thiên thần Cherubim, Seraphim đã nhận thức được sự kiện này. Chúng ta là những người hời hợt và ngu xuẩn. Chúng ta phải cảm nhận được chúng ta ở trong hạnh phúc này. Mẹ được gìn giữ khỏi tội tổ tông, được Chúa Cha bảo vệ, được làm Mẹ nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, Mẹ là một người trong chúng ta. Chúng ta không thể nói “Mẹ Thiên Chúa” hời hợt theo thói quen. Chúng ta phải suy nghĩ về mặt thần học, thiêng liêng về vai trò của Mẹ. Mẹ Thiên Chúa ở với loài người. Vô hạn ở với hữu hạn. Vĩnh cửu với thời gian. Tạo Hóa với tạo vật.

Hàng năm, vào tháng 8 và tháng 9, khi chúng tôi ở với ông bà nội ở Santa Margherita Ligure, chúng tôi luôn đi hành hương đến đền thánh Đức Mẹ Montalegro. Năm 1597, Đức Mẹ đã hiện ra với Giovanni Chichizola. Mẹ cho biết Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, và xin ông xây xây thánh đường nơi có nguồn nước phép lạ. Chúng tôi đi hành hương ở đây năm 2006. Carlo nói với chúng tôi, Carlo cầu nguyện với Đức Mẹ xin được lên thiên đàng mà không phải qua luyện ngục. Cầu thang dẫn lên thánh đường rất đông, trong số những người chờ lên cầu thang có những người khuyết tật nặng, Carlo giúp họ lên cầu thang. Chúng tôi lấy vài chiếc chai rỗng đến suối múc nước vào chai. Carlo nói với chúng tôi: “Điều quan trọng là mình tận dụng các món quà của thiên đàng vì tất cả những món quà miễn phí này đều hữu ích để tiến bộ trên con đường thiêng liêng, để trưởng thành, để chúng ta được nâng đỡ chống lại những lỗi lầm và yếu điểm của mình.”

Cũng vậy, hàng năm, khi chúng tôi đi nghỉ ở Cilento, chúng tôi luôn đến đền thánh Đức Mẹ Pompeii. Carlo rất yêu nơi này. Tại đây khi 4 tuổi, Carlo đã hiến mình cho Đức Maria. Carlo kính mến Chân phước Bartolo Longo, một luật sư nổi tiếng ở tòa án Naples, là người cổ vũ quốc tế cho việc lần hạt Mân Côi.

Mùa hè năm 2006, chúng tôi đến Bồ Đào Nha, chúng tôi muốn đến Fatima. Nhưng chúng tôi đến Santarem ở Bồ Đào Nha trước, nơi đang kỷ niệm các phép lạ Thánh Thể. Năm 1247, một phụ nữ trẻ trong cơn ghen chồng đã nhờ đến một bà phù thủy. Bà đòi phải lấy trộm Mình Thánh Chúa mang đến cho bà để bà làm bùa yêu. Và người phụ nữ lấy trộm Mình Thánh bọc trong tấm vải lanh. Vải thấm máu. Người phụ nữ chạy về nhà, mở tấm vải ra và thấy máu đang chảy từ Mình Thánh. Quá sợ hãi và bối rối, bà giấu tất cả vào ngăn kéo trong phòng ngủ. Sau đó có những tia sáng mạnh mẽ bắt đầu lóe ra. Người chồng thấy hiện tượng này và nói với linh mục, linh mục đến nhà xem, mang bánh thánh về nhà thờ San Stefano. Mình Thánh được giữ trong hộp bằng sáp ong và tiếp tục chảy máu trong ba ngày. Nhiều năm sau, năm 1340 có phép lạ thứ hai, một linh mục mở Nhà Tạm và thấy hộp đựng Mình Thánh bằng sáp bị vỡ, thay vào đó là bình pha lê chứa máu của Mình Thánh trộn với sáp.

Sau khi dừng chân ở Santarem, chúng tôi lên đường đi Fatima. Đến đó, chúng tôi được một người bạn nữ tu và cha Luis Kondor hướng dẫn, lúc đó cha là cáo thỉnh viên án phong chân phước cho Phanxicô và Jacinta Marto. Cha cho chúng tôi xem các hình ảnh và kể cho chúng tôi biết nhiều tình tiết liên quan đến các lần Đức Mẹ hiện ra cho ba trẻ mục đồng năm 1917, khi đó Jacinta 7 tuổi, Phanxicô 9 tuổi và Lucia 10 tuổi. Trong những lần hiện ra, Đức Mẹ nói với các em: “Các con lần hạt Mân Côi mỗi ngày để xin chấm dứt chiến tranh và cho thế giới hòa bình.” Lucia sau này là nữ tu Dòng Kín Cát Minh cho biết: “Nhờ quyền năng Chúa Cha ban cho Kinh Mân Côi, không còn bất kỳ vấn đề cá nhân, gia đình, quốc gia hay quốc tế nào mà Kinh Mân Côi không thể giải quyết được.”

Carlo nói: “Tại Fatima, từ đầu đến cuối, Đức Trinh Nữ Maria mạc khải cho chúng ta ý nghĩa trọn vẹn mà tình yêu Ba Ngôi Cực Thánh đã nuôi dưỡng mỗi chúng ta và lòng thương xót mà Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria.”

Tại Fatima, tất cả đều giúp chúng tôi có được trải nghiệm cụ thể, trực tiếp về Thiên Chúa. Carlo đã rất ấn tượng khi biết trong lần hiện ra ngày 13 tháng 5 năm 1917, Đức Mẹ đã hỏi các mục đồng: “Các con có dâng mình cho Thiên Chúa để chịu đựng mọi đau khổ Ngài sẽ gởi đến cho các con, như hành động đền tạ cho những những tội lỗi mà nhân loại xúc phạm đến Ngài, xin cho người tội lỗi được ăn năn trở lại không?” Ba trẻ mục đồng đều trả lời: “Có, chúng con dâng mình.” Các em kể: “Sau đó Đức Mẹ mở tay ra và truyền cho chúng con một ánh sáng rất mạnh, giống như một phản chiếu từ lồng ngực Mẹ qua chúng con làm cho chúng con cảm thấy mình ở trong Chúa, Đấng là Ánh sáng, rõ ràng hơn những gì chúng con có thể thấy trong tấm gương tốt nhất. Sau đó, dưới tác động của một thúc đẩy bên trong truyền đến chúng con, chúng con quỳ xuống và tự đáy lòng, chúng con thốt lên: “Ôi! Lạy Chúa Ba Ngôi, chúng con tôn thờ Chúa. Lạy Thiên Chúa của chúng con, lạy Thiên Chúa của chúng con, chúng con yêu mến Chúa trong Bí Tích Cực Thánh.” Sau đó Đức Mẹ xin ba trẻ lắng nghe những gì Chúa Giêsu đã dạy: “Ai muốn theo Ta phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống. Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?”  (Lc 9, 23-25).

Carlo say sưa với khía cạnh thần bí của những lần Đức Mẹ hiện ra và giáo huấn của Fatima. Carlo nhắc lại lời cầu nguyện của ba trẻ: “Lạy Chúa, con tin, con thờ lạy, con hy vọng và con yêu mến Chúa. Con xin Chúa tha thứ cho những ai không tin, không thờ phượng, không hy vọng và không yêu mến Chúa”, rõ ràng Carlo muốn nói đến ba nhân đức đối thần, đức tin, đức cậy và đức mến là trụ cột của bí tích Thánh Thể. Tại Fatima, Thiên Chúa ở trọng tâm, con người rõ ràng được mời gọi để kính thờ và yêu mến Ngài. Thông điệp Fatima là thông điệp hy vọng, Mẹ đã nói trong lần Đức Mẹ hiện ra lần chót: “Cuối cùng, Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ sẽ chiến thắng.” Đức Mẹ cho Lucia biết Jacinta và Phanxicô sẽ lên thiên đàng sớm, còn Lucia sẽ sống rất lâu trên trái đất để phát triển lòng tôn kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ. Lucia luôn nói với cha giải tội: “Lời hứa với Đức Mẹ luôn làm con tràn ngập niềm vui: Mẹ sẽ không bao giờ để các con cô đơn. Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ sẽ là nơi nương tựa và là con đường dẫn các con đến với Thiên Chúa.”

Carlo đã nhiều lần long trọng thánh hiến mình cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria. Mỗi ngày Carlo đều lặp lại lời hứa: “Lạy Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria, con hiến dâng trọn vẹn bản thân con cho Mẹ, mãi mãi, cùng với tất cả những người thân yêu của con.”

Chúng tôi có thể nhắc lại nhiều kỷ niệm, nhưng chúng tôi chỉ nói đến những khía cạnh nổi bật trong sự tiến triển đức tin của cả ba chúng tôi. Chúng tôi tổ chức các chuyến hành hương, đọc lịch sử các địa điểm và lịch sử của những người đã đóng góp vào việc xây dựng các nơi hành hương. Sau đó, trên đường đi, chúng tôi cùng nhau cầu nguyện trong xe. Đến nơi, chúng tôi xưng tội và dự thánh lễ, đồng thời đề ra những giải pháp cụ thể cho cuộc đời mình. Sau đó, chúng tôi nhớ lại những câu chuyện đã đọc, tìm những địa điểm được mô tả ở đó. Và khi có thể, chúng tôi cố gắng gặp những người có thể nói chứng từ về những gì đã xảy ra tại thánh đường và về những phép lạ xảy ra ở đó. Đó là những gì chúng tôi đã làm ở Bồ Đào Nha và Fatima.

Carlo chụp rất nhiều ảnh, ghi âm, thu thập tài liệu để làm các cuộc triển lãm. Đây là những kinh nghiệm về sự hiệp thông thiêng liêng sâu sắc, phục vụ cho việc xây dựng một đời sống thiêng liêng. Chúng ta sẽ không bao giờ quên những hàng nến dài ở Lộ Đức, chạng vạng tối, hàng dài nến được thắp sáng ở  bờ sông Gave. Nến tỏa sáng để nói lên hy vọng, đau khổ, lo lắng, đức tin sống động của nhiều người thành tâm đến đây cầu nguyện. Và chúng tôi cũng cùng nhau đốt nến.

Marta An Nguyễn dịch

 

Kamala Harris: chiến dịch tranh cử mang lại niềm vui

Kamala Harris: chiến dịch tranh cử mang lại niềm vui

Bà Kathleen Bonnette, giáo sư thần học làm việc tại Trung tâm Đức tin và Công lý tại Đại học Georgetown. Bà là tác giả quyển Hy vọng tiến hóa: Con đường tâm linh của gặp gỡ và gắn kết trong một thế giới đang phát triển ((R)evolutionary Hope: A Spirituality of Encounter and Engagement in an Evolving World)

Bà Kathleen Bonnette tuyên bố: chiến dịch tranh cử của bà Kamala Harris mang lại niềm vui, là phụ nữ công giáo, tôi cảm nhận được điều này.

americamagazine.org, Kathleen Bonnette, 2024-08-23

Ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ và Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris trên bục của Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ tại United Center ở Chicago ngày 1 tháng 8-2024. Ảnh OSV News/Brendan Mcdermid Reuters

Tại Đại hội toàn quốc của Đảng Dân chủ và trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống, bà Kamala Harris nói niềm vui và hy vọng luôn cộng hưởng với nhau. Ông Doug Emhoff gọi vợ ông là “chiến binh vui vẻ”. Trong bài phát biểu trước đại hội, cựu Đệ nhất phu nhân Michelle Obama đã làm mọi người chú ý đến “sức mạnh lan tỏa của hy vọng, mong đợi, nghị lực và niềm vui khi một lần nữa đứng trước một ngày tươi sáng”. Và trong bài phát biểu nhận đề cử của Đảng, bà Harris hứa sẽ “là tổng thống của tinh thần đoàn kết ở mức cao nhất trong nguyện vọng của người dân”.

Gus Walz khóc hãnh diện chỉ vào người cha là ứng cử viên phó tổng thống Tim Walz và kêu lên: “Đây là cha tôi!”

Niềm vui và hy vọng đã trở thành sức mạnh hữu hình trong lòng các đảng viên Đảng Dân chủ – hình ảnh xúc động của Gus Walz khóc khi hãnh diện chỉ vào người cha là ứng cử viên phó tổng thống Tim Walz và kêu lên: “Đây là cha tôi!” Những giọt nước mắt chảy dài trên khuôn mặt ghi lại cảm xúc gắn kết Đảng để tìm cách đoàn kết đất nước. Tiếng cười của bà Harris đã là chủ đề chế nhạo của cựu Tổng thống Trump và những người cánh hữu khác, nhưng sự hiện diện vui vẻ và nhiệt tình của bà lại khơi dậy hy vọng. Đêm qua, bà ôm chiếc áo khoác và cho thấy sức mạnh thực sự đến từ lòng trắc ẩn và niềm vui, không đến từ thù hận và sợ hãi, theo bà: “Đừng bao giờ để ai nói cho bạn biết bạn là ai. Bạn cho họ biết bạn là ai.”

Là phụ nữ công giáo, tôi nghĩ sự chính trực là quan trọng; dân chủ là công cụ quan trọng để thể hiện phẩm giá con người; các hệ thống dựa trên bóc lột hoặc loại trừ là không công bằng, không bền vững; chỉ có đứng đắn chính trực và lòng tốt là những yếu tố quan trọng của khả năng lãnh đạo.

Lời thề của bà Harris “sẽ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản thiêng liêng của nước Mỹ, từ pháp quyền, bầu cử tự do và công bằng, đến chuyển giao quyền lực một cách hòa bình,” và cam kết của bà trong việc thúc đẩy lợi ích chung – quyền của người di cư, của người LGBT, của phụ nữ và các cộng đồng bị gạt ra ngoài lề xã hội là liều thuốc an ủi khi những điều này gặp nguy hiểm. Dĩ nhiên là nhiều người công giáo thất vọng vì bà bảo vệ quyền phá thai, nhưng tôi biết ơn vì bà sẵn lòng tin tưởng phụ nữ. Những niềm tin này bắt nguồn từ đức tin công giáo của tôi, và thật vui khi nghe một ứng cử viên tổng thống phát biểu với tấm lòng trắc ẩn.

Tuy nhiên tôi nhận ra 60% người công giáo da trắng (nói chung là 50%) nghĩ khác, họ đồng nhất với Đảng Cộng hòa. Niềm tin của họ cũng phát triển từ đức tin của họ. Như tôi đã trình bày trong quyển sách Hy vọng tiến hóa, chúng ta thường bị cám dỗ “chọn phe và hy vọng phe mình sẽ thắng vì lợi ích của giáo hội”.

Nhưng công lý chỉ có thể thực hiện được qua việc chuyển đổi ý thức, thúc đẩy chúng ta làm việc vì lợi ích chung với lòng trắc ẩn chứ không bằng tức giận, sợ hãi hay mong muốn thống trị “người khác”. Đức Phanxicô nói lên quan điểm này một cách rõ ràng: “Không gia đình nào, không nhóm hàng xóm nào, không nhóm sắc tộc nào, không quốc gia nào có tương lai nếu sức mạnh đoàn kết họ, tập hợp họ để giải quyết những khác biệt của họ là sự trả thù và hận thù.… Không có gì như vậy, nếu đạt được bằng cách này thì cuối cùng mọi thứ sẽ bị mất đi.” Nói cách khác, sự báo thù và bất bình là những động cơ thúc đẩy hư vô, chúng có thể làm chúng ta xúc động lúc này, nhưng chúng ta cần đặt mình vào niềm vui và lòng biết ơn nếu muốn chúng ta muốn có đoàn kết và hòa bình.

Việc xây dựng một thế giới như chúng ta mong muốn phụ thuộc vào việc chúng ta sẵn sàng cảm thông lắng nghe người khác, đặc biệt với những người bị gạt ra ngoài lề xã hội nhất, cũng như việc nuôi dưỡng các mối quan hệ với những cộng đồng nhằm nâng đỡ mọi người. Như cựu Tổng thống Barack Obama đã nói vào tối thứ ba: “Chúng ta cần nhớ tất cả chúng ta đều có những điểm mù, những mâu thuẫn và thành kiến. Và nếu chúng ta muốn thu phục những người chưa sẵn sàng hỗ trợ các ứng cử viên của chúng ta, chúng ta cần lắng nghe mối quan tâm của họ và có thể học được điều gì đó trong quá trình này.”

Trong một thế giới kết nối với nhau, các khuôn mẫu không phù hợp với thực tế nhưng quan trọng chúng ta phải liên tục kiểm tra bản thân để đảm bảo những gì chúng ta đang xây dựng không tái tạo lại các hệ thống thống trị vật chất, mang tính cá nhân vốn có tính hủy diệt và không mang lại sự sống. Chúng ta phải tìm cách xây dựng mà không phá hủy. Như bà Harris nhấn mạnh, “sự tổn hại với bất cứ ai trong chúng ta là sự tổn hại cho tất cả chúng ta” và “không ai trong chúng ta phải thất bại để chúng ta thành công”. Chúng ta có thể tìm thấy niềm vui khi đón nhận sự kết nối này.

Trong cuộc bầu cử này, như bà Harris đã nói, đất nước chúng ta “có một cơ hội quý giá để vượt qua những trận chiến cay đắng, hoài nghi và chia rẽ trong quá khứ, một cơ hội để vạch ra một con đường mới về phía trước… được hướng dẫn bởi lạc quan và đức tin.” Tôi hy vọng người công giáo sẽ chọn hải đăng là niềm hy vọng sống trong sứ mệnh Tin Mừng và mang lại khuyến khích như Đức Phanxicô đã nói: “Niềm vui sinh ra từ lòng trắc ẩn, tình yêu dịu dàng sinh ra từ tin tưởng, khả năng hòa giải bắt nguồn từ việc chúng ta hiểu chúng ta đã được tha thứ và được sai đi.” Một cách để nhận biết liệu chúng ta có phù hợp với tình yêu của Chúa hay không là xem chúng ta có tham dự vào một phong trào gợi lên trong chúng ta Hoa Quả của Chúa Thánh Thần hay không, kể cả niềm vui.

Marta An Nguyễn dịch

Bầu cử tổng thống Mỹ 2024: Tại Chicago, đảng viên Đảng Dân chủ là những người có đức tin

Kamala Harris, niềm hy vọng cho nền dân chủ

Kamala Harris, tầm nhìn hướng về tương lai của Hoa Kỳ

Kamala Harris, tầm nhìn hướng về tương lai của Hoa Kỳ

Kamala Harris, tầm nhìn hướng về tương lai của Hoa Kỳ

Là ứng cử viên chính thức được chỉ định của Đảng Dân chủ, phó tổng thống hiện tại mang lại hy vọng cho Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử tháng 11 năm 2024. Được các cuộc thăm dò hứa hẹn, bà Kamala Harris đang nghiên cứu các biện pháp cụ thể có lợi cho tầng lớp trung lưu.

lavie.fr, Henrik Lindell, 2024-08-21

Bà Kamala Harris tại đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago ngày 19 tháng 8. REUTERS/MIKE SEGAR

Chúng ta sẽ không đi lui”. Đó là khẩu hiệu tạo nên tiếng vang cho chiến dịch tranh cử của bà Kamala Harris. Một quan điểm ngược với câu nói hoài cổ “Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại” của Donald Trump. Trong hai tuần nay, câu khẩu hiệu của bà Kamala Harris vang lên trong các cuộc biểu tình, đó là lời kêu gọi thống nhất trong Đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ ở Chicago từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 8 năm 2024.

Sau khi Tổng thống Joe Biden bất ngờ tuyên bố không ứng cử ngày 21 tháng 7, đảng Dân chủ đã chính thức đề cử bà Kamala Harris làm ứng viên tổng thống. Trong một Đảng thường bị chia rẽ giữa những người cấp tiến và ôn hòa, bà gần như được mọi người ủng hộ từ Bill và Hillary Clinton đến Barack Obama.

Ông Joe Biden rất xúc động trong bài phát biểu dài vào ngày đầu tiên của Đại hội, đã trao ngọn đuốc tượng trưng cho bà.

Bầu cử tổng thống Mỹ 2024: Tại Chicago, đảng viên Đảng Dân chủ là những người có đức tin

Kamala Harris: chiến dịch tranh cử mang lại niềm vui

Kamala Harris, niềm hy vọng cho nền dân chủ

 

Lời của Chân phước Carlo Acutis nói về Bí tích Thánh Thể

Lời của Chân phước Carlo Acutis nói về Bí tích Thánh Thể

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

“Thánh Thể là con đường đưa con lên thiên đàng”, câu nói này của Carlo đã đi khắp thế giới. Ông bà có nhớ Carlo nói điều gì khác về Bí tích Thánh Thể không?”

Carlo rất yêu và thường xuyên nói về Bí tích Thánh Thể: “Không có bảy bí tích, chỉ có sáu bí tích cộng một. Sáu bí tích cho và ban ân sủng. Còn Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch của các ân sủng này. Vì vậy, ‘trong, với và qua Bí tích Thánh Thể’ chúng ta càng đến gần thì chúng ta càng có nhiều ân sủng. Tất cả lời cầu nguyện, tuần cửu nhật, các cuộc hành hương, các tuần lễ cầu nguyện cho hiệp nhất Kitô giáo mà không có Bí tích Thánh Thể thì chỉ là những việc làm trống rỗng.

Với những lời đơn giản và quen thuộc này, Carlo giống Thánh Tôma Aquinô, ngài đã nói: “Bí tích Thánh Thể là mục đích và thành tựu của tất cả các bí tích, (…) tất cả các bí tích khác đều quy về cùng đích là Bí tích Thánh Thể. Thánh hóa các bí tích khác là chuẩn bị để nhận, để thánh hiến Bí tích Thánh Thể.”

Vì thế để nhận được nhiều ân sủng hơn, chúng ta phải siêng năng lãnh nhận bí tích Thánh Thể.

Mỗi người phải tự điều chỉnh để hiệp thông, có nghĩa phải cố gắng hoàn thiện bản thân mỗi ngày. Như thế nào? Bằng cách xóa hết lỗi này đến lỗi khác và chinh phục từng đức tính này đến đức tính khác. Đó là toàn bộ bí mật. Nếu 951 năm đã trôi qua kể từ cuộc ly giáo ở phương Đông và 488 năm kể từ cuộc nổi dậy của đạo tin lành thì tất cả những điều này xảy ra là do chúng ta đã nghiên cứu quá nhiều lịch sử và thần học, nhưng chúng ta đã không cố gắng để nên thánh.

Mục đích tốt lành ân sủng Thiên Chúa là để giáo dân của ba tôn giáo đơn thần cảm thấy mình được hướng đến hiệp nhất. Đời sống hàng ngày của người tín hữu kitô chủ yếu tích lũy, tận dụng các ơn này. Mọi thứ khác chỉ là bổ sung, là đóng góp nếu chúng ta muốn, nhưng không có gì hơn thế.

Carlo nói, biết kính thờ Thánh Thể thì chúng ta tìm thấy toàn bộ tạo vật trong đó. Mỗi ngày Carlo chầu Thánh Thể ít nhất nửa giờ và giữ các điều kiện Giáo hội đặt ra để nhận ơn toàn xá, mang lợi ích cho mình, cho người khác, cho những người còn ở trong luyện ngục.

Carlo nói với chúng tôi, dù không thuận tiện để hội đủ điều kiện nhận ơn toàn xá nhưng chúng ta tin vào lời quyền năng của Chúa Giêsu nói trong Phúc âm Thánh Mát-thêu (28, 20): “Và Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế.”

Với Carlo, ở “với các con” là cùng sống chung, là cùng chia sẻ, cùng vui vẻ hợp tác, cùng lập kế hoạch, tương tác, hòa hợp trong tổ chức, cùng hỏi đáp, phối hợp hoạt động, cùng phát triển ý tưởng, cùng theo đuổi lý tưởng, cùng sống chung các giá trị, cùng bảo vệ các giá trị, cùng cải thiện. “Ở cùng anh chị em” là mọi người cùng ở nhà tạm. “Ở cùng anh chị em” là cùng ở trong một cuộc sống. Bằng cách đứng trước nhà tạm, hiểu nhà tạm là gì, để cuối cùng ở cùng nhau trong nhà tạm. Chương trình Ba Ngôi với hữu thể có ý nghĩa rất rõ ràng: nâng chúng ta lên trạng thái siêu nhiên, nhận chúng ta là con để có di sản đời đời. Thiên Chúa đã nói với ông Môsê: “Ta sẽ ở cùng các ngươi” (Xh 3:12) và Chúa Giêsu Kitô nhắc lại điều này với mỗi chúng ta, những người đã được rửa tội và sống theo Tin Mừng của Ngài.

Carlo tin chắc về tất cả những điều này, Carlo đi lễ, chầu Mình Thánh để gặp Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể.

Trong số các ghi chép của Carlo, chúng tôi tìm thấy những dòng sau – chúng tôi không biết đây là từ các bài Carlo nghe hay từ suy nghĩ riêng của Carlo – tất cả đều tập trung vào sự thật, trong suốt 2.000 năm, Thiên Chúa Ba Ngôi ngự giữa chúng ta:

“Và Ngôi Lời đã làm người… kết hợp nhân tính và thiên tính trong một Ngôi Thiên Chúa duy nhất và ở giữa chúng ta” (Ga 1:14). Nhưng ở đây chúng ta không nên hiểu chữ “ở” theo nghĩa thông thường là có một chỗ ở trên trái đất vì nó làm giản lược mọi sự. Động từ cư trú trong tiếng la-tinh là habere, có nghĩa là có, là nắm giữ, là thường xuyên, sở hữu, thánh hóa, đồng hóa, là tự nhiên, là kết hợp… vì thế chúng ta dùng câu “Ngài ở giữa chúng ta” với một nghĩa rộng hơn, đầy đủ hơn. Chúa Giêsu mặc lấy bản tính con người và làm người, Ngài xuống thế không phải là người ngoài hành tinh xuống trái đất, nhưng là “Đấng” ngự bên ngoài thời gian và không gian, cùng với thiên nhiên bước vào thời gian và không gian. Chúng ta được bao bọc, được đồng hóa, được tạo ra một cách tự nhiên để kết nghĩa với nhau. Như Thánh Phaolô nói, nhờ điều này Chúa Giêsu là “Tất cả trong tất cả” (Cl 3, 11), Ngài mang lấy thực tại đích thực, bản chất đích thực của hành tinh; Trái đất này là một phần của sự sáng tạo, của vũ trụ.

Trước khi Nhập Thể, nhân loại là tù nhân của lỗi lầm từ nguyên thủy và trong hiện tại, qua nhiều thế kỷ đã đi vào vực thẳm không thể dò thấu, không thể vượt qua. Nhưng, tại một thời điểm, “tình yêu” đã chiến thắng “công lý”, “lòng thương xót” đã chiến thắng “nỗi đau”; tội lỗi đã bị Chúa Nhập Thể đánh bại… Hành tinh này đã nhìn thấy nơi Chúa, trong suốt một thế hệ, nhân vị Ngôi Ba Chí Thánh, nhập thể hơn hai mươi thế kỷ đã không còn như trước nữa. Có lẽ về các mặt thiên văn, khoa học, địa chất, hành tinh vẫn như trước đây, nhưng theo quan điểm Tin Mừng về Nhập Thể, hành tinh không còn là hành tinh của thời trước nhưng là hành tinh được vĩnh cửu bao bọc trong một thiết kế thiêng liêng mà chúng ta thực sự đã đắm chìm trong đó suốt 21 thế kỷ. Chúng ta phải xem “nơi ở” này là nơi ở của Chúa Giêsu trên hành tinh, Đấng ngày nay vẫn hiện diện trong Bí tích Thánh Thể, cũng như trong đức tin chúng ta. Và vì vậy Ngài bước đi giữa chúng ta, Ngài sống giữa chúng ta, Ngài chia sẻ cuộc sống hàng ngày của chúng ta trong đức tin, trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta phải xem Bí tích Thánh Thể là Chúa Kitô ở lại trên hành tinh này, Chúa Giêsu ở giữa chúng ta, với chúng ta và trong chúng ta.

Và bây giờ Bí tích Thánh Thể, một “Nhập Thể thứ hai” thực sự trở thành bí tích, không phải bí tích theo quan điểm nghi lễ, mà theo quan điểm siêu nhiên. Vì thế khi chúng ta rước lễ, Chúa Giêsu dừng lại trong chúng ta mười lăm phút, ẩn mình trong bánh và rượu, Ngài hiện diện một cách thực sự, Ngài thực sự sống trong chúng ta, theo nghĩa tôi đã nói trước đó, chia sẻ cuộc sống hàng ngày với chúng ta, sau khi bánh và rượu đã phân hủy, qua ân sủng của Ngài, Ngài tiếp tục ở trong chúng ta. Và chúng ta là nhà của Ngài, nơi ở của Ngài, qua đó Chúa Giêsu hiện diện, sống động và chân thật, không chỉ là sự kiện đức tin, một sự kiện “bí tích” mà còn là một sự thật về “Sự Sống”! Đến nỗi Chúa Giêsu ở với tôi và tôi ở với Ngài như một sự thật cực kỳ riêng tư và cá nhân. Sự tiếp xúc trực tiếp giữa Chúa Giêsu và tôi qua Bí tích Thánh Thể và đức tin. Khi Chúa Giêsu xuống thế, như Thánh Phaolô giải thích, Ngài là toàn bộ cõi vĩnh hằng, toàn thể nhân loại. Nhân loại trước Ngài, nhân loại với Ngài, nhân loại sau Ngài. Đây là ý nghĩa của sự sống. Chúa Giêsu khi sống theo nghĩa này, đã tóm tắt trong chính Ngài ngày này qua ngày khác, giờ này qua giờ khác, toàn thể nhân loại, theo mọi nghĩa… Chúng ta đứng trước một phép lạ làm chúng ta ngạc nhiên, đó là phép lạ cứu chuộc, phép lạ cuộc đời Chúa Giêsu với chúng ta, Đấng tóm tắt toàn thể nhân loại trong Ngài, là Đấng Cứu Chuộc, Đấng Cứu Độ, Đấng Thánh Hóa mỗi chúng ta.

Carlo thường nói: “Qua Bí tích Thánh Thể, chúng ta sẽ được biến đổi thành Tình yêu”. Như bánh và rượu qua việc truyền phép, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, trở thành Mình và Máu Chúa Giêsu, chúng ta cũng sẽ được “biến đổi bản thể” trong Chúa Kitô. Chính Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta: “Ta là bánh sự sống” (Ga 6:35); “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống” (Ga 6:51). Ngài nhắc lại một cách đầy uy quyền: “Không phải ông Môsê đã cho các ông bánh từ trời; chính Cha Thầy là Đấng ban cho anh em bánh từ trời” (Ga 6:32). Chúa Giêsu là Bánh hằng sống từ trời, bánh không bao giờ hư nát, không phải manna người dân Israel ăn trong sa mạc là bánh dễ hư nát (Ga 6:31-35).

Khi Chúa Giêsu nói không phải ông Môsê ban Bánh từ trời, nhưng chính Chúa Cha ban Bánh từ trời, Ngài muốn nói đến Bí tích Thánh Thể. Công trình vĩ đại, kế hoạch uy tín, dự án phi thường của Ngài trở thành hiện thực. Chúng ta bước vào bối cảnh Bí tích Thánh Thể. Đấng từ trời xuống là cách nói cần nghiên cứu và suy niệm lại. Thiên đàng là vĩnh cửu. Chúng ta nói về sự đi xuống vì chúng ta nghĩ bầu trời là một thực thể ở trên chúng ta. Nhưng từ này chỉ đơn giản có nghĩa là “đến”, “đến” từ cõi vĩnh hằng, từ không gian bao la đến hành tinh Trái đất. Có một sự can thiệp độc đáo: Ba Ngôi Chí Thánh thiết lập sự tiếp xúc cá nhân với hữu thể có lý trí. Đó là cuộc gặp trở thành sự thật. Bánh của Thiên Chúa: bánh của Sự sống.

“Họ thưa với Ngài: Lạy Chúa, xin luôn ban bánh này cho chúng con” (Ga 6:34). Chúa Giêsu trả lời: “Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta sẽ không bao giờ đói; ai tin vào Ta sẽ không bao giờ khát” (Ga 6:35). Chúa Giêsu tuyên bố một chân lý, Ngài là “bánh hằng sống”. Mục đích của Ngài được hình thành trong lời nói của Ngài. Ngài hứa với chúng ta, Ngài là “của ăn”. Đây là sự kiện lịch sử. Câu “Ta là bánh hằng sống” có nghĩa là gánh nặng to lớn quá mức chúng ta mang đã được Chúa Kitô đảm nhận, được bản tính Thiên Chúa nâng đỡ, được Thiên Chúa làm thành của ăn để chúng ta không còn đói khát. Chúa Kitô hiện diện thực sự trong bánh và rượu. Chính bánh đã cho phép sự tồn tại chuyển sang cõi bên kia. Và Ngài nói thêm: “Nhưng Thầy đã nói với các con: các con đã thấy mà không tin” (Ga 6:36). Ngài nói họ không có đức tin. Họ chống lại Ngài khi Ngài nói những câu khó hiểu: “Ta là bánh từ trời xuống”. Họ biết gia đình Ngài, biết Mẹ Maria, biết Thánh Giuse. Ở đây chúng ta có một minh chứng quý giá về tính xác thực lịch sử của Chúa Kitô. Với họ, đó là điều phi lý, không liên quan gì đến trời đất. Họ nghe câu: “Ta là Bánh từ trời xuống.” Đó là bánh gì, bầu trời nào, xuống thế là gì? Họ thắc mắc, họ bàn thảo, họ hoang mang, họ nói bóng gió, họ lo lắng, họ bị kích động.

Chúa Giêsu bảo họ: “Các ông đừng có xầm xì với nhau! Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Amen, amen, tôi bảo các ông, ai tin thì được sự sống đời đời” (Ga 6:43-44,47). Chúa Giêsu đưa họ vào lãnh vực siêu nhiên. Ngài giải thích: “Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Bánh tôi ban chính là thịt tôi, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51). Ngài xác định rõ ý muốn của Ngài: Ngài hiến thân mình làm thức ăn của uống. Ngài không nói lý thuyết. Ngài không trốn đằng sau sự tuyệt đối. Ngài không làm phức tạp mọi thứ bằng lý luận sâu sắc. Ngài nói về manna, về sa mạc, về các người cha, về những người đã chết. Về chủ đề này, họ không thể tranh cãi với Ngài. Kinh thánh ở đó, trong nguyện đường, mọi người có thể đọc và bàn luận về Kinh Thánh. Nhưng đột nhiên, như tiếng sấm trên bầu trời thanh bình, Ngài nói Ngài là Bánh hằng sống, bảo đảm cho sự sống đời đời. Ngài nói về xác thịt Ngài ban để thế gian có sự sống. Đó là thực tế về thể chất, tâm lý và thiêng liêng của Ngài. Thực tại này là Bánh hằng sống. Bánh chúng ta ăn để sống đời đời. Nếu không thì sẽ chết vĩnh viễn. Ngài tuyên bố như ném một hòn đá lớn xuống ao: một hứa hẹn kinh ngạc. Ngài nói rõ, Ngài khẳng định bằng những lời lẽ chính xác và rõ ràng đến nỗi người do thái cãi nhau: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt của ông được?” (Ga 6:52). Họ hiểu rất rõ. Họ gần như buộc tội Ngài kích động ăn thịt người. “Thịt của Ta là để ăn”: họ tập trung vào vấn đề. Chắc chắn những lời khẳng định và tuyên bố của Chúa Giêsu không phải là những lời rõ ràng nhất. Đây là lời nói bùng nổ. Đây là cái nhìn thoáng qua của bầu trời.

Nhưng Chúa Giêsu nói với họ:

Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời (Ga 6:53-58).

Đây là sáu câu trọng tâm, sáu câu thơ siêu từ, sáu câu của thế giới bên kia, sáu câu thơ từ cõi vĩnh hằng. Ngài không nói những thuật ngữ chung chung hoặc gần đúng. Ngài không nói từ xa, Ngài không nói phỏng chừng. Ngài nói tức thì, một cách rất cụ thể, Ngài hiến thân cho chúng ta, Ngài dùng chính thân xác Ngài để nuôi sống chúng ta. Thực tại thiêng liêng và nhân bản của Ngài, Ngài ban trọn vẹn cho chúng ta. Nếu tất cả những điều này không phải là Tình yêu thì đó là gì? Chúa Giêsu thiết lập mối liên hệ rất gần gũi, rất mật thiết với Ngài. Một kết hợp của cuộc sống. Một liên kết trong tầm tay của vĩnh cửu. Chúa Giêsu và chúng ta. Chúa Giêsu ở cùng chúng ta. Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúa Giêsu ở trong chúng ta. Chúng ta thấy đây là mối quan hệ cá nhân. Tất cả chúng ta đều quan tâm đến việc cùng nhau xây dựng cuộc sống này. Thức ăn của uống cần thiết để nuôi cơ thể. Bao lâu bánh và rượu chưa tan biến thì trong chúng ta có sự hiện diện của Mình và Máu, linh hồn và thần tính của Chúa Kitô. Cơ thể chúng ta được liên kết mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và con người thật. Chúa Giêsu hứa ban sự sống đời đời cho những ai rước lễ. Ngài không nói “sẽ có” nhưng nói “có” cuộc sống vĩnh cửu. Như thế là đồng vĩnh cửu. Chúng ta rước lễ, chúng ta có sự sống đời đời.

Có được cuộc sống vĩnh cửu có nghĩa là có mọi thứ cần thiết và thiết yếu để bước vào và trở thành một phần của cuộc sống vĩnh cửu. Chúng ta đã được ghi tên trong “sổ đăng ký dân sự của bầu trời”. Theo quyền riêng của chúng ta, chúng ta là những công dân của sự chung sống vĩnh cửu. Và Ngài khẳng định: “Vì thịt Ta thật là của ăn và máu Ta thật là của uống” (Ga 6: 55). Ngài tận hiến đến cùng: “Ai ăn thịt và uống máu Ta thì ở lại trong Ta và Ta ở trong người ấy” (Ga 6: 56). Ai rước lễ là người đó tạo ra ngôi nhà. Một ngôi nhà chung. Chúng ta cùng nhau dưới một mái nhà. “Trong tôi”, “trong Ngài”: hơn cả sự chung sống, đó là sự gắn kết của các sinh vật không hòa nhập, không hòa quyện với nhau nhưng kết hiệp với nhau. Một kết hiệp không mang tính biểu tượng, không thơ mộng hay tình cảm. Vậy như thế là gì? Rõ ràng là nó không liên quan gì đến bên ngoài hay gần gũi. Đó là một thực tại chạm tới tận gốc rễ, chạm tới vực sâu, thấm nhập trong mật thiết. Chúa Giêsu muốn hiện thực hóa và thực hiện sự kết hợp này bằng cách ban Mình, Máu, linh hồn và thần tính. Và Ngài kết thúc như sau: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời” (Ga 6: 57-58). Chúa Giêsu, Đấng mạc khải Ba Ngôi, Đấng mang Ba Ngôi đến cho chúng ta trong sự hiệp nhất tuyệt đối của Ba Ngôi. Và Ngài cho chúng ta biết tên tương ứng của các ngài: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Chúa Cha tạo ra. Chúa Con được sinh ra. Chúa Thánh Thần xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con. Qua hiệp thông, chúng ta tồn tại để có sự sống. Chúa Giêsu nói về sự sống, Ngài hứa ban sự sống, Ngài ban sự sống.

Một cuộc sống như vậy chính là Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là Chúa Kitô, con người thật và Thiên Chúa thật. Bánh sự sống là Chúa Kitô. Ngài là Bánh từ trời xuống. Từ vĩnh hằng trong thời gian. Từ trời xuống đất. Đi xuống: từ trời xuống đất. Trên trời mở ra thời gian viên mãn và giao tiếp với dưới đất. Hiệp thông: truyền sự sống một cách đáng kể và liên tục vào cuộc sống. Tóm lại: thực chất Chúa Giêsu hiện diện một cách thực chất trong Mình, Máu, linh hồn và thần tính trong bánh và rượu. Công đồng Trent nói về “biến thể”. Sau khi truyền phép, tất cả những gì còn lại của bánh và rượu là phụ thể, màu sắc, mùi vị, mùi vị, số lượng. Bánh mì và rượu là khí cụ. Chúa Giêsu là bản chất.

Marta An Nguyễn dịch

Bầu cử tổng thống Mỹ 2024: Tại Chicago, đảng viên Đảng Dân chủ là những người có đức tin

Bầu cử tổng thống Mỹ 2024: Tại Chicago, đảng viên Đảng Dân chủ là những người có đức tin

Dù phá thai là một trong những chủ đề chính trong chiến dịch tranh cử, Đảng Dân chủ đang cố gắng lôi kéo các cử tri công giáo và nói chuyện với những người ngoài kitô giáo ở một quốc gia chủ yếu là kitô giáo.

la-croix.com, AFP, 2024-08-22

Các đại biểu Ohio tại đại hội Đảng Dân chủ ở Chicago ngày 20 tháng 8 năm 2024. Ron Sachs – CNP – NY Post

Bên lề đại hội Chicago kết thúc ngày thứ năm 22 tháng 8, các đảng viên Đảng Dân chủ lên tiếng: “Chúng tôi đang cố gắng thuyết phục các cử tri công giáo, họ sẽ không xuống địa ngục nếu bỏ phiếu cho đảng Dân chủ. Chúng tôi không chỉ cầu nguyện cho Kamala Harris giành chiến thắng, chúng tôi muốn các tín hữu là các cử tri.”

Tại đại hội của Đảng, các phiên họp bắt đầu và kết thúc bằng lời cầu nguyện đại kết. Ở các nơi khác trong thị trấn, các nhóm tôn giáo đang tranh giành ảnh hưởng để thu hút cử tri. Đây không phải là chiêu mộ tôn giáo nhưng thuyết phục tín hữu đi bỏ phiếu.

Hoa Kỳ là quốc gia chủ yếu theo kitô giáo và người da trắng có xu hướng đứng về phía chủ nghĩa bảo thủ.

Ông Patrick Carolan, người sáng lập nhóm Người Công giáo bỏ phiếu vì Lợi ích chung cho biết người công giáo da trắng bỏ phiếu cho ông Donald Trump đã giảm, năm 2016 ông có 65% số phiếu nhưng đến năm 2020 ông chỉ còn 50% số phiếu.

Tổ chức của ông Carolan hoạt động ở sáu hoặc bảy bang quan trọng sẽ nhấn mạnh “người công giáo không chỉ giới hạn ở việc phá thai và cử tri công giáo nên ủng hộ nhân cách của một ứng viên hơn là chỉ dừng ở vấn đề này”. Ông nói: “Chúng tôi cố gắng thuyết phục họ sẽ không xuống địa ngục nếu bỏ phiếu cho đảng Dân chủ.”

“Ma quỷ hóa”

Về phía Mạng lưới hành động của Hội đồng các tổ chức Hồi giáo Hoa Kỳ, họ có dự án nội bộ với mục đích đăng ký một triệu cử tri hồi giáo. Ông Ayoub Razick, tình nguyện viên nhấn mạnh, phải đảo ngược xu hướng tách khỏi đời sống chính trị kể từ vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 do những nghi ngờ chống lại cộng đồng hồi giáo. Ông nói: “Ngày nay kiểu quỷ hóa này vẫn tiếp tục, nhưng chúng tôi không còn như trước, chúng tôi không còn ở năm 2016 nhưng bây giờ là năm 2024, chúng tôi cố gắng cổ động người hồi giáo đi bỏ phiếu để người hồi giáo tham dự vào cuộc bầu cử này và các cuộc bầu cử trong tương lai.”

Trung tâm Bình đẳng Tư tưởng Tự do, một tổ chức bảo vệ tư tưởng tự do đang tiến hành việc bầu chọn các ứng viên cho quyền lợi của người vô thần.

Một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Tôn giáo Công cộng cho biết, năm 2023 người dân đến các nơi thờ phượng đã giảm, 1/3 số người cho rằng tôn giáo không quan trọng với họ. Ông Howard Katz, chủ tịch của tổ chức giải thích: “Chúng tôi bảo đảm với người đi bầu, chúng tôi không tìm cách biến các quy định tôn giáo thành luật, như những người theo chủ nghĩa dân tộc kitô giáo đang cố gắng làm.”

“Hãy bước đi khiêm tốn”

Khó có thể đắc cử ở Hoa Kỳ nếu không nói về tầm quan trọng của tôn giáo. Nhưng theo ông Howard Katz, ý tưởng cho rằng một người không thể đến với các trách nhiệm công cộng nếu không xác định mình là người theo đạo đang “mất dần”. Nhưng điều này không ngăn cản đảng Dân chủ nói lên đức tin ở Chicago. Bà Kamala Harris ngôi sao của tuần này là người theo đạo tin lành giáo phái Baptist, bà thường công khai nói về tôn giáo, còn ông Tim Walz liên danh với bà luôn cho biết ông theo đạo tin lành giáo phái luther ở Minnesota.

Trên bục của đại hội, các nhân vật chính của Đảng Dân chủ đều nói đến Kinh thánh, từ Nghị sĩ Nam Carolina Jim Clyburn, đến Thống đốc bang Kentucky Andy Beshear, và Thượng nghị sĩ mục sư giáo phái Baptist Raphael Warnock bang Georgia.

Ông Donald Trump đã có được sự ủng hộ của các nhóm tôn giáo, đặc biệt những người theo đạo tin lành tuy ông không phải là tín hữu. Ông bị cáo buộc đôi khi có những hành vi tôn giáo cường điệu, như năm 2020 ông tung quyển Kinh Thánh trước nhà thờ  gần Nhà Trắng sau một cuộc biểu tình bị lực lượng an ninh giải tán.

Ông Raphael Warnock nói ở Chicago: “Tôi thấy ông cầm quyển Kinh Thánh và quảng cáo nó. Như thể ông cần quyển sách này. Sách viết: ‘Thực thi công lý, yêu thương lòng thương xót và khiêm tốn bước đi với Thiên Chúa.’ Ông nên đọc lại”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Kamala Harris: chiến dịch tranh cử mang lại niềm vui

Kamala Harris, niềm hy vọng cho nền dân chủ

Kamala Harris, tầm nhìn hướng về tương lai của Hoa Kỳ

Kamala Harris, niềm hy vọng cho nền dân chủ

Kamala Harris, niềm hy vọng cho nền dân chủ

la-croix.com, Lucile Schmid, Phó Chủ tịch Cơ quan Sinh thái, 2024-08-23

Bà Kamala Harris và ông Tim Walz trong trong chiến dịch tranh cử ở Philadelphia tháng 8-2024

Sau khi tổng thống Joe Biden rút lui, chỉ trong vài ngày, bà Kamala Harris được chính thức đề cử làm ứng viên hợp pháp trong cuộc tranh cử tháng 11 sắp tới. Khả năng chấp nhận rủi ro của bà và việc chọn ông Tim Walz đứng chung liên danh đã cho phép đảng Dân chủ quay trở lại cuộc đua tổng thống chống lại ông Donald Trump.

Chính trị hiếm khi mang lại những bất ngờ thú vị. Những gì đang xảy ra ở Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình. Khi Donald Trump là nạn nhân của vụ ám sát hồi tháng 7, cả thế giới đã chứng kiến máu lạnh của ông khi ông đứng trước cái chết. Ai có thể đặt cược vào cơ hội quay trở lại cuộc đua của Đảng Dân chủ? Joe Biden vừa bỏ lỡ cuộc tranh luận trên truyền hình và hình ảnh Donald Trump chiến thắng trước cái chết dường như là một cuộc đảo chính.

Chỉ trong ba tuần ngắn ngủi, tình thế đã xoay chuyển. Từ bà Nancy Pelosi, cựu Chủ tịch Hạ viện, đến nam diễn viên George Clooney và các nhà tài trợ lớn đã yêu cầu Joe Biden phải rút lui. Bị tác động của Covid-19, sau một số lần nói hớ gần đây, khi ông nói lầm Tổng thống Zelensky là Putin. Còn bà Kamala Harris, phó tổng thống của ông, người mà ông chưa bao giờ có thiện cảm nhiều, chỉ sau vài ngày, bà đã thành ứng viên. Danh sách ủng hộ bà có tổng thống Joe Biden, cựu tổng thống Obama, bà Hillary Clinton, tất cả những nhân vật trung thành với Đảng Dân chủ.

Việc chọn ông Tim Walz, thống đốc bang Minnesota đứng chung liên danh đã củng cố thêm động lực. Cựu giáo viên và huấn luyện viên của đội bóng đá địa phương, người bảo vệ các trường công lập, là người thích đi săn, nhưng ông là người ủng hộ các quy định về súng, ông là yếu tố bổ túc cho bà Kamala Harris, họ có điểm chung là bảo vệ các quyền, các hồ sơ nhạy cảm như phá thai hoặc tiếp cận các dịch vụ công cộng, y tế và nhà ở.

Ứng viên Kamala Harris bây giờ khác với vai trò phó tổng thống lu mờ trước đây của bà. Tiếng cười của bà vang rền tại đại hội đề cử của đảng Dân chủ ở Chicago. Và ông Tim Walz đã tìm được tính từ “kỳ quái” để nói về Donald Trump và về ông J.D. Vance, người đứng chung liên danh. Dĩ nhiên điều này không ảnh hưởng đến các giai đoạn sắp tới của cuộc tấn công chớp nhoáng kéo dài hai tháng rưỡi và sẽ có kết quả vào tháng 11. Nhưng nó đáng để rút ra một số bài học.

Đầu tiên, việc rút lui của Joe Biden có thể diễn ra thông qua sự kết hợp phức tạp giữa hành trình cá nhân của ông và áp lực dư luận đến từ những tầm nhìn rất khác nhau, từ những nhân vật nổi bật đến các nhà tài trợ, kể cả các nhân vật trong đảng. Chính sự liên tục giữa xã hội và thế giới chính trị, và mong muốn theo đuổi cùng một mục tiêu thắng cử, nhưng trên hết là ngăn chặn một Donald Trump phóng túng – đã mở ra một viễn cảnh. Nếu Đảng Dân chủ vẫn khép kín, Joe Biden đã không bỏ cuộc.

Nhưng sự chính trực của bà Kamala Harris với Joe Biden là điểm mạnh thiết yếu, để tổng thống có thể đưa ra quyết định rút lui, để sự kết hợp đằng sau bà có thể diễn ra và để kiểm soát được tốc độ của một chiến dịch tranh cử chớp nhoáng. Khi chính trị thường bị thu gọn thành một trò chơi thiện-ác Machiavellian, trong đó sự phản bội sẽ là cơ hội thành công cao nhất, thì những gì vừa xảy ra ở Hoa Kỳ lại cho thấy một chuyện khác. Lòng trung thành là điều kiện để bà Kamala Harris tìm được không gian chính trị cho bà.

Cuối cùng, khả năng chấp nhận rủi ro và lập kế hoạch cho tương lai có tính quyết định. Không diễn lại cuộc đọ sức giữa Biden và Trump, với những diễn biến của một xã hội mà đa số cử tri cho rằng họ độc lập, không nhượng bộ trước cám dỗ chia rẽ, xung đột và phân cực là điều cần thiết.

Ba bài học có thể mang lại kết quả cho nền dân chủ, cho nền dân chủ của chúng ta.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bầu cử tổng thống Mỹ 2024: Tại Chicago, đảng viên Đảng Dân chủ là những người có đức tin

Kamala Harris, tầm nhìn hướng về tương lai của Hoa Kỳ

Kamala Harris: chiến dịch tranh cử mang lại niềm vui

Càng ngày mối lo tài chánh của các nhân viên Vatican càng tăng

Càng ngày mối lo i chánh của các nhân viên Vatican càng tăng

cath.ch, I.Media, 2024-08-23

Trong thông báo “Có mối lo thực sự cho nhân viên ở Vatican không” của Hiệp hội Nhân viên Giáo dân của Vatican (ADLV) công bố vào tháng 8, Hiệp hội cảnh báo về tình trạng xã hội ngày càng xấu của quốc gia nhỏ nhất thế giới này.

Hiệp hội đại diện cho 600 trong số gần 5.000 nhân viên của Tòa thánh đặt câu hỏi về hậu quả của những cải cách kinh tế gần đây với điều kiện làm việc ở Vatican, họ lấy làm tiếc về việc thiếu đối thoại xã hội.

Tại Vatican, các công đoàn không được chấp nhận, chỉ có công đoàn của Hiệp hội Nhân viên Giáo dân của, một hiệp hội được Tòa thánh công nhận kể từ khi thành lập năm 1993 là Hiệp hội duy nhất cho phép đối thoại xã hội giữa nhân viên và hệ thống cấp bậc của quốc gia nhỏ bé này. Hiệp hội ADLV làm việc với Văn phòng Lao động Trung ương Tòa Thánh (ULSA), cơ quan chịu trách nhiệm về nhân sự tại Vatican được thành lập năm 1989.

Trên quan điểm cơ cấu, Tòa Thánh đã cải cách tổ chức đáng kể dưới triều Đức Phanxicô với mục đích hiện đại hóa và hợp lý hóa trong các hoạt động điều hành. Cải cách được phát động mạnh từ năm 2014, năm 2022 Đức Phanxicô công bố Tông hiến Praedicate Evangelium cho phép tái cấu hình hoạt động của Giáo triều Rôma, nhấn mạnh chiều kích truyền giáo của cơ cấu đôi khi bị cho là nặng nề và bị tai tiếng trong một số vụ bê bối tài chính.

Tuy hoạt động của trung tâm kinh tế Vatican quan trọng trong cuộc cải cách lớn này, nhưng nguồn nhân lực không mạnh và vẫn còn theo quy chế do Đức Bênêđíctô XVI ấn định năm 2009. Một số cải cách đôi khi thực hiện một cách hỗn loạn, tạo cảm giác thù nghịch hiện đang lan rộng với những người chịu trách nhiệm về kinh tế Vatican, đặc biệt những người ở trong  Ban Thư ký Kinh tế và Văn phòng Lao động Trung ương Tòa Thánh ULSA.

Một nhân viên Vatican giải thích: “Bộ phận Quan hệ Nhân lực quản lý lực lượng lao động thuần túy, không quan tâm đến kỹ năng và nguyện vọng của nhân viên”. Bảo tàng Vatican cũng vướng vào những vụ bê bối tài chính. Một nguồn tin khác của Vatican cho biết, nhiều nhân viên được tuyển dụng không theo kỹ năng mà theo một cách tùy tiện.

Vatican, “cơ quan đa quốc gia nhưng khập khiểng”

Không chỉ trích trực tiếp với các cải cách, Hiệp hội ADLV đã cứng rắn hơn so với lời kêu gọi cuối cùng được công bố ngày 8 tháng 7, trong đó các vấn đề tương tự đã được giải quyết một cách lạc quan. Giờ đây, Hiệp hội bối rối về tác động của họ, đề cập đến một “thay đổi căn bản” môi trường xã hội. Đặt câu hỏi về việc chăm sóc điều kiện làm việc tại Vatican, Hiệp hội mong muốn “bảo vệ hình ảnh của Tòa thánh, không may bị tổn hại trong những năm gần đây với các vụ bê bối”.

Hiệp hội ADLV lấy làm tiếc về việc Vatican ngày càng trông cậy vào các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài. Một nguồn tin của Vatican cho biết, bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện biết rất ít về văn hóa của Vatican, biến “gia đình” nhân viên Vatican thành một “công ty đa quốc gia khập khiễng”, nhân viên không được hưởng các khoản tiền thưởng và lợi ích dành cho các nhà cung cấp dịch vụ, nhất là trong dịch vụ dọn phòng và hướng dẫn du khách, cũng như việc quản lý tài sản của “Ngân hàng Vatican”, Cơ quan Quản lý Di sản Tòa Thánh (APSA) được giao cho “các công ty Mỹ”. Theo một số cơ quan truyền thông Ý, quyền quản lý siêu thị Annona nổi tiếng của Vatican sẽ được giao hoàn toàn cho chuỗi siêu thị tư nhân Pewex của Rôma.

Lo lắng cho tương lai mờ mịt

Hiệp hội ADLV cũng nhấn mạnh đến sự thiếu minh bạch của Vatican và lấy làm tiếc kể từ năm 2022 bảng chiết tính tài chính đã không được Ban Thư ký Kinh tế công bố, đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của một số khía cạnh của cuộc cải cách, cũng như của nhiều biện pháp thực hiện cho nhân viên, nhất là việc giữ lại tiền thưởng thâm niên hoặc thăng chức do Giáo hoàng quyết định năm 2021 để đối phó với những tổn thất do đại dịch Covid-19 gây ra.

Hiệp hội Nhân viên Giáo dân của Vatican lo lắng: “Chúng tôi mong chờ gì từ cuộc cải cách tiền lương?”, họ không bỏ qua trước các biện pháp mới trừng phạt nhân viên. Trong bối cảnh khó khăn này, những đặc quyền được giao cho một thiểu số và đã không tôn trọng tiêu chuẩn nhân tài.

Hiệp hội ADLV cũng lo ngại việc tăng tiền thuê nhà khi giao cho các công ty tư nhân quản lý vì hiện nay nhân viên Vatican thuê nhà với giá thấp hơn giá thị trường Ý.

Hiệp hội khẳng định có một “giải cấu trúc” dần dần trong các cấu trúc xã hội Vatican, họ chỉ trích một môi trường trong đó “mọi người đều im lặng”. Hiệp hội cho biết, khi bị chất vấn, các người có trách nhiệm đã khó khăn khi đưa ra câu trả lời. Một giám đốc điều hành của một trong các bộ của Vatican cho biết: “Chúng tôi có một quy định ra lệnh từ trên xuống, nhưng từ dưới lên không có đối thoại. Nhân viên không thể tiếp cận được với văn phòng của Hiệp hội ULSA.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Lời cầu nguyện của Chân phước Carlo Acutis

Lời cầu nguyện của Chân phước Carlo Acutis

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Trong bài giảng công khai đầu tiên, Chúa Giêsu dạy: “Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng kín, đóng cửa lại và cầu nguyện với Cha anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6, 6). Ông bà có thể cho chúng tôi biết điều gì đó về lời cầu nguyện của Carlo không?

Trong phòng của Carlo ở Milan, Carlo có tượng Đức Mẹ Vladimir. Carlo rất thích các tượng vì Carlo nghĩ mình có thể nói chuyện với các ảnh tượng. Carlo biết Thánh Jean Damascene ở thế kỷ thứ 8 đã nói về các ảnh tượng, đây không phải là những ảnh tượng đơn giản, nhưng là những ảnh tượng sinh động, tràn đầy ân sủng thần thánh. Đây là sự nối dài của Thân Thể Chúa Kitô, là nhân tính của Chúa Kitô vinh hiển và nhân tính của sự hiệp thông giữa các thánh. Chúa Kitô vinh hiển và các thánh truyền sự thánh thiện vào các ảnh tượng. Vì thế đây là thiêng liêng, một biểu hiện của Thiên Chúa mà các thánh là những nhười đại diện để chúng ta có thể hiệp thông thiêng liêng cách trọn vẹn ở thế giới bên kia. Khi về vùng đồi núi Assisi, Carlo rất thích cầu nguyện với các ảnh tượng ở đây. Carlo không trốn tránh thế gian nhưng trốn tránh những phiền nhiễu thế gian để lắng nghe tiếng Chúa, suy niệm Lời Ngài. Thỉnh thoảng Carlo nói với chúng tôi:

Cầu nguyện là ngôn ngữ từ trời, là ngôn ngữ của tình yêu giữa Ba Ngôi. Với Carlo, duy trì sự hiệp nhất với Tình Yêu này là đủ. Khi chúng ta gia tăng khả năng yêu thương, chúng ta sẽ trở nên công chính và trong sạch hơn bao giờ hết. Và chúng ta sẽ có thể nói: Thiên Chúa là tất cả của tôi. Chúng ta không thể cho mình thêm một giờ sống, cũng như không thể tự mình có được những ơn mình cần, nhưng chúng ta luôn cầu xin Chúa ban cho chúng ta. Cầu nguyện giúp chúng ta nhìn mọi sự từ quan điểm vĩnh cửu. Và những khó khăn của thế giới này sẽ không đáng kể nếu chúng ta nhìn dưới góc độ này.

Carlo xem cầu nguyện là cách hiệu quả nhất để được kết hợp với Chúa. Với Carlo, việc đắm mình trong Chúa qua cầu nguyện giống như bước vào thiên đàng, ở nơi vĩnh hằng là nơi của chúng ta.

Carlo rất thích lần hạt Mân Côi: mỗi ngày Carlo đọc năm mầu nhiệm. Carlo chia thành từng đoạn nhỏ để đọc, trên đường đến trường, trên xe buýt, khi đi dạo hoặc buổi tối ở nhà. Trong kinh Mân Côi, Carlo kết hợp hai khía cạnh chính: cầu nguyện bằng lời và cầu nguyện bằng tâm trí, suy nghĩ ơn cứu độ trong cuộc đời Chúa Giêsu. Carlo lấy điểm tham chiếu là bắt chước cuộc đời của Chúa Giêsu và, trong Kinh Mân Côi, Carlo nhìn cuộc đời mình qua cái nhìn của Đức Maria, Đấng nhớ lại tất cả những gì xảy ra trong đời Chúa Giêsu và suy gẫm trong lòng” (Lc 2, 19).

Suy gẫm về việc thiên thần truyền tin cho Đức Maria, Carlo nói: “Khi đón nhận sứ điệp của thiên thần báo cho Mẹ biết Đấng Cứu Thế ra đời, Đức Maria vâng lời, Mẹ cho chúng ta một mẫu mực lý tưởng để noi theo.” Kinh Mân Côi dạy chúng ta một số phương pháp cầu nguyện: suy niệm và đọc Kinh Kính Mừng. Sự kết hợp này làm cho việc cứu độ của Chúa Giêsu đi vào tâm trí, lời nói của chúng ta. Và chính lời cầu nguyện sẽ nâng tinh thần chúng ta hướng về Thiên Chúa, giúp chúng ta không bị phân tâm khi suy niệm Tin Mừng.

Carlo hiểu, lý tưởng là đọc kinh Mân Côi với người khác hoặc trong nhà thờ. Giáo hội ban ơn toàn xá cho những ai đọc năm mầu nhiệm Mân Côi một mình trong nhà thờ hoặc với người khác khi không đến được nhà thờ, với điều kiện xưng tội và nhận Bí tích Thánh Thể trong vòng tám ngày sau đó. Khi kết thúc lần hạt, Carlo cầu nguyện theo ý Giáo hoàng, tránh tội lỗi, kể cả tội nhẹ. Nhưng nếu không đọc kinh Mân Côi trong nhà thờ hoặc với người khác, Carlo làm theo lời Thánh Piô Năm dấu Thánh khuyên cô Margherita Cassano, con thiêng liêng của ngài. Cô hỏi ngài: “Thưa Cha, Phúc âm dạy: “Khi có hai, ba người tụ tập nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ (Mt 18:20), như thế lời cầu nguyện chung có giá trị hơn lời cầu nguyện riêng. Bây giờ con ở một mình ở nhà, một mình trên đường, một mình ở nơi làm việc thì con phải cầu nguyện như thế nào?” Cha Thánh Piô trả lời: “Vì sao con không đọc kinh Mân Côi với thiên thần hộ mệnh của con? Con giao cho thiên thần đọc khúc đầu, con đọc khúc sau “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời… như Thánh Luca đã nói với chúng ta, lời Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ, như thế cầu nguyện với thiên thần là điều rất tốt đẹp.” Carlo cũng vậy, khi ở một mình, Carlo bắt chước Margherita Cassano: Carlo lần chuỗi với thiên thần hộ mệnh của mình.

Carlo biết 15 lời Đức Mẹ hứa với tu sĩ Dòng Đa Minh Alain de la Roche năm 1464, ngài là nhà rao giảng vĩ đại có biệt danh “người bảo vệ lời cầu nguyện của kinh Mân Côi:

  1. Những ai kiên trì lần hạt Mân Côi để phục vụ Ta sẽ nhận được những ân sủng đặc biệt.
  2. Với những ai kính mến lần hạt Mân Côi, Ta sẽ bảo vệ đặc biệt và ban nhiều ân sủng lớn lao.
  3. Chuỗi Mân Côi là vũ khí cực kỳ lợi hại chống lại địa ngục, tiêu trừ các tật xấu, thoát khỏi tội lỗi cha truyền con nối.
  4. Kinh Mân Côi sẽ làm cho các nhân đức và việc thánh hóa được phát triển, người lần hạt sẽ nhận được lòng thương xót dồi dào của Chúa. Kinh Mân Côi dẫn con người từ tình yêu hư không của thế gian đến với tình yêu vĩnh cửu của Chúa. Nhiều linh hồn sẽ được thánh hóa nhờ Kinh Mân Côi.
  5. Linh hồn nào dâng mình cho Đức Mẹ qua Kinh Mân Côi sẽ không bị hư mất.
  6. Ai suy niệm các mầu nhiệm trong Kinh Mân Côi sẽ không bị bất hạnh, không hứng chịu cơn thịnh nộ của Chúa, không chết đột ngột, nhưng nếu là kẻ có tội, họ sẽ hoán cải; nếu họ là người công chính, họ sẽ bền đổ trong ân sủng, được hưởng sự sống đời đời.
  7. Ai gắn bó với chuỗi Mân Côi sẽ nhận các bí tích khi qua đời.
  8. Mẹ muốn những ai đọc kinh Mân Côi sẽ nhận được ánh sáng và ân sủng trọn vẹn trong cuộc sống cũng như trong cái chết; họ dự vào sự sống và cái chết, vào công đức của những người được chúc phúc.
  9. Mỗi ngày, Mẹ giải thoát khỏi luyện ngục những linh hồn kính mến Kinh Mân Côi.
  10. Những đứa con của chuỗi Mân Côi sẽ được hưởng vinh quang lớn lao trên thiên đàng.
  11. Ai xin điều gì khi lần chuỗi sẽ được nhậm lời.
  12. Mẹ sẽ ban cho những ai lần chuỗi những gì họ cần.
  13. Con của Mẹ cho những ai trong Huynh đoàn Mân côi là anh chị em với các thánh trên trời khi sống cũng như khi chết.
  14. Những ai đọc Kinh Mân Côi là con cái của Mẹ và là anh em với Chúa Giêsu Kitô.
  15. Việc kính mến chuỗi Mân Côi là một dấu hiệu tốt đẹp của tiền định.

Sau chuyến hành hương đầu tiên của chúng tôi đến Fatima, lòng mến chuỗi Mân Côi của Carlo tăng lên. Trong lần hiện ra ngày 19 tháng 8 năm 1917, Mẹ xin ba trẻ mục đồng “cầu nguyện thật nhiều và làm việc hy sinh cho những người có tội, nhiều người sa hỏa ngục vì không có ai hy sinh và cầu nguyện cho họ”. Carlo hiểu lời này theo nghĩa đen và thấy mình chưa hy sinh và cầu nguyện đủ cho những người xa Chúa. Năm 2005, vài ngày sau khi nữ tu Lucia qua đời, Carlo nằm mơ thấy nữ tu, nữ tu xin Carlo làm việc đền tạ 5 thứ bảy đầu tiên trong vòng 5 tháng để có thể thay đổi vận mệnh thế giới. Carlo thường nói: “Sau Thánh Thể, chuỗi Mân Côi là vũ khí mạnh nhất để chống lại ma quỷ và là chiếc thang ngắn nhất để lên thiên đàng.”

Carlo đọc thư Thánh Giacôbê (5, 16-20) dạy về tầm quan trọng về lời cầu nguyện cầu bàu cho người khác: “Anh em hãy thú tội với nhau và cầu nguyện cho nhau để được cứu thoát. Vì lời cầu xin tha thiết của người công chính rất có hiệu lực. Tiên tri Êlia ngày xưa cũng là người cùng chung một thân phận như chúng ta; ông tha thiết cầu xin cho đừng có mưa, thì đã không có mưa xuống trên mặt đất suốt ba năm sáu tháng. Rồi ông lại cầu xin, thì trời liền mưa xuống và đất đã trổ sinh hoa trái. Thưa anh em, nếu có người nào trong anh em lạc xa chân lý và có ai đưa người ấy trở về, thì anh em hãy biết rằng: kẻ nào làm cho một tội nhân bỏ đường lầm lạc mà trở về, thì cứu được linh hồn ấy khỏi chết và che lấp được muôn vàn tội lỗi của mình.”

Tin chắc về những điều này, Carlo cầu nguyện cho bạn bè, giao  họ cho Chúa, đặc biệt là các bạn dùng ma túy, say rượu, lãng phí cả buổi chiều trong các vũ trường. Họ thường mời Carlo đi theo, nhưng Carlo nói với chúng tôi nhiều lần Carlo thích theo lời khuyên của thiên thần hộ mệnh, thiên thần khuyên Carlo đừng đi và cầu nguyện cho các bạn, cho các tu sĩ và các nữ tu sống đời sống chiêm niệm.

Carlo xem trọng lời cầu nguyện của những người thánh hiến và lời cha mẹ cầu nguyện cho con cái: “Nếu một ngày nào đó các bạn trẻ này lớn lên, nếu họ đánh mất con đường dẫn đến Thiên Chúa thì sớm hay muộn họ sẽ nhớ đến những lời cầu nguyện này, Chúa sẽ đưa họ về.” Lời cầu nguyện chân thành của cha mẹ trong đức tin và trong đức mến sẽ được Chúa lắng nghe và nhậm lời vào thời điểm thích hợp.

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất