Home Blog Page 156

Địa ngục và đức tin

Địa ngục và đức tin

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Chúng ta trở lại với quan điểm sai lầm nhưng lại được phổ biến rộng rãi mà Antonia đã đề cập, đó là địa ngục trống rỗng. Bà nghĩ quan điểm này có thể có những ảnh hưởng nào đến đức tin?

Đơn giản là có tác dụng tàn phá. Chấp nhận nó có nghĩa là vào cuối cuộc đời mọi thứ sẽ có kết quả như nhau với người yêu Chúa, yêu người anh em hay người ghét Chúa, ghét người anh em, cuối cùng mọi người đều có phần thưởng thiên đàng. Như thế hối cải, hoán cải không có ý nghĩa gì. Việc làm của lòng thương xót cũng không có ý nghĩa. Và như thế đi ngược với lời dạy của Tin Mừng.

Khi chuẩn bị các buổi dạy giáo lý về chủ đề này, Carlo nghĩ đến những người cho rằng địa ngục không tồn tại hoặc trống rỗng, Carlo chép lại một đoạn trích từ Nhật ký của Thánh Faustina Kowalska, Thánh của Lòng Thương Xót Chúa:

Hôm nay, được thiên thần hướng dẫn, tôi đã đi vào vực thẳm địa ngục. Đó là nơi của những đau khổ ở mức độ kinh khủng nhất của nó. Đây là những nỗi đau tôi đã chứng kiến: nỗi đau đầu tiên tạo nên địa ngục là mất mát Thiên Chúa; thứ hai là lương tâm ăn năn; thứ ba là hiểu số phận này sẽ không bao giờ thay đổi; thứ tư là cực hình ngọn lửa xuyên thấu linh hồn nhưng lửa lại không bị hủy diệt, một ngọn lửa thuần túy thiêng liêng bị cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đốt lên; hình phạt thứ năm là bóng tối vĩnh viễn, mùi hôi thối ngột ngạt khủng khiếp; và dù trời đã tối nhưng lũ quỷ và những linh hồn bị nguyền rủa vẫn nhìn thấy nhau và nhìn thấy mọi tội ác của người khác và của chính mình; hình phạt thứ sáu là Satan liên tục đi theo; cuối cùng, hình phạt thứ bảy là tuyệt vọng khủng khiếp, hận thù, lăng mạ, chửi bới, phạm thượng Thiên Chúa. (…)

Nếu quyền năng Thiên Chúa không nâng đỡ tôi, tôi có thể đã chết khi thấy những cực hình khủng khiếp này. Kẻ có tội phải biết nếu mình phạm tội, họ sẽ bị hành hạ đời đời. Tôi viết điều này theo lệnh của Chúa, để không linh hồn nào có thể biện minh rằng địa ngục không tồn tại hoặc chưa từng có ai ở đó và không ai biết nó như thế nào. Tôi, nữ tu Faustina, theo lệnh của Chúa xuống vực thẳm địa ngục, để có thể nói với các linh hồn và làm chứng rằng địa ngục tồn tại. Chúa xin tôi viết lại điều này. Lũ quỷ rất căm ghét tôi, nhưng theo lệnh của Chúa, chúng phải vâng lời tôi. Những gì tôi viết ra chỉ là cái bóng mờ nhạt của những điều tôi đã thấy. Một điều tôi nhận thấy là đa số các linh hồn ở đó đều đã không tin vào sự tồn tại của địa ngục. Khi tỉnh lại, tôi vẫn còn sợ khi nghĩ ở đó có những linh hồn đang đau khổ vô cùng. Vì thế tôi hết lòng lo cho người có tội được hoán cải, tôi không ngừng cầu xin lòng thương xót Chúa Giêsu, tôi thà chịu đau khổ cho đến tận thế với những cực hình khủng khiếp nhất, còn hơn phạm đến Chúa dù với tội nhỏ nhất.

Hai câu chuyện về Fatima và Thánh Faustina đều nói đến các thị kiến: dù thế nào đi nữa, ba trẻ Fatima và nữ tu Faustina đã học được những điều này qua hình ảnh. Chúng ta cũng học qua  trải nghiệm giác quan, qua hình ảnh chúng ta thấy bằng mắt hoặc qua hình ảnh chúng ta tưởng tượng. Cả hai câu chuyện đều nói đến các địa điểm. Nhưng chúng ta biết ngọn lửa chỉ mang tính tâm linh chứ không thể xác, đây là những lần hiện ra để nhắc mọi người hoán cải và có đức tin vào Thiên Chúa là Đấng có Lòng Thương Xót, Đấng yêu thương và cứu rỗi.

Marta An Nguyễn dịch

  Giáo lý viên Carlo Acutis

Giáo lý viên Carlo Acutis

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Nhiều lần bà nói Carlo từng dạy giáo lý, xin bà cho chúng tôi biết thêm về việc này.

Đó là niên học 2002-2003. Carlo đang học lớp sáu. Carlo xin chúng tôi cho Carlo dạy giáo lý cho một số bạn lớn hơn Carlo một chút. Giám mục Gianfranco Poma muốn chuẩn bị giáo lý cho các em sẽ lãnh nhận Bí tích Thêm sức. Chúng tôi biết Carlo bận học. Chúng tôi không muốn việc học bị ảnh hưởng, chúng tôi đồng ý nhưng với điều kiện không ảnh hưởng đến việc học ở trường. Trong hai năm này, Carlo giữ lời hứa. Carlo nhiệt tình và rất vui tổ chức lớp học. Carlo đưa ra mục tiêu cho các bạn học giáo lý: nên thánh. Và Carlo làm một công cụ cho việc này:

Tôi muốn cho các bạn biết một số bí mật đặc biệt của tôi để giúp các bạn nhanh chóng được thánh thiện. Các bạn luôn nhớ các bạn cũng có thể thành thánh! Trên hết, các bạn phải hết lòng mong muốn và nếu các bạn chưa mong muốn, các bạn phải kiên trì xin Chúa.

  1. Cố gắng đi lễ và rước lễ mỗi ngày.
  2. Nếu các bạn đi lễ, các bạn dành chút thì giờ chầu Thánh Thể trước Nhà Tạm, nơi Chúa Giêsu thực sự hiện diện và bạn sẽ thấy mức độ thánh thiện của bạn sẽ tăng lên như thế nào!
  3. Các bạn đừng quên lần chuỗi mỗi ngày.
  4. Mỗi ngày các bạn đọc một đoạn Kinh Thánh.
  5. Nếu có thể, các bạn xưng tội mỗi tuần một lần và xưng cả các tội nhẹ.
  6. Các bạn thường xuyên dâng lên Chúa và Đức Mẹ các quyết tâm và khó khăn khi giúp người khác.
  7. Các bạn nhớ xin thiên thần hộ mệnh bạn giúp đỡ, thiên thần sẽ là người bạn thân nhất của bạn.

Marta An Nguyễn dịch

Ký ức đen tối

Ký ức đen tối

Ronald Rolheiser, 2024-08-26

Trong tâm hồn chúng ta, vượt ra ngoài những gì chúng ta có thể hình dung, diễn tả bằng lời, thậm chí cảm nhận rõ ràng, chúng ta có một ký ức đen tối về việc đã từng được chạm vào, được đôi bàn tay dịu dàng hơn nhiều so với bàn tay của chính chúng ta vuốt ve. Vuốt ve này đã để lại một dấu ấn vĩnh viễn, một dấu ấn của một tình yêu dịu dàng và sâu sắc đến nỗi ký ức về nó trở thành lăng kính để qua đó chúng ta nhìn các thứ khác. Dấu ấn này nằm ngoài ký ức có ý thức, nhưng lại hình thành nên trọng tâm tâm hồn chúng ta.

Đây không phải là một khái niệm dễ giải thích. Linh mục triết gia Canada Bernard Lonergan (1904-1984), một trong những nhà trí thức vĩ đại đã cố gắng giải thích theo cách triết học, linh mục cho rằng chúng ta mang trong mình “dấu ấn của các nguyên tắc đầu tiên”, cụ thể là những thuộc tính của Chúa như sự toàn vẹn, chân lý, lòng tốt, vẻ đẹp. Điều đó chính xác, nhưng trừu tượng. Có lẽ các huyền thoại, các truyền thuyết xưa cổ nắm bắt điều này tốt hơn khi họ nói, trước khi sinh ra, mỗi linh hồn được Chúa hôn, sau đó dù trải qua cuộc sống đen tối một cách nào đó, con người luôn nhớ nụ hôn này và lượng định mọi thứ qua trải nghiệm ngọt ngào ban đầu này, để kết nối với trái tim, kết nối với nụ hôn nguyên thủy với tất cả sự quý giá và ý nghĩa của nó.

Chính xác điều đang được nói ở đây là gì?

Bên trong mỗi chúng ta, tại nơi mà tất cả những gì quý giá nhất của chúng ta, có một cảm giác mơ hồ về việc đã từng được chạm vào, vuốt ve, yêu thương và trân trọng vượt xa bất kỳ điều gì chúng ta đã trải nghiệm một cách có ý thức. Trên thực tế, tất cả sự tốt đẹp, tình yêu, giá trị và dịu dàng chúng ta trải nghiệm trong cuộc sống đều không đủ chính xác vì chúng ta đã kết nối với một điều gì đó sâu sắc hơn. Khi chúng ta cảm thấy thất vọng, tức giận, bị phản bội, bị xâm phạm đó là vì những trải nghiệm bên ngoài này ngược với những gì chúng ta trân trọng bên trong.

Tất cả chúng ta đều có nơi này, một nơi trong trái tim, nơi chúng ta giữ tất cả những gì quý giá và thiêng liêng nhất của mình. Từ nơi đó, những nụ hôn, những giọt nước mắt của chúng ta tuôn ra. Đó là nơi chúng ta bảo vệ mình để khỏi bị người khác đi vào, nhưng cũng là nơi chúng ta muốn người khác đi vào nhất; nơi chúng ta cô đơn sâu đậm nhất, nơi của thân mật; nơi của ngây thơ, nơi chúng ta bị xâm phạm; nơi của lòng trắc ẩn, nơi của thịnh nộ. Ở đó, chúng ta là thánh. Ở đó, chúng ta là đền thờ của Chúa, đền thờ thiêng liêng của chân lý và tình yêu. Ở đó, chúng ta mang hình ảnh của Chúa.

Nhưng chúng ta cần hiểu điều này: hình ảnh của Chúa bên trong chúng ta không phải là biểu tượng đẹp đẽ được đóng dấu bên trong tâm hồn chúng ta. Không. Hình ảnh và sự giống Chúa bên trong chúng ta là năng lượng, lửa và ký ức; đặc biệt là ký ức về một đụng chạm nhẹ nhàng và yêu thương đến mức lòng tốt và sự thật trở thành lăng kính để cuối cùng chúng ta nhìn thấy mọi thứ. Vì vậy, chúng ta nhận ra lòng tốt và sự thật bên ngoài chúng ta chính xác là vì chúng cộng hưởng với một cái gì đó đã có bên trong chúng ta. Mọi thứ chạm đến trái tim chúng ta khi chúng chạm đến chúng ta ở đây. Không phải vì chúng ta đã được chạm đến và vuốt ve sâu sắc nên chúng ta say mê tìm kiếm người bạn tâm giao, chúng ta tìm kiếm một ai đó để cùng chúng ta ở nơi thân mật này sao?

Và, một cách có ý thức và vô thức, chúng ta đo lường mọi thứ trong cuộc sống bằng cách chạm đến nơi này: tại sao một số trải nghiệm lại chạm đến chúng ta sâu sắc hơn một số trải nghiệm khác? Tại sao trái tim chúng ta lại bùng cháy khi chúng ta đứng trước bất kỳ sự thật, tình yêu, lòng tốt hay sự dịu dàng chân thành và sâu sắc nào? Chẳng phải mọi kiến thức sâu sắc chỉ đơn giản là sự thức tỉnh với điều gì đó chúng ta đã biết sao? Chẳng phải mọi tình yêu chỉ đơn giản là vấn đề được tôn trọng vì điều gì đó chúng ta đã có sao? Chẳng phải sự đụng chạm và sự dịu dàng mang lại ngây ngất không gì khác hơn là khuấy động vào ký ức sâu thẳm của chúng ta sao? Chẳng phải những lý tưởng truyền cảm hứng cho hy vọng chỉ là lời nhắc về những lời mà ai đó đã nói với chúng ta sao? Chẳng phải mong muốn được ngây thơ (ngây thơ là không bị tổn thương) của chúng ta phản ánh một nơi nguyên thủy không bị tổn thương sâu thẳm bên trong chúng ta sao? Và khi chúng ta cảm thấy bị xâm phạm, chẳng phải là vì ai đó đã vô lễ bước vào nơi thiêng liêng bên trong chúng ta đó sao?

Khi chúng ta gần với ký ức này và tôn trọng sự nhạy cảm của nó, chúng ta đang tiếp xúc với tâm hồn mình. Vào những lúc đó, đức tin, hy vọng và tình yêu sẽ nảy nở trong chúng ta, niềm vui và nước mắt sẽ tuôn trào một cách tự nhiên, và chúng ta sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc của sự ngây thơ và vẻ đẹp trẻ thơ, khi nỗi đau và lòng biết ơn xen kẽ sẽ làm chúng ta quỳ xuống.

Đó chính là ý nghĩa của việc được hồi tưởng và tập trung. Để thực sự là chính mình là nhớ, chạm và cảm nhận ký ức về một  chạm vào ban đầu của Chúa trong chúng ta. Ký ức đó đốt cháy năng lượng và cung cấp cho chúng ta một lăng kính để nhìn và hiểu.

Đáng buồn thay, ngày nay, thế giới bị tổn thương, bị chai sạn, hoài nghi, quá tinh vi và quá trưởng thành thường mời gọi chúng ta quên đi nụ hôn của Chúa trong tâm hồn, xem đây là trò trẻ con. Nhưng, trừ khi chúng ta tự dối mình và cứng rắn chống lại chính mình (hoạt động nguy hiểm nhất trong mọi hoạt động), chúng ta sẽ luôn nhớ, một cách mơ hồ, đen tối, không ngừng nghỉ cái vuốt ve của Chúa.

Marta An Nguyễn dịch

Các sở thích của Chân phước Carlo Acutis

Các sở thích của Chân phước Carlo Acutis

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Ngoài thể thao, Carlo còn có sở thích nào khác không?

Carlo có rất nhiều sở thích. Một cách tự nhiên, các sở thích này thay đổi khi Carlo dần dần lớn lên. Khi còn nhỏ, Carlo thích các game thịnh hành thời đó như PlayStation, Game Cube, Xbox hay Game Boy. Carlo rất thích chơi nhưng Carlo tự ấn định thời gian tối đa để chơi: không quá một giờ mỗi tuần. Tuy nhỏ nhưng Carlo biết, chơi thường xuyên sẽ làm cho mình lệ thuộc; Carlo biết ở Mỹ đã có những em bé phải vào bệnh viện vì chơi chơi các trò chơi này quá nhiều, những trường hợp nặng có thể làm các em bị chứng động kinh.

Khi lớn lên, Carlo có các món quà khác như máy ảnh, máy quay phim. Carlo rất giỏi làm phim, Carlo làm với các bạn, với bà ngoại Luana, với Rajesh, người thích đóng vai điệp viên và với các con chó của chúng tôi. Carlo làm các video hài hước rất hay. Với tài năng chụp hình, Carlo chụp tài liệu để làm triển lãm về Phép lạ Thánh Thể, quyển sách Phép lạ Thánh Thể và Cội nguồn Kitô giáo của châu Âu với sự cộng tác của Sergio Meloni được nhà xuất bản Studio Domenicano Editions ấn hành. Đây là bộ tài liệu quan trọng vì cho đến lúc đó, chưa có tài liệu nào tương tự tập hợp các hình ảnh và tài liệu về các phép lạ Thánh Thể. Chỉ có những bài viết hoặc tập sách nhỏ về đề tài này. Sách của Carlo được tái bản ba lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Nhưng ngay từ khi còn rất nhỏ, cả trước khi là thiếu niên, Carlo đã mê khoa học máy tính với nhiều ứng dụng của nó. Carlo giỏi toán và các môn khoa học. Carlo nhanh chóng trở thành người rất giỏi trong việc phát triển các chương trình ngôn ngữ máy tính phức tạp nhất. Hai người bạn của tôi là giáo sư đại học về kỹ thuật máy tính ở Milan rất ngạc nhiên trước tài năng của Carlo. Carlo rất hài hước, em nói nhiều về chuyện này: em mặc áo sơ mi trắng, đeo cặp kính giả để trông giống người lớn và gắn huy hiệu có hàng chữ “Nhà nghiên cứu máy tính” ghim trên áo. Năm 9 tuổi, Carlo bắt đầu nghiên cứu sách vở về khoa học máy tính cấp đại học Carlo mượn ở Đại học Bách khoa Milan. Tuy không học các khóa học trong lãnh vực này nhưng Carlo có thể lập trình bằng Java, C, C++, Ubuntu và thảo chương 3D bằng phần mềm Adobe Suite và logiciel Maya.

Vì Carlo có năng khiếu và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người nên chúng tôi, Rajesh, bà ngoại Luana là ‘học trò’ đầu tiên của Carlo, sau đó là bạn bè, bạn học, tất cả đều nhờ Carlo giải thích và giúp đỡ để sử dụng máy tính. Vì thế đây là lãnh vực Carlo biểu lộ tình tương trợ, dành thì giờ cho người khác, Carlo lớn lên trong sự tốt lành, phát triển tài năng của mình, Carlo muốn xây dựng một cái gì đó xuất sắc và truyền lại kỹ năng cho mọi người.

Cuối năm thứ ba, Carlo giúp các bạn làm Power Point trình bày bài tập về nhà cho kỳ thi. Cùng với một sinh viên ngành kỹ thuật máy tính, Carlo làm trang web cho giáo xứ Santa Maria Segreta ở Milan. Trong hai năm học ở trường trung học  Lêô-XIlI, Carlo sử dụng tài năng máy tính để phục vụ các bạn cùng lớp và trường học. Mùa hè năm 2006, Carlo làm trang web giới thiệu các công việc thiện nguyện và tông đồ cho giới trẻ và người nghèo của các tu sĩ Dòng Tên.

Trước sự ngạc nhiên lớn lao của chúng tôi, trong Tông huấn Chúa Kitô Sống, Christus vivit, Đức Phanxicô đã giới thiệu Carlo là mẫu mực trong việc dùng các phương tiện truyền thông để phục vụ Chúa:

“Tôi xin nhắc, buổi sáng Phục Sinh hôm nay mang lại cho chúng ta tin vui: có một lối thoát cho các tình huống khó khăn, đau đớn chúng ta đã đề cập, chẳng hạn trong thế giới kỹ thuật, chúng ta có thể có nguy cơ rút lui, cô lập hoặc có một niềm vui trống rỗng. Nhưng chúng ta đừng quên có những người trẻ rất sáng tạo và rất xuất sắc trong lãnh vực này. Đó là điều Chân phước Carlo Acutis đã làm. Chân phước biết rất rõ cơ chế kết nối, quảng cáo và mạng xã hội có thể làm ru ngủ, làm chúng ta lệ thuộc, làm chúng ta bị ám ảnh không biết làm gì cho hết giờ, biến chúng ta thành những tù nhân của tiêu cực và Chân phước Carlo Acutis đã dùng kỹ thuật truyền thông mới để truyền tải Tin Mừng, truyền những giá trị cao đẹp. Carlo không rơi vào bẫy. Carlo thấy nhiều người trẻ tuy khác nhau, nhưng cuối cùng lại giống nhau, họ chạy theo những gì kẻ mạnh áp đặt lên họ qua cơ chế tiêu dùng xuẩn ngốc. Và đó là cách họ chận lại ơn Chúa; họ không cống hiến tài năng cá biệt Chúa ban cho mỗi người. Vì thế Carlo đã nói: ‘Mọi người sinh ra đều là bản gốc, nhưng nhiều người chết đi như những bản sao’. Chúng ta đừng để điều này xảy ra với chúng ta.”

Marta An Nguyễn dịch

Lời của Đức Phanxicô về văn học mang tính cách mạng vì đi ngược lại truyền thống kiểm duyệt của Giáo hội

Lời của Đức Phanxicô về văn học mang tính cách mạng vì đi ngược lại truyền thống kiểm duyệt của Giáo hội

lemonde.fr, William Marx, 2024-08-25

Giáo sư William Marx tại Collège de France: “Lời của Đức Phanxicô về văn học mang tính cách mạng vì đi ngược lại truyền thống kiểm duyệt của Giáo hội.”

Giáo sư William Marx, trường Collège de France nói trên báo Le Monde ngày 4 tháng 8: “Thư của Giáo hoàng về vai trò văn học trong việc đào tạo là sự kiện đáng kể với tất cả những ai yêu thích văn học.”

William Marx, giáo sư tại Collège de France, bày tỏ trong một chuyên mục trên tờ “Le Monde”. Các chuyên gia “đọc” như ông ông Bernard Pivot người Pháp hay bà Oprah Winfrey, người Mỹ thường nói: “Trong những ngày hè nhàm chán, trong cái nóng và trong cô độc của khu phố vắng vẻ, việc tìm một quyển sách hay để đọc giúp chúng ta tránh những lựa chọn vô bổ.” Nhưng “Thư bất thường của Đức Phanxicô về vai trò của văn học trong đào tạo” công bố trong mùa Thế vận gần như được ít người chú ý.

Nhưng tài liệu này là sự kiện đáng kể với những ai yêu thích văn học. Tài liệu được dùng để giải quyết vấn đề ơn gọi, nhưng phạm vi của nó vượt xa mục tiêu nan đầu là đào tạo linh mục. Các nhà lãnh đạo giáo dục, kể cả những người trong lĩnh vực giáo dục thế tục sẽ thấy có điều gì hữu ích ở đây để suy nghĩ. Tôi khuyên quý vị nên đọc thư này cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục tương lai.

Việc Giáo hội quan tâm đến văn học không phải là chuyện mới. Chúng ta còn nhớ “Danh sách các sách cấm” được công bố sau Công đồng Trent (1545-1563) và chỉ bị bãi bỏ vào năm 1966: Stendhal, Victor Hugo, George Sand, Gustave Flaubert cùng làm việc này.

Đảo ngược quan điểm

Đức Phanxicô, trong một cử chỉ mà ngài thường làm, đã đảo ngược quan điểm truyền thống. Ngài cho rằng, viết, đọc những bài thơ hay và lãng mạn là nền tảng của mọi nền giáo dục. Văn học buộc chúng ta phải lắng nghe tiếng nói của người khác, giúp chúng ta khám phá các văn hóa khác, bước vào đời sống khác với văn hóa của mình, mời gọi “giải tập trung” và đồng cảm, sửa chữa những bất lực cảm xúc mà thế giới hiện đại phải chịu đựng, những giam cầm mà mỗi cá nhân sống trong bong bóng của họ.

Phim ảnh và các phương tiện nghe nhìn khác cũng giúp chúng ta thoát ra ngoài, nhưng văn học hoạt động với hiệu quả không thể so sánh được. Chúng ta có thể đọc bất cứ lúc nào không cần đến công nghệ. Đó là nghệ thuật dễ tiếp cận cho tất cả mọi người, vì đó là một nghệ thuật “nghèo nàn”, một thuật ngữ Đức Phanxicô không e dè dùng vì ngài quen… sống nghèo như Thánh Phanxicô Assisi.

Tác phẩm văn học được tạo nên từ ngôn từ, văn phong và biểu tượng, đòi hỏi người đọc phải đặt trí tưởng tượng, vận dụng khả năng sáng tạo và diễn tả của riêng mình vào. Việc rút tỉa những điều hay trong sách buộc tâm trí chúng ta phải phát triển sức mạnh của nó. Các phương tiện truyền thông khác thụ động hơn, nhưng đọc buộc chúng ta phải suy nghĩ, phải tích cực.

Đây là những lập luận không có gì mới, chúng ta đã thấy ở Aristotle, Hegel, Valéry, Rilke, Cassirer và Eliot. Điều mới ở đây là được Giáo hoàng nhắc đến.

Năm 1999, trong Thư gởi các nghệ sĩ, Đức Gioan Phaolô II đã xin các nhà sáng tạo tìm sáng kiến của họ từ kitô giáo. Ngài nói phải tách lúa mì ra khỏi cỏ trấu, ngài phản đối loại vatican học phi tôn giáo.

Ca ngợi sự phức tạp về mặt đạo đức

Không có gì giống như vậy với Đức Phanxicô. Không phải ngài khuyên nên đọc những tác phẩm lớn, nhưng tất cả các tác phẩm văn học, không ngoại lệ, ngay cả khi nó có thể gây sốc và làm cho người tín hữu kinh ngạc. Là người thừa kế Thánh I-Nhã, Đức Phanxicô xem tiểu thuyết như “bài tập linh thao” đánh thức ý thức đạo đức của người đọc. Cảm xúc tiêu cực cũng là dấu hiệu cho thấy đầu óc đang hành động.

Văn học là “phòng tập thể dục của phân định”. Tốt hơn triết học và các bài phân tích, văn học dạy chúng ta nhận biết “sự vô ích và việc không thể giảm thiểu bí ẩn của thế giới và của con người thành cực đối nghịch đúng-sai, công bằng hay không công bằng”.

Dưới ngòi bút của ngài, những lời này rất mạnh, thậm chí mang tính cách mạng, đi ngược với truyền thống kiểm duyệt của Giáo hội, nhưng còn đáng ngạc nhiên hơn là chống lại hệ thống thẩm tra hiện đại trong khuôn viên nhà trường dưới danh nghĩa chính trị và hệ tư tưởng. Tuy nhiên, lời khen ngợi về sự phức tạp về mặt đạo đức của văn học chỉ là quay trở lại với nguồn gốc của thần học công giáo: với Basile de Césarée, người khuyến khích giáo dân đọc văn học ngoại giáo, với Thánh Tôma Aquinô, người thấy trong ẩn dụ thơ ca cách duy nhất để diễn tả sự vô hạn của thần thánh.

Ngược với mọi mong chờ, ngài không trích dẫn những tác giả ưu tú của văn học công giáo như Dante, Hopkins hay Bernanos, nhưng ngài trích dẫn Proust, Celan và Borges, các tác giả ngài đã biết ở Argentina. Một kinh ngạc thực sự khi ngài chỉ trích văn sĩ Pháp Cocteau đã bôi nhọ nghệ thuật văn học nhân danh đức tin. Như thể tôn giáo của văn học đã đi về Rôma! Chúng ta có thể tin hơn ở Đức Phanxicô về sức mạnh của văn chương, trong đó ngài thừa nhận “nhiệm vụ hàng đầu được Thiên Chúa giao phó cho con người là “đặt tên” cho các sinh vật và sự vật đó sao?

Khi bức thư gởi đi, các giám mục đã phản đối một đoạn về lễ khai mạc Thế vận hội Olympic bị hiểu sai là một đoạn nhái lại Bữa Tiệc Ly. Họ khó có thể đi xa hơn đỉnh cao tinh thần và trí tuệ mà Đức Phanxicô đã vươn tới. Chúng tôi mơ các nhà lãnh đạo tôn giáo khác sẽ có thể tìm được nguồn cảm hứng từ món quà đặc biệt về trí thông minh và sự cởi mở với mọi thụ tạo. Thi sĩ Apollinaire đã nói điều này năm 1913: “Người châu Âu hiện đại nhất là Đức Piô X.” Chỉ có một cái tên cần thay đổi.

William Marx là giáo sư tại Collège de France, chủ tịch môn Văn học so sánh. Quyển sách mới nhất của ông: “Mùa hè với Don Quixote”, nxb. Ecuador

Marta An Nguyễn dịch

Thánh hóa thường xuyên

Thánh hóa thường xuyên

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Carlo nói: “Một phút trôi qua là chúng ta mất một phút để thánh hóa mình.”

Một phút trôi qua” có thể làm cho một số người lo âu. Nhưng với Carlo, đó là câu nhắc chúng ta sống hết mình, tự phát và kiên định không e ngại, , sống một cách nhân đức vì tình yêu, chăm sóc tâm hồn, chăm sóc đời sống thiêng liêng của mình. Carlo nói: “Vì sao ai cũng lo chăm sóc sắc đẹp cơ thể mà không chăm sóc nét đẹp tinh thần? Nét đẹp cơ thể như hoa sớm nở tối tàn.” Carlo so sánh nét đẹp bên ngoài với lâu đài xây trên cát ngoài biển: trận mưa đầu tiên rơi sẽ làm nó sập, chỉ còn lại một ít cát. Trong khi nét đẹp tinh thần còn mãi. Nét đẹp tinh thần được nuôi dưỡng bằng các nhân đức, bằng việc làm của đức tin, đức cậy và trên hết là đức ái với Thiên Chúa và với người anh em.

Carlo nói: “Tất cả mọi cố gắng để giữ bề ngoài trẻ đẹp là vô ích hoàn toàn. Vì tất cả sẽ qua đi… Điều làm chúng ta thực sự xinh đẹp trước mắt Chúa sẽ chỉ là cách chúng ta yêu mến Ngài và yêu thương người anh em mình.”

Carlo biết cách chăm sóc nét đẹp tinh thần nội tâm. Chúng tôi nghĩ chính Chúa Thánh Thần đã thổi sức cho Carlo và Carlo cũng được các linh mục, những người làm gương tốt cho Carlo như cô bảo mẫu Beata khuyên bảo Carlo. Carlo biết trau dồi nhân đức như lời Tổ phụ Evagre le Pontique, một tác giả vĩ đại viết về đời sống thiêng liêng. Ngài có những lời khuyên đạo đức, xây dựng trên nguyên tắc của cuộc sống để định hình đời sống thiêng liêng cách đúng đắn. Trong Luận cương thực hành, ngài viết:

Khi tâm trí chúng ta lang thang đây đó, việc đọc, canh thức và cầu nguyện làm cho tâm trí chúng ta được ổn định. Khi dục vọng đốt cháy chúng ta, cơn đói, mệt mỏi và cô đơn sẽ dập tắt nó. Đặc biệt khi chúng ta bị kích động và nóng nảy, việc đọc Thánh vịnh, trau dồi lòng kiên nhẫn, lòng thương xót, tâm hồn chúng ta sẽ được xoa dịu. Những tiêu chuẩn này phải được áp dụng đúng lúc và đúng mức, vì cái gì quá đáng và không đúng lúc chỉ tồn tại một thời gian ngắn và cái gì chỉ tồn tại một thời gian ngắn thì hoàn toàn vô ích.

Những người biết Carlo đều nhận thấy Carlo luôn vui vẻ, đó là dấu hiệu bên ngoài cho thấy Carlo đã thành công trong việc chế ngự cảm xúc và đam mê của mình. Tổ phụ Evagre dạy: “Đam mê đến từ cảm xúc. Nhưng khi có điều độ và có đức ái thì đam mê không phát triển. Ngược lại, nếu thiếu những đức tính này, đam mê trỗi dậy.” Một khi các nhân đức này tác động trên lãnh vực đam mê và cảm xúc, khi đó chúng ta “khiêm tốn ăn năn trong nước mắt với lòng khao khát vô tận những gì thuộc về Thiên Chúa và dấn thân hết mình cho công việc”. Tổ phụ Évagre còn khuyên chúng ta:

Khi bị cám dỗ, đừng cầu nguyện trước khi nói vài lời dữ dội với ma quỷ, kẻ cám dỗ chúng ta. Vì lúc đó tâm hồn chúng ta đang bị kích động với những suy nghĩ tiêu cực nên lời cầu nguyện không thể trong sạch. Ngược lại, nếu chúng ta giận dữ nói với quỷ, chúng ta sẽ làm nó bối rối, kế hoạch của nó sẽ trở nên vô ích. Vì một hiệu ứng như vậy, chính xác là tạo tức giận một cách tự nhiên dù nó liên quan đến những suy nghĩ tốt nhất.

Marta An Nguyễn dịch

Từ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

Từ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Tôi xin hỏi câu hỏi tế nhị và nói chuyện với Antonia. Trong Tin Mừng Thánh Gioan 3, 36 có nói: “Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.” Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa là chủ đề lặp đi lặp lại trong Kinh thánh, nhưng nhiều người muốn che giấu nó.

Cơn thịnh nộ của Thiên Chúa là hình ảnh rất thường gặp trong Kinh Thánh (một vài ví dụ trong Xh 15, 7; 32, 10; Đnl 12, 9; Tv 2, 5.12; Rm 1, 18; Êp 2, 3ï). Đó là hình ảnh ẩn dụ áp dụng cho Thiên Chúa: Thiên Chúa là tinh thần thuần khiết, Ngài không có cơ thể nên không có đam mê hay cảm xúc của con người. Ẩn dụ này ám chỉ hình phạt mà những kẻ vô đạo, tội lỗi phải chịu, gắn liền với công lý cứu độ của Thiên Chúa (Mk 7:9; Xp 3:1-10; Rm 5, 9 và 1Tx 1, 10). Một cách trực tiếp và tích cực, Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người, Ngài chỉ muốn hình phạt hoặc trừng phạt một cách gián tiếp, đơn giản vì hình phạt là hậu quả cá nhân mà kẻ ngoan cố từ chối mọi trách nhiệm, mọi hành động cứu độ của Chúa Kitô.

Nhiều tín hữu nghĩ rằng địa ngục trống rỗng. Nhưng ý nghĩ này bị mâu thuẫn bởi một số sự thật nhất định. Người Ý chúng tôi, khi nghĩ về địa ngục, trên hết chúng tôi bị điều kiện hóa bởi Thần khúc của Dante, và chúng tôi tưởng tượng nó là một nơi chốn. Ngược lại, tôi nghĩ nó phải được xem như một điều kiện có thể có của cuộc sống: kẻ bị nguyền rủa, dù là thiên thần hay con người, đều ngoan cố từ chối Chúa; và Thiên Chúa thể hiện bản chất của Ngài là Lòng Thương Xót yêu thương. Những kẻ bị nguyền rủa biết rõ Thiên Chúa là Lòng Thương Xót, Đấng yêu thương, nhưng họ bị giam hãm trong ngoan cố khước từ Thiên Chúa. Và đó là điều các thiên thần, những người bị nguyền rủa đau khổ. Một điều gì đó bi thảm và đau lòng: những kẻ bị nguyền rủa biết rõ Thiên Chúa hiện hữu và Ngài là Lòng Thương Xót vô hạn, nhưng họ hận thù và từ chối Chúa.

Những tháng trước khi qua đời, Carlo chuẩn bị hình ảnh và bài viết cho cuộc triển lãm mới mang tên “Địa ngục, Luyện ngục và Thiên đường”. Vì vậy, tôi tham khảo tài liệu này của Carlo. Carlo thu thập những gì Đức Mẹ mặc khải cho ba trẻ mục đồng Fatima về địa ngục. Ngày 13 tháng 6 năm 1917, Đức Trinh Nữ đã xin ba trẻ: “Các con hãy hy sinh cho những kẻ phạm tội. Khi các con hy sinh, các con nên nói: “Lạy Chúa Giêsu, đây là tình yêu dành cho Chúa để các kẻ có tội được hoán cải và để đền tạ những tội đã phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.” Và vài năm sau, sơ Lucia nhớ lại:

Không còn nghi ngờ, khi tôi nhìn cảnh địa ngục, tôi thốt ra tiếng kêu hoảng sợ như muốn cầu cứu, tôi ngước mắt nhìn Đức Mẹ, Mẹ buồn bã nói với chúng tôi: “Các con đã thấy địa ngục nơi linh hồn của những tội nhân đáng thương phải đi tới. Để cứu họ, Thiên Chúa muốn thế giới tôn kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ. Nếu các con làm những điều Mẹ  sắp nói với các con, nhiều linh hồn sẽ được cứu và chúng ta sẽ có được bình an.”

Marta An Nguyễn dịch

Chân phước Carlo Acutis: Một đức tin dễ lây lan

Chân phước Carlo Acutis: Một đức tin dễ lây lan

Trích sách “Chuyển giao đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

 

Ông bà có nhớ đặc điểm nào trong tính cách của Carlo đã có thể làm cho đức tin của Carlo được lan truyền không?

Tôi nghĩ đến ngay tính lạc quan của Carlo. Carlo luôn tích cực, có óc hài hước. Carlo thường nói: “Buồn là nhìn về mình; hạnh phúc là nhìn về Chúa.” Chúng tôi chưa bao giờ thấy Carlo buồn kể cả khi Carlo vào bệnh viện tháng 10 năm 2006.

Khi còn nhỏ cũng như khi là thiếu niên, Carlo không bao giờ phàn nàn. Carlo luôn như vậy kể cả những ngày cuối cùng ở bệnh viện.  Các nhân viên y tế của hai phòng khám khi Carlo nhập viện đều ngạc nhiên trước sự thanh thản và nụ cười của Carlo khi đối diện với những khó khăn nghiêm trọng của bệnh tật. Khi đó, Carlo vẫn nói với chúng tôi: “Không phải con mà là Chúa.” Hoặc: “Không phải cái tôi của con, nhưng vinh quang của Chúa.” Những ngày trước đó khi Carlo chỉ mới bị sốt, Carlo nói: “Con xin dâng đau đớn của con cho Giáo hoàng, cho Giáo hội để con khỏi vào luyện ngục, nhưng được lên thẳng thiên đàng.”

Vì Carlo luôn vui vẻ và hài hước nên ai cũng nghĩ Carlo nói đùa. Thật ra đó là cách Carlo nói lên đức tin của mình: trí thông minh của Carlo bám rễ trong mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu, Carlo biết, chính Đấng Cứu Thế đã hiến mạng sống cho các môn đệ của Ngài. Nhờ vậy Carlo có sức mạnh nội tâm to lớn, có thể nhìn xa hơn những đau khổ hiện tại, có khả năng tách biệt vốn là đặc điểm của tính hài hước.

Đó là kết quả của một cuộc đời tuy ngắn ngủi nhưng không bi thảm hóa những tình huống khó khăn nhất, giúp những ai đang buồn bã chán nản lên tinh thần, an ủi họ trong những giây phút này. Carlo không bao giờ rơi vào tình trạng cam chịu hay tuyệt vọng vì Carlo đã phó thác cho Chúa Giêsu.

Cha Roberto Gazzaniga, linh mục Dòng Tên, hiệu trưởng trường trung học Lêô XIII ở Milan đã gom một số chứng từ và kỷ niệm của các bạn cùng lớp với Carlo:

Các bạn nhớ mãi tính hài hước, tính hoạt bát, hào phóng của Carlo, Carlo muốn có giao tiếp thân thiện và luôn tự kềm mình. “Tôi chưa bao giờ thấy Carlo nổi giận dù có bị khiêu khích.” Carlo là người  trẻ dấn thân và quan tâm đến nhiều việc, không lơ là nhiệm vụ, hay cười, tốt bụng, có khả năng tạo quan hệ tốt với mọi người. “Nếu chúng tôi đang buồn thì ở bên cạnh Carlo, chúng tôi được khuây khỏa.” Lạc quan của Carlo lan truyền, mang lại lợi ích trong các quan hệ xã hội. Ở giai đoạn niên thiếu, tuổi xem bản thân và thế giới nhỏ bé của mình trên hết, Carlo nồng hậu, niềm nở luôn đem bạn về nhà. “Chúng tôi cảm thấy Carlo quan tâm đến mọi người, Carlo tự nhiên nói chuyện với bạn bè.” Các bạn cùng lớp và các bạn khác đều thích tính tự phát, sẵn sàng và tốt bụng của Carlo.

Marta An Nguyễn dịch

Chân phước Carlo: Thánh lễ hàng ngày, một cách cụ thể để sống đức tin của chúng ta

Chân phước Carlo: Thánh lễ hàng ngày, một cách cụ thể để sống đức tin của chúng ta

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Với Chân phước Carlo, việc đi lễ và chầu Thánh Thể là cách Carlo biến những điều mình tin thành hiện thực phải không?

Chắc chắn rồi. Carlo đi lễ và chầu Thánh Thể mỗi ngày, cả trong thời gian nghỉ hè. Khi chúng tôi đi nghỉ hè ở Assisi, Carlo dành rất nhiều thì giờ để ngồi trước nhà tạm và tìm các nhà thờ có chầu Thánh Thể để đến chầu. Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Thiên thần luôn có chầu Thánh Thể mỗi buổi chiều, nên chiều nào Carlo cũng đến chầu. Carlo thinh lặng cầu nguyện, tập trung nói chuyện riêng tư thân mật với Chúa. Một cách ngây thơ, Carlo nói với chúng tôi: “Chúa nhìn con, con nhìn Chúa. Cái nhìn này thêm sức cho con. Con để Chúa quan sát con, đào sâu vào con, uốn nắn tâm hồn con. Chúa thực sự hiện diện, Chúa không phải là một phát minh. Chúa ở đây. Nếu mọi người ý thức điều này, họ sẽ đến với Chúa. Nếu mọi người tin vào sự thật này thì cuộc sống của họ sẽ được cải thiện rất nhiều!”

Carlo chép lại câu này của Thánh Augustinô: “Không ai ăn thịt này mà không kính thờ trước; không kính thờ sẽ là phạm tội”, đó là cách chúng ta chuẩn bị tốt nhất để đón nhận Bí tích Thánh Thể.

Carlo nói, Bí Tích Cực Thánh hiện diện trong nhà tạm tỏa tình yêu chữa lành này và chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm và chúng ta hiệp nhất với Giáo hội khải hoàn, Giáo hội ở trên thiên đàng và giờ này Giáo hội quy phục trước Chiên Thiên Chúa, để xin Chúa ban ơn cho mọi người. Trong Nhà tạm, Chúa Giêsu hiện diện, Ngài kính thờ Chúa Cha, Ngài muốn kết hợp với mọi người với Chúa Cha. Chúa Giêsu dạy chúng ta cách thờ phượng Chúa Cha. Trước Thánh Thể, chúng ta phải có thái độ tôn kính này.

Carlo cũng khuyến khích các bạn của Carlo kính thờ Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Carlo nói: “Các bạn làm như tôi, các bạn sẽ thấy có một cuộc cách mạng đang diễn ra trong bạn.” Chúng tôi tin chắc chính sự kết hợp với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đã làm cho Carlo có lòng bác ái với những người thấp bé, người nghèo.

Carlo luôn nói Nhà Tạm là chiếc nôi ân sủng. Trong Nhà Tạm có Ba Ngôi Chí Thánh. Tôi thấy Nhà Tạm trong tính năng động của Carlo. Thực tại Thánh Thể là bằng chứng, bằng chứng chúng ta được tiền định để nên thánh. Sự thánh thiện chúng ta có được là nhờ chúng ta trung thành với Bí tích Thánh Thể qua việc thực hành bảy nhân đức: ba nhân đức đối thần (đức tin, đức cậy, đức ái) và bốn nhân đức chính (khôn ngoan, công bằng, sức mạnh, tiết độ). Gương mẫu là Chúa Giêsu. Công cụ là lý trí và ân sủng. Điều này được ban hoặc được ban lại qua các bí tích. Nhà tạm ở gần Đấng Thánh. Nhà tạm mật thiết với Ba ngôi Chí Thánh từ hai mươi thế kỷ nay. Như thế Nhà Tạm có thể làm chúng ta trở nên thánh thiện, nhưng cũng có thể có sự không đáp lại, không trung thành, đạo đức giả, ích kỷ, không thấy giải pháp, một hành trình nguy hiểm khó quay đầu lại.

Carlo khiêm tốn và đơn sơ. Một lòng khiêm tốn chân chất, một đơn sơ làm đơn giản mọi chuyện. Trong tinh thần này, Carlo nói chuyện với Chúa. Một đối thoại vui vẻ và tin tưởng để đến với Thánh Thể, để nhận mình đang đứng trước một Thiên Chúa duy nhất. Khoảng cách là vô tận, dù Nhà tạm chỉ cách đó vài mét.

Thờ phượng là tỏ lòng tôn kính dành riêng cho Thiên Chúa.

Chúng ta cần suy nghĩ để có thể dùng từ ngữ loài người nói chuyện với Đấng Tuyệt đang thực sự ở trong Bí tích Thánh Thể, tôn kính, hy vọng và tin vào một Thiên Chúa duy nhất của tình yêu. Hơn nữa, chúng ta tuyên xưng khi chúng ta leo lên đỉnh của các điều răn trên núi Sinai, theo giới luật của Giáo hội và theo con đường bổn phận của quốc gia mình. Chúng ta bắt đầu giờ chầu với Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Sáng Danh, Kinh Truyền Tin, xin Chúa cho chúng ta được bình an. Chúng ta có thể đọc thêm lời cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin cho con yêu Chúa nhiều hơn; xin Chúa nhận lấy con người thật của con và biến đổi con theo ý Chúa, con sẽ cố gắng ít xúc phạm Chúa, Lạy Chúa, con xin phó thác con cho Chúa.”

Chúng ta phải bước vào tinh thần Nhà Tạm, một tinh thần đặc biệt, là phép rửa tội được tái sinh, là sự phát triển thiêng liêng. Bí tích Thánh Thể là lương thực thiêng liêng, tuy đa dạng về chất liệu, nhưng vẫn là một hình thức, một hoàn hảo. Theo nghĩa tuyệt đối, Bí tích Thánh Thể là bí tích duy nhất, bí tích của hiệp nhất. Dù Bí tích Thánh Thể có hai yếu tố bánh và rượu nhưng theo giáo huấn của Giáo hội, chúng ta tuyên xưng Bí tích này là duy nhất. Phép rửa cần thiết để bắt đầu cuộc sống siêu nhiên. Bí tích Thánh Thể cần thiết để hoàn thành sự sống siêu nhiên.

Bí tích Thánh Thể có ba ý nghĩa: ý nghĩa đầu tiên liên quan đến quá khứ, tưởng nhớ cuộc khổ nạn, nghi thức hóa cuộc khổ nạn, làm cho cuộc khổ nạn hiện diện không đổ máu trong mỗi Thánh lễ, và làm cho chúng ta hiện diện trước tác dụng của sự hy sinh. Đó là lý do vì sao Thánh Thể được gọi là hy tế. Điều thứ hai liên quan đến sự hiệp nhất của Giáo hội, lý do vì sao Thánh Thể được gọi là hiệp thông, là tham dự. Điều thứ ba liên quan đến tương lai: Thánh Thể báo trước hạnh phúc vĩnh cửu và vì thế được gọi là của ăn đàng. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta có ba yếu tố: Sacramentum tantum, bánh và rượu; res et Sacramentum, nhiệm thể đích thực của Chúa Kitô; res tantum, là tác dụng của bí tích. Chiên Vượt Qua là hình ảnh chính của Bí tích Thánh Thể. Chúa Kitô đã thiết lập bí tích này dưới hình bánh và rượu, đến từ Tin Mừng. Trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta dùng bánh và rượu, thức ăn thông thường của loài người. Chúng ta lãnh nhận bánh là bí tích Mình Thánh, rượu là bí tích Máu Thánh. Bí tích này tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa, máu tách ra khỏi thân xác Chúa Kitô để cứu độ, để cứu rỗi linh hồn. Chúng ta đừng để Máu Thánh thành vô nghĩa với chúng ta. Chúng ta phải làm chứng Bí tích Thánh Thể hiện hữu. Chỉ cần đẩy cửa vào bất cứ nhà thờ nào. Có người quỳ gối. Có buổi lễ đang diễn ra. Có cái gì đó. Có ai đó.

Chúng ta đặt câu hỏi. Chúng ta tự hỏi. Nhưng đó là bằng chứng gần như sờ thấy được về ảnh hưởng của Bí tích Thánh Thể. Thánh Thể là quyền công dân bất khả xâm phạm. Chúng ta cần nói, cần cảm nhận thực tế. Chúng ta phải làm! Chúng ta có năm châu lục: châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương. Thánh Thể trải qua và hỗ trợ tất cả những thăng trầm của hành tinh. Chúng ta không nghĩ tới, không để ý đến, không mong đợi, nhưng khi có động đất, núi lửa phun trào, lũ lụt hay tai ương khác, Nhà Tạm sẽ bị cuốn trôi như mọi thứ khác. Khi công bố một sự kiện thảm khốc, chúng ta không bao giờ nói đến hàm ý và sự sụp đổ của Nhà Tạm. Một hiện diện, một chia sẻ, một tham gia… Một hiện diện là một hiện diện. Trong Nhà Tạm và từ Nhà Tạm, sự hiện diện thiêng liêng, thực chất, phong phú nuôi dưỡng đang hành động. Chúng ta không thể không tính đến Thánh thể. Thánh Thể đã ở đây trong hai mươi thế kỷ. Rất gần. Trong Nhà Tạm có Sự sống, có Bản thể, có Vĩnh cửu, có Vô Lượng. Bản thân Thánh Thể là một thế giới, một hành tinh mới, một ngôi sao mới. Thánh Thể có trong lịch sử, có trong địa lý. Nhà Tạm phải trở thành nhà của mọi người, nơi ở của mỗi người, nơi gặp gỡ, điểm quy chiếu, thông số, đơn vị đo lường. Thánh Thể phải được kính thờ sốt sắng. Chúng ta cần làm cho Thánh Thể mang tính cá nhân hơn. Chúng ta tạ ơn về ân sủng này. Tạ ơn là nhận ra lợi ích chúng ta nhận từ Thánh Thể. Nhận biết và cảm nhận mình là người nhận ơn. Tạ ơn và đánh giá cao ơn của Chúa. Nhà Tạm là một trong những ơn lớn nhất của Chúa. Nhà Tạm là nơi tạ ơn. Ở đó, Chúa Giêsu tạ ơn. Ngài tạ ơn Chúa Cha. Ngài tạ ơn Chúa Thánh Thần, tạ ơn Giáo Hội. Ngài tạ ơn đến mọi người. Ngài tạ ơn tôi, tạ ơn các bạn. Lời tạ ơn tuôn trào từ Nhà Tạm. Ngoài ra còn có tha thứ. Cuộc Khổ Nạn vẫn tiếp tục. Phải có được tha thứ. Chúng ta dâng Nhà Tạm lên Chúa.

Để mô tả những gì xảy ra trong chúng ta khi chúng ta tôn thờ Bí tích Thánh Thể, Carlo dùng các ẩn dụ khác nhau: “Hướng về phía mặt trời, chúng ta rám nắng. Đối diện với Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng ta trở nên thánh thiện.”

Hoặc “Khi một tia sáng nhỏ lọt vào phòng tối, với mắt thường chúng ta có thể thấy bụi bay lơ lửng trong phòng vì các các hạt bụi nằm trong đường đi của ánh sáng sẽ truyền ánh sáng đến mọi hướng, như chúng ta thấy mặt trăng trên bầu trời ban đêm. Điều tương tự cũng xảy ra với tâm hồn chúng ta. Khi kính thờ Thánh Thể, chúng ta được ánh sáng tỏa ra từ Bí tích Thánh Thể tác động, vì thế chúng ta sẽ thấy tất cả “bụi” làm ô nhiễm tâm hồn, ngăn chúng ta tiến bước trên con đường thánh thiện, mà bình thường với mắt thường chúng ta không thấy các bụi này.

Việc thờ phượng đáp lại khát vọng “im lặng” để “lắng nghe tiếng Chúa”, đơn giản hóa lời cầu nguyện cá nhân và tách mình ra khỏi những thứ thừa mứa. Carlo nói: “Lời cầu nguyện càng đơn giản thì càng sâu sắc. Để đến gần Chúa hơn, điều quan trọng là phải thực sự giải thoát mình khỏi chính mình và khỏi mọi thứ dư thừa.”

Lịch sử các Nhà Tạm là lịch sử cứu độ, lịch sử suốt hai thiên niên kỷ không đổ máu, hiện diện từng giây phút trên khắp địa cầu. Mọi người theo Thánh Thể, được Thánh Thể khẳng định mình. Mỗi Nhà Tạm đều có một lịch sử. Và đó không phải là chuyện đơn giản. Bất cứ ở đâu có một Nhà Tạm thì ở đó có một nhà nguyện, một nhà thờ đã được xây. Trong 20 thế kỷ, từ năm này sang năm khác, đã có không biết bao nhiêu Nhà Tạm đã được xây. Trên tất cả các lục địa, nếu chúng ta làm bản đồ với những bóng đèn nhỏ, chúng ta sẽ thấy hàng triệu bóng đèn sáng lên. Bí tích Thánh Thể đi vào thế giới và hòa nhập với tất cả những ai sống trên thế giới. Con người cần được giải phóng, thanh lọc, nhân bản hóa bằng Bí tích Thánh Thể. Đây không phải là một suy nghĩ xa lạ và khó hiểu, Đây là việc tái nhân đạo để tái hòa nhập. Sự hiện diện sống động của Bí tích Thánh Thể phục vụ mục đích này. Chúng ta phải tìm cách truyền bá ý tưởng văn hóa. Ý tưởng phụng vụ nếu không chúng ta có nguy cơ bị nuốt chửng với loại văn hóa tắc nghẽn. Chúng ta phải làm tất cả những điều này “nên thánh thể”, đây không phải là hành động không tưởng. Đây là một việc làm to lớn, đúng, nhưng không phải là không thể. Nếu Thánh Thể có thể đi vào thế giới này, mở đường, tiến về phía trước, đầu tư vào thế giới này, thì Thánh Thể sẽ chiến thắng. Chắc chắn chiến thắng vì một làn gió mới đang thổi! Tất cả chỉ cần bấm nút, làm một hành động, một ngón tay là chúng ta có thể tiếp xúc với thế giới công nghiệp lớn và nhỏ. Điện thoại, truyền thanh, truyền hình, máy tính, Internet ở trong nhà chúng ta 24 giờ một ngày. Nếu chúng ta được nên như Thánh Thể, chúng ta bay cao. Một chuyến bay nhanh như Internet, xuyên lục địa, vũ trụ. Và mọi thứ đi qua trước mắt chúng ta. Nếu chúng ta có thể “làm tất cả những chuyện này nên thánh thể”, thì đó là một chiến thắng.

Nếu chúng ta thành công? Một dòng chảy mạnh được hình thành trong đó mọi thứ được thu giữ, tập hợp, hợp nhất, khối lượng hóa. Vì Bí tích Thánh Thể tồn tại một cách thực chất và sống động nên Bí tích Thánh Thể phải đi qua dòng điện này. Đây là xu hướng được gọi là đa phương tiện, là dòng chảy khổng lồ, là đại dương tin tức, ý tưởng, lời nói, lời khuyên, đề xuất, nỗ lực, can thiệp với những gì chúng ta có trong đầu. Chúng ta sẽ bị choáng ngợp trước Thánh Thể vì đó là cơn lốc có thể nuốt chửng mọi thứ. Đây là cơ hội, tôi không dám nói là cơ hội cuối cùng để đặt Bí tích Thánh Thể vào cơn lốc. Gần như bằng vũ lực. Gần như bạo lực. Chúng ta cần nói về, cần thảo luận về Thánh Thể trong Nhà Tạm vì Thánh Thể có nguy cơ bị tù chung thân. Bị nhốt, bị giam chặt… Đấng toàn năng ở đây trong bí mật. Hiện hữu ở đó, duy nhất. Đó là điểm chính. Ở đó là Một, là Ba ngôi. Ở đó, thiên đàng. Ở đó 24/24 không ngơi nghỉ. Không ngừng. Không gì cả. Vô cực ở điểm cuối. Vô cực trong hữu hạn của bình chứa. Vô cực trong hữu hạn của nội tâm

Khi dạy giáo lý, Carlo so sánh sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Nhà Tạm với cục nam châm có sức hút cực mạnh: khi chúng ta đến gần, chúng ta sẽ bị cục nam châm thu hút, thu hút những ai chân thành yêu mến Chúa.

Carlo xem giây phút dâng Mình Thánh Chúa là giây phút quan trọng của thánh lễ: “Khi dâng Mình Thánh Chúa, chúng ta phải xin Chúa ban ơn qua công nghiệp của Chúa Giêsu, qua  những vết thương thánh của Ngài, qua Máu Thánh, qua nước mắt, qua đau khổ của Đức Mẹ, Mẹ cầu bàu chúng ta hơn bất cứ ai.” Và khi kết thúc truyền phép, Carlo cầu nguyện trong lòng: “Nhờ Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Maria, con xin dâng lời cầu nguyện của con và xin Chúa ban cho con…” Khi rước Mình Thánh Chúa, Carlo  nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin ở đây với con, nhà của con là nhà của Chúa!” Carlo thường nói: “Chúng ta sẽ lên thẳng thiên đàng nếu chúng ta đến với Bí tích Thánh Thể mỗi ngày!”

Carlo hết lòng tạ ơn sau khi tham dự thánh lễ. Để sống một cách tận tình, Carlo dùng những từ la-tinh của những chữ cái của tôn thờ, tạ ơn, xin ơn, dâng hiến, đền tạ. Carlo tận dụng lời dạy của Thánh Têrêxa Avila: khi rước lễ là khi Chúa Giêsu hướng dẫn chúng ta, và chúng ta phải cố gắng nghe Ngài. Và lời tạ ơn của Thánh Maria Mađalêna Pazzi: tạ ơn sau khi rước lễ là giây phút quý giá nhất mà chúng ta có được trong cuộc đời này, là cơ hội tốt nhất để đối diện với Thiên Chúa, đốt cháy chúng ta bằng tình yêu thiêng liêng của Ngài.

Marta An Nguyễn dịch

Chân phước Carlo Acutis và sáu bí tích khác

Chân phước Carlo Acutis và sáu bí tích khác

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Mọi người đều thấy tầm quan trọng Carlo dành cho Bí tích Thánh Thể, Carlo cho rằng có sáu bí tích cọng một (Bí tích Thánh Thể). Carlo nói gì về sáu bí tích còn lại?

Trong một thánh lễ ngày chúa nhật, linh mục ở nhà thờ Santa Maria Segreta, Milan xin chúng tôi lập lại lời hứa rửa tội. Carlo khi đó khoảng 9 tuổi, rạng rỡ và rất xúc động. Sau thánh lễ, Carlo nói với chúng tôi:

Thời gian chúng ta sống trên trần gian sẽ không bao giờ đủ để chúng ta tạ ơn về hồng ân rửa tội Chúa ban. Nhiều người không nhận ra món quà vô hạn mà họ nhận được, họ thường lo về những hình thức bên ngoài, làm sao tổ chức lễ rửa tội hơn là quan tâm đến bí tích đem lại cho chúng ta đời sống thiêng liêng đã bị đánh mất vì tội nguyên tổ.

Carlo cũng cho chúng ta biết sự cần thiết phải tương ứng với ân sủng nhận được khi rửa tội vì “rửa tội, ngoài việc là con đường cần thiết phải đi để có các bí tích khác, nhưng rửa tội còn là con đường để lên thiên đàng”.

Chúng ta phải về lại ý nghĩa sâu xa của phép rửa tội, Carlo viết trong sổ tay: “Đó là công cụ cứu rỗi và phương tiện ân sủng. Bí tích Rửa tội xóa bỏ tội tổ tông do ông Ađam và bà Evà không vâng lời Thiên Chúa đã làm ô uế toàn nhân loại và vẫn tiếp tục làm. Nhưng phép rửa không chữa lành những vết thương do tội này để lại đã liên tục xui chúng ta làm điều xấu. Nhưng phép rửa tội lại là cánh cửa cho chúng ta đến với các bí tích khác, là những phương tiện để Chúa Ba ngôi ban ân sủng cho chúng ta và vì thế có thể chữa lành chúng ta khỏi mọi tổn thương, vì thế phép rửa tội cũng là cánh cửa đưa chúng ta đến với ơn cứu độ.

Carlo cũng viết một số ghi chú về bí tích người bệnh, bây giờ không còn gọi là xức dầu như trước:

Giây phút của cái chết, dù chúng ta có chờ hay không đều làm cho mọi người lo lắng, vì chúng ta không bao giờ tẩy sạch tội  hoặc chuẩn bị đầy đủ. Đó là lý do vì sao có một bí tích cho giây phút trọng đại này. Bí tích này bây giờ được gọi là bí tích dành cho người bệnh, bất cứ ai mắc bệnh nặng về thể xác hoặc tinh thần. Và với các bệnh tinh thần, sau bí tích giải tội là bí tích người bệnh (chúng ta đừng chờ đến giây phút cuối cùng mới lãnh nhận!), gồm những lời cầu nguyện đặc biệt. Nhưng điều cần thiết là chúng ta phải nhận bí tích này đúng lúc. Sống là chuẩn bị liên tục cho cái chết. Chúng ta không nên sợ hãi hay chán nản, cũng không hời hợt hoặc bất cẩn. Chúng ta cần tìm ra con đường trung gian, trên hết là một cân bằng tốt đẹp được đức tin thúc đẩy để hướng tới cánh cửa hy vọng. Nhân đức thần học thứ hai này phải là ngọn hải đăng và sức mạnh. Kinh Thánh khuyên chúng ta “hãy kể lại niềm hy vọng trong chúng ta” (1 Pr 3:15).

Khi sự sống bị bệnh tật tấn công hoặc khi bản án tử hình cuối cùng được tuyên bố, chúng ta phải sẵn sàng tuân theo ý Chúa. Hơn nữa, đây là việc làm tốt đẹp để mật thiết kết hiệp với cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô đã nói, ngài hoàn thành nơi chính mình những gì còn thiếu trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô: đi theo Ngài lên Đồi Canvê, chịu cực hình, bắt bớ, chiến đấu giống như Ngài. Cuộc khổ nạn tiếp tục cho đến tận thế của thế giới này. Việc chúng ta đến với nhau là lợi ích cho tất cả dân Chúa. Đây là cách khổ nạn, dâng hiến và tử đạo liên tục thực hiện. Một chu kỳ tham dự thánh lễ được cử hành mỗi giây phút trên thế giới. Hai việc làm tốt đẹp, vì sao chúng ta không liên tục cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, sự hiệp thông của con”; “Lạy Chúa Giêsu, con hiệp nhất với mọi người trên thế giới.”

Về việc xưng tội, Carlo nói với Rajesh trước khi Rajesh rửa tội: “Thiên Chúa rất vui khi các linh hồn đến gần Bí tích Thánh Thể và Bí tích xưng tội.” Carlo thường đi xưng tội và xét mình rất kỹ:

“Trước hết, chúng ta xét mình, xem chúng ta đang ở trong tình huống nào, xét các tính tốt, tính xấu, các lỗi lầm của chúng ta. Làm danh sách ưu điểm và khuyết điểm của chúng ta. Không lời bào, không nhượng bộ. Một khi đã làm rõ tính tốt tính xấu, chúng ta phải dứt khoát sửa đổi tính xấu, quyết tâm thực hiện mỗi năm một tính tốt. Dĩ nhiên chúng ta phải kiên trì làm và cố gắng có đời sống thiêng liêng qua cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa và siêng năng dự các bí tích, đặc biệt là xưng tội rước lễ, có một linh hướng tốt.

Carlo xem các bí tích có mối liên hệ chặt chẽ với việc nhập thể của Ngôi Lời. Ngôi Lời mang bản chất con người, xem con người chúng ta là con người thiêng liêng. Sự kết hợp giữa bản chất con người với bản chất thiêng liêng được gọi là kết hợp liên vị (bản chất thiêng liêng, bản chất con người và ngôi vị thiêng liêng).

Vì sao có tất cả những điều này? Để cứu chuộc nhân loại khỏi sa vào tội lỗi. Với bản chất con người, Ngôi Lời chịu đau khổ. Với con người thiêng liêng, Ngôi Lời có ân phước. Và chúng ta được cứu. Ân sủng đã trở lại. Chúng ta được nhận làm con. Một lần nữa, chúng ta được định sẵn cho sự chung sống vĩnh cửu. Đó là số mệnh của chúng ta. Sự tồn tại phải được tổ chức lại theo nghĩa chính xác này. Vì thế với các bí tích rửa tội, thêm sức, rước lễ, hòa giải, hôn nhân, truyền chức thánh, xức dầu bệnh nhân, chúng ta nhận được ân sủng và vì thế chúng ta được đi vào đời sống chung. “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt” (Ga 1:14). Thiên Chúa đã nhập thể và tất cả các giai đoạn của cuộc đời Ngài, từ nhập thể cho đến thăng thiên, đều nhằm mục đích cứu rỗi chúng ta, nhằm ban cho chúng ta hồng ân. Một ân sủng cần được giữ gìn. Được gìn giữ bằng các bí tích. Tăng cường bằng việc rước lễ, làm việc bác ái hàng ngày.

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất