Home Blog Page 130

Christophe Dickès: “Giáo hội phải dựa vào lịch sử của mình để xây dựng tương lai”

Christophe Dickès: “Giáo hội phải dựa vào lịch sử của mình để xây dựng tương lai”

fr.aleteia.org, Agnès Pinard Legry, 2024-11-04

Giữa những vụ tai tiếng, lạm dụng và tham nhũng, ngày nay Giáo hội như muốn cố gắng trút bỏ hình ảnh đen tối. Tuy nhiên, Giáo hội có lý do vững vàng để hy vọng và để tự hào về lịch sử của mình. Việc thành lập các bệnh viện, các trường đại học, các tiến bộ trong khoa học… Qua nhiều thế kỷ, Giáo hội đã đóng góp rất lớn vào sự phát triển của xã hội ngày nay. Tiến sĩ lịch sử Christophe Dickès quả quyết: “Lịch sử Giáo hội cho thấy, không có lãnh vực nào mà Giáo hội không phát huy ảnh hưởng của mình.” Ông là tác giả quyển sách “Những gì thế giới nợ Giáo hội” (Ce que le monde doit à l’Église). Thoạt nhìn chủ đề có vẻ quá tham vọng, khoa trương hay lạc lõng để có thể là chủ đề của một quyển sách. Trên thực tế, từ nhiều năm nay, Giáo hội bị nhận chìm trong các vụ tai tiếng, những lời chỉ trích chống Giáo hội vang lên tứ phía. Nhưng… sự đóng góp của Giáo hội cho xã hội rất đáng kể trong nhiều lãnh vực: giáo dục, khoa học, y học, nghệ thuật… Giáo hội đã định hình các xã hội như chúng ta biết ngày nay. Christophe Dickès, tiến sĩ lịch sử, chuyên gia về lịch sử công giáo thẳng thắn lên tiếng: “Trong nhiều năm, tôi rất ngạc nhiên khi thấy chúng ta tiếp tục nói về những trang đen tối của lịch sử Giáo hội mà không đề cập đến sự đóng góp đáng kể và những gì thế giới nợ Giáo hội. Với tôi, khi Giáo hội Tây phương bị mắc kẹt trong cuộc khủng hoảng không bao giờ kết, việc quan trọng là phải nhớ lại những gì Giáo hội đã làm tốt trong lịch sử của mình. Không phải chỉ vì hiếu kỳ để chứng tỏ Giáo hội có cơ sở để hy vọng, triết gia Cicero ở thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, bậc thầy về cuộc sống và sự thật đã nói: ‘Quá khứ soi sáng hiện tại để hình dung rõ hơn về tương lai’”.

Vì sao lịch sử Giáo hội không được báo chí quan tâm?

Tiến sĩ Christophe Dickès: Trên hết, có sự thiếu hiểu biết hoặc thậm chí thiếu văn hóa lịch sử ảnh hưởng đến cả những người có thẩm quyền cao nhất của Giáo hội. Điều này đã được ông Andrea Riccardi (chính trị gia Ý, đồng sáng lập Cộng đồng Sant’Egidio) nhấn mạnh trong tác phẩm Giáo hội cháy. Sự thiếu hiểu biết về lịch sử dẫn đến sự hiểu biết nghèo nàn về thực tế, đặc biệt với cuộc khủng hoảng Giáo hội đang trải qua ngày nay. Hơn nữa, thật kỳ lạ, Giáo hội đã áp dụng những lời chỉ trích theo đạo tin lành và thậm chí phản giáo sĩ đối với lịch sử của chính mình trong nhiều thập kỷ. Tuy nhiên ăn năn, dù hợp pháp đến đâu cũng không được làm lu mờ thiện ích lịch sử của chính mình. Năm 2000 Đức Gioan Phaolô II đã hiểu rất rõ điều này: một mặt nhìn nhận những lỗi lầm của người công giáo trong quá khứ, nhưng ngài không rơi vào những kế hoạch đơn giản hóa hoặc theo phái phân biệt thiện ác manikêô. Ngài khuyến khích nghiên cứu lịch sử. Là người Ba Lan, ngài gắn bó sâu sắc với danh tính của mình, ngài hiểu đất nước của ngài mắc nợ Giáo hội những gì. Tuy nhiên, ăn năn đã có tác dụng lớn lao trên điều ác đã làm, nhưng lại không xét đến điều tốt Giáo hội đã mang lại.

Giáo hội đã cấu trúc các xã hội như chúng ta biết ngày nay như thế nào?

Lịch sử của Giáo hội cho thấy không có lãnh vực nào mà Giáo hội không có ảnh hưởng. Từ nhận thức về thời gian đến các công việc chăm sóc tại bệnh viện, tại các cơ sở từ thiện; từ việc tổ chức Nhà nước hiện đại và luật pháp quốc tế thông qua vai trò trí tuệ hoặc đơn giản qua giáo dục; cả ở lãnh vực khoa học hay vị trí của phụ nữ trong xã hội… ảnh hưởng của Giáo hội rất đáng kể mà chúng ta không thực sự biết. Giáo hội đã vun trồng trên mọi lãnh vực của xã hội. Và rõ ràng nhất là vai trò của Giáo hội trong nghệ thuật. Tôi có thể nói, đó là điều dễ thấy nhất nhưng không thể giản lược Giáo hội chỉ chừng đó.

Giáo hội thường bị chỉ trích vì phản đối khoa học, nhưng giáo sư nói ngược lại. Những đóng góp và hỗ trợ của Giáo hội cho khoa học là gì?

Mọi người đều biết vụ Galilêô nổi tiếng: năm 1633, tòa án dị giáo đã kết án nhà khoa học Galilê khi ông nói Trái đất quay chung quanh mặt trời. Galilêô là cái cây che khuất rừng khoa học kitô giáo. Hơn nữa, Copernicus, Galilêô, Descartes và nhiều người khác đều là những người được đào tạo trong môi trường kitô giáo. Chúng tôi rất ấn tượng trước số lượng người trong Giáo hội đã nổi bật nhờ khoa học của họ, việc này đã có từ thời Trung cổ với sự xuất hiện của các trường đại học: Tôi đưa ra một danh sách không thể đầy đủ trong quyển sách của tôi.

Thậm chí còn tốt hơn: cách chúng ta nghĩ về khoa học liên kết mật thiết với kitô giáo. Thật vậy, sách Khôn Ngoan thưa với Thiên Chúa “Ngài đã quy định mọi sự bằng thước đo, số lượng và trọng lượng” (Kn 11,20). Vì thiên nhiên là tạo vật thiêng liêng, nên con người của Giáo hội đã tìm cách hiểu và biết những bí mật thiên nhiên. Do đó, kitô giáo đặt ra những trụ cột của trí tuệ khoa học: đặt ra sự nghi ngờ dẫn đến nghiên cứu; sự cần thiết phải chứng minh những gì chúng ta đang nói; ý tưởng cho rằng kiến thức là giải phóng; cuối cùng là hương vị của sự rõ ràng và trật tự. Vì thế Oppenheimer có câu nói nổi tiếng: “Kitô giáo là cần thiết để khai sinh ra khoa học hiện đại”. Thật sai lầm, xã hội đương đại của chúng ta phản đối khoa học và đức tin. Chắc chắn, mối liên kết giữa Giáo hội và khoa học đã bị đứt quãng bởi những do dự, căng thẳng và đôi khi là khủng hoảng. Tuy nhiên, ý tưởng về một Giáo hội chống lại khoa học là một trong những huyền thoại dai dẳng nhất trong nhận thức chúng ta.

Chăm sóc người anh em là một trong những trụ cột của kitô giáo. Giáo hội đã nuôi dưỡng kỷ luật này như thế nào?

Vào nửa sau của thế kỷ thứ 4, thời điểm chứng kiến sự chuyển đổi Đế chế la-mã sang kitô giáo, cái mà chúng ta gọi là vương cung thánh đường xuất hiện, được đặt theo tên của giám mục Basil của Caesarea (329-379). Giám mục đã thành lập các bệnh viện và các cơ sở trợ giúp: bệnh viện, nhà hưu dưỡng, viện mồ côi, nơi tạm trú cho người nước ngoài, v.v. Dưới thời Đế quốc, chăm sóc chỉ dành cho những người có đặc quyền, kitô giáo đã thay đổi mô hình. Giáo hội không chỉ chăm sóc người nghèo, người bệnh tật mà còn đòi hỏi Nhà Nước phải tham gia vào công việc này. Vì Đế quốc đã theo đạo nên giờ đây Nhà Nước có nghĩa vụ hỗ trợ về mặt đạo đức. Đó là cuộc cách mạng lương tâm mà ở phương Tây đã phát triển với sự xuất hiện của Hôtel-Dieu gắn liền với Nhà thờ Chính tòa. Giáo hội đã thực hiện điều mà dụ ngôn Người Samaritanô nhân hậu đã dạy: giúp đỡ người khác, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay quốc gia.

Giáo sư dành một chương để nói về mối liên hệ giữa Giáo hội và chính trị. Xin giáo sư nói thêm về chủ nghĩa thế tục. Ở đây một lần nữa chúng ta có xu hướng chống lại Giáo hội và chủ nghĩa thế tục.

Về mặt lịch sử, chính Giáo hội thiết lập sự phân biệt giữa Giáo hội và Nhà Nước, giữa quyền lực tinh thần và quyền lực thế tục. Sự phân biệt này dựa trên câu nói nổi tiếng của Chúa Giêsu nói người Pharisêu: “Của Xêda trả lại cho Xêda; của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”. Vào cuối thế kỷ thứ 5, Gelasius là giáo hoàng đầu tiên đưa ra giả thuyết về mối quan hệ giữa hai bên. Ngài làm như vậy theo truyền thống của Thánh Ambrose thành Milan (thế kỷ thứ 4). Chắc chắn, lịch sử giữa Nhà Nước và Giáo hội sẽ không dễ dàng, nhưng chính Kitô giáo, bằng cách tạo ra sự khác biệt này, đã làm cho xã hội chúng ta trở nên khác biệt. Về vấn đề này, sử gia người Pháp René Rémond lưu ý: “Bản đồ của các quốc gia nơi nguyên tắc chủ nghĩa thế tục được công nhận và ít nhiều được tôn trọng trên thực tế gần như trùng khớp với bản đồ của các quốc gia thấm nhuần kitô giáo.”

Chúng ta thường có hình ảnh về một Giáo hội ra lệnh cho hành vi mà không thực sự dành chỗ cho lương tâm. Ngược lại, có phải giáo sư đang ám chỉ lương tâm rất thân thiết của xã hội chúng ta ngày nay phải chịu ơn Giáo hội rất nhiều?

Vấn đề lương tâm của mỗi người gắn liền với sự phát triển của việc xưng tội cá nhân có từ Công đồng Lateran IV năm 1215. Đây là cuộc cách mạng thực sự vì, đứng trước lỗi lầm, Giáo hội đã không còn thiết lập các thang bậc ăn năn nhưng quan trọng là ý chí ăn năn của người phạm tội. Ở đây chúng ta ở rất xa hình ảnh thường gắn liền với Giáo hội: hình ảnh của một thể chế không thể thay đổi, bị lên án bằng mọi giá. Nói cách khác, Giáo hội yêu cầu các cha giải tội phải tính đến hoàn cảnh đặc biệt của mỗi người: điều mà chúng ta gọi theo thuật ngữ pháp lý là nố lương tâm, nghĩa là tùy từng trường hợp. Cuộc cách mạng này cũng báo trước một hình thức chủ nghĩa cá nhân, theo thời gian, phát triển nhờ những hình thức tâm linh mới như lòng đạo đức hiện đại. Từ nay giáo dân qua việc giữ đạo cá nhân, có thể bảo đảm sự cứu rỗi của họ ở bên ngoài các tu viện. Thánh I-Nhã là ví dụ điển hình nhất về những thực hành cá nhân mới này. Tất cả những điều này làm cho lương tâm của mỗi người là nơi tôn nghiêm và cho phép, trong một số trường hợp cụ thể, không tuân theo chính quyền: mọi phản kháng của người công giáo trong Thế chiến thứ hai là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài về lương tâm, từ thời trung cổ đến thời hiện đại.

Liệu Giáo hội ngày nay có còn để lại dấu ấn tích cực trong Lịch sử không?

Có, tôi nghĩ có, nhưng Giáo hội phải muốn. Chúng ta không thể yêu người khác nếu chúng ta không yêu chính mình, nếu chúng ta không cảm thấy ít nhất một chút tự hào về những gì đã đạt được trong quá khứ. Vì thế Giáo hội phải có khả năng dựa vào lịch sử của mình để xây dựng tương lai, nếu không, Giáo hội sẽ bị kết án là một hình thức bất động. Nói cách khác, không kiêu hãnh nhưng cũng không mặc cảm, Giáo hội có thể và cũng phải tự hào về lịch sử của mình.

Marta An Nguyễn dịch

Bánh và Rượu

Bánh và Rượu

Ronald Rolheiser, 2024-11-04

Khi Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly, Ngài dùng hai chất liệu: bánh và rượu. Bánh và rượu đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta, đến mức chúng ta không bao giờ dừng lại để tự hỏi, vì sao lại là bánh và rượu? Trong số tất cả những gì Chúa Giêsu có thể chọn, vì sao Ngài chọn bánh và rượu? Bánh và rượu có đặc tính gì để có thể phù hợp với Mình và Máu Chúa Kitô? Cụ thể, bánh và rượu tượng trưng cho điều gì?

Khi được dùng trong Bí tích Thánh Thể, bánh và rượu tượng trưng cho những khía cạnh rất khác nhau trong cuộc sống, trong thế giới chúng ta và trong cuộc sống của Chúa Giêsu.

Bánh. Bánh là gì? Bánh tượng trưng điều gì với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể đầu tiên này? Bánh mì gồm nhiều hạt lúa mì và khi bị nghiền nát, chúng mất bản sắc riêng và trở thành một ổ bánh mì duy nhất. Trong Bí tích Thánh Thể, bánh mì tượng trưng cho chúng ta, nhiều cá nhân, và giờ đây tất cả chúng ta là một thân thể, Thân thể Chúa Kitô. Nhưng bánh mì cũng tượng trưng cho một khía cạnh cụ thể trong cuộc sống khi chúng ta vui vẻ, khỏe mạnh, sống trong cộng đồng, cùng nhau phát triển như những đứa con của Chúa. Mùi bánh mì tươi nói lên sự sống. Bánh mì trong Bí tích Thánh Thể cũng vậy. Bánh mì trở thành bánh mì của những thành tựu thế giới, được Chúa chúc phúc cho tất cả những gì là trẻ trung, khỏe mạnh, sáng tạo và tràn đầy sức sống.

Theo nghĩa bóng, bánh mì kỷ niệm thời Galilê của cuộc đời Chúa Giêsu và trong chính cuộc sống của chúng ta – thời kỳ của tuổi trẻ, của phép lạ, của việc đi trên mặt nước, làm cho người chết sống lại, của năng lượng cuộc sống vui tươi, của việc yêu đương và sự ra đời một cuộc sống mới.

Rượu. Tượng trưng cho điều gì của Chúa Giêsu và tượng trưng cho điều gì trong Bí tích Thánh Thể? Rượu được làm từ nho nghiền nát và tượng trưng cho máu. Và như máu của Chúa Kitô, rượu tượng trưng cho tất cả những gì tan vỡ, mong manh, không trọn vẹn, bệnh tật, đau khổ, chết chóc của thế giới. Đó là rượu của sự chết và sự bất lực của thế gian, máu của những gì bị nghiền nát khi thành tựu của thế gian diễn ra.

Theo nghĩa bóng, rượu tưởng nhớ thời kỳ Giêrusalem trong cuộc đời Chúa Giêsu, cũng như trong cuộc đời của chúng ta – thời kỳ của những hiểu lầm, thời kỳ nạn nhân, thời kỳ đau khổ về tinh thần, về thể xác, bị xa lánh, cô đơn khi chết, khi người khác không thể giúp chúng ta.

Và bánh và rượu tạo nên một tổng thể cân bằng cho cuộc sống trong mọi khía cạnh của nó. Trên thực tế, khi chủ tế dâng bánh và rượu, thì đây là những gì đang được nói: Lạy Chúa, những gì con dâng lên Chúa hôm nay là tất cả những gì có trên thế gian này, cả niềm vui và đau khổ – bánh của những thành tựu và máu của những gì bị nghiền nát khi những thành tựu này diễn ra. Con xin dâng cho Chúa mọi thứ lành mạnh và phát triển trong thế giới của chúng con – niềm vui bên bàn ăn, niềm vui của trẻ em, những giấc mơ đầy hy vọng của người trẻ, sự thỏa mãn khi được thành tựu, mọi thứ sáng tạo và tràn đầy sức sống, cả khi con dâng lên Chúa mọi yếu đuối, bị đè bẹp, già nua bệnh tật, hấp hối và là nạn nhân. Con dâng cho Chúa mọi vẻ đẹp trần thế, mọi niềm vui của cuộc sống này, cả những khi con đứng dưới chân thánh giá của Chúa, hiểu rằng người bị loại khỏi thú vui trần gian chính là hòn đá tảng của cộng đồng. Con dâng lên Chúa tất cả những mạnh mẽ, những yếu đuối, những nhẹ nhàng của trái tim, con xin Chúa chúc phúc cho cả những mạnh mẽ, những yếu đuối, của con, xin Chúa mở rộng trái tim con, để con được nắm giữ và chúc phúc mọi thứ như Chúa đã làm. Con xin dâng lên Chúa tất cả những điều kỳ diệu và nỗi đau của thế giới này, thế giới của Chúa.

Chúng ta có thể học được nhiều điều từ linh đạo này. Các linh đạo thường một chiều, chúng cần được cân bằng.

Một mặt, linh đạo có thể tập trung một chiều vào sự phát triển con người mà bỏ qua các bất cập: đau khổ, tội lỗi, cái chết, lời mời gọi vác thập giá theo Chúa Giêsu. Nó chỉ tôn vinh tuổi trẻ, sức khỏe, thịnh vượng và lòng tốt – trình bày một Chúa Giêsu ban cho chúng ta một Phúc âm Thịnh vượng thay vì một Phúc âm Toàn vẹn.

Ngược lại, nếu linh đạo tập trung quá một chiều vào sự bất cập của con người: tội lỗi, cái chết, chủ nghĩa khổ hạnh, từ bỏ lạc thú. Nó tôn vinh người già nhưng không tôn vinh người trẻ, người bệnh nhưng không tôn vinh người khỏe mạnh, người nghèo nhưng không tôn vinh người thịnh vượng, người hấp hối nhưng không tôn vinh người sống, tôn vinh thế giới bên kia nhưng không tôn vinh thế giới này. Điều này tước đi tính toàn vẹn của Phúc âm và trình bày Chúa Giêsu như nhà tu khổ hạnh không lành mạnh, cau mày với hạnh phúc tự nhiên của con người.

Bánh và rượu trong Bí tích Thánh Thể lên tiếng cho mọi khía cạnh của cuộc sống. Theo thần học gia Pierre Teilhard de Chardin, về bản chất, lời truyền phép trong Bí tích Thánh Thể nên đọc như thế này: “Trên mọi vật sống sắp nảy nở, phát triển, nở hoa, chín muồi trong ngày này, tôi lặp lại lời này: ‘Đây là mình Ta’. Và trên mọi thế lực tử thần đang chờ sẵn để ăn mòn, héo úa, chặt hạ, tôi lặp lại lời Chúa nói về mầu nhiệm tối cao của đức tin: ‘Đây là máu Ta.’”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các thánh trẻ đã hy sinh mạng sống mình cho Chúa Kitô đến mức tử đạo: họ là ai?

Các thánh trẻ đã hy sinh mạng sống mình cho Chúa Kitô đến mức tử đạo: họ là ai?

Carlo Acutis, Chiara Luce, Domenico Savio… Họ có điểm chung nào? Họ qua đời trước 25 tuổi, họ được Giáo hội phong chân phước hoặc công nhận là thánh. Một khuynh hướng đã tăng trong ba triều giáo hoàng gần đây để thế hệ trẻ có những tấm gương noi theo.

hlvie.fr, Marie-Liévine Michalik, 2024-10-30

Giáo dân chờ trước Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô Assisi trước lễ phong chân phước Carlo Acutis ngày 10 tháng 10 năm 2020. MASSIMILIANO MIGLIORATO/CPP

Dưới cái nắng như thiêu đốt ngày 3 tháng 8 năm 2023 tại Ngày Thế Giới Trẻ Lisbon, Đức Phanxicô nói với các bạn trẻ nhiệt thành trong số 500.000 giáo dân từ khắp nơi trên thế giới về đây: “Chúng ta hãy xin các thánh bổn mạng chúng ta, những người hết lòng theo Chúa Kitô”, sau đó ngài đọc một loạt tên được lựa chọn cẩn thận để các bạn trẻ noi gương, sau mỗi tên là câu “Ora pro nobis”, một điệp khúc hài hòa như kết nối tuổi trẻ với thiên đàng. Trong số 13 thánh có 5 thánh trẻ, tất cả đều qua đời trước sinh nhật thứ 25: João Fernandes, Pier Giorgio Frassati, Marcel Callo, Chiara Luce Badano và Carlo Acutis, người có biệt danh “chuyên gia máy tính của Chúa”, sẽ được phong thánh trong Năm Thánh 2025 ở Rôma.

Carlo Acutis: Thánh công giáo đầu tiên của Thế hệ Y

Các bạn trẻ này là chứng nhân của Chúa, được phong bậc đáng kính, chân phước hay phong thánh. Những khuôn mặt ngây thơ, trong sáng, thánh thiện với đức tin đơn sơ… Những nhân đức đặc trưng của tuổi thơ của Phúc âm Thánh Máccô và Luca: Chúa Giêsu xin để trẻ em đến với Ngài. Đức Phanxicô đã nhiều lần xin các bạn trẻ noi theo các gương thánh thiện này, ngài viết trong Tông huấn Đức Kitô Sống năm 2019: “Những người đã hiến mạng sống mình cho Chúa Kitô, nhiều người trong số họ đã tử đạo. Các thánh trẻ là hình ảnh của một Chúa Kitô trẻ trung, tỏa sáng, kích thích, đưa chúng ta ra khỏi trạng thái mê mệt.”

Một động lực mới dưới thời Đức Gioan Phaolô II

Việc Giáo hội thừa nhận lòng đạo đức của các tín hữu trẻ không phải là mới, Thánh Tarcisius được phong thánh thế kỷ thứ 8, Thánh Blandina thế kỷ 16. Tuy nhiên Đức Gioan-Phaolô II, người sáng lập Ngày Thế Giới Trẻ đã mang đến một sắc thái mới về tầm quan trọng phải nói chuyện với giới trẻ. Linh mục Rémi Bazin, trách nhiệm xác minh hồ sơ phong thánh giải thích: “Ngài là nguồn gốc của một động lực mới và được Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô tiếp tục.”

Sau Marcel Callo được phong chân phước năm 1987 là Pier Giorgio Frassati năm 1990, các mục đồng Fatima năm 2000, Chiara Luce năm 2010. Năm 2012 Đức Bênêđíctô XVI phong thánh cho Kateri Tekakwitha, phụ nữ bản địa Mỹ, Pedro Calungsod, Thánh tử đạo Phi Luật Tân 18 tuổi. Năm 2016 Đức Phanxicô ca ngợi nhân đức của José Luis Sánchez del Río, thanh niên Mexico bị giết ở tuổi 14 vì không chối bỏ đức tin của mình. Năm 2021 là chân phước Sandra Sabattini, thanh niên Ý quan tâm đến người khuyết tật, thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi khi 23 tuổi.

Làm thế nào để con cái yêu mến Chúa? Tấm gương của Tôi tớ Chúa Anne-Gabrielle Caron

Mô hình của “Thế hệ Z”

Trong vòng chưa đầy 50 năm, các gương mẫu thánh thiện trẻ đã được nhân lên gấp bội. Zélie Baud, tác giả luận án về các vấn đề chính trị trong việc phong thánh của Đại học Nantes phân tích: “Từ cuối thế kỷ 20, số lượng các chân phước, các thánh đã được gia tăng rất nhiều. Sự gia tăng theo cấp số nhân dưới triều Đức Gioan-Phaolô II vì ngài đơn giản hóa các thủ tục phong chân phước và phong thánh.”

Ngoài mối quan tâm rõ rệt của Đức Gioan Phaolô II với giới trẻ, chúng ta có thể giải thích động lực mới này như thế nào? Triều của Đức Gioan-Phaolô II được đánh dấu bởi Công đồng Vatican II, một công trình chính thức hóa đặc tính phổ quát của sự thánh thiện, nhắc chúng ta, mọi tín hữu đều được kêu gọi nên thánh.

Trong lịch sử Giáo hội, các cánh cửa thánh thiện đã được giáo dân vượt qua, bây giờ lại còn được mở rộng hơn nữa đủ để giải thích sự trỗi dậy của thế hệ thánh trẻ, những người trẻ của thiên niên kỷ thứ hai, những tấm gương cho thế hệ mà chúng ta gọi là Thế hệ Z.

Đúng, nhưng không chỉ vậy, sử gia công giáo Charles Mercier của Đại học Bordeaux cũng thấy đây là sự thay đổi kiến thức và cách nhìn về nhân cách giới trẻ: “Nhận thức về tâm lý, trí tuệ và thiêng liêng của trẻ em là khá muộn trong xã hội cũng như trong Giáo hội. Từ những năm 1930, các phong trào thanh niên đã được khuyến khích, đặc biệt nhờ Đức Piô XI, ngài ấn định tuổi tối thiểu để được rước lễ lần đầu là 7 tuổi so với 12 tuổi trước đó. Dần dần, tuổi trẻ được xem là động lực tích cực, nhiệt tình cho sự thay đổi.”

Quá trơn tru, quá hoàn hảo?

Thoạt nhìn, các thánh trẻ này có vẻ ngây thơ, trong sáng, thẳng thắn, đáng ngưỡng mộ, nhưng họ có quá nhẵn nhụi, quá tê cứng trong một hình ảnh hoàn hảo không? Thánh thiện khi còn trẻ thì dễ vì trẻ em được bảo vệ khỏi mọi giông bão cuộc đời hơn khi ở tuổi trưởng thành không? Linh mục Vincent Breynaert, cựu lãnh đạo mục vụ giới trẻ của Hội đồng Giám mục Pháp giải thích: “Không có sự thánh thiện nào suôn sẻ và thoải mái. Ai cũng phải đối diện với Sự dữ, với sự phức tạp của thế giới và với tâm lý con người.” Linh mục Vincent đã gặp hàng ngàn bạn trẻ và điều hành các bạn trẻ Pháp tại Đại hội Giới trẻ Thế giới ở Lisbon, theo linh mục, chúng ta không được thần thoại hóa những nhân vật thánh thiện này.

Qua đời trước khi 25 tuổi, các thánh trẻ này bị các bệnh nặng như ung thư, dịch hạch, bệnh bạch cầu, bệnh lao hoặc bị bách hại trước khi chết như những vị tử đạo (với người chết vì đức tin, truyền thống Giáo hội mở án phong chân phước ngay). Linh mục Rémi Bazin thừa nhận: “Chắc chắn các thánh trẻ đã sống đạo đức trong điều kiện khó khăn đau khổ. Nhưng tiêu chuẩn đánh giá sự thánh thiện của họ không phải là bệnh tật hay thử thách, nhưng ước muốn vượt lên để luôn kết hiệp với Chúa Giêsu.”

Cyril Lepeigneux, tác giả quyển sách Các câu chuyện đẹp về tuổi thơ của các thánh (Belles histoires de l’enfance des saints, nxb. Mame) giải thích: “Chỉ chịu đau khổ để trở thành thánh là chưa đủ, có rất nhiều tiêu chuẩn để đánh giá người đó có cuộc sống “đáng kính” hay không, dù trẻ em hay người lớn, Giáo hội nhìn ở họ tinh thần cố gắng để trở thành người tốt hơn, để đón nhận ân sủng của Chúa trong khó khăn, để giữ đức ái, tuân theo Tin Mừng và trung thành với Giáo hội. Sau đó, phép lạ đầu tiên sẽ được một nhóm chuyên gia trong Giáo hội đánh giá để tuyên bố người đó là chân phước và phép lạ thứ hai để phong thánh cho họ. Quá trình này có thể dài ngắn khác nhau. Với Chân phước Carlo Acutis thì chưa đầy 20 năm từ khi Carlo qua đời năm 2006 đến năm phong thánh 2025, nhưng Thánh Giăng-đắc thì phải mất 500 năm mới được phong thánh. Với các thánh khác, hồ sơ có thể bị ngâm nhiều năm trên kệ của Bộ Phong Thánh, đó là trường hợp của Claire de Castelbajac, hồ sơ đã gởi đến Rôma từ năm 2008 nhưng cho đến nay vẫn chưa được chính thức nghiên cứu.

Các bước thiết yếu

Các bước này nghiêm ngặt và tẻ nhạt, nhưng rất cần thiết. Sử gia, chuyên gia các hiện tượng thần bí Joachim Bouflet, cố vấn của Bộ Phong thánh giải thích: “Giáo hội cần thời gian để điều tra lâu dài trước khi có quyết định, đó là sự khôn ngoan và thận trọng.” Một số án phong thánh được các cộng đồng thực hiện như trường hợp của Chiara Luce Badano hay Claire de Castelbajac, đôi khi được chính gia đình làm, như trường hợp của Anne-Gabrielle Caron, tiến trình phong chân phước ở cuối giai đoạn giáo phận sẽ kết thúc vào tháng 12 sắp tới.

 Điều gì làm cho em Anne-Gabrielle Caron thành một vị thánh

Bà Hélène Mongin, nhà xuất bản các tác phẩm về Thánh Têrêxa Lisiơ và Carlo Acutis phân tích: “Thật khó để có một thánh trong gia đình. Khó cho anh chị em trong gia đình, không những phải thấy gia đình mình bị phân tích và trình bày trước công chúng, mà còn bị áp lực nặng khi một anh chị em được cho là thánh. Và cha mẹ có con chết trong hoàn cảnh bi thảm thì sao? Có nguy cơ cha mẹ sẽ “làm” cho con thành thánh khi nghĩ thời gian đau khổ là thánh thiện.” Đó cũng là lý do vì sao cần thời gian để nghiên cứu, không thể dựng nên một hình ảnh thánh thiện trong ba ngày ba đêm, lại theo yêu cầu của một người.

Anne-Gabrielle Caron, “hình ảnh thánh thiện của các trẻ em bị bệnh”

Lượng định danh tiếng của sự thánh thiện

Cần lượng định danh tiếng của sự thánh thiện, có nghĩa một nhân vật phải được “tiếng nói của giáo dân” (vox populi) lên tiếng. Theo linh mục Rémi Bazin, đây là động lực cần thiết “đòi hỏi có một xuất phát từ nền tảng Giáo hội, từ dân Chúa”. Tuy nhiên, trước áp lực của đám đông, liệu Giáo hội có bị mù quáng trước sự nhiệt tình của quần chúng không? Lịch sử cho thấy một số nhân vật được giáo dân cho là thánh, trước khi các chuyện kinh hoàng bị tiết lộ.

Theo sử gia Bouflet: “Sau các tiết lộ về lạm dụng tình dục đôi khi được các nhà chức trách Giáo hội che giấu, cần phải cẩn thận để không đặt người sống hoặc các vị thánh lên trên hết.” Tác giả Cyril Lepeigneux lưu ý: “Không giống như các linh mục, tu sĩ hay giáo dân độc ác đã phạm tội bạo lực tình dục nhân danh Thiên Chúa, các thánh trẻ này không bao giờ tự đặt mình lên bệ, họ sống khiêm nhường.” 

Mối liên hệ giữa bầu trời và thực tại của họ

Cần có các thánh trẻ này để làm gì? Cũng như các thánh lớn tuổi, họ là tấm gương sống, dễ gần với mọi người, dựa trên mối quan hệ mật thiết của họ với Chúa Kitô, hướng tới người khác và những người nghèo nhất. Hai tác giả Charlotte Bricout và Clémence Pasquier của quyển sách Các người trẻ và thánh (Jeunes et saints, nxb. Bayard) nhận xét: “Chúng ta cần các thánh trẻ để thấy thánh thiện có thể đạt được, không cần phải làm những điều vĩ đại. Các thánh trẻ là mối liên kết giữa Thiên Chúa và chúng ta, họ cho chúng ta thấy điều này là có thể.”

Ngay từ năm 2018, trong Phiên họp khoáng đại lần thứ 13 của Thượng Hội đồng, vấn đề người trẻ cần có gương sáng của các thánh trẻ đã được đặt ra. Trong một Giáo hội già cỗi, khó khăn để lấp đầy các cấp bậc của mình, gương sống đạo đức của những người trẻ giúp khuyến khích các bạn trẻ vượt lên chính mình để noi gương họ.

Cần những tấm gương giống họ

Theo hai tác giả Charlotte Bricout và Clémence Pasquier, các bạn trẻ ngày nay cần thấy người cùng tuổi với mình là thánh, như họ thấy họ nơi các diễn viên hoặc những người có ảnh hưởng: “Họ cần kết nối với điều gì đó hoặc ai đó gần gũi với cuộc sống hàng ngày, nhịp sống và thời gian của họ.” Linh mục Vincent Breynaert khẳng định: “Với các thế hệ mới, được đánh dấu bởi những thách thức về sinh thái và xã hội, điều quan trọng là cho họ thấy mọi thứ đều có thể xảy ra, đức tin không phải là thứ gì đó bụi bặm và vô dụng. Khi tổ chức Giáo hội bị lung lay mọi phía, các thánh trẻ là hình ảnh đẹp nhất của Giáo hội, họ là những gương mặt sáng ngời, hạnh phúc, làm điều tốt cho những người chung quanh. Các bạn trẻ này cho thấy chúng ta có thể thay đổi thế giới chỉ bằng những giọt nước nhỏ.”

Theo sử gia Bouflet, “các thánh trẻ này khao khát sự thật, công lý, họ minh bạch, họ không giả tạo, họ thuộc nhóm thiểu số đi tìm căn tính và mẫu mực để theo. Họ có một khát vọng sống kinh ngạc, Chiara Luce không muốn chết, không muốn đau khổ, cô vượt lên mọi thứ nhờ ân sủng Chúa.”

Động lực của họ nhanh chóng lan rộng đến các giáo sĩ, các nhóm hướng đạo, các nhà xuất bản. Bà Hélène Mongin xuất bản các sách về Thánh Têrêxa Lisiơ và Carlo Acutis cho biết: “Tất cả các nhà xuất bản sẽ cho quý vị biết, các sách về các thánh trẻ, đặc biệt các sách về Carlo Acutis là những sách bán chạy như tôm tươi. Thật đáng kinh ngạc!”

Năm Thánh Giới trẻ sẽ diễn ra đầu tháng 8 năm 2025, trong thư gởi các bạn trẻ ngày 17 tháng 9, Đức Phanxicô mời gọi giới trẻ “hướng cái nhìn đức tin về các thánh đi trước chúng ta, những người đã đạt được mục tiêu, họ cho chúng ta thấy lời chứng khích lệ của họ. Gương các thánh thu hút và nâng đỡ chúng ta.”

Bốn chân dung tiêu biểu của các chân phước, các thánh trẻ

Chiara Luce Badano (1971-1990), người tỏa sáng

Chiara Luce Badano người Ý sinh năm 1971, cô có biệt danh là Luce, “ánh sáng” vì niềm vui và đức tin rạng ngời của cô. Cô qua đời năm 1990 khi mới 19 tuổi, cả khi đứng trước căn bệnh nan y, cô có một lòng can đảm không lay chuyển, một lòng trung thành mạnh mẽ với Thiên Chúa. Khi được phong chân phước năm 2010, cô được mô tả là “cô gái trẻ có trái tim trong sáng”. Hiện đại, thể thao, quyết tâm và lạc quan dù đau khổ, trong thế giới thường xuyên đau buồn và không có hạnh phúc, cô truyền cảm hứng cho các bạn trẻ với thông điệp hy vọng của cô.

Dominique Savio (1842-1857), đứa trẻ tinh nghịch

Xuất thân trong gia đình thợ rèn khiêm tốn, Savio là học sinh tinh nghịch và ngoan đạo của Thánh Gioan Bosco. Dù còn nhỏ nhưng Savio trưởng thành về mặt thiêng liêng, dốc hết cả thể xác và tâm hồn để cầu nguyện, học tập và làm tông đồ cho bạn bè. Savio đi lễ gần như mỗi ngày, xem Chúa Giêsu và Đức Mẹ là bạn thân nhất của mình. Sức khỏe yếu, Savio qua đời vì bệnh lao khi mới gần 15 tuổi. Được phong thánh năm 1954, Savio là bổn mạng của các ca sĩ tí hon Pueri Cantores, các thanh niên phạm tội vì Savio giúp các bạn tìm ra con đường dẫn đến Tin Mừng. Savio là nhân vật quan trọng của dòng Salêdiêng. 

Claire de Castelbajac (1953-1975), người vui vẻ

Nghệ sĩ và nhà thám hiểm, Claire sinh năm 1953 tại Paris. Lúc 9 tuổi, Claire đã nổi tiếng có cá tính mạnh mẽ, cô tâm sự với một nữ tu: “Con muốn mang lại hạnh phúc, niềm vui đến cho những người con gặp. Thánh Têrêxa Lisiơ chờ lên thiên đàng để mang lại hạnh phúc cho mọi người. Còn con, con muốn làm điều này ở trần thế.” Cô nhìn thấy vẻ đẹp của thế giới là phản ánh của một tình yêu thiêng liêng. Đức tin của cô được nuôi dưỡng bằng chiêm niệm và sáng tạo nghệ thuật, cô xem đây là một hình thức cầu nguyện. Án phong chân phước của cô được mở năm 1990 và kết thúc ở cấp giáo phận ngày 16 tháng 2 năm 2008, hồ sơ của cô đang chờ xử lý ở Rôma.

Pier Giorgio Frassati (1901-1925), nhà thám hiểm

Là vận động viên thể thao xuất sắc, đam mê leo núi, chàng thanh niên Ý sinh ở Turin năm 1901, có cuộc sống đam mê, luôn tìm kiếm đỉnh cao. Pier chọn “Verso l’alto, đỉnh cao” làm phương châm của mình, tượng trưng cho khát vọng luôn vươn lên về mặt thiêng liêng và nhân bản. Cam kết phục vụ những người nghèo, Pier thấy Chúa Kitô nơi họ. Là con trai của một gia đình giàu có, Pier giúp những người thiếu thốn trên đường phố Turin. Năm 24 tuổi, Pier bị bệnh bại liệt và qua đời rất nhanh. Là vị thánh bảo trợ người dân miền núi, Pier được Đức Gioan Phaolô II phong chân phước năm 1990.

Marta An Nguyễn dịch

Carlo Acutis: Thánh công giáo đầu tiên của Thế hệ Y

Carlo Acutis: Thánh công giáo đầu tiên của Thế hệ Y

Giáo hội công giáo sẽ sớm có thánh đầu tiên của thế hệ thiên niên kỷ: Carlo Acutis có biệt danh là “thánh bảo trợ trang web”. Con đường truyền thống của bao nhiêu thế kỷ nay đang thay đổi.

nationalgeographic.fr, Amy McKeever, 2024-07-10

Ngày 1 tháng 7, Vatican đã phê chuẩn việc phong thánh cho thần đồng công nghệ trẻ Carlo Acutis qua đời năm 2006 lúc 15 tuổi. Với quyết định này, Chân phước Carlo Acutis là hình ảnh gương mẫu cho thế hệ trẻ công giáo và là thánh đầu tiên của thiên niên kỷ.

Trường Notre-Dame de la Galaure, ở Drôme trưng thánh tích của Chân phước Carlo Acutis trong nhà nguyện của Trường. Hình ảnh / Nicolas Guyonnet, Hans Lucas, Redux

Chân phước Carlo Acutis không phải là hình ảnh cổ điển của các thánh, ngày xưa đa số các thánh được phong thánh nhờ tử đạo. Carlo Acutis là thiên tài máy tính, kính mến Bí tích Thánh Thể, làm trang web với các phép lạ Thánh Thể, là hình ảnh thánh thiện của thời hiện đại.

Bà Kathleen Sprowls Cummings, giáo sư lịch sử tại Đại học Notre Dame, Indiana, tác giả quyển sách Thánh của thời chúng ta, giải thích: “Căn bản, phong thánh là nói lên sự thánh thiện. Khi ngày nay giới trẻ rời bỏ nhà thờ, không có gì tốt lành hơn là chúng ta có thánh đầu tiên cho thế hệ này. Một thánh trẻ giống họ. Nhưng ai có thể là thánh của thế kỷ 21?”

Ai có thể thành thánh?

Trong Giáo hội, phong thánh là chính thức công nhận người này ở trong sự hiện diện vĩnh cửu của Thiên Chúa, hoặc họ đã lên thiên đàng sau khi có cuộc sống đặc biệt thánh thiện đạo đức.

Các thánh không khác gì nhau trên thiên đàng. Danh hiệu này chỉ là cách tôn kính các thánh ở trần thế, chúng ta có những nhà thờ đặc biệt tôn kính một thánh đặc biệt nào đó.

Nhưng một người sống một cuộc đời đạo đức không nhất thiết họ sẽ được phong thánh. Việc phong thánh là một quá trình cam go và… có chiến lược.

Bất kỳ tín hữu kitô nào cũng có thể xin phong thánh cho người họ tôn kính, nhưng trước tiên họ phải thuyết phục Giám mục địa phương chấp nhận yêu cầu của họ. Muốn được phong thánh, ứng viên phải qua đời ít nhất 5 năm, dù Giáo hoàng có thể đưa ra một số trường hợp ngoại lệ.

Sau khi mở hồ sơ, các nhà điều tra địa phương sẽ xem xét kỹ các bài viết của ứng viên, phỏng vấn tất cả những ai biết ứng viên để chứng minh họ có các đức tính: đức tin, đức cậy, đức ái, công lý và lòng dũng cảm. Nếu họ có những đức tính này (được Giáo hoàng đồng ý) thì họ được tuyên bố là bậc “đáng kính”.

Đây là giai đoạn cần phép lạ. Giáo hội cần ít nhất có một phép lạ để được phong chân phước, khi đó Giáo hội địa phương được tôn kính chân phước, và nếu có phép lạ thứ hai xảy ra trong giai đoạn này, Giáo hội có thể chính thức phong thánh cho người đó.

Phép lạ trong thời đại khoa học là gì?

Sử gia và là nhà huyết học Jacalyn Duffin giải thích: “Ở thế kỷ 20, 99% phép lạ đều thuộc về y học”. Điều này được giải thích một phần vì các phép lạ này khó tranh cãi hơn, như phép lạ hóa bánh và cá trong Kinh Thánh.

Để chứng minh việc chữa lành nhờ phép lạ, Vatican thành lập một Ủy ban gồm các bác sĩ để đánh giá hồ sơ bệnh và chứng minh không có lời giải thích khoa học nào có thể giải thích việc chữa lành.

Điều khó chứng minh nhất là việc chữa lành này nhờ vào sự can thiệp thiêng liêng. Theo giáo sư Cummings: “Giáo hội có nhiều khả năng cho đó là phép lạ khi một chấn thương không có hy vọng chữa lành lại nhanh chóng lành lại. Để phép lạ được cho là nhờ cầu nguyện với vị thánh tương lai, đương sự phải thề họ chưa cầu nguyện với ai khác ngoài vị thánh này. Với tiến bộ khoa học, các phép lạ ngày càng khó chứng minh. Hơn nữa, trước đây phải có ít nhất bốn phép lạ mới được phong thánh, năm 1983 Đức Gioan-Phaolô II đã giảm con số này xuống một nửa.”

Vì sao gọi là thánh?

Phong thánh là một vinh dự hiếm khi được ban, vì rất khó để bộ máy giấy tờ của Vatican thông qua, chẳng hạn Vatican có thể vô hiệu hóa các phép lạ vì có sai sót trong hồ sơ đệ trình. Nhưng cũng liên quan đến các mối quan hệ và cách làm sao để Giáo hội luôn cập nhật.

Việc phong các thánh mới đóng góp rất nhiều trong việc tạo năng lực mới cho Giáo hội công giáo. Nghiên cứu này được các nhà nghiên cứu Robert Barro và Rachel McCleary của Đại học Harvard chứng minh trong quá trình phân tích năm 2016 về tất cả các vụ phong chân phước và phong thánh được công bố từ năm 1590 đến năm 2009. Họ phát hiện số lượng các thánh công giáo tăng lên khi số lượng người tin lành tăng lên trong một khu vực.

Các nhà nghiên cứu viết: “Kể từ đầu thế kỷ 20, việc phong thánh dường như là một phản ứng của Giáo hội công giáo với đạo tin lành và các Giáo hội tin lành”.

Vậy chúng ta có thể cho rằng việc phong thánh cho Chân phước Carlo Acutis cũng là chiến lược được dùng để quy tụ các thế hệ trẻ vào Giáo hội công giáo không?

“Tất nhiên,” giáo sư Kathleen Cummings giải thích: “Điều này không làm giảm đi sự thánh thiện của Chân phước Carlo Acutis, nhưng chúng ta hiểu quyết định này hơn, vì khoảng cách tuổi tác giữa các tín hữu bây giờ ngày càng tăng và Vatican muốn làm nổi bật việc phong thánh này khi quyết định sẽ phong thánh cho Chân phước Carlo Acutis vào Năm Thánh 2025, một ngày hành hương rất quan trọng, sẽ có hàng triệu người về Rôma trong dịp này.

Bà Cummings nhấn mạnh: “Hãy tưởng tượng số lượng các bạn trẻ dự lễ phong thánh. Một thông điệp rất mạnh!”

Marta An Nguyễn dịch

Triết gia Pháp Simone Weil có thể dạy chúng ta cầu nguyện như thế nào

Triết gia Pháp Simone Weil có thể dạy chúng ta cầu nguyện như thế nào

Triết gia Pháp Simone Weil (1909-1943)

fr.aleteia.org, Valdemar de Vaux, 2024-11-03

Triết gia Simone Weil vẫn ở “ngưỡng cửa của Giáo hội”, bà được biết đến là người có tư tưởng độc đáo, thần bí, chính trị, bám vào gốc rễ và đương đại. Trong một bài viết về “quan niệm kitô giáo về việc học tập”, bà nói một cách đáng ngưỡng mộ về việc cầu nguyện, thành quả của sự chú ý tập trung.

Học tập, cầu nguyện và chú tâm. Đó là ba quan điểm được triết gia Simone Weil kết hợp ở một trong những bài viết của tuyển tập được xuất bản năm 1950 có tựa đề Mong chờ Chúa (Attente de Dieu). Xuất phát từ các thư trao đổi trong năm 1942 với cha linh hướng, các chương này nói lên hành trình tâm linh của bà, của những người vẫn còn ở “ngưỡng cửa của Giáo hội”, trong đó có bài “Suy ngẫm về ứng dụng tốt trong việc học ở trường với quan điểm yêu mến Thiên Chúa”. Cùng nhau suy nghĩ về việc học tập và sự chú ý, nghe có vẻ bình thường nhưng đây cũng là lời cầu nguyện. Triết gia đã nói gì về mối quan hệ với Thiên Chúa?

Theo bà, mối quan tâm chính của việc học là phát triển sự chú ý qua các bài tập ở trường: “Phẩm chất của chú ý phần lớn là phẩm chất của lời cầu nguyện, đó là chú tâm hướng về Chúa.” Vì vậy, lời cầu nguyện có mối quan tâm giống như sự quan tâm của trí thông minh, không quan tâm nhiều đến kết quả đạt được nhưng quan tâm ở cố gắng để có được kết quả. Với bà, học tập cũng như cầu nguyện: “Nếu vào cuối giờ chúng ta không tiến bộ hơn lúc bắt đầu, thì từng giây phút đi qua, chúng ta vẫn tiến bộ trong từng giây phút theo một chiều kích huyền bí khác.” Bà lấy gương của Thánh Gioan Vianê, ngài bị khó khăn khi học tiếng la-tinh: “Những cố gắng tưởng vô ích này đã mang lại kết quả nhờ sự phân định sáng suốt.”

 Một hành vi khiêm nhường

Ngoài việc không bao giờ chắc chắn về kết quả lời cầu nguyện của mình, ai muốn cầu nguyện, thì đầu tiên hết họ phải cầu nguyện, trước khi chắc chắn về giá trị của việc chiêm niệm này. Vì thế triết gia nói về “kiến thức hữu ích cho sự tiến bộ tâm linh, nếu chúng ta không chấp nhận cầu nguyện như một quy tắc ứng xử trước khi xác minh, nếu chúng ta không gắn bó với cầu nguyện trong một thời gian dài qua đức tin… thì chúng ta đừng bao giờ nghĩ chúng là những điều chắc chắn”. Đức tin, một hành vi tin tưởng, cần thiết cho bất kỳ mối quan hệ thầm lặng nào với Thiên Chúa, vốn vô hình về bản chất. Nhưng dù là ước muốn, nó cũng phải được trí thông minh dẫn dắt trong niềm vui và với niềm vui, để dẫn đến việc cầu nguyện “vì ước muốn hướng về Thiên Chúa là sức mạnh duy nhất có thể làm tâm hồn mềm lòng”. Chỉ có ý chí, nhưng không được học tốt, cũng không thể dẫn đến Thiên Chúa.

Vì cầu nguyện là hành vi khiêm tốn, từ đó nảy sinh ý thức về lòng thương xót của Chúa Cha và sự cần thiết cần sự giúp đỡ của Ngài. Triết gia Simone Weil nói: “Đứng trước sự thiếu học tập, chúng ta cảm thấy mình tầm thường, không có kiến thức như mình mong muốn.” Nhận hơn là cho, đó là bí mật tối thượng: “Những điều quý giá nhất không thể đi tìm, mà nên mong chờ.”

Marta An Nguyễn dịch

Những tấm gương thánh thiện về đức khiêm nhường

Những tấm gương thánh thiện về đức khiêm nhường

americamagazine.org, J.D. Long García, 2024-11-01

Suy niệm ngày lễ Thánh Carôlô Borrêmêô.

“Đừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà xem người khác hơn mình” (Pl 2:3).

Khi còn nhỏ vợ tôi học trường công giáo, hàng năm trường tổ chức đi bộ để gây quỹ. Một năm nọ, khi cuộc đi bộ bắt đầu, cô và cô bạn đuổi nhau qua đám đông, hai người vô tình đâm sầm vào một ông đang đi.

“Xin lỗi!” họ xấu hổ nói.

“Không sao đâu, không sao đâu, hai cô không sao chứ?”, người kia nhẹ nhàng nói.

Họ không sao. Họ cười khúc khích rồi đỏ mặt chạy đi.

Không lâu sau, trong một buổi cầu nguyện, trường mời Giám mục giáo phận đến cầu nguyện. Khi Giám mục bước lên bục, vợ tôi ngạc nhiên thấy đây là người cô đã đâm sầm vào. Cô rất xấu hổ.

Cô thường hay nói về Giám mục. Ngày Lễ Vọng Giáng Sinh, cô thấy Giám mục ngồi một mình trong nhà thờ, nhắm mắt nghe ca đoàn hát. Khi gặp ai, giám mục luôn đơn sơ giới thiệu: “Xin chào, tôi là Mattêô”.

Giám mục qua đời trước khi tôi có cơ hội gặp ngài. Nhưng qua các câu chuyện vợ tôi kể, tôi hình dung ngài là người tốt lành, khiêm nhường, yêu Chúa, yêu dân Chúa và không bao giờ xem thường ai.

Tôi nghĩ về giám mục trong ngày lễ Thánh Carôlô Borrêmêô. Vị thánh người Ý là Tổng giám mục giáo phận Milan cho đến khi ngài qua đời năm 1584. Ngài ở lại thành phố trong thời đói kém và dịch bệnh để chăm sóc người nghèo bằng chính tiền túi của ngài.

Tôi không biết Giám mục già của nhà tôi có phải là một vị thánh không, nhưng giống như Thánh Borrêmêô, ngài là hình ảnh của đức khiêm nhường. Khiêm nhường là một việc khó khăn, các thánh không chủ tâm cố gắng khiêm nhường, nhưng khiêm nhường là đức tính tự nhiên của họ.

Có lẽ Thánh Borrêmêô được đoạn Phúc âm này tác động, ngài sinh ra trong một gia đình quyền quý. Chúa Giêsu đã nói với một chức sắc Pharisêu: “Nếu ông mở tiệc, ông nên mời người nghèo, người tàn tật, người què, người mù; thật có phúc cho ông vì họ không có khả năng để trả ơn ông.”

Khi cho đi, chúng ta không nên nghĩ đến những lợi ích hoặc lời khen ngợi nhưng nên tìm cách để tôn vinh Chúa.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nhân đức khiêm nhường cứu chúng ta khỏi sự dữ

Sau quyền phát biểu trước công chúng, phụ nữ Afghanistan mất quyền “nghe tiếng nói của các phụ nữ khác”

Sau quyền phát biểu trước công chúng, phụ nữ Afghanistan mất quyền “nghe tiếng nói của các phụ nữ khác”

slate.fr, Héloise Robert, 2024-10-30

Một lần nữa, phụ nữ là mục tiêu của các quy tắc do nhà cầm quyền Taliban áp đặt ở Afghanistan, quyền của họ ngày càng bị hạn chế.

Dưới chế độ Taliban, tiếng nói của phụ nữ bị cho là awra, có nghĩa phải bị che lại trong toàn bộ cơ thể. | Ảnh từ Flickr

Cuối tháng 8 năm 2024, nhà cầm quyền Taliban cấm họ phát biểu trước công chúng, bây giờ tiếng nói của họ còn bị hạn chế hơn nữa với sắc lệnh mới.

Bài báo trên trang The Independent cho biết ngày thứ hai 28 tháng 10 cho biết, ông Muhammad Khalid Hanafi, Bộ trưởng Bộ Phát huy Đạo đức và Đàn áp Tội ác của Taliban ra lệnh từ nay phụ nữ phải hạn chế cầu nguyện thành tiếng và ca hát để không còn ai có thể nghe giọng nói của họ.

Trong các bình luận được đài truyền hình Amu, một kênh truyền hình độc lập của Afghanistan có trụ sở tại Virginia (Hoa Kỳ) đưa tin, Bộ trưởng Taliban tuyên bố: “Phụ nữ không được phép đọc takbir và athan (hai lời cầu nguyện hồi giáo) và việc họ hát hoặc sáng tác nhạc còn bị giới hạn hơn.” Báo The Telegraph đăng: “Khi một phụ nữ cầu nguyện và khi có người khác đi ngang qua, phụ nữ này không được cầu nguyện thành tiếng, không được để lời cầu nguyện của họ được nghe thấy. Làm sao họ có thể được phép hát nếu họ không nghe giọng của người khác?”

“Điều này cho thấy mức độ kiểm soát cực độ và phi lý của Taliban”

Ở Afghanistan, dưới chế độ Taliban, giọng nói của phụ nữ bị cho là awra, nghĩa là phải bị che lại trong toàn bộ cơ thể. Tiếng nói của họ không được nghe thấy nơi công cộng, ngay cả với các phụ nữ khác. Quyết định này được đưa ra chỉ hai tháng sau khi Taliban ban hành một loạt quy định với phụ nữ, trong đó có quy định phải che toàn bộ cơ thể khi ra ngoài, kể cả khuôn mặt.

Một nữ hộ sinh ở thành phố Herat phía tây Afghanistan nói với đài Amu, Taliban đang cấm các nhân viên y tế (các phụ nữ làm việc bên ngoài) nói chuyện, đặc biệt với nam giới. Bà nói: “Thậm chí họ còn không cho chúng tôi nói ở các điểm khám. Tại các phòng khám, chúng tôi bị cấm thảo luận bất kỳ vấn đề y tế nào với nam giới.”

Nếu việc thực hành các quy định mới và bối cảnh ban hành vẫn chưa được làm sáng tỏ, nhưng tuyên bố mới nhất của Sheikh Muhammad Khalid Hanafi đã gây phẫn nộ trên mạng xã hội. Nhà báo Lina Rozbih viết: “Sau khi cấm phụ nữ nói chuyện trước công chúng, Bộ Phát huy Đạo đức và Đàn áp Tội ác đã cấm phụ nữ nói chuyện với nhau. Tôi không thể diễn tả hết sự phẫn nộ và ghê tởm trước việc Taliban ngược đãi phụ nữ.”

Bà Nazifa Haqpal, cựu nhà ngoại giao Afghanistan viết: “Điều này vượt xa sự coi thường phụ nữ và cho thấy mức độ kiểm soát cực độ và phi lý của Taliban”. Bà Zubaida Akbar, nhà hoạt động nhân quyền người Afghanistan viết trên tài khoản Twitter: “Các lệnh cấm đều do các ông ra lệnh, họ phải chịu trách nhiệm về nạn phân biệt chủng tộc hiện đang diễn ra ở Afghanistan.” Rất ít khả năng Taliban sẽ nghe các tiếng nói kêu trừng phạt các nhà lãnh đạo này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô tại Vườn Thiên Thần của Nghĩa trang Laurentino, ngài an ủi ông Stefano, người cha có con gái vừa qua đời

Đức Phanxicô tại Vườn Thiên Thần của Nghĩa trang Laurentino, ngài an ủi ông Stefano, người cha có con gái vừa qua đời

vaticannews.va, Salvatore Cernuzio, 2024-11-02

Đức Phanxicô tại Vườn Thiên Thần, Nghĩa trang Laurentino

Ngày 2 tháng 11, Đức Phanxicô cử hành Lễ Các Đẳng tại Nghĩa trang Laurentino. Trước thánh lễ ngài dừng chân ở “Vườn Thiên thần” nơi chôn các em bé chưa sinh, tại đây ngài an ủi ông Stefano, con gái của ông vừa qua đời. Thánh Lễ không có bài giảng, thay vào đó là giây phút suy niệm và cầu nguyện.

Một người mẹ dùng bút đánh dấu dòng chữ trên bia mộ của đứa con gái chết khi chưa đầy một tuổi. Một bà khác tưới cây ở mộ con. Người cha Stefano lau tấm bia của con gái nhỏ Sarah chưa ra đời, bị gián đoạn ở tuần thứ 11 tháng 7 năm 2021. Những hình ảnh đau lòng, đó là hình ảnh của những người cha, người mẹ trước mộ con chưa sinh của mình. Đây là lần thứ nhì Đức Phanxicô đến nghĩa trang này, lần đầu năm 2018 và năm nay ngài dâng thánh lễ ở đây.

 

Dừng chân ở Vườn Thiên thần

Vườn Thiên thần có diện tích 600 mét vuông dành riêng để chôn các em chưa sinh vì sảy thai hoặc vì vấn đề sức khỏe của bà mẹ khi mang thai. Thomas, Mattia, Maria, Giuseppe, Andrea, Ariana: tên của các em được khắc trên mộ. Chung quanh mộ là đồ chơi yêu thích của các em: các nhân vật Disney, các phim hoạt hình, bong bóng bay, chong chóng… Đức Phanxicô đến lúc 9h45 sáng, ngài đi dọc hành lang dài, hàng trăm người đến từ sáng sớm để chờ dự thánh lễ Đức Phanxicô dâng ở đây.

Trước bia mộ trẻ em

Ngài dừng lại ở giữa hàng mộ và cầu nguyện trong thinh lặng. Trong thông điệp ý chỉ cầu nguyện tháng 11 dành cho cha mẹ mất con, ngài nói: “Những lời an ủi đôi khi thật tầm thường và không thực sự hữu ích. Dù những ý chỉ được nói lên một cách tự nhiên với những ý định tốt nhất, thì cuối cùng những lời này lại làm cho vết thương trở nên trầm trọng hơn.”

Gặp ông Stefano

Giây phút chiêm nghiệm bị gián đoạn khi Đức Phanxicô gặp ông  Stefano, khi đến nơi, ông quỳ xuống, kể ngắn gọn câu chuyện của ông và chỉ cho ngài xem mộ con mình. Ngài siết chặt tay ông và nhận thư ông. Sau đó ngài đến khu vườn trước, nơi chôn các em bé qua đời khi còn rất nhỏ. Ngài đặt bó hoa hồng trắng ở đây.

Một phút suy niệm trong thánh lễ

Không có bài giảng trong thánh lễ, nhưng có giây phút thinh lặng, ngài cúi đầu suy niệm. Lời cầu nguyện phụng vụ hôm nay: “Lạy Chúa, cuộc sống trần thế của chúng con chỉ là một hơi thở, xin dạy chúng con đếm ngày tháng của mình, xin ban cho chúng con khôn ngoan trong tâm hồn để nhận biết giờ chết không phải là kết thúc, nhưng sự sống đang qua đi”. Kế đó ngài ban phép lành, xin Chúa an ủi những người đau buồn vì sự mất mát này, ngài dâng lời cầu nguyện cho các đẳng.

Chào “Tia lửa hy vọng”

Một số các bà mẹ mất con gặp nhau an ủi nhau: “Không có từ nào nói lên được nỗi đau của chúng tôi.” Họ là bà Francesca,  mẹ của Giorgia qua đời năm 15 tuổi, bà Caterina mẹ của Marina, bà Maria Teresa mẹ của Daniele, bà Shanti mẹ của Marco… Tất cả trao cho Đức Phanxicô chiếc khăn trắng: “Đó là cái ôm ấm áp của chúng tôi dành cho ngài, một cái ôm mang tính biểu tượng từ những đứa con của chúng tôi”, họ cám ơn Ngài đã ở bên cạnh họ ngày hôm nay ở nghĩa trang Laurentino: “Đây là chứng tá của tình cảm, là cách thiện cảm để gần với con cái mình.”

Marta An Nguyễn dịch

Ông bà triệu phú Patrick và Nancy Latta từ bỏ tất cả để làm nhà truyền giáo ở Mễ Du

Ông bà triệu phú Patrick và Nancy Latta từ bỏ tất cả để làm nhà truyền giáo ở Mễ Du

fr.aleteia.org, Ingrid Basaldúa Guzmán và Aline Iaschine, 2024-11-03

Sau khi sống cuộc sống không có Chúa ở Canada, ông bà Patrick và Nancy sống trong tình mẫu tử của Đức Mẹ Mễ Du.

Ai đi hành hương Đức Mẹ Mễ Du chắc chắn sẽ nghe chứng từ của ông bà Patrick và Nancy! Mỗi ngày, họ vui vẻ, hài hước chia sẻ câu chuyện của họ cho hàng trăm, hàng ngàn khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới về đây. Bà Nancy người Croatia và ông Patrick người Canada đã sống ở ngôi làng nhỏ Bosnia-Herzegovina này từ năm 1993, nơi sáu mục đồng bé nhỏ đã thấy Đức Mẹ hiện ra. Họ từ bỏ đời sống triệu phú ở Canada, đến Mễ Du xây lâu đài tráng lệ để làm nơi tĩnh tâm cho các tu sĩ và khách hành hương.

 Cuộc sống sung túc ở Canada

Trước khi trở lại, năm 35 tuổi ông Patrick đã có 7 đại lý bán xe, có khi ông bán 50 chiếc xe mỗi ngày. Để ăn mừng, tối thứ bảy, ông thường mời nhân viên đến quán bar vui chơi, ông nói: “Quý vị có biết tôi phải trả giá bao nhiêu không? Hai lần ly hôn! Buôn bán là chuyện quan trọng duy nhất của đời tôi.” Sau đó ông gặp Nancy, cô luật sư tóc vàng, mắt xanh thua ông 20 tuổi, ông vui vẻ cho biết: “Thật hoàn hảo. Chúng tôi kết hôn… trên trực thăng!”

Nhưng hai ngày sau cô Nancy bật khóc vì cô không cảm thấy mình thực sự đã kết hôn. Patrick hỏi cô: “Nancy, em có biết chiếc trực thăng này trị giá bao nhiêu không?” Nhưng Nancy muốn làm đám cưới ở nhà thờ, cô đến gặp Giám mục giáo phận Vancouver, Canada. Giám mục nói: “Cuộc hôn nhân đầu tiên của Patrick là vô hiệu, cuộc hôn nhân thứ hai không hợp lệ vì làm ở ngoài Nhà thờ. Vì thế anh được phép kết hôn theo nghi thức tôn giáo!” Hôm nay anh vui cười nói: “Tôi rất giận vì tôi đã mua chiếc trực thăng rất nhiều tiền để làm đám cưới!” Ai thấy Nancy từ chối làm đám cưới cũng khuyên cô nên nhượng bộ, nhưng cô dứt khoát phải làm đám cưới ở nhà thờ, và phải là Nhà thờ Trái tim Vô nhiễm Nguyên tội!

Một hoán cải triệt để

Không lâu sau khi làm đám cưới, Nancy đưa cho “người chồng ngoại đạo” quyển sách Đức Mẹ Mễ Du, chứng từ của các em bé đã thấy Đức Mẹ hiện ra! Patrick phản đối, nhưng cuối cùng ông đồng ý đọc câu ngắn nhất: “Mẹ xin các con hoán cải lần cuối.” Ông tự hỏi : “Lần cuối cùng sao?” Và ông nói với vợ: “Sao em không nói với anh những chuyện này sớm hơn? Anh cảm thấy thông điệp này là sự thật, nó chạm sâu sắc đến trái tim của anh, anh cảm thấy bứt rứt.” Dù vẫn luôn đặt tiền lên hàng đầu nhưng kể từ đó, cuộc đời ông đã thay đổi hoàn toàn.

Lâu đài được xây để đón tiếp khách hành hương. @Aline Iaschine

Ông Patrick, người chưa rửa tội cho con và không giữ đạo từ 30 năm nay, ông bắt đầu đọc thông điệp Mễ Du và làm theo mọi điều Mẹ Maria xin. Ông nói: “Mẹ Thiên Chúa xin chúng ta cùng nhau lần hạt mỗi ngày vì chuỗi Mân Côi sẽ làm phép lạ cho gia đình, xin chúng ta đi lễ ngày chúa nhật, đọc Kinh Thánh mỗi ngày… Thế là tôi xin Nancy mua cho tôi quyển Kinh Thánh, Nancy đem về quyển Kinh Thánh nặng 10 kílô! Sau đó, Nancy xin tôi ăn chay ngày thứ tư và thứ sáu vì khi chúng ta ăn chay cầu nguyện, chiến tranh có thể bị ngăn chặn.” Từ đó hai người thay đổi cuộc sống, nhưng họ biết Đức Mẹ còn nói: “Bạn không thể bắt đầu hoán cải nếu không xưng tội.”

Láng giềng của Đức Mẹ

Vì vậy, Patrick xin gặp linh mục và xưng các tội ông đã phạm trong 30 năm qua. Sau nhiều giờ xưng tội, linh mục làm phép giải tội cho ông và nói: “Tôi đã hôn ông ấy!” Ông Patrick nói: “Sự tha thứ của Chúa làm tôi rơi nước mắt. Tôi nghĩ linh mục là phép lạ của Chúa. Bạn có hiểu linh mục có giá trị như thế nào không? Chỉ có đôi bàn tay của linh mục mới có thể tha tội. Khi linh mục nói: Ta tha tội cho con, họ mở cửa Thiên đàng”!

Hai vợ chồng bắt đầu cầu nguyện với nhau và đời sống của họ thay đổi. Ít lâu sau, họ quyết định bỏ cuộc sống xa hoa: Nancy bỏ công ty luật của cô, ngôi nhà ở Canada để qua Mễ Du sống. Patrick nói với vợ: “Nancy, anh muốn làm hàng xóm của Mẹ Maria!” Sau đó họ qua Âu châu, mua chiếc xe mà không biết ngôi làng nhỏ này ở đâu. Năm 1993, họ thành người láng giềng của Nữ Vương Hòa bình, họ xây lâu đài để làm nơi tĩnh tâm cho khách hành hương, đặc biệt cho các linh mục đến đây tĩnh tâm. Thông điệp của Đức Mẹ đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống của họ, bây giờ họ là chứng nhân không mệt mỏi cho hàng ngàn người đến đây hành hương.

Marta An Nguyễn dịch

Sáu người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du

Vì sao Vatican thận trọng khi cho phép tôn kính Đức Mẹ Mễ Du

Vì sao Vatican vẫn kiểm soát các thông điệp ở Mễ Du?

Chân phước Carlo Acutis: “Luôn kết hiệp với Chúa Giêsu, đó là chương trình sống của tôi.”

Chân phước Carlo Acutis: “Luôn kết hiệp với Chúa Giêsu, đó là chương trình sống của tôi.”

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles. Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator. Marta An Nguyễn dịch

15 tuổi, luôn kết hiệp với Chúa Giêsu, đó là cả một chương trình! Một dấn thân can đảm, một quyến rũ, triệt để và không thể chối cãi. Ở tuổi 15, người ta chắc chắn mình sẽ thành công. Và đó là điều bình thường. Rồi với những thăng trầm của cuộc sống, chúng ta suy sụp, khi đó kết hiệp với Chúa Giêsu, chọn Ngài là nơi tập trung, ngoài thành Giêrusalem, dù sinh ra hay chết đi, khi nó xảy ra thì nó xảy ra, không phải là một chương trình nhưng là một tình huống có thể xảy ra. Một nhận thức đôi khi đau đớn, có khi là một lên án.

Khi những ngày tháng êm đềm của lễ Giáng sinh qua đi, khi Giáng sinh là chấp nhận khó nghèo, khi chúng ta đau đớn thấy mình trở về với thế giới này, khi đó không còn là vấn đề của một chương trình nhưng là hành trình hướng về Thiên Đàng, một lời cầu nguyện chứ không phải lời hạch hỏi: “Chúa ở đâu?” Và khi chúng ta tách khỏi cuộc sống, như Carlo, chúng ta tránh con đường của chính mình. Khi chúng ta trốn sự tra tấn, trốn sự độc tài của chính mình, trong những lúc đó, việc kết hiệp với Chúa là chuyện bi thảm, vì một Thiên Chúa đi trốn không giải quyết được gì, một Thiên Chúa khuất phục trước sức nặng của quyền lực, một Thiên Chúa không dám “dùng sức mạnh cánh tay mình để lật đổ những kẻ hùng mạnh khỏi ngai vàng của họ”, vô ích. Ở tuổi 15, chúng ta không chạy trốn chỉ để thoát khỏi cái chết.

Và rồi chúng ta nhận ra, ở với Chúa Kitô không làm cho chúng ta tránh được cám dỗ, nhưng làm cho cám dỗ còn lớn hơn, vì ở với Chúa Giêsu là hành trình đi qua sa mạc, nơi mọi thứ trở thành một đòi hỏi, một khiêu khích, một nghĩa vụ phải quyết định một mình. Khi chúng ta nhận ra đức tin không đơn giản hóa cuộc sống nhưng làm phức tạp, vì đức tin giao cho chúng ta trách nhiệm về cuộc sống, khi chúng ta chống lại cám dỗ muốn xa Thập Giá, vâng phục một Thiên Chúa thầm lặng, khi bệnh tật không biến mất một cách kỳ diệu, khi không may một số bạn qua đời, khi những người khác được phép lạ chữa lành, còn chúng ta, chúng ta buồn vì nghĩ Chúa đã quên mình, đây không phải là một chương trình, nhưng một khuất phục. Chúng ta không hiểu lắm, nhưng chúng ta chống lại cám dỗ để không nói phạm thượng.

Và rồi, được ở với Chúa Kitô khi chúng ta không hiểu Ngài, khi các linh mục làm nhục Ngài và đám đông lợi dụng Ngài, khi mọi người nói xấu Ngài, lầu bầu cười sau lưng Ngài… Chúng ta đau khổ, chúng ta muốn chiến đấu, chúng ta phải bỏ niềm kiêu hãnh và bạo lực sang một bên; ở tuổi 15, đó không phải là một chương trình. Vì ở tuổi 15, chúng ta không biết Lời Chúa có thể khắc nghiệt và Tin Mừng có thể tạo tai tiếng. Vì nếu biết trước, trước khi đi tiếp, chúng ta sẽ không phách lối nói lời thề không bao giờ! Nếu chúng ta chống cự, dù có vẻ vô lý, nhưng có lẽ chỉ vì chúng ta lạc lối, vì không biết đi đâu, vì không dám bỏ đi một mình. Hoặc có thể đó là do thói quen, ngay cả khi ở tuổi 15, chúng ta xem thói quen là nỗi kinh hoàng tột độ, nhưng khi về già, thì điều này lại giống đức tin.

Và khi Chúa Giêsu quay lại, nhìn vào mắt chúng ta, Ngài hỏi: “Cả con nữa, con cũng muốn bỏ Thầy sao?”, vì trong thâm tâm chúng ta muốn ra đi, chúng ta không còn hiểu nữa, vì tất cả những gì chúng ta sống chỉ cho chúng ta thấy mình không ở đúng chỗ của mình, chỉ là dữ dằn. Sự dữ dằn chúng ta thấy nơi mắt những người mà mình mơ làm cho họ hạnh phúc, thực sự chúng ta không thể chịu đựng được nữa, chúng ta chỉ muốn gởi Chúa Giêsu cho ma quỷ, Ngài và tất cả các ơn gọi của Ngài. Nhưng chúng ta không làm, nếu chúng ta không làm, không phải vì chúng ta trung thành với một chương trình nào đó nhưng vì chúng ta không biết mình là ai nếu chúng ta không có Chúa. Có lẽ đây là bộ mặt thật của chúng ta.

Và khi chúng ta cảm thấy cái bóng của cái chết, sự cám dỗ trong vườn Ô-liu, chúng ta hiểu chính một phần trong chúng ta đã phản bội, và chúng ta ngủ vì chúng ta chỉ muốn chết, nếu chúng ta quyết định không ngừng thở, thì đó không phải vì lòng trung thành với một chương trình, nhưng vì nỗi sợ chết tiệt này. Và rồi, không có chương trình nào bám trụ, chúng ta chỉ nghĩ đến việc sống sót. Trước ngôi mộ, nếu chúng ta không nghiêm túc nghĩ mình là kẻ có tội, đó không phải là vì tuân theo một chương trình nào đó, nhưng vì chúng ta không có khả năng xóa bỏ những năm đã biến đổi cuộc đời chúng ta một cách dứt khoát. Và khi chúng ta cố gắng ra khơi, thì Ngài đã ở trong trái tim chúng ta như một lời nguyền. Ở tuổi 15, ở với Chúa Giêsu có thể là một chương trình, nhưng khi trưởng thành, chúng ta nhận ra đó gần như một số phận, một đam mê, một ngục tù, một điều cần thiết… Đó là đức tin, một đức tin không lập trình được, như chúng ta rơi vào lưới tình. Đó là điều không thể tránh khỏi, đó là lời nguyền ngọt ngào.

Rồi chúng ta lớn lên, chúng ta học được sự vâng phục, chúng ta dần dần giải trừ vũ khí, chúng ta không còn để mình bị cuốn theo vòng xoáy đam mê, và rồi cậu thiếu niên 15 tuổi lại đúng, chương trình duy nhất của cậu là được hiệp nhất với Chúa Kitô. Nhưng người đi tìm không còn là chính mình nữa, Chúa đang đi tìm chúng ta, đó là điều cuộc sống đã dạy chúng ta và chúng ta cảm nhận, trong sâu thẳm tâm hồn, mọi chuyện luôn như vậy. Và chương trình không phải do chúng ta thực hiện mà chính Ngài, đây là một Giao ước, với một tình yêu trọn vẹn và không thể lay chuyển dành cho con người. Chúng ta cần rất nhiều kiên nhẫn, cần một khả năng thích ứng nào đó, chúng ta phải suy nghĩ và thích nghi. Chỉ có Ngài mới có thể làm được điều đó. Và chính Ngài là người chọn chúng ta.

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất