Home Blog Page 155

Vì sao các giáo hoàng tông du khi tuổi đã cao?

Vì sao các giáo hoàng tông du khi tuổi đã cao?

dw.com, Christoph Strack, 2024-08-28

Đầu tháng 9, Đức Phanxicô sẽ đi chuyến tông du Á châu và châu Đại Dương dài nhất của ngài. Giáo sư sử gia Jörg Ernesti giải thích vì sao tông du quan trọng như thế nào với các giáo hoàng.

Ở tuổi 87, ngày 2 tháng 9 Đức Phanxicô sẽ bắt đầu chuyến tông du dài nhất đến các nước Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore. Trong một phỏng vấn với trang Deutsche Welle, giáo sư Jörg Ernesti giải thích sự việc.

Từ 60 năm nay, kể từ thời Đức Phaolô VI (1963-1978), các giáo hoàng đi tông du rất nhiều. Điều này thay đổi gì trong sứ vụ của các giáo hoàng?

Giáo sư Jörg Ernesti:  Các giáo hoàng đã đi trong thời Cổ đại và Trung cổ. Năm 753, Giáo hoàng Stêphanô II vượt dãy Alpes để nhờ Pépin, cha của Charlemagne giúp chống lại người Lombard. Nhưng thường thường các giáo hoàng ở Rôma và hiếm khi ra ngoài. Trước Đức Phaolô VI, giáo hoàng cuối cùng rời nước Ý là Đức Piô VII (1742-1823), ngài đi ngoài ý muốn của ngài. Ngài bị vua Napoléon bắt cóc đến Pháp.

Tháng 12 năm 1963, Đức Phaolô VI tuyên bố ngài sẽ tông du, đó là một bất ngờ lớn cho Giáo hội hoàn vũ và cho các giám mục đang về Rôma để dự Công đồng Vatican II. Việc này có ba ý nghĩa: thứ nhất ngài muốn rời Vatican và đi ra ngoài; thứ hai ngài muốn đi máy bay; thứ ba ngài muốn sau Thánh Phêrô, ngài là Giáo hoàng đầu tiên đi Đất Thánh. Đức Gioan Phaolô II (1978-2005) đi rất nhiều. Ngày nay, tông du là một phần không thể thiếu trong chức vụ giáo hoàng và thật khó tưởng tượng chức vụ của các ngài không có tông du.

Chuyến tông du đầu tiên của Đức Phaolô VI trong kỷ nguyên hiện đại là năm 1964, ngài đi Giêrusalem. Ảnh: MP/Leemage/picture-alliance

Các nhà báo có mặt trên mỗi chuyến đi. Các chuyến đi cũng như các sự kiện truyền thông tốn bao nhiêu?

Ban đầu việc các nhà báo đi theo là vì Vatican không có sân bay hoặc hãng hàng không riêng. Các nhà báo đi cũng tài trợ cho các chuyến bay, nhưng các chuyến đi cũng là sự kiện truyền thông lớn, được bộ Ngoại giao Vatican lên kế hoạch và sắp xếp để có các phương tiện truyền thông tháp tùng, kể cả các chuyến đi nhỏ như chuyến đi Mông Cổ năm 2023, nơi chỉ có một số ít người công giáo sinh sống.

Đức Phanxicô họp báo trên chuyến bay từ Budapest về Rôma năm 2023. Ảnh: Johannes Neudecker/dpa/picture

Nhưng điều này cũng áp dụng cho những sự kiện lớn. Khi Đức Gioan-Phaolô II cử hành thánh lễ trước 4 triệu giáo dân ở Manila vào cuối Đại hội Giới trẻ Thế giới năm 1995, đây là một trong những cuộc tụ họp đông đảo nhất và là sự kiện tôn giáo lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Một sự kiện được thiết kế riêng cho giới truyền thông.

Năm 1900 có khoảng 266 triệu giáo dân và năm 2024 có gần  1,4 tỷ giáo dân. Các chuyến đi có phải là biểu hiện của sự đa dạng hay đúng hơn là nỗ lực duy trì tính đồng nhất?

Trên thực tế, chúng ta có thể xem chuyến tông du của các giáo hoàng là dấu hiệu cho thấy Giáo hội Công giáo đang đa dạng hóa chính mình như một giáo hội hoàn vũ. Mặt khác vào thời của Đức Gioan Phaolô II, ngài biết rõ ngài muốn gì cho Giáo hội, ngài luôn có một thông điệp cho thấy ngài có cách tổ chức riêng của ngài, còn Đức Phanxicô thì hoàn toàn không thể đoán trước được.

Có quy định nào cho các chuyến đi của giáo hoàng không? 

Đức Phaolô VI, giáo hoàng đầu tiên tông du đã nói điều này. Ngài tiếp cận vấn đề một cách sâu đậm và phát triển một khái niệm thế nào là tông du. Theo đó, tông du phải có gặp gỡ với nhà cầm quyền, với giới trẻ, với các đại diện của do thái giáo và các tôn giáo khác.

Ngài đặt một mục tiêu. Ngài không muốn Giáo hội địa phương xem giáo hoàng là đại diện của Thánh Phêrô, như thế sẽ mang tính tập trung. Ngài muốn giáo hoàng hiện diện trong các giáo hội địa phương, việc đánh giá cao Giáo hội địa phương phù hợp với suy nghĩ của Công đồng Vatican II (1962-65).

Sau đó Đức Gioan-Phaolô II bị cho là theo chủ nghĩa tân tập trung. Theo tôi, các chuyến đi của ngài mang ý nghĩa tân tập trung, theo nghĩa phụ thuộc vào Rôma và đánh giá cao Rôma hơn Giáo hội địa phương. Ngài muốn duy trì quyền tối thượng chức vụ giáo hoàng ngay cả ở những vùng xa xôi nhất thế giới.

Tôi khó quên hình ảnh chụp chuyến đi Nicaragua của ngài năm 1983. Thần học gia nổi tiếng quốc tế Ernesto Cardenal, người bị Đức Gioan-Phaolô II cách chức khỏi mọi chức vụ trong Giáo hội vì dính líu đến phe Sandinistas cánh tả, đã quỳ gối trước ngài. Ngài đứng với vẻ mặt nghiêm nghị và giơ ngón trỏ lên, thể hiện sự phục tùng Rôma.

Còn Đức Phanxicô tạo một cảm giác vỡ mộng ở Đức và Trung Âu: Ngài đi khắp nơi, nhưng không đến với họ.

Sử gia Jörg Ernesti tại Đại học Augsburg. Hình ảnh: Nicolal Kaestner

Các giáo hoàng trước đây rất quan tâm đến việc đi thăm các nơi trên thế giới và các quốc gia công giáo lớn trong các chuyến đi. Nhưng Đức Phanxicô thì không vậy, ngài muốn đến các vùng ngoại vi. Khi rời Vatican lần đầu năm 2013, ngài đến trại tị nạn trên đảo Lampedusa ở Địa Trung Hải. Ngài khuyên các linh mục đi ra vùng ngoại vi và ngài đến các vùng ngoại vi trong các chuyến đi của ngài. Ngài nhấn mạnh đến việc đi đến các quốc gia hồi giáo, nơi chỉ có một số ít người theo thiên chúa giáo. Đối thoại liên tôn của ngài tiếp nối truyền thống của Đức Gioan-Phaolô II, ngài muốn quy tụ tất cả các tôn giáo trên thế giới lại với nhau để đối thoại. Ngài tập trung vào mối quan hệ kitô giáo-hồi giáo, ngài đến các nước hồi giáo vì ngài thấy mối đe dọa lớn nhất cho hòa bình thế giới nằm ở các cuộc xung đột giữa kitô giáo và hồi giáo, và đó cũng là cơ hội lớn nhất để ngài đóng góp cho hòa bình thế giới.

Gần đây ngài phải ngồi xe lăn trong các chuyến đi, ngài đã 87 tuổi và đi vòng quanh thế giới với nhiều hạn chế. Đây có phải là điều ngài muốn nói với một thế giới chỉ có tuổi trẻ mới được đề cao không?

Chúng ta có thể thấy điều này về mặt thiêng liêng, rằng giai đoạn cuối đời cũng có giá trị và chúng ta có thể đóng góp cho xã hội trong giai đoạn này. Nhưng theo tôi vấn đề tuổi tác của các giáo hoàng vẫn chưa phản ánh đúng trong Giáo hội, có nghĩa mọi thứ đều có giới hạn của nó. Hiện nay chương trình tông du của giáo hoàng đã bị rút ngắn đáng kể và sự hiện diện của giới truyền thông bị hạn chế. Điều vẫn còn ấn tượng với tôi, đó là Đức Bênêđíctô XVI (2005-2013) đã biện minh cho việc từ chức của ngài khi ngài nói ngài không thể đi xa. Sau này chúng ta được biết trong chuyến đi Cuba năm 2012, ngài đã bị  té nặng ban đêm.

Và chúng ta có thể thấy nơi Đức Phaolô VI vấn đề này. Năm 1970 khi ngài 73 tuổi, ngài có chuyến đi quan trọng đến Ba Tư, Pakistan, Úc, Indonesia, Hồng Kông. Quá sức chịu đựng, ngài yếu đi nhiều với khí hậu ẩm ướt vùng Đông Á. Sau đó, ngài nhận ra giới hạn của người lớn tuổi vừa khỏi bệnh ung thư. Từ đó ngài không rời Ý cho đến khi ngài qua đời năm 1978. Tầm cao cả không chỉ biểu tượng qua các chuyến đi, chúng ta còn phải tính đến giới hạn chịu đựng thể chất, đến tuổi tác của các giáo hoàng.

Giáo sư Jörg Ernesti, linh mục công giáo 57 tuổi, sử gia giáo hội. Linh mục dạy lịch sử hội thánh thời trung cổ và hiện đại tại Đại học Augsburg. Từ năm 2010, nghiên cứu chính của linh mục là lịch sử giáo hoàng hiện đại. Linh mục là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Châu Âu.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô sẵn sàng trước thử thách của chuyến đi dài nhất triều của ngài

Đức Phanxicô sẵn sàng trước thử thách của chuyến đi dài nhất triều của ngài

Mười hai ngày và 32.000 cây số, Đức Phanxicô sẽ lên đường đi Đông Nam Á và Châu Đại Dương ngày 2 tháng 9. Chuyến tông du dài nhất của ngài kể từ năm 2013 dù ngài đã 87 tuổi và sức khỏe yếu.

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ngày 28 tháng 8-2024 tại Quảng trường Thánh Phêrô  năm 2024. IPA/SIPA

famillechretienne.fr, Ban biên tập và AFP, 2024-08-30

Ở tuổi 87, với chuyến tông du dài nhất, xa nhất kể từ năm 2013, Đức Phanxicô đang cá cuộc với một ý chí mà nhiều người không tin, làm dịu những nghi ngờ về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của ngài. 32.000 cây số, 43 giờ bay, 12 ngày và 16 bài diễn văn: đầu tháng 9 ngài đi 4 quốc gia Đông Nam Á và Châu Đại Dương (Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor, Singapore), một kỷ lục của các chuyến tông du của ngài. Phải đợi đến năm thứ 12 triều của ngài, ba tháng trước sinh nhật thứ 88 để thấy ngài giữ lời hứa năm 2020, ngài muốn đi đến những nước này.

Cho đến vài tuần trước, rất ít nhà quan sát cho rằng ngài có thể đi được, các xôn xao về sức khỏe của ngài ở hành lang Vatican làm nhiều người lo ngại. Ngài đã dùng xe lăn từ năm 2022, lễ Phục sinh vừa qua ngài đã phải bỏ một vài sự kiện đã lên chương trình. Một năm sau khi mổ ruột, ai cũng lo với tám múi giờ chênh lệch, với các sự kiện tổ chức sít sao đến chóng mặt, liệu ngài có kham nổi không? Một nhà ngoại giao cho biết: “Ngài luôn nói phải tiến xa hơn một chút, ngài cảm thấy có thể đi chuyến này trong năm nay. Năm 2025 sẽ có ít khả năng hơn.”

Nghi thức bình thường

Không thay đổi chương trình, Đức Phanxicô luôn lặp lại, cho đến khi nào sức khỏe cho phép, ngài sẽ không từ nhiệm, các chuyến đi này là hòn đá tảng sứ vụ của ngài. Với chuyến tông du thứ 45, ngài là giáo hoàng lớn tuổi nhất trong lịch sử còn đi tông du, ngài trở lại truyền thống mục tử với giáo dân: tránh xa guồng máy quan liêu Giáo triều Rôma mà ngài khó đánh giá cao, việc tiếp xúc với giáo dân mang lại cho ngài một động lực mới.

Nhưng các hạn chế sức khỏe của ngài là có thật: bây giờ ngài không thể tự lên cầu thang, ngài phải dùng thang máy để lên máy bay. Ngài có bác sĩ riêng và y tá đi theo, ngoài ra ngài không có một hỗ trợ y tế nào đặc biệt. Tình trạng sức khỏe của ngài tốt, không có lo ngại đặc biệt nào trong mùa hè này.

Vatican luôn bí mật trong các vấn đề sức khỏe. Không có thông tin chi tiết về các biện pháp phòng ngừa cũng như các quy trình có thể áp dụng với các bệnh viện địa phương. Trong chuyến đi châu Phi đầu năm 2023, một chiếc xe cứu thương trang bị đầy đủ đi theo ngài để sẵn sàng can thiệp. Nhưng chuyến đi này đã được điều chỉnh, ngài nghỉ một ngày ở Jakarta sau chuyến bay dài 13 giờ.

“Sức mạnh thiêng liêng”

Một nguồn tin của Vatican nói với hãng tin AFP: “Tại Vatican, nhiều người ngưỡng mộ sự hy sinh quên mình của ngài khi ngài tiếp tục sứ mệnh, bất chấp những lời chỉ trích.”  Nhưng cũng có mối lo, thậm chí khó chịu vì sự không ngừng nghỉ của ngài, đặt các dịch vụ y tế và an ninh vào tình trạng nguy hiểm. Giáo sư Andrea Ungar, chủ tịch Hiệp hội Cao niên Ý cho biết: “Một lần nữa, chuyến đi này cho thấy sức mạnh tinh thần của ngài, theo ngài, dù lớn tuổi nhưng chúng ta vẫn có thể làm việc (…) Càng dừng lại, càng ít vận động. Động lực mạnh mẽ mang lại năng lượng đáng kinh ngạc.”

Trong năm nay, Đức Phanxicô đã phải hủy bỏ các chuyến đi vì lý do sức khỏe, ngài sẽ phản ứng như thế nào trước các nhu cầu ngài đến thăm. Ngài đã không đi nước ngoài kể từ sau chuyến đi Marseille tháng 9 năm 2023. Sau chuyến đi châu Á, ngài bắt đầu một chương trình vô cùng bận rộn khác: về lại Rôma, ngài lên đường đi Luxembourg và Bỉ vào cuối tháng 9, sau đó là ngài làm việc với Thượng hội đồng về tương lai Giáo Hội. Tháng 12 ngài khai mạc Năm Thánh 2025, một năm hành hương quan trọng dự kiến có 32 triệu người về Rôma. Một dấu hiệu cho thấy ngài nắm quyền lãnh đạo hơn bao giờ hết.

Marta An Nguyễn dịch

Chân phước Carlo Acutis: Khuôn khổ tham chiếu để có một giáo dục lành mạnh

Chân phước Carlo Acutis: Khuôn khổ tham chiếu để có một giáo dục lành mạnh

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Trong quá trình giáo dục, chúng ta thường nói đến một khuôn khổ chung. Tôi muốn hỏi Antonia, theo bà và dựa trên kinh nghiệm của bà, bà có đề xuất một khuôn khổ giáo dục nào không?

Tôi xin bắt đầu từ kinh nghiệm sống của tôi. Khi còn nhỏ tôi biết các bạn thơ ấu của tôi, các bạn là con của bạn bè cha mẹ tôi. Nhìn lại những năm tháng này, tôi thấy đời sống của các bạn thật khó khăn. Và tôi có thể xác định được nguyên nhân: các bạn có một giáo dục quá tự do, các bạn không có điểm tựa và không có mục tiêu cao.

Khi phân tích kinh nghiệm của các bạn này, tôi nhận thấy các bạn có một điểm chung là cha mẹ rất dễ dãi: từ khi 10 tuổi, cha mẹ đã cho các bạn làm những việc mà thông thường chỉ dành cho những đứa trẻ lớn hơn. Đặc biệt ở tuổi 12 đến 14, là tuổi khó khăn nhất của các em. Tôi còn nhớ một cô bé, con của người bạn của bà tôi. Chúng tôi thường gặp nhau vào mùa hè, khi tôi đi nghỉ hè ở nhà của bà tôi ở biển Anzio. Chúng tôi chơi với nhau rất nhiều, chúng tôi chơi thú nhồi bông, chơi với các thú vật nuôi trong nhà. Mùa hè năm 1978, tôi vừa 12 tuổi. Cô thua tôi một  tuổi. Đã một năm kể từ lần cuối chúng tôi gặp nhau và khi gặp cô ở biển, tôi thấy cô đã thay đổi hoàn toàn. Cô ăn mặc như người lớn, trang điểm và đi giày cao gót. Cô đi chơi với các bạn trẻ lớn hơn cô, con gái của các gia đình bạn của cha mẹ, họ cũng là nạn nhân của cách dạy mà tôi cho là thảm họa. Cô bạn này phớt lờ tôi, làm như cô chưa bao giờ biết tôi, tôi bị sốc. Đêm đêm cô đi chơi với các thanh niên lớn tuổi hơn, họ dụ cô uống rượu, hút cần sa.

Năm sau cô có thai và có lẽ đó là điều may mắn cho cô. Hầu hết các bạn trẻ khác, bằng cách này hay cách khác đã hủy hoại cuộc sống của mình bằng ma túy, bằng đời sống tình cảm rối loạn, bằng liên kết với các nhóm chính trị cực đoan. Trong số các bạn trẻ này có một bạn thời thơ ấu tôi rất thân, bạn được cứu sống nhờ một vụ tai nạn xe hơi khủng khiếp, từ đó bạn bị khuyết tật về thể chất, nhờ vậy, bạn xa các bạn dùng ma túy.

Nhiều cha mẹ cho rằng họ phải cho con cái càng nhiều tự do càng tốt. Nhưng điều này đi kèm với nhiều rủi ro. Các nghiên cứu gần đây trong lãnh vực sinh lý thần kinh và khoa học thần kinh về sự phát triển não bộ cho thấy, dựa trên các hành vi điển hình của thanh thiếu niên, có những lý do chính xác gây rối loạn thần kinh. Một mặt, tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển tư duy suy luận trừu tượng, đổi mới và sáng tạo, nhưng tuổi này cũng là tuổi của những cảm xúc dâng trào mà các bạn trẻ khó kiểm soát. Chính xác, sự non nớt về trí não không cho phép các em trải nghiệm cảm xúc một cách cân bằng, các em có nguy cơ mắc các chứng rối loạn như lo lắng, căng thẳng. Ở tuổi này, các em bị thúc đẩy mạnh mẽ để đi tìm niềm vui, để khám phá những trải nghiệm mới, những hành vi nguy hiểm.

Với thanh thiếu niên, người kia là tấm gương, các em soi vào, sợ hãi và nghi ngờ chính mình, các em dựa trên đó để xây dựng bản sắc riêng và học cách nhận biết cảm xúc của chính mình. Giáo sư nổi tiếng Giacomo Rizzolatti, người khám phá khoa học về tế bào thần kinh gương, nhấn mạnh những tế bào thần kinh này ngoài việc đóng vai trò quyết định trong việc học bằng cách bắt chước, còn đóng vai trò trong hiện tượng đồng cảm: “Các tế bào đóng vai trò trong các tương tác xã hội, giúp chúng ta hiểu được mục tiêu và cảm xúc của người khác… Tế bào thần kinh phản chiếu cung cấp cơ sở để biết ngay lúc đó mình muốn gì ở người khác, cảm xúc nào và trải nghiệm của họ như thế nào.” Những mối ràng buộc được hình thành ở tuổi thiếu niên có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống, nhưng nếu thiếu kinh nghiệm, nó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến các quyết định và hành vi của các em, thậm chí đẩy các em đi vào những việc làm “nguy hiểm và liều lĩnh”, làm chỉ vì muốn được người khác chấp nhận.

Hầu hết thanh thiếu niên, trừ khi họ nhận một giáo dục kitô giáo vững chắc, thường khi họ quyết định làm một chuyện gì, họ không dựa trên cơ sở những gì là đúng, nhưng trên cơ sở những gì mang lại lợi ích trực tiếp nhất, như thế có thể làm cho họ gặp những chuyện rất nguy hiểm như dùng ma túy, uống rượu hoặc có những mối quan hệ tình cảm không cân bằng. Các bạn trẻ thích phiêu lưu, thích rủi ro, chúng ta thấy rõ qua việc họ dùng mạng xã hội, họ đăng những video để thử sức nhiều hơn là những video phiêu lưu, đây chỉ là cách để họ thỏa mãn bản thân.

Đặc biệt các bạn trẻ dễ xúc động, các bạn có xu hướng hung hăng và bốc đồng, hệ thống hãm phanh của họ chưa phát triển. Nghiên cứu vỏ não trước trán cho biết, chúng ta phán đoán và đưa ra quyết định bằng cách đánh giá tỷ lệ lợi/hại. Nhưng ở thanh thiếu niên, vùng não này đang giai đoạn phát triển, đó là lý do họ hành động trước khi suy nghĩ. Thanh thiếu niên có cảm giác thống trị thế giới; thú vui mạo hiểm, lái xe nguy hiểm, làm những việc rủi ro, sử dụng ma túy là những hành vi cực kỳ hấp dẫn. Các bạn muốn nếm ma túy chỉ vì hiếu kỳ, bốc đồng, muốn tìm cảm giác mạnh, như thế sẽ làm cho não tiết ra một lượng dopamine đáng kể. Nhưng bộ não của thanh thiếu niên đang ở giai đoạn phát triển rất mong manh, dễ bị tổn thương, vì thế các thanh thiếu niên dễ bị nghiện.

Cha mẹ có thể tìm sự trợ giúp ở thể thao, thể thao giúp trẻ em có được hệ thống bù trừ cho trí não, phát triển các chức năng nhận thức và điều hành, củng cố ý chí và từ đó trải nghiệm đức tính mạnh mẽ và kiên trì, giúp các em có các mối quan hệ xã hội mang tính xây dựng.

Nhưng trên hết, chúng ta cần giải thoát mình khỏi sức nặng của quan niệm sống không có đức tin, tập trung vào chính mình. Chúng ta cần một khuôn khổ lý luận giải phóng mới, giúp chuyển cái nhìn của chúng ta từ hữu hạn sang vô hạn, từ bản thân sang Thiên Chúa. Không có Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ, chúng ta sống như bị nhốt trong không gian của thế giới vật chất và tâm lý. Các huấn luyện viên dạy chúng ta suy nghĩ tích cực, nhưng làm sao chúng ta có thể suy nghĩ tích cực nếu mỗi thỏa mãn chỉ thoáng qua, từng niềm an ủi nhất thời rớt xuống như đám mây đen với viễn tượng cái kết gần kề tan biến vào hư không của nó? Không, tạ ơn Chúa, đó không phải là sự thật. Chúng ta luôn nghi ngờ điều đó, nhưng đức tin mang lại cho chúng ta xác tín. Một đức tin không dựa trên cảm giác mà dựa trên những sự kiện cụ thể được mạc khải.

Bất kể hoạt động nào chúng ta thực hiện đều cần một khuôn khổ lý luận, phải có một số điểm vững chắc để bám vào. Khuôn khổ lý luận của chúng ta khi đối diện với những thăng trầm của cuộc sống, đặc biệt là trong việc giáo dục trẻ em, không thể bỏ qua đức tin. Chúng ta tin vào Thiên Chúa là Đấng Tối cao Tốt lành, khôn ngoan, sự thật, công lý, toàn năng, lòng thương xót… Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và vào tất cả những chân lý mạc khải đã được Giáo hội truyền cho chúng ta. Vì thế chúng ta biết cuộc sống là một ơn, tình yêu không áp đặt trên chúng ta nhưng được trao ban, và trên đường đời, chúng ta sẽ gặp thử thách giúp chúng ta nói vâng với Thiên Chúa, và thẳng thắn nói không với những gì chống lại Ngài để sau đó nhận được ơn là đời sống vĩnh cửu trong Chúa.

Trước hết chúng ta phải trau dồi đức tin. Chúng ta tin Chúa muốn điều tốt nhất cho chúng ta và Ngài hành động phù hợp với mức độ của Ngài không? Hay chúng ta thường thích những tật xấu của mình hơn tình yêu của Ngài? Ý tưởng giải phóng bản thân khỏi thói xấu làm chúng ta kinh hãi, như thể chúng ta phải giải thoát bản thân khỏi một phần của chính mình. Vậy vẻ đẹp của Thiên Chúa không thuyết phục chúng ta sao? Những nhân đức kỳ diệu Ngài mong muốn cho chúng ta, chúng ta không nhận sao? Các triết gia ngoại giáo đã ca ngợi đức tính con người và khẳng định không cần phải biến mình thành nô lệ cho những đam mê của mình. Chúng ta là những người có đặc ân đức tin, vì sao chúng ta không thấy được sự cao cả của lời mời gọi tham gia vào đời sống thiêng liêng? Vì  sao chúng ta không muốn giải thoát mình khỏi mọi thứ làm chúng ta rời xa kho báu thực sự của mình? Một khi chúng ta được thuyết phục về vẻ đẹp của mục tiêu cần đạt được, tất cả những gì còn lại là đặt phương tiện vào đúng chỗ.

Cha mẹ có trách nhiệm cao cả và khó khăn. Cũng như họ dùng phương tiện vật chất để bảo đảm hạnh phúc cho con cái, họ có nhiệm vụ dùng các phương tiện siêu nhiên Chúa ban trực tiếp qua lời cầu nguyện và gián tiếp qua các bí tích, đó là huyết mạch của Giáo Hội.

Sau đó, chúng ta phải hiểu, giống như luật dân sự trao quyền cho cha mẹ với con cái còn nhỏ, ở cấp độ thiêng liêng, cha mẹ có trách nhiệm giữ gìn sức khỏe tinh thần của con cái. Cha mẹ nào cũng quan tâm đến sức khỏe thể chất của con để không cản trở quyền tự do của chúng. Cũng vậy, chúng ta không có quyền tước đi sự chăm sóc cần thiết cho tâm hồn con cái, đó là chuyển giao đức tin, dạy con cái cầu nguyện, cho con cái rửa tội và nhận các bí tích khác. Đó là nghĩa vụ của cha mẹ với con cái cũng như nghĩa vụ cha mẹ phải cho con đi học.

Gần đây, tôi gặp một người mẹ tuyệt vọng nhờ tôi giúp đỡ: hai cô con gái 12 và 14 tuổi của bà không còn muốn đi lễ chúa nhật nữa. Người mẹ cho biết bà đã hỏi một linh mục, linh mục bảo bà đừng ép con. Còn tôi, tôi xin bà nghĩ lại lời hứa khi cho con rửa tội, hai vợ chồng đã cam kết với Chúa giáo dục con trong đức tin, vì thế nhiệm vụ của họ phải đưa các con đi lễ, dù các con không muốn đi và phải tin tưởng nhiều hơn vào quyền năng toàn năng của Thiên Chúa. Chúng ta biết Bí tích Thánh Thể hành động ex opere operato, vì chính Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật, là Đấng hành động, và Ngài thực hiện một cách độc lập với ý định của người cử hành hay người dự thánh lễ. Tất nhiên, lý tưởng nhất là người cử hành và người dự thánh lễ có tinh thần tốt nhất, nghĩa là ở trong ân sủng Chúa, ân sủng sẽ mang lại cho họ hoa trái tốt nhất của bí tích. Nhưng dù họ không được như vậy, chẳng hạn họ còn vướng vào tội lỗi – ân sủng của bí tích vẫn tác động trên họ, biến đổi họ và dần dần tấn công đến các khuynh hướng xấu của họ. Vì thế chúng ta không biết được ân sủng của Chúa sẽ tác động như thế nào nơi các cô gái trẻ này… Trong trường hợp này, chính đức tin của cha mẹ sẽ bù đắp cho sự thiếu đức tin của các cô gái, các cô khi đã trưởng thành sẽ quyết định đi lễ hay không.

Vậy chúng ta hãy đào sâu đức tin của mình, lớn lên với lòng khao khát Thiên Chúa, mục tiêu của chúng ta, và với sự giúp đỡ của Chúa, cũng như nhờ hoa trái của bí tích hôn nhân, chúng ta sẽ biết cách hành động tốt nhất để giáo dục con cái.

Nếu mọi việc không suôn sẻ, chúng ta đừng nản lòng và phó thác mọi việc vào tay Chúa. Và đừng quên nói với con một vài lời từ chối rõ ràng và kiên quyết.

Ở tuổi thanh thiếu niên, các con đi tìm các gương mẫu, các anh hùng để lấy bản sắc ở đó. Từ hàng chục năm nay, hệ thống siêu sao ngự trị thế giới, mang đến những anh hùng, những siêu sao điện ảnh, thể thao, âm nhạc, và trong những năm gần đây là siêu sao mạng xã hội. Thanh thiếu niên chưa nhận ra những chuyện này, các em bước vào cơ chế nhận bản sắc và từ đó phóng chiếu ra. Các ngôi sao trong vai trò của mình, họ là nhân tố thành công lớn của điện ảnh, âm nhạc, thể thao. Nhưng chúng ta dừng lại một chút. Chúng ta hãy xem lại lối sống và vốn liếng nhân bản con cái chúng ta nhận. Hình ảnh và các hành vi của các ngôi sao này đưa ra thường là say xỉn, ma túy, nổi loạn, bê bối tình dục.

Với tư cách là cha mẹ và nhà giáo dục, chúng ta có khả năng và trách nhiệm đưa ra những ngôi sao thực sự, đó là các thánh. Truyền thống lâu đời của Giáo hội dạy chúng ta trên hết nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu, sau đó là cuộc đời của các thánh để học cách sống tốt.

Nhưng chúng ta, tự cho mình là tín hữu, có tin cuộc sống của Chúa Giêsu và của các thánh là cuộc sống tốt đẹp nhất không? Và nếu chúng ta tin, vì sao chúng ta không giới thiệu họ cho các con để chúng noi theo?

Marta An Nguyễn dịch

Vâng lời và tự do có mâu thuẫn với Chân phước Carlo Acutis không?

Vâng lời và tự do có mâu thuẫn với Chân phước Carlo Acutis không?

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

 

Chúng tôi đã gặp những người từng biết Carlo, họ nhớ Carlo là cậu bé nhiệt tình, năng động, ngoan ngoãn và tự do. Tôi xin hỏi Andréa: Carlo có gặp khó khăn khi vâng lời, nhưng vẫn giữ được tự do và năng động không?

Tự do là điều mong muốn hàng đầu của con người; có thể nói đó là một phần cấu thành con người. Và các thanh thiếu niên  trẻ có một đam mê đặc biệt với tự do vì từ khi sinh ra, họ đã bị cha mẹ và các thầy cô kềm giữ tự do này, họ thích thoát ra để được tự do. Vì vậy, điều quan trọng nhất là giúp các em hiểu tự do là gì. Tự do thường được hiểu là không bị ràng buộc trong cuộc sống, chắc chắn điều này có một tầm quan trọng rất lớn, đặc biệt nếu nó liên quan đến việc giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc bất công. Về mặt chính trị, chúng ta là người thừa kế Cách mạng Pháp, xã hội nỗ lực xây dựng hệ thống dân chủ có khả năng tránh được các chế độ chuyên chế, dù khi làm như vậy, đôi khi chúng ta lại rơi vào một hình thức độc tài mới.

Bất chấp tất cả, khi lớn lên, trẻ em nhanh chóng nhận ra với tự do này, được cho là không bị ràng buộc về vật chất, thường gặp những trở ngại không thể vượt qua được. Thêm nữa, chúng ta ở trong cái gọi là không gian-thời gian. Không tránh được, thời gian chỉ đi theo một hướng: chúng ta chỉ có thể sống trong thời điểm hiện tại và thời gian đã mất sẽ không bao giờ tìm lại được. Kiến thức vật lý hiện nay cho chúng ta biết, bất kỳ vật thể nào có trọng lượng chỉ có thể di chuyển từ nơi này qua nơi khác với một năng lượng lớn và khoảng cách gần như bằng không nếu chúng ta so sánh chúng với khoảng cách vô tận của vũ trụ. Những thăng trầm của cuộc đời, từ khi sinh ra cho đến khi chết, lại còn phụ thuộc vào vô số yếu tố không phụ thuộc vào ý muốn của chúng ta. Chúng ta không quyết định được khi nào, nơi nào, đất nước nào, gia đình nào chúng ta sinh ra, chúng ta sẽ gặp ai và sẽ phải đấu tranh trong hoàn cảnh nào.

Nếu chúng ta ru ngủ con cái trong hy vọng ảo tưởng chúng có thể tự giải thoát khỏi tất cả những ràng buộc không thể tránh này, chúng ta sẽ biến chúng, ngay từ khi sinh ra thành những kẻ thua cuộc, những người bằng mọi giá sẽ tìm cách thoát khỏi thế giới này, với những trò giải trí ít nhiều hợp pháp. Nhưng làm sao tâm trí con người lại ham muốn mãnh liệt như vậy với những thứ không thể đạt được? Hạnh phúc phụ thuộc vào việc chúng ta hiểu chúng ta có thể có được điều mình mong muốn. Liệu sau đó chúng ta có bị đau khổ không? Hay chúng ta hướng ham muốn của mình tới những thứ không bao giờ làm chúng ta thỏa mãn?

Vì sao chúng ta lại nói với con cái “điều quan trọng là con phải vui vẻ, điều quan trọng là con phải có sức khỏe, con phải học vì nếu con không học, con không có việc làm, cuộc đời con sẽ thất bại.” Vui vẻ một cách lành mạnh, có sức khỏe, có công việc lương cao: đó là những điều tốt đẹp chúng ta tạ ơn Chúa nếu chúng ta có được, nhưng chúng ta không nói, những chuyện này là mãi mãi, rõ ràng chúng ta biết tất cả rồi cũng sẽ kết thúc. Carlo đã dùng tất cả những điều tốt đẹp của thế gian, nhưng thế gian không phải là nơi Carlo cất kho báu. Vấn đề là chúng ta đã quá quen đi tìm kho báu ở nơi không phải là kho báu. Cảm giác thoát khỏi ràng buộc vật chất là một trong những kho báu giả tạo này. Chúng ta cảm nhận chúng ta được tự do, tự do mà chúng ta liên tục được mời gọi thực hiện qua những lựa chọn của mình. Ngay cả trước khi được đức tin soi sáng, chúng ta biết có một tự do, mặc dù phi vật chất, nhưng không bị ràng buộc: tự do khao khát, tự do yêu những gì chúng ta muốn. Vì vậy, ngay cả khi chúng ta bám chặt vào khả năng con người của mình, chúng ta có thể cảm nhận bản chất của cuộc sống phải gắn liền với tự do này và do đó, việc con cái chúng ta dùng tự do này sẽ quyết định mức độ thành công trong cuộc sống của chúng.

Vì thế chúng ta hãy để cho đức tin của mình được soi sáng. Mọi thứ sẽ trở nên rõ ràng, đơn giản và tuyệt vời. Chính Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng, Đấng là Tình Yêu, Đấng Tối Cao gõ cửa trái tim chúng ta và nói với chúng ta: Ta là Tình yêu; Ta đã tạo dựng nên con để con yêu và được yêu; con có  khao khát Tình yêu này không? Nếu chúng ta trả lời có, chúng ta biết chắc chắn chúng ta có thể được ban vì đó là một trong những lời hứa của Ngài. Đó là nơi bản chất và động cơ tự do của chúng ta được bộc lộ. Làm sao Thiên Chúa có thể cho chúng ta đón nhận tình yêu của Ngài nếu trước tiên Ngài không ban cho chúng ta một tâm hồn thiêng liêng có khả năng nhận tự do, khả năng nói xin vâng với Tình Yêu, như chúng ta nói xin vâng với người yêu trong bí tích hôn nhân. Quyền tự do yêu gắn liền với khả năng của tâm hồn chúng ta: trí thông minh và ý chí. Trí thông minh giúp chúng ta biết những gì là tốt đẹp, ý chí giúp chúng ta chọn yêu những gì tốt đẹp. Vậy chúng ta phải khiêm tốn hiểu, không phải không có sự trợ giúp của ơn Chúa, Chúa đã cho chúng ta sáp nhập vào đời sống thiêng liêng qua các bí tích của Ngài.

Khi đó nhiệm vụ của cha mẹ sẽ đơn giản vô cùng. Sức khỏe của con cái, công việc tương lai của chúng, mọi điều tốt đẹp trong cuộc sống không còn là mục tiêu mong muốn nhưng đơn thuần là phương tiện để đạt mục tiêu, đó là Chúa. Không giống như những ham muốn của thế gian, có thể thành hiện thực nhưng cũng thường kết thúc trong thất bại, để chúng ta trong tình trạng sợ hãi, chúng ta trốn thoát bằng nhiều cách giải trí khác nhau (do đó có câu ‘điều quan trọng là bạn phải vui vẻ’), trái ngược với những ước muốn của thế gian này, chúng ta phải dạy con cái có một lòng khao khát Thiên Chúa, một Thiên Chúa kiên định và chân thành không thể thất bại; vì điều duy nhất đòi hỏi chúng ta là chính chúng ta phải kiên quyết mong muốn điều này và hành xử phù hợp, nói xin vâng với tất cả những điều tốt lành Chúa ban cho chúng ta, với sự trợ giúp của ân sủng, Ngài sẽ không bao giờ từ chối nếu chúng ta không chống lại Ngài. Nếu người trộm lành làm được thì chúng ta và con cháu chúng ta làm được. Với tất cả những điều này chúng ta phải trả giá đắt vì chúng ta không muốn từ bỏ những kho báu giả tạo. Vì vậy, đây là cách chúng ta phải dùng thời gian cho cuộc đời mình: liên tục xin vâng với tình yêu, quyết tâm và quyết tâm hơn bao giờ hết, nói không với tất cả những gì cản trở việc lấy kho báu trên thiên đàng. Và Chúa sẽ ban cho chúng ta tất cả những vật chất và tinh thần mà chúng ta cần trên đường đi của chúng ta.

Nhờ sự quan phòng đặc biệt của Chúa, từ khi còn rất nhỏ, Carlo đã có được sự hiệp nhất đặc biệt, từ hòa hợp nội tâm đến những điều được đổi mới hoàn toàn khi đặt Thiên Chúa lên hàng đầu, và từ đó giữ điều răn yêu thương của cuộc đời. Chúng ta chói tai với từ “điều răn” vì điều răn bị các quyền tự do sai lầm của thế giới này bóp méo. Nhưng có phải tình yêu là niềm đam mê chúng ta phải theo đuổi để có hạnh phúc đó không?

Cảm giác và niềm đam mê đến rồi đi, lúc mạnh lúc yếu, thường do các yếu tố tâm lý liên quan đến quá trình sinh hóa trong não chúng ta. Chúng ta dạy con nên nghe những gì chúng cảm nhận khi theo đuổi tình yêu, cũng như dạy cho các con biết có rất nhiều Pinocchio không có tự do. Pinocchio nghĩ mình được tự do khi làm theo những gì mình muốn. Chúng ta phải dạy con cái, tình yêu trước hết là hành động của ý chí, không dính đến cảm giác. Thực ra, trong bí tích hôn nhân, chúng ta không hứa sẽ yêu người kia cho đến khi nào người kia vẫn còn hấp dẫn, nhưng chúng ta hứa sẽ yêu họ cho đến khi cái chết làm chúng ta chia lìa. Đó là cách chúng ta cần hiểu điều răn kính Chúa yêu người.

Vì sao các thánh lại thu hút được nhiều người đến như vậy? Vì họ đã làm tốt đẹp cho quyền tự do của họ, họ đích thực được Tình yêu thúc đẩy, không giả dối, chia rẽ, ác ý, Tình yêu hiện diện một cách vô thức nơi những người tôn thờ các kho báu không phải là kho báu Đấng Tối Cao, họ chọn tự do một cách sai lầm.

Marta An Nguyễn dịch

Bà Claire Trần: “Việt Nam và Vatican mong muốn đối thoại”

Bà Claire Trần: “Việt Nam và Vatican mong muốn đối thoại”

Việt Nam không nằm trong chương trình chuyến đi châu Á của Đức Phanxicô. Bà Claire Trần, giảng viên lịch sử Đông Nam Á, chuyên gia Công giáo Việt Nam giải thích quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam.

lavie.fr, bài phỏng vấn của nhà báo Marie-Lucile Kubacki, 2024-08-28

Hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin gặp cựu Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tại Rôma ngày 27 tháng 7 năm 2023.  VATICAN MEDIA/CPP

Tháng 1 năm 1024 Việt Nam đã có đại diện thường trú của Tòa Thánh, đánh dấu kết quả của nhiều thập kỷ thảo luận với chính quyền cộng sản. Xin bà cho biết sự kiện này tượng trưng cho điều gì?

Bà Claire Trần: Đây là bước tiến rất quan trọng vì lần đầu tiên Việt Nam có đại diện thường trú sau khi miền Bắc trục xuất đại diện thường trú năm 1959 và miền Nam trục xuất năm 1975. Dù đại diện thường trú không có chức danh như sứ thần nhưng Việt Nam là quốc gia cộng sản đầu tiên ở châu Á có đại diện thường trực tại Tòa thánh.

Việc bổ nhiệm này nhằm đảm bảo tính liên tục của các thảo luận đã có từ lâu kể từ khi thành lập nhóm công tác chung năm 2009. Ngoài ra, Đức ông Marek Zalewski biết rõ Việt Nam vì ngài đã là đại diện không thường trú tại Việt Nam. Kể từ năm 2018 ngài ở Singapore, ngài là người Ba Lan và có kinh nghiệm đàm phán với các nước cộng sản. 

Điều gì giải thích sự thành công của cuộc đối thoại này?

Tinh thần thực tiễn và mong muốn đối thoại của hai bên. Sau chuyến đi Hà Nội của Hồng y Roger Etchegaray năm 1989, ngoại giao của Vatican tiếp tục phát triển. Dưới triều Đức Bênêđíctô XVI, một nhóm công tác được thành lập, nhóm đã có nhiều chuyến đi cấp Nhà nước. Về phía Vatican, Ngoại trưởng Pietro Parolin là nhân vật chính yếu, ngài đến thăm Việt Nam lần đầu năm 2004, ngài là nhân vật chiến lược của Vatican tại Việt Nam và Trung Quốc. Tại hai quốc gia này, mục tiêu của Tòa Thánh là làm sao để thiểu số người công giáo được giữ đạo, được làm các việc xã hội, được Nhà nước công nhận. Mối quan tâm của chính quyền Việt Nam là có được vị thế của một cường quốc tầm trung ở châu Á, tạo hình ảnh tốt đẹp trên trường quốc tế và có các đồng minh để cân bằng với nước láng giềng Trung Quốc, đặc biệt là ở Biển Đông.

Trung Quốc muốn kiểm soát đường biển, họ chiếm đóng các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, ngăn Việt Nam khai thác nguồn thủy sản cũng như trữ lượng dầu khí. Chiến lược của Việt Nam muốn cân bằng Trung Quốc với các đồng minh khác – gần đây Vladimir Putin đã qua Việt Nam -,  trong những thập kỷ gần đây là với Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Úc và Liên minh Châu Âu…

Kể từ khi thiết lập lại quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ năm 1995, Việt Nam quan tâm đến Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế do Hoa Kỳ ban hành năm 1998, liên kết hợp tác kinh tế và tự do tôn giáo, nhờ những nỗ lực trong lĩnh vực này, Việt Nam đã có thể trao đổi kinh tế với Hoa Kỳ và tái gia nhập vào thị trường thế giới.

Điều gì đã ngăn cản Việt Nam việc thành lập một Giáo hội riêng biệt như ở Trung Quốc?

Việt Nam có 7% người công giáo so với 1% ở Trung Quốc, một số lượng không phải không đáng kể, hơn nữa Việt Nam có kinh nghiệm thương thuyết lâu dài với cường quốc cộng sản từ năm 1945. Khả năng thương thuyết của các giám mục là một trong những chìa khóa cần thiết để hiểu biết.

Trên thực tế, Việt Nam không theo mô hình Giáo hội Trung Quốc vì nhà nước cộng sản Việt Nam ở trong tình trạng chiến tranh liên miên: chiến tranh Đông Dương, chiến tranh chống Mỹ, chiến tranh chống Trung Quốc…

Diễn văn về đoàn kết dân tộc luôn chiếm ưu thế và câu hỏi đặt ra liệu người công giáo có tham dự vào sự đoàn kết này hay không. Trong những thập kỷ gần đây, Giáo hội công giáo đã trở thành cơ quan đối thoại được xác định rõ ràng, tập trung và đáng tin cậy của Văn phòng Tôn giáo, so với 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước chính thức công nhận. Dù có những bất đồng, các thảo luận với Tòa Thánh đều thẳng thắn và thẩm quyền của hàng giáo phẩm công giáo được người công giáo Việt Nam tôn trọng.

Ngoài ra, người công giáo dấn thân rất mạnh trong các hoạt động xã hội, đặc biệt khi Caritas được tái lập vào năm 2008 và đã được đánh giá rất cao. Chính nhờ Giáo hội và các giám mục nên năm 1996, Giáo hội đã ký với Nhà nước một thỏa hiệp về việc bổ nhiệm các giám mục. Tuy theo chủ nghĩa tiêu dùng và duy vật, giới trẻ không để ý đến tôn giáo nhưng hiện nay có 3.000 chủng sinh và 8.000 linh mục.

Dĩ nhiên Việt Nam vẫn là chế độ cộng sản độc quyền về quyền lực chính trị và không dung thứ cho bất kỳ chống đối nào, nhưng việc đào tạo được đội ngũ giáo sĩ tinh hoa tại Việt Nam và ở nước ngoài là một tiến bộ đáng kể so với tình hình trước năm 1975. Hoàn cảnh cụ thể của Giáo hội Việt Nam là kết quả của chính sách thực tiễn của các giám mục Việt Nam và Hội đồng Giám mục, vốn luôn mong làm sao để 7 triệu người công giáo được giữ đạo tốt nhất trong điều kiện chính trị của Việt Nam.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chương trình chuyến đi Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore của Đức Phanxicô

Chương trình chuyến đi Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore của Đức Phanxicô

Vatican News Việt Nam, 21-8-2024

Chương trình chuyến tông du của Đức Phanxicô đi các nước Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9-2024

 Thứ hai: 2 tháng 9 năm 2024

17h15: Lên đường từ phi trường Fiumicino, Rôma đi Jakarta

Thứ ba: 3 tháng 9 năm 2024

11h30 đến phi trường quốc tế Jakarta “Soekarno-Hatta”

Chào đón chính thức

Thứ tư: 4 tháng 9 năm 2024

Jakarta

09h30: Nghi thức tiếp đón bên ngoài Dinh Tổng Thống “Istana Merdeka”

10h00: Thăm Tổng thống Indonesia tại Dinh Tổng Thống “Istana Merdeka”

10h35: Gặp chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao tại Phòng họp “Istana Negara” của dinh Tổng thống.

Diễn văn của Đức Phanxicô

11h30: Gặp riêng các tu sĩ Dòng Tên tại Tòa Sứ Thần

16h30: Đức Phanxicô gặp các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, giáo lý viên tại Nhà thờ nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Lên Trời

Diễn văn của Đức Phanxicô

17h35: Gặp giới trẻ của Phong trào Scholas Occurrentes tại Nhà Giới trẻ “Grha Pemuda”

Thứ năm: 5 tháng 9

Jakarta

09h00: Gặp các phái đoàn Liên tôn tại Đền thờ hồi giáo “Istiqlal”

Diễn văn của Đức Phanxicô

10h15: Gặp nhân viên của các cơ quan Bác ái tại Trụ sở Hội đồng Giám mục Indonesia

17h00: Thánh lễ tại Sân vận động “Gelora Bung Karno”

Bài giảng của Đức Phanxicô

Thứ sáu: 6 tháng 9

Jakarta – Cảng Moresby

09h15: Nghi thức từ giã tại phi trường Jakarta “Soekarno-Hatta”

09h45: Bay đến Cảng Moresby (Papua Tân Ghinê)

18h50: Nghi thức đón tiếp ở phi trường “Jacksons” 

Thứ bảy: 7 tháng 9

Cảng Moresby

09h45: Thăm hữu nghị Toàn quyền Papua Tân Ghinê tại Tòa nhà Chính phủ

10h25: Gặp Chính quyền, Xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại “APEC Haus”

Diễn văn của Đức Phanxicô

17h00: Thăm trẻ em đường của “Sứ vụ Đường phố” và “Callan Services” tại Trường trung học kỹ thuật của Caritas

17h40: Gặp các giám mục của Papua Tân Ghinê của đảo Salomon, các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ, các chủng sinh và giáo lý viên tại Đền thánh Đức Mẹ Phù hộ.

Diễn văn của Đức Phanxicô 

Chúa nhật: 8 tháng 9

Cảng Moresby – Vanimo

07h30: Thủ tướng đến Tòa Sứ Thần gặp Đức Phanxicô

08h45: Thánh lễ tại Sân vận động “Sir John Guise”

Bài giảng của Đức Phanxicô

Kinh Truyền Tin

13h00: Khởi hành từ sân bay quốc tế Cảng Moresby “Jacksons” để đến Vanimo

15h15: Đến sân bay Vanimo

15h30: Gặp giáo dân của giáo phận Vanimo ở Khuôn viên trước Nhà thờ Chính tòa Thánh Giá

Diễn văn của Đức Phanxicô

16h50: Gặp riêng một nhóm các nhà truyền giáo tại Trường Nhân văn Chúa Ba Ngôi của Baro

17h40: Khởi hành từ Sân bay Vanimo về Cảng Moresby

19h55: Đến phi trường quốc tế Port Moresby “Jacksons”

Thứ hai: 9 tháng 9

Cảng Moresby – Dili

09h45: Gặp giới trẻ tại Sân vận động “Sir John Guise”

Diễn văn của Đức Phanxicô

11h10: Nghi thức từ giã ở phi trường Moresby “Jacksons”

11h40: Khởi hành từ Sân bay quốc tế Moresby “Jacksons”

14h10: Đến phi trường quốc tế Dili, Đông Timor

Chào đón chính thức

18h00: Nghi thức tiếp đón bên ngoài Dinh Tổng Thống

18h30: Thăm Tổng thống Cộng hòa Đông Timor tại Dinh Tổng Thống

19h00: Gặp Chính quyền dân sự, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại Hội trường Dinh Tổng Thống

Diễn văn của Đức Phanxicô

Thứ ba: 10 tháng 9

Dili

08h45: Thăm trẻ em khuyết tật của trường “IRMÃS ALMA”

09h30: Gặp các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, giáo lý viên tại nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm

Diễn văn của Đức Phanxicô

10h45: Gặp riêng các tu sĩ Dòng Tên tại Tòa Sứ Thần

16h30: Thánh lễ tại Khu vực Taci Tolu

Bài giảng của Đức Phanxicô           

Thứ tư: 14 tháng 9

Dili-Singapore

09h30: Gặp giới trẻ tại Trung tâm Hội nghị

Diễn văn của Đức Phanxicô

10h45: Nghi thức từ giã tại phi trường quốc tế Dili

11h15: Khởi hành từ phi trường Dili đi Singapore

14h15: Đến phi trường Singapore “Changi”

Chào đón chính thức

18h15: Gặp riêng các tu sĩ Dòng Tên tại Trung tâm tĩnh tâm “Thánh Phanxicô Xaviê”           

Thứ năm: 12 tháng 9

Singapore

09h00: Nghi thức tiếp đón tại Tòa nhà Quốc Hội

09h30: Thăm Tổng thống Cộng hòa Singapore

09h55: Gặp Thủ tướng Singapore

10h30: Gặp Chính quyền dân sự, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại Nhà hát của Trung tâm Văn hóa Đại học của “Đại học Quốc gia Singapore”

Diễn văn của Đức Phanxicô

17h15: Thánh lễ tại Sân vận động Quốc gia tại “Singapore SportsHub”

Bài giảng của Đức Phanxicô

Thứ sáu: 13 tháng 9

Singapore – Rôma

09h15: Thăm một nhóm người lớn tuổi và bệnh tật tại Nhà Thánh Têrêxa

10h00: Gặp gỡ Liên tôn với người trẻ tại Trường Cao đẳng Công giáo

Diễn văn của Đức Phanxicô

11h20: Nghi thức từ giã tại Sân bay quốc tế Singapore “Changi”

11h50: Khởi hành từ phi trường quốc tế Singapore “Changi” về Rôma

18h25: Về phi trường quốc tế Roma/Fiumicino

Đức Phanxicô tìm gặp Linh mục Martin Prado, nhà truyền giáo Papua Tân Ghinê ở tận cùng thế giới

Đức Phanxicô tìm gặp Linh mục Martin Prado, nhà truyền giáo Papua Tân Ghinê ở tận cùng thế giới

Linh mục Martin Prado với một trong các cộng đoàn của giáo phận Vanimo | DR

cath.ch, I.Media, 2024-08-22

Ngày 8 tháng 9, Đức Phanxicô sẽ dừng chân vài giờ tại Vanimo, một cảng nhỏ biệt lập chỉ có 9.000 người dân ở Papua Tân Ghinê. Tại đây ngài sẽ gặp linh mục Martin Prado, nhà truyền giáo người Argentina ngài đã gặp mùa hè năm 2019 khi linh mục đi cùng giáo dân đến Rôma, cha là người khởi đầu cho chuyến đi này. I.Media phỏng vấn cha Prado về cuộc gặp gỡ quan phòng này.

Linh mục Prado, 35 tuổi thuộc Dòng Ngôi Lời Nhập Thể, cha quay video nơi cha ở cùng với hai thành viên trong hội dòng chỉ cách biển vài bước.

Từ năm 2014 cha Padro sinh hoạt với cộng đồng có gần 41.000 giáo dân sống rải rác trên một lãnh thổ rộng lớn. Cha đã gặp Đức Phanxicô năm 2019 khi bắt đầu làm việc ở vùng ngoại vi, minh chứng cho niềm vui được giới thiệu chương trình của Đức Phanxicô đến cảng nhỏ bé ở Thái Bình Dương.

Cha đã gặp Đức Phanxicô như thế nào?

Linh mục Martin Prado: Mùa hè năm 2019 tôi đi Ý với một nhóm 18 giáo dân Papua Tân Ghinê. Những người đi cùng với tôi nói: “Thưa cha, chúng con có mang quà cho Đức Phanxicô.” Tôi nói: “Tốt, nhưng làm sao chúng ta đưa cho ngài?” Một linh mục Ý đi cùng đề nghị chúng tôi viết thư bằng tiếng Tây Ban Nha và chuyển đến Cổng Thánh Annà, một trong các cổng vào Vatican. Tôi làm theo nhưng không nghĩ thư sẽ đến tay ngài. Đức Phanxicô đang nghỉ hè. Nhưng thật ngạc nhiên, sáng hôm sau chúng tôi nhận được tin nhắn, thư ký của ngài cho biết ngài muốn gặp chúng tôi.

Chúng tôi rất mừng, chúng tôi đến Nhà Thánh Marta và ở với ngài khoảng 20 phút. Ngài rất vui khi thấy chúng tôi đến từ một nơi rất xa và ngài xin chúng tôi giải thích các món quà chúng tôi mang theo: y phục truyền thống làm từ cây cối và chiếc mũ truyền thống.

Kể từ năm 2019, cha có trao đổi thư từ thêm với ngài không? Nếu có, cha nói về đề tài gì?

Kể từ đó chúng tôi tiếp tục liên lạc qua e-mail với thư ký của ngài. Nhưng thư không viết riêng cho tôi mà cho giáo dân ở đây, ngài muốn giữ liên lạc với chúng tôi để biết những gì xảy ra ở Papua Tân Ghinê. Sau khi về lại Vanimo (2019), chúng tôi gởi e-mail cám ơn ngài vì ngài đã ở bên cạnh chúng tôi và giúp đỡ chúng tôi. Khi chúng tôi ở Rôma, ngài có giúp tài chính cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ biết trông cậy vào Chúa cho chuyến đi. Chúng tôi không muốn làm phiền ngài thêm nhưng ngài khuyến khích chúng tôi tiếp tục tình bạn quan trọng này. Tôi thấy được tình yêu ngài dành cho những người ở xa như chúng tôi. Tôi nói chuyện với ngài về công việc mục vụ, về tình hình đất nước. Ngài luôn khuyến khích chúng tôi và rất vui khi biết tin tức của chúng tôi.

Cha nghĩ vì sao Đức Phanxicô quyết định đến thăm Vanimo?

Tôi nghĩ ngài biết chúng tôi ở Vanimo, nên khi ngài quyết định đi Papua Tân Ghinê, tôi nghĩ ngài nghĩ đến chúng tôi: “Vì sao lại không đi Vanimo?” Các giáo phận khác cũng đặt câu hỏi: “Vì sao Vanimo, vùng xa xôi nhất?” Con đường duy nhất đến Vanimo là đường biển hoặc hàng không, không có đường bộ vì toàn núi. Giám mục Francis Meli, giáo phận Vanimo nghĩ vì người dân Vanimo đã đến gặp ngài nên ngài trả ơn.

Sự quan tâm của Đức Phanxicô với vùng ngoại vi là cụ thể. Ngài kín đáo chăm sóc và giúp đỡ. Hơn nữa Tin Mừng cũng chỉ vừa mới đến Vanimo và một số nơi của Papua Tân Ghinê. Khi chúng tôi đến, chúng tôi tài trợ cho các nhà thờ, rửa tội cho người dân, dạy họ làm dấu thánh giá, cầu nguyện với Chúa. Chúng tôi loan báo cho họ Tin Mừng Thiên Chúa đã làm người và Ngài ở gần chúng ta.

Vanimo và cộng đồng Công giáo đã chuẩn bị như thế nào cho chuyến thăm này?

Chúng tôi chuẩn bị tốt nhất có thể, chúng tôi không ở Singapore hay Jakarta. Tỉnh của chúng tôi là tỉnh cuối cùng nên mọi việc không hề dễ dàng và nhanh chóng. Vào cuối tháng 7, chúng tôi gặp một số linh mục và tổ chức một tuần dạy giáo lý cũng như nâng cao nhận thức cho giáo dân.

Chúng tôi tập hợp giáo dân tại trung tâm nơi Giáo hoàng sẽ đến, nơi đây là một cánh đồng cỏ. Chúng tôi dựng một sân khấu tạm để sinh hoạt, chúng tôi đã nói chuyện với giáo dân về Giáo hoàng và Giáo hội. Giáo dân rất muốn nghe, họ tổ chức những chuyến đi bằng xe tải. Đó là cách chúng tôi chuẩn bị về mặt tinh thần nhiều hơn, chúng tôi cầu nguyện và giáo dân rất vui.

Linh mục Martin trong Thánh Lễ Hiện Xuống | DR

Kế hoạch cho cuộc gặp Đức Phanxicô với cộng đồng Vanimo là gì?

Sau khi tham dự một sự kiện trong thị trấn, ngài sẽ đi xe đến cơ sở truyền giáo của chúng tôi, ngài sẽ gặp giáo dân, những người từ các làng trong rừng sẽ đến. Dàn nhạc thiếu nhi sẽ biểu diễn và chúng tôi mời ngài đến xem ngôi trường mà ngài đã giúp chúng tôi xây. Khi ngài đến, chúng tôi sẽ cầu nguyện với ngài. Chúng tôi muốn thánh hiến giáo phận, mỗi gia đình, mỗi chúng tôi, tỉnh dòng chúng tôi cho Chúa Giêsu qua Mẹ Maria. Chúng tôi chuẩn bị sự thánh hiến này, đó sẽ là điều tốt đẹp nhất. Ngài sẽ tặng bông hoa vàng cho Đức Mẹ.

Các giáo lý viên sẽ có bài phát biểu, công việc dạy giáo lý ở đây rất quan trọng. Các giáo xứ của chúng tôi ở trong rừng rậm; có khoảng 11 cộng đồng ở cách xa nhau. Có một ngôi làng tôi chỉ đến một tháng một lần để dâng lễ. Vì thế chính các giáo lý viên, một số là nhà truyền giáo và các cư dân làng là những người chủ trì phụng vụ Lời Chúa và giới thiệu giáo lý cho mọi người. Họ là cánh tay phải của chúng tôi trong việc truyền giáo, nên chúng tôi muốn họ có thời gian với Đức Phanxicô và nhận phép lành đặc biệt của ngài.

Cha nghĩ chuyến đi của Đức Phanxicô sẽ có tác động nào với đất nước và giáo dân ở đây?

Tôi nghĩ sẽ có một đổi mới và củng cố đức tin. Người dân ở đây giản dị, không bị ảnh hưởng của một hệ tư tưởng nào. Ngay cả những người không theo công giáo cũng gọi Giáo hội là Giáo hội Mẹ, họ gọi là “mamasios”. Họ nhận ra các Giáo hội khác đến sau, không phải là Giáo hội nguyên thủy của Chúa Giêsu đã bắt đầu.

Marta An Nguyễn dịch

Hành trình dài 32.000 cây số ở bốn quốc gia ở châu Á và châu Đại Dương

Đức Phanxicô sẽ đi Papua Tân Ghinê tháng 8, người công giáo ở châu Đại Dương là ai?

Đức Phanxicô tìm gặp Linh mục Martin Prado, nhà truyền giáo Papua Tân Ghinê ở tận cùng thế giới

Vì sao Đức Phanxicô đi Châu Á và Châu Đại Dương?

Đức Phanxicô ở Châu Á và Châu Đại Dương. Hồng y Tagle: các Giáo hội nhỏ có thể dạy chúng ta nhiều điều

Đức Phanxicô ở Châu Á và Châu Đại Dương. Hồng y Tagle: các Giáo hội nhỏ có thể dạy chúng ta nhiều điều

fides.org, Gianni Valente và Fabio Beretta, 2024-08-27

Bốn quốc gia, hai lục địa, 40.000 cây số. Máy bay của Đức Phanxicô sẽ cất cánh ngày 2 tháng 9 tại phi trường Fiumicino, bắt đầu chuyến tông du dài nhất và gian nan nhất của ngài giữa châu Á và châu Đại Dương. Nhưng ngài không đi để phá kỷ lục, theo Hồng y Luis Antonio Gokim Tagle, đây là chuyến hành hương khiêm nhường trước Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta vâng phục vì sứ mạng.

Trong một phỏng vấn với hãng tin Agenzia Fides, Hồng y giải thích vì sao chuyến đi đến các Giáo hội của “đàn chiên nhỏ” lại quan trọng với toàn thể Giáo hội hoàn vũ và là mối quan tâm của tất cả những ai nghĩ đến hòa bình thế giới.

Sắp 88 tuổi, Đức Phanxicô chuẩn bị chuyến đi dài nhất và gian khổ nhất triều của ngài. Điều gì đã thúc đẩy ngài đi chuyến đi này?

Hồng y Luis Antonio Tagle: Theo tôi nhớ thì chuyến đi này đã lên kế hoạch từ năm 2020. Tôi vừa đến Rôma nhận chức ở bộ Truyền giáo các Dân tộc, khi đó dự án này đã lên chương trình. Nhưng đại dịch Covid-19 đã làm mọi thứ dừng lại. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy ngài có kế hoạch này, chứng tỏ ngài gần gũi với “các vùng ngoại vi hiện sinh”.

Thành thật mà nói, tôi ít tuổi hơn ngài nhưng tôi thấy hành trình này quá nặng nề. Với ngài, chấp nhận cố gắng này là một hành vi khiêm nhường. Đây không phải là việc thể hiện mình có khả năng. Là nhân chứng, tôi nghĩ đây là hành vi khiêm nhường trước mặt Chúa, một hành vi khiêm nhường vâng phục sứ mạng.

Một số người nói, chuyến đi này khẳng định ngài thích phương Đông và bỏ mặc phương Tây…

Ý tưởng cho rằng đi nơi này, coi thường nơi khác là ý tưởng sai lầm. Sau chuyến đi này, cuối tháng 9, ngài sẽ đi Luxembourg và Bỉ. Ngài cũng đã đi thăm nhiều nước Âu châu. Theo tôi, với những chuyến đi này, ngài muốn khuyến khích người công giáo trong mọi bối cảnh, nhất là một phần lớn nhân loại sống ở những khu vực này. Châu Á là nơi sinh sống của 2/3 dân số thế giới. Phần lớn người dân ở đây nghèo và có nhiều người nghèo rửa tội. Ngài biết có rất nhiều người nghèo ở Á châu, họ tin Chúa Giêsu và Tin Mừng dù họ ở trong cảnh chiến tranh, bách hại và xung đột.

Có người cho rằng các quốc gia Đức Phanxicô đến thăm, số lượng giáo dân rất ít so với dân số.

Trước khi bắt đầu chuyến đi, ngài nhận lời mời không chỉ từ các Giáo hội địa phương, mà còn từ chính quyền dân sự và các nhà lãnh đạo chính trị, họ xin Ngài đến quốc gia của họ. Họ mong muốn sự hiện diện của ngài, không chỉ vì đức tin mà còn vì hữu ích cho chính quyền dân sự của họ. Với họ, ngài là biểu tượng mạnh mẽ của sự chung sống trong tinh thần huynh đệ và trong việc bảo vệ Công trình Tạo dựng.

Là mục tử của Giáo hội Phi Luật Tân, đứng đầu bộ Truyền giáo, cha có kinh nghiệm gặp gỡ nào với các quốc gia và các Giáo hội Đức Phanxicô sẽ đến thăm không?

Tại Papua Tân Ghinê tôi đã đến thăm các chủng viện theo lời mời của Hồng y Ivan Dias lúc đó là bộ trưởng bộ Truyền giáo. Trong hai tháng tôi đến đây hai lần, tôi thăm các chủng viện ở Papua Tân Ghinê và quần đảo Solomon. Tôi cũng đến thăm Indonesia và Singapore, tôi chưa bao giờ đến Đông Timor nhưng tôi đã nhiều lần gặp các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân của quốc gia này. Với tôi, châu Á là “thế giới của những thế giới khác nhau”, là người châu Á, tôi thấy đến châu Á sẽ mở trí óc và trái tim cho những điều mới mẻ, một chân trời về nhân loại, một kinh nghiệm của con người. Kitô giáo ở Á châu làm tôi ngạc nhiên. Tôi học được rất nhiều điều khôn ngoan và sáng tạo của Chúa Thánh Thần. Tôi luôn ngạc nhiên trước cách Tin Mừng thể hiện và nhập thể trong những bối cảnh khác nhau của nhân loại. Tôi hy vọng Đức Phanxicô và phái đoàn của ngài, các nhà báo sẽ có trải nghiệm về sự sáng tạo của Chúa Thánh Thần.

Những ơn ích và niềm an ủi của các cộng đồng được Đức Phanxicô đến thăm sẽ mang lại gì cho toàn thể Giáo hội?

Tại các quốc gia này, các cộng đồng kitô giáo đều thiểu số, họ là “đàn chiên nhỏ”. Nhưng ở Âu châu, tuy Giáo hội có được một vị thế văn hóa, xã hội và dân sự, nhưng ở đây chúng ta cũng có kinh nghiệm Giáo hội như một đàn chiên nhỏ. Có lẽ tốt khi nhìn Giáo hội ở các nước phương Đông để thấy chúng ta nên thế nào khi ở trong tình trạng nhỏ bé. Kinh nghiệm của các tông đồ đầu tiên của Chúa Giêsu thường lặp lại ở các quốc gia này. Một linh mục đến từ Nepal nói với tôi, giáo xứ của linh mục có diện tích bằng một phần ba nước Ý: linh mục chỉ có năm giáo dân sống trên lãnh thổ rộng lớn này. Chúng ta đang ở năm 2024, nhưng bối cảnh và trải nghiệm giống Sách Công vụ Tông đồ. Và các Giáo hội nhỏ ở phương Đông có thể nói cho chúng ta nhiều điều bổ ích.

Đức Phanxicô dừng chân đầu tiên ở Indonesia, quốc gia có dân số theo đạo hồi lớn nhất thế giới.

Indonesia là quốc gia quần đảo đa dạng về mặt văn hóa, ngôn ngữ, kinh tế và xã hội, là quốc gia có số lượng người dân theo đạo hồi lớn nhất thế giới. Ơn lớn lao của Chúa Thánh Thần cho cộng đồng công giáo Indonesia là sự chung sống trong đa dạng. Tôi hy vọng chuyến đi này của Đức Phanxicô sẽ mang lại động lực mới cho tình huynh đệ giữa các tín hữu thuộc các tôn giáo khác nhau.

Cha cảm nhận được dấu hiệu cụ thể nào của sự chung sống này trong những chuyến đi của cha không?

Tôi được biết mảnh đất của Đại học Công giáo ở đây là quà tặng của tổng thống đầu tiên. Một thông điệp mạnh cho thấy với người dân Indonesia, mọi người đều được xem là anh em. Tôi nhớ Ngày Giới Trẻ Á Châu, vì số lượng người công giáo ít nên có nhiều thanh niên hồi giáo làm tình nguyện viên. Hội đồng Giám mục giao cho tôi hai phụ tá người hồi giáo, họ làm  nhiệm vụ với một lòng tôn trọng Giáo hội sâu sắc.

Nước thứ hai: Papua Tân Ghinê

Giáo hội Papua Tân Ghinê là Giáo hội trẻ nhưng đã có Peter To Rot, một giáo lý viên tử đạo. Đây là nước đa văn hóa, với các bộ tộc xung đột nhau, nhưng đó là đất nước mà sự đa dạng có thể là một tài sản. Nếu chúng ta bỏ qua các định kiến, ngay cả trong các nền văn hóa bộ tộc, chúng ta có thể tìm thấy các  giá trị nhân văn gần gũi với lý tưởng kitô giáo. Nước này còn có những vùng thiên nhiên còn nguyên vẹn. Hai năm trước tôi đến dự lễ thánh hiến một nhà thờ chính tòa mới. Tôi hỏi giám mục về đất nước của ngài, ngài cho biết: “Chúng tôi có thể uống nước từ sông, nước có thể uống được”. Nhờ trí tuệ của bộ tộc, họ đã cố gắng duy trì sự hòa hợp với thiên nhiên và có thể uống nước sông. Điều mà những nước gọi là phát triển của chúng ta không còn làm được.

Nước thứ ba: Đông Timor.

Người dân Đông Timor nói đức tin vào Chúa Kitô đã nâng đỡ họ trong suốt những năm đấu tranh giành độc lập.

Điều quan trọng là Đức Phanxicô đến với Indonesia và sau đó là Đông Timor. Hai quốc gia có lịch sử được đánh dấu bằng đấu tranh và ngày nay họ có hòa bình. Một hòa bình mong manh nhưng nhờ có hai nước mà hòa bình dường như bền vững. Ở đất nước này, mối quan hệ giữa Giáo hội địa phương và chính phủ rất tốt. Chính quyền địa phương hỗ trợ các công việc giáo dục liên quan đến Giáo hội. Với tôi, Giáo hội là một trong những điểm tham chiếu của người dân trong cuộc chiến giành độc lập. Người dân ở đây cho biết, đức tin vào Chúa Kitô đã nâng đỡ họ trong suốt những năm đấu tranh giành độc lập.

Nước thứ tư: Singapore

Đây là một trong các quốc gia giàu nhất thế giới và thật đáng kinh ngạc, một dân tộc có được trình độ chuyên nghiệp và tiến bộ công nghệ chỉ trong vài năm, với nguồn lực hạn chế nhưng họ lớn mạnh nhờ vào tinh thần kỷ luật của họ. Chính phủ Singapore bảo đảm tự do tôn giáo cho các cộng đồng, không để họ bị tấn công và thiếu tôn trọng. Những hành vi xúc phạm tôn giáo sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc. Người dân và khách du lịch sống an toàn. Nhưng sự cân bằng là cần thiết. Lịch sử dạy chúng ta, chúng ta phải bảo đảm, áp dụng luật không được mâu thuẫn với chính những giá trị mà luật pháp bảo vệ.

Ngay cả ở những quốc gia này – đặc biệt ở Papua Tân Ghinê – công việc tông đồ được nhấn mạnh với những câu chuyện tử đạo của các nhà truyền giáo. Nhưng đôi khi công việc của các nhà truyền giáo vẫn bị xem là biểu hiện của chủ nghĩa thực dân về văn hóa và chính trị.

Ngày nay có một xu hướng và cám dỗ muốn đọc lại lịch sử, đặc biệt là lịch sử truyền giáo với khuôn mẫu văn hóa ngày nay và áp đặt quan điểm riêng của mình lên các nhà truyền giáo đã sống ở đó từ nhiều thế kỷ trước. Chúng ta nên nhìn lại bối cảnh. Các nhà truyền giáo là ơn cho Giáo hội. Họ vâng phục Chúa Kitô, Đấng đã bảo dân Ngài đi đến tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng, hứa rằng Ngài sẽ luôn ở bên họ. Đôi khi một số các nhà lãnh đạo quốc gia đưa các nhà truyền giáo đến những nơi trong quá trình thuộc địa hóa. Nhưng các nhà truyền giáo này đi truyền giáo chứ không đi để bị thực dân thao túng và lợi dụng. Nhiều linh mục, nhiều tu sĩ và giáo dân chống lại chiến lược của chính phủ và họ đã tử vì đạo.

Xin cha cho biết mối liên hệ huyền ẩn luôn kết hợp tử đạo và sứ mạng là gì?

Hai năm trước, một nghiên cứu về tự do tôn giáo đã được xuất bản. Có một sự thật hiển nhiên: ở những quốc gia bị đe dọa và bách hại, số người được rửa tội gia tăng. Ở đâu có khả năng tử đạo thực sự, đức tin sẽ lan rộng. Và ngay cả những người không phải là tín hữu, họ cũng tự hỏi: tất cả sức mạnh thúc đẩy những người này hiến mạng sống đến từ đâu? Đó là Tin Mừng đang hoạt động. Và mục tiêu của chúng tôi, cũng như của Bộ Truyền giáo, là giúp đỡ các Giáo hội địa phương, chứ không áp đặt một não trạng hay một nền văn hóa khác với văn hóa của họ.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô tìm gặp Linh mục Martin Prado, nhà truyền giáo Papua Tân Ghinê ở tận cùng thế giới

Vì sao Đức Phanxicô đi Châu Á và Châu Đại Dương?

Đâu là điểm chung giữa Đức Phanxicô và ca sĩ Taylor Swift?

Đâu là điểm chung giữa Đức Phanxicô và ca sĩ Taylor Swift?

fr.aleteia.org, J-P Mauro, 2024-08-28

Điểm chung giữa Đức Phanxicô và ca sĩ Taylor Swift: Các sân vận động chật ních người đến dự. Cả hai đều đi Singapore cách nhau vài tháng, bằng mọi giá, các fan trung thành phải có mặt!

Trước hết, không có nhiều điểm chung giữa Đức Phanxicô và nữ hoàng nhạc pop Taylor Swift. Chỉ có một điểm chung gần đây: cách nhau vài tháng cả hai đi Singapore dù với lý do khác nhau, Đức Phanxicô đi mục vụ, ca sĩ Taylor đi lưu diễn, cả hai đều thu hút rất nhiều người đến dự!

Đến Singapore biểu diễn vào tháng 3 năm 2024, ca sĩ Taylor Swift bán hết vé trong tíc tắc! Những ai không có vé ngồi ngoài bãi đậu xe để nghe! Đến Singapore đầu tháng 9, Đức Phanxicô sẽ cử hành thánh lễ tại cùng một sân vận động đã tổ chức “Swifties”, đã có 48.600 vé phát miễn phí cho người đến dự, chỉ có 60% người được vé. Những ai không có vé dự thánh lễ ngoài bãi đậu xe! Màn hình khổng lồ sẽ phát sóng trực tiếp.

Một lịch trình rất bận rộn

Trong năm 2024 Đức Phanxicô đi nhiều nơi, tháng 5 ngài đi Vérone, tháng 7 ngài đi Trieste, tháng 9 ngài đi châu Á và châu Đại Dương, lịch trình của ngài rất bận rộn. Chuyến đi Á châu là chuyến đi dài nhất: từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9 ngài sẽ đến Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore, những quốc gia mà cho đến nay chưa có giáo hoàng nào đến trừ Đức Gioan-Phaolô II đến Singapore năm 1986.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

  Vì sao Đức Phanxicô đi Châu Á và Châu Đại Dương?

Vì sao Đức Phanxicô đi Châu Á và Châu Đại Dương?

rcf.fr, Pauline de Torsiac, RCF, 2024-04-17

Đức Phanxicô sẽ đi Châu Á và Châu Đại Dương từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9 năm 2024. Trong chuyến đi này, ngài sẽ đến các nước Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore. Vì sao ngài có chuyến đi dài ngày và gian nan này, nhà báo Thomas Oswald của cơ quan Giúp đỡ các Giáo hội gặp Khó khăn giải thích.

Đây là chuyến tông du thứ 45 của ngài và là chuyến đầu tiên của ngài đến Châu Đại Dương Đức Phanxicô. Chuyến đi Indonesia đã nằm trong chương trình của ngài từ năm 2020 nhưng phải bỏ vì Covid. Trong chuyến đi kéo dài 11 ngày tới các “vùng ngoại vi” này, ngài sẽ đề cập đến các vấn đề đối thoại liên tôn, hòa giải và sinh thái. Một chuyến đi đầy thử thách cho sức khỏe và cho tuổi tác của ngài.

Các tín hữu kitô bị đe dọa ở Indonesia

Ngài sẽ đến các nước có những cộng đồng công giáo khác nhau. Indonesia, quần đảo có gần 280 triệu dân là nước có dân số hồi giáo cao nhất thế giới. Thiểu số kitô hữu chỉ chiếm 10,7% dân số, trong đó chỉ có 3% là người công giáo.

Một thiểu số mà quyền tự do của họ đang bị đe dọa. Ông Thomas Oswald giải thích: “Indonesia là quốc gia đạo hồi có truyền thống rất cởi mở với các tôn giáo khác, đây là một phần lịch sử của đất nước. Nhưng điều này đang thay đổi. Tổng thống Prabowo Subianto đã thay thế cựu Tổng thống Jokowi. Tổng thống Subianto có mối liên hệ với cựu Tổng thống độc tài Suharto. Ông Subianto đang lãnh đạo đất nước hướng tới một mô hình độc tài, ít dân chủ hơn so với quá khứ, sự thay đổi này có nguy cơ bất lợi cho tín hữu kitô.”

Ông Oswald nhận xét: “Việc áp dụng các luật cũ chống báng bổ chưa áp dụng thì bây giờ đang áp dụng. Thực tế Indonesia rất đa dạng. Đảo Flores có nhiều người công giáo sẽ không giống đảo Jakarta, Java, nơi các nhóm hồi giáo cực đoan áp đặt việc mang voan che mặt và liên tục gây áp lực trên tín hữu kitô.”

Papua Tân Ghinê là đảo có đa số người theo kitô giáo

Tây Papua dưới sự kiểm soát của Indonesia, ông Thomas Oswald giải thích: “Đất đai của tín hữu kitô ở đây bị tước đoạt, họ là người Papua như người Papua Tân Ghinê, nhưng các tín hữu kitô này trở thành thiểu số trên chính mảnh đất của họ, các quyền của họ bị chính phủ Indonesia vi phạm.”

Hòn đảo này bị chia đôi về mặt chính trị. Phần phía Tây thuộc Indonesia và phần phía Đông đã độc lập được 46 năm. Papua Tân Ghinê có 90% dân số là kitô hữu, 64% theo đạo tin lành và 26% theo Giáo hội công giáo Rôma. Là một giáo hội trẻ, thành quả của các sứ mệnh công giáo và tin lành được thành lập cách đây hơn 130 năm.

Ông giải thích: “Toàn bộ vùng Tân Guinea là  nơi cư trú của người Melanesia, họ tự cho mình là người Papua. Họ là tín hữu kitô trong một thời gian tương đối ngắn. Quá trình truyền giáo đã diễn ra từ 100 đến 150 năm, tùy từng khu vực của hòn đảo lớn này.”

Người Papua tự cho mình là người tín hữu đích thực, yêu tôn giáo, thích tổ chức các cuộc rước kiệu hoành tráng, với y phục truyền thống Papua và Kinh thánh được giơ cao. Vẻ đẹp này sẽ được tôn vinh trong chuyến đi của Đức Phanxicô.

Đông Timor dưới dấu hiệu hòa giải

Đức Phanxicô đến thăm Đông Timor là nơi có 98% người công giáo trong số một triệu rưỡi người dân. Chuyến đi của ngài sẽ mang dấu hiệu hòa giải, sau “nạn diệt chủng” kéo dài 25 năm do quân đội Indonesia và lực lượng dân quân gây ra. Ông Oswald giải thích: “Đông Timor gần như gặp phải số phận của Tây Papua, bị Indonesia sáp nhập. Đất nước này sống dưới sự thống trị của quân đội Indonesia và phải chịu những nỗi kinh hoàng không tên. Tổng thống đương nhiệm Prabowo cũng tham gia vào cuộc tàn sát diễn ra ở Đông Timor.”

Nhưng đất nước này đã theo thiên chúa giáo nhiều hơn trước nhằm chống đối việc chính phủ Indonesia đối xử tệ với họ.

Đông Timor giành được độc lập nhờ sự thay đổi trong chính phủ Indonesia, đồng thời nhờ áp lực quốc tế giúp người Timor có quyền tự quyết. Và người dân vẫn đang chờ đợi điều gì đó tương tự xảy ra cho người dân Tây Papua.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô tìm gặp Linh mục Martin Prado, nhà truyền giáo Papua Tân Ghinê ở tận cùng thế giới

Đức Phanxicô ở Châu Á và Châu Đại Dương. Hồng y Tagle: các Giáo hội nhỏ có thể dạy chúng ta nhiều điều

Bài mới nhất