Home Blog Page 129

Thượng hội đồng có biến đổi Giáo hội giống như Vatican II đã biến đổi không?

Thượng hội đồng có biến đổi Giáo hội giống như Vatican II đã biến đổi không?

Đức Phanxicô: “Thượng hội đồng có biến đổi Giáo hội giống như Công đồng Vatican II đã biến đổi Giáo hội không?”

la-croix.com, Linh mục Gilles Routhier, nhà giáo hội học, giáo sư thần học tại Đại học Laval, Québec, 2024-11-06

Linh mục Gilles Routhier, chuyên gia tại Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, nhà giáo hội học, giáo sư thần học tại Đại học Laval, Québec, Canada. Linh mục nói về mối liên hệ của linh mục với “kinh nghiệm” Công đồng Vatican II.

Đức Phanxicô và các thành viên tham dự Thượng Hội đồng ngày 26 tháng 10 tại Vatican. RICCARDO ANTIMIANI / EPA/MAXPPP

Vào cuối Công đồng Vatican II, nhiều tiếng nói vang lên: “Công đồng kết thúc…; công đồng bắt đầu!” Chúng tôi ý thức có rất nhiều điều phải được tiếp nhận và thực hiện nếu muốn Giáo hội có một khuôn mặt trẻ, mới như Đức Gioan XXIII mong muốn. Cuộc cải cách phụng vụ là một trong những cuộc đổi mới được thực hiện một cách có hệ thống nhất. Nhưng còn rất nhiều điều khác cần được thực hiện.

Dù có những thay đổi bất thường, những chống đối, những chệch hướng, Công đồng đã để lại những dấu vết sâu sắc trong đời sống Giáo hội, trong các thực hành, trong các mối quan hệ với người khác, giữa các tín hữu (giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân), giữa các tín hữu không công giáo thuộc các giáo phái khác và của Giáo Hội với thế giới đương thời. Điều này là do những gì Công đồng đã giảng dạy, cũng như thực tế Công đồng là một sự kiện.

Một giám mục tham dự Công đồng đã kể cho tôi nghe sự kiện này đã biến đổi ngài như thế nào. Đây cũng là kinh nghiệm mà nhiều người đã có được trong tiến trình Thượng Hội đồng và thách thức ngay từ đầu là làm cho hành trình này là kinh nghiệm có khả năng biến đổi cách chúng ta hiểu và sống Giáo hội. Vào năm 2021, khi trình bày cách tiếp cận đồng nghị đang bắt đầu, Tài liệu chuẩn bị đã nói lên những gì chúng ta mong chờ từ Thượng Hội đồng, đó không phải là đọc một tài liệu, nhưng là biến đổi trong cách thực hành của chúng ta, về cách chúng ta ở bên nhau, và đó là Giáo hội của Chúa, mục tiêu cuối cùng là đổi mới Giáo hội thông qua kinh nghiệm học hỏi và biến đổi này.

Hiện nay chúng ta vẫn chưa dễ dàng để đánh giá kết quả dù chúng ta phải làm, chúng ta phải đánh giá Thượng Hội đồng sắp kết thúc chứ không phải chỉ từ việc xem xét tài liệu cuối cùng. Chúng ta đã học cách trở thành Giáo hội cùng nhau, trong sự đa dạng về nguồn gốc văn hóa, sự đa dạng về đoàn sủng của các thành viên trong tổ chức này chưa?

Một quá trình đáng lo ngại 

Những gì được đề xuất là một kinh nghiệm học tập, “vừa học vừa làm”, đòi hỏi nhiều thời gian hơn là ban hành chỉ thị hoặc thông qua luật và trên hết là đòi hỏi sự tham gia của càng nhiều người càng tốt. Chính qua một tiến trình cụ thể mà tất cả giáo dân được mời gọi tìm hiểu Giáo hội là gì: một dân đang chuyển động, cùng nhau tìm ý Chúa, tiến về phía trước dù có những giới hạn và xin Chúa Thánh Thần nâng đỡ. Trong khi nhiều người muốn ngài đưa ra phán quyết về một số vấn đề gây tranh cãi, nhưng ngài lại đưa ra một quy trình làm bối rối.

Thông báo bất ngờ của Đức Phanxicô vào cuối Thượng Hội đồng: ngài không công bố Tông huấn hậu Thượng Hội đồng

Quy trình không bắt đầu bằng một đại hội lớn ở Rôma, nhưng bằng thì giờ lắng nghe trong các Giáo hội địa phương, nơi hiện thực hóa Giáo hội. Chúng ta không đi từ Rôma đến các Giáo hội địa phương, nhưng từ các Giáo hội địa phương đến Rôma, điều này đã là một đảo ngược đáng kể. Vào cuối giai đoạn đầu tiên, Văn phòng Thư ký Thượng Hội đồng đã nhận được sự đóng góp của 112 trong số 114 Hội đồng Giám mục và 15 Giáo hội Công giáo Đông phương cũng như các nhóm khác. Trong giai đoạn giáo phận đầu tiên này, hàng triệu tín hữu trên khắp thế giới đã tham gia vào các nhóm đồng nghị.

“Ở đây, chúng tôi nghe thấy nhịp đập của trái tim Giáo hội”

Để đánh giá kinh nghiệm này có thực sự là kinh nghiệm biến đổi có khả năng tạo được thay đổi lâu dài trong cách thức trở thành Giáo hội hay không, chúng ta nên áp dụng cách tiếp cận và phương pháp giúp chúng ta quan sát những gì đang diễn ra trên thực tế chứ không chỉ đọc văn bản cuối cùng. Chúng ta biết, điều này đã thay đổi một số thực hành nào đó trong các giáo phận, giáo xứ, hoạt động của các Hội đồng Giám mục mặc dù vẫn còn nhiều việc phải làm, và tài liệu cuối cùng khẩn thiết kêu gọi chúng ta làm như vậy.

Con đường gập ghềnh của Thượng Hội đồng: Đức Phanxicô muốn thay đổi Giáo hội như thế nào

Chúng ta không chỉ xem xét những gì đã được nói mà còn xem xét những gì mọi người đã học được qua kinh nghiệm này, những gì đã thay đổi kể từ đó và những gì vẫn có thể thay đổi trong giai đoạn tiếp nhận đang bắt đầu. Cuộc họp thứ 16 của Thượng Hội đồng kết thúc, nhưng men phân tán của Thượng Hội đồng trong các Giáo hội vẫn được kêu gọi để hoạt động trong cơ thể giáo hội. Việc canh tân Giáo hội do Thượng Hội đồng khởi xướng (thái độ, thực hành, thể chế, linh đạo) được mời gọi tiếp tục thực hiện và không được dừng lại. 

Đã bắt đầu chuyển đổi

Tài liệu Tổng hợp giai đoạn đầu, chắc chắn là bản văn gần gũi nhất với kinh nghiệm cho thấy trên đường đi, các kitô hữu được trải nghiệm được niềm vui thấy mình giữa các anh chị em trong Chúa Kitô, được chia sẻ những gì vang vọng trong họ khi lắng nghe Lời Chúa để cùng nhau suy ngẫm về việc phục vụ Tin Mừng mà Giáo hội được kêu gọi để loan truyền cho thế giới. Điều này thúc đẩy ước muốn về một Giáo hội ngày càng có tính đồng nghị, và đối với nhiều người, tính đồng nghị không còn là một khái niệm trừu tượng mà trở thành một trải nghiệm cụ thể; họ đã nếm được hương vị và muốn tiếp tục hưởng hương vị này.

Vấn đề nữ phó tế và đồng tính có trong chương trình làm việc của Thượng hội đồng, nhưng không có vấn đề độc thân linh mục

Điều này cũng đã được trải nghiệm trong giai đoạn lục địa và trong hai kỳ đại hội ở Rôma. Thành quả này phải ngày càng phát triển. Khi đưa vào huấn quyền các thành quả của các cuộc thảo luận, Đức Phanxicô cho chúng ta biết, việc điều hành Giáo hội và huấn quyền của giáo hoàng không thể tách rời khỏi cuộc thảo luận của toàn thể dân Chúa. Thượng Hội đồng đã kết thúc. Thượng Hội đồng bắt đầu. Tài liệu cuối cùng là lời kêu gọi hoán cải Giáo hội Công giáo, một cuộc hoán cải đã được tiến hành nhưng vẫn còn tiếp tục.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chân phước Carlo Acutis: Cái nhìn

Chân phước Carlo Acutis: Cái nhìn

“Hạnh phúc là có cái nhìn hướng về Thiên Chúa. Nỗi buồn là quay về nhìn chính mình.” Chân phước Carlo Acutis

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles. Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator. Marta An Nguyễn dịch

 

Sách Sáng Thế cũng nói như vậy, nhờ khôn ngoan và kinh nghiệm, tất cả  đều ở trong cái nhìn. Lúc đầu, có những cái nhìn kinh ngạc đặt tên cho giấc mơ mang tên hiện thực, mọi thứ đều được tạo ra và con người là sinh vật giữa các sinh vật, là người bảo vệ sự sống. Hạnh phúc thậm chí là không biết mình đang khỏa thân và tận hưởng cuộc sống giống như thiên đàng. Hạnh phúc là được hướng mắt về Thiên Chúa như một em bé sơ sinh hướng mắt nhìn mẹ. Và không có nỗi buồn khi nhìn vào chính mình, vì không có cái bóng. Chúng ta đã như vậy, tắm trong ánh sáng khiến mọi thứ trở nên đẹp đẽ và tốt đẹp. Chúng ta không thể không hoài niệm về thời thơ ấu, khi chúng ta đơn giản không tin vào sự tồn tại của cái ác vì chúng ta chưa từng biết. Những gì sách Sáng Thế nói đều đúng, tất cả phụ thuộc vào cách chúng ta nhìn thế giới và cách chúng ta nhận ra cái nhìn của những người khác.

Vì thế, cũng giống ông Adong, chúng ta thấy mình đang chạy trốn, đang núp vì sợ. Chúng ta sợ sự dễ bị tổn thương của chính mình, sợ sự bất tuân, sợ cảm giác phấn khích vì có thể kiểm soát được điều thiện và điều ác mà không phải gánh chịu hậu quả, không bị lạc đường. Khi đó việc hướng cái nhìn về Thiên Chúa trở nên không thể được. Và hạnh phúc là trong chạy trốn, trong ẩn núp, trong việc biến thiên đàng thành lối thoát. Sách Sáng Thế đúng, mọi thứ đều ở trong cái nhìn. Carlo đã nhìn thấy rõ niềm vui hay nỗi buồn trong mắt chúng ta. Điều bí ẩn thực sự là cái ác biến đổi những gì chúng ta tưởng là thiên đàng thành địa ngục nhanh đến như thế nào. Nếu đúng là hạnh phúc tùy thuộc vào cái nhìn của chúng ta, thì cũng đúng chỉ trong chốc lát, cái mà chúng ta gọi là tội lỗi có thể thay đổi cả một cuộc đời. Một số tình yêu đã trở thành bạo lực và im lặng hiện lên trong tâm trí. Có lẽ không đủ để hướng cái nhìn của mình, chuyển sự chú ý của mình sang Thiên Chúa, một hoán cải là cần thiết, khác biệt và sâu sắc.

Chúng ta phải giáo dục đôi mắt của mình. Không phải việc chúng ta luôn hạnh phúc khi nhìn vào Chúa, điều đó phụ thuộc vào hình ảnh chúng ta có về Chúa. Và cũng phụ thuộc vào hình ảnh chúng ta có về chính mình. Carlo cho chúng ta thấy tấm lòng của một thiếu niên tự do, Carlo vẫn ngây thơ. Nhưng không thể luôn luôn theo cách này. Điều gì thay đổi cách nhìn của chúng ta về cuộc sống? Điều gì làm chúng ta bỏ chạy và lẩn trốn? Làm thế nào chúng ta có thể thay đổi cách nhìn của mình? Chúng ta buồn không phải vì chúng ta chỉ nhìn vào chính mình, chúng ta buồn vì không có gì và không một ai, từ Chúa đến ngọn cỏ cuối cùng đến con người, không có gì và dường như không ai có thể đến gần được hạnh phúc. Chúng ta không hạnh phúc vì chúng ta nhìn vào nội tâm và chúng ta lạc lối trong một cảm giác tội lỗi không thể vượt qua, vì chúng ta thấy chúng ta không có khả năng tha thứ, và thậm chí còn hơn thế nữa, vì khi chúng ta nhìn vào khuôn mặt của Thiên Chúa, chúng ta không nghĩ mình ở tầm cao của Ngài: tha thứ. Mọi thứ đều ở trước mắt, được viết trong sách Sáng Thế, và hình ảnh con người sợ hãi trước một Thiên Chúa, xuất hiện như một kẻ thù vẫn mãi mãi là dấu hiệu của mối nguy hiểm.

Chúng ta cần một cái nhìn khác, hướng về con người, kiên nhẫn, có khả năng nhìn thấy điều tốt, soi sáng cuộc đời mình. Chúng ta cần cái nhìn của một nhà tiên tri, người không sợ hãi, cái nhìn của người Liên minh trong Kinh thánh. Chúng ta cần cái nhìn của Chúa Kitô. Việc nhìn ngắm Thiên Chúa trở thành nguồn hạnh phúc khi chúng ta khám phá đứa trẻ hướng về chúng ta cũng chính là đứa trẻ đã xin Mẹ Maria và Thánh Giuse chăm sóc. Nhìn vào Thiên Chúa không còn đáng sợ nếu chính Chúa Kitô mời gọi chúng ta đến một cuộc sống mới bằng cách tách chúng ta ra khỏi cuộc sống thường ngày. Thiên Chúa không làm chúng ta sợ hãi khi chúng ta khám phá chính con mắt của người Nadarét đang theo dõi chúng ta. Nhìn vào Chúa không làm chúng ta sợ, thậm chí còn làm chúng ta hạnh phúc nếu chúng ta nhận ra cái nhìn của Ngài chữa lành và tha thứ. Chúng ta không còn sợ hãi một khi nhận ra sự dịu dàng bao la của Chúa Giêsu, ngay cả khi bị bạn bè của Ngài phản bội. Chúng ta không còn sợ và chúng ta có được hạnh phúc khi chúng ta biết nhìn mình như Ngài nhìn chúng ta.

Carlo nói đúng, chỉ nhìn vào chính mình để hạnh phúc thôi thì chưa đủ, nhưng có lẽ cũng chưa đủ để đánh mất chính mình khi chiêm ngưỡng một cách trừu tượng về Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể cảm thấy hạnh phúc khi học cách nhìn mình như Chúa Kitô trong Tin Mừng nhìn chúng ta. Một lời cầu nguyện tôi rất thích: “Chỉ có cái nhìn của Ngài mới có thể cho tôi biết tên tôi.” Đó là bản chất của hạnh phúc: một cái nhìn hướng về Chúa, không phải để đánh mất con người chúng ta mà là khám phá khuôn mặt chúng ta, như trong gương, để thấy đôi mắt ướt và cảm động của Đấng không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta. Nhưng chúng ta cần đôi mắt thật, những giọt nước mắt thật, và một cái nhìn thật sâu sắc. Chúng ta học cách để Chúa nhìn chúng ta bằng đôi mắt tin cậy yêu thương. Đó là đức tin. Có lẽ đây là điều gần nhất với ý tưởng về thiên đàng.

Marta An Nguyễn dịch

Với linh vật Luce, Vatican áp dụng văn hóa hồn nhiên dễ thương kawaii của Nhật

Với linh vật Luce, Vatican áp dụng văn hóa hồn nhiên dễ thương kawaii của Nhật

aleteia.org, Pierre Téqui, 2024-11-05

Linh vật Năm Thánh 2025 tiếp tục thu hút sự chú ý. Nhà sử học nghệ thuật Pierre Téqui giải thích, dù nguồn cảm hứng linh vật Luce của Nhật có được yêu thích hay không, nhưng truyền thống công giáo luôn hướng tới Giáo hội hoàn vũ, chứ không chỉ tuyền văn hóa truyền thống châu Âu.

Ngày 28 tháng 10, Tổng giám mục Rino Fisichella, phụ trách Năm Thánh 2025 giới thiệu linh vật Luce trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Trong tiếng Ý Luce có nghĩa là ánh sáng. Linh vật Luce được bà Simone Legno sáng tạo, bà trình bày chi tiết các biểu tượng nhân vật Luce trên trang Instagram: ánh sáng trong đôi mắt hình con sò tượng trưng cho tầm nhìn về ánh sáng thần thánh và hành trình hướng tới; Kinh Mân Côi là đời sống thấm nhuần trong lời cầu nguyện; đôi ủng bẩn là những khó khăn trên hành trình; áo mưa thủy thủ tượng trưng cho sự che chở thần thánh trước giông bão cuộc đời, màu vàng là màu của Tòa Thánh.

Một thành công thực sự

Luce có nhiều chuyện để cha mẹ kể cho con nghe trước khi đi ngủ. Với Luce, ai cũng có thể dùng tài năng vẽ hoặc dùng trí tuệ nhân tạo để chỉnh sửa hình ảnh, tái tạo, biến đổi thành nhiều hình thức khác nhau. Trên tài khoản Twitter, Linh mục Matthew P. Schneider cho biết vừa mới được tạo ra, Luce đã tìm được chỗ đứng của mình.

Linh vật Nhật Bản

Năm Thánh không chỉ dành cho người Pháp, người châu Âu, ban tổ chức dự kiến sẽ có hơn 32 triệu du khách trên thế giới, kể cả các du khách Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật sẽ về Rôma dịp này. Linh vật thường được phổ biến rộng rãi ở Âu châu trong mọi sự kiện từ thể thao, thương hiệu hoặc bất cứ sự kiện nào nhằm mục đích củng cố bản sắc, thúc đẩy sự ủng hộ. Ngày nay, linh vật đóng vai trò trọng tâm trong xã hội hình ảnh và truyền thông.

Có nên nghĩ rằng Vatican nhượng bộ trước những tiếng còi báo động của truyền thông, bị Vatican cho là những chiếc vỏ rỗng, những khẩu hiệu rỗng tuếch không? Văn hóa thị giác rất quan trọng với người công giáo Nhật, họ dùng các linh vật hiện đại làm đại diện cho các thành phố, khu vực, doanh nghiệp, dịch vụ công cộng. Hàng năm đều có các cuộc thi cấp quốc gia để trao giải thưởng cho linh vật nào phổ biến nhất. Ngày nay linh vật có mặt khắp nơi, nói lên thông điệp về lòng tốt, giáo dục và hỗ trợ xã hội.

Hội nhập văn hóa

Các linh vật công giáo ở Nhật thường được các nhà thờ, giáo phận hoặc các hội đoàn dùng để mang lại cảm giác thân mật, thu hút giáo dân chú ý đến các hoạt động tôn giáo, giáo dục, văn hóa và cũng để khuyến khích cầu nguyện. Đó là trường hợp chân phước Justo Takayama Ukon được Đức Phanxicô phong chân phước năm 2017. Ông là một samurai Nhật trở lại đạo công giáo năm 1563. Xuất thân từ một gia đình quý tộc, được các cha Dòng Tên hướng dẫn, ông trở lại đạo công giáo. Khi nước Nhật ra luật chống Thiên chúa giáo, ông từ bỏ địa vị, đất đai chứ không từ bỏ đức tin. Năm 1614 ông bị đày đi Manila, vừa đến nơi, ông qua đời. Ở giáo phận Osaka, Justo-kun là linh vật dành riêng cho Chân phước Takayama Ukon.

Đó là hội nhập văn hóa: thông điệp và việc giữ đạo phải thích ứng với văn hóa địa phương, tôn trọng và đánh giá cao các biểu hiện văn hóa nhưng vẫn trung thành với thông điệp kitô giáo. Quá trình này bao gồm việc hội nhập đức tin vào một văn hóa cho phép các biểu tượng, truyền thống và cách diễn đạt văn hóa hòa hợp với giáo huấn và nghi lễ của Giáo hội.

Manga đã chiếm được cảm tình của giới trẻ nên Luce là linh vật có mọi cơ hội hòa nhập vào nền văn hóa của giới trẻ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Cửa hàng ở khu phố gần nhà được Đức Phanxicô tin tưởng giao sửa chiếc cặp của ngài

Cửa hàng ở khu phố gần nhà được Đức Phanxicô tin tưởng giao sửa chiếc cặp của ngài

romereports.com, I.Media, 2024-11-08

Khi đi tông du, Đức Phanxicô luôn mang theo chiếc cặp của ngài, sau 11 năm đi vòng quanh thế giới, bây giờ chiếc cặp sứt quai! Như thường lệ, ngài luôn tìm cách sửa các vật dụng ngài có, ngài không mua đồ mới. Và anh Daniel Arellano, nghệ nhân làm việc gần Quảng trường Thánh Phêrô sửa chiếc cặp này.

Daniel Arellano, người thợ thủ công

Ông Arellano cho biết: “Tôi tự hào và vinh dự được sửa chiếc cặp cho một người quan trọng như vậy.” Một công việc sẽ không thể thực hiện được nếu không có tình yêu của người thợ có kiến thức về công việc mình làm, bây giờ Đức Phanxicô có chiếc cặp như mới, đang chờ đi theo ngài trong các chuyến tông du sắp tới.

Daniel Arellano, người thợ thủ công

https://youtu.be/qjcYAhLzLPQ

Sửa chiếc cặp của ngài là niềm tự hào, vinh dự và cũng là một việc rất quan trọng của tôi, tôi cố gắng sửa thật tốt để ngài tiếp tục dùng chiếc cặp này trong những chuyến tông du sắp tới của ngài.

Với gia đình Daniel, việc Vatican nhờ đến họ là chuyện đương nhiên. Thân phụ của anh đã đóng giày cho Đức Bênêđíctô XVI. Vì thế Daniel nhận di sản này của gia đình với một tình cảm sâu sắc dành cho các giáo hoàng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Sử gia Christophe Dickès: “Thế giới chúng ta mang ơn Giáo hội rất nhiều”

Sử gia Christophe Dickès: “Thế giới chúng ta mang ơn Giáo hội rất nhiều”

Giáo sư sử gia Christophe Dickès, tác giả quyển sách Vì Giáo hội (Pour l’Eglise, nxb. Perrin) cho biết, về mặt khoa học, chính trị, giáo dục, tổ chức thời gian… Thế giới của chúng ta mang ơn Giáo hội rất nhiều, một bối cảnh rộng lớn, uyên bác, cuốn hút dựa trên các năng lực tốt nhất. Giáo hội cho chúng ta cột sống để sống.

famillechretienne.fr, Charles-Henri d’Andigné, 2024-11-07

– Ảnh © Bruno Klein

Xin giáo sư cho biết điểm khởi đầu của quyển sách này là gì?

Giáo sư sử học Christophe Dickès: Khi nói về lịch sử Giáo hội, chúng ta thường nói đến những trang đen tối qua lăng kính méo mó về những vụ tấn công, những chỉ trích Giáo hội ở trong cũng như ở bên ngoài. Nhưng qua chương trình Au risque de l’Histoire (Dù có nguy cơ đến Lịch sử) trên kênh Công giáo KTO, tôi khám phá ra một chuyện khác: đó là sự đóng góp đáng kể của Giáo hội qua các thời đại. Vì vậy, tôi muốn nói đến công việc của các sử gia, những người thường ở trong bóng tối, nêu bật những điểm tích cực của lịch sử này. Và rất nhiều!

Nhưng có phải sự ăn năn tự nó là một điều tốt, một nét đặc trưng của kitô giáo đó sao?

Đúng vậy, văn minh tha thứ đích thực là nét đặc trưng của kitô giáo. Tuy nhiên theo tôi, việc giới hạn về những gì người của Giáo hội đã làm sai trong lịch sử là thành kiến. Khi ăn năn, Đức Gioan Phaolô II khuyến khích nghiên cứu lịch sử. Ngài xin chúng ta đừng rơi vào tầm nhìn nhị nguyên về lịch sử Giáo hội. Thật vậy, chúng ta phải vun trồng tình yêu cho chính chúng ta: đức ái bắt đầu từ chính chúng ta! Nếu Giáo hội chỉ là một thế lực hủy diệt thì Giáo hội sẽ không tồn tại được lâu. Nhưng toàn bộ lịch sử của Giáo hội cho thấy Giáo hội đã là động lực phát triển, thậm chí còn mang tính giải phóng trên nhiều lãnh vực: khoa học, chính trị, xã hội, kinh tế, v.v.

Chủ đề rất rộng. Tiêu chuẩn của giáo sư để lựa chọn các chủ đề được đề cập là gì?

Về cơ bản, tôi muốn đặt mình vào trình độ trí tuệ tương ứng với nghiên cứu tôi đã thực hiện trong các lãnh vực khác nhau trong mười năm qua. Tôi chọn những chủ đề ít mong chờ nhất: Giáo hội. Chẳng hạn, tôi quan tâm đến quan niệm về thời gian, dựa trên tác phẩm của François Hartog và Jean-Claude Schmidt, cùng với các tác giả khác, họ cho thấy nhận thức về thời gian tính của kitô giáo rất sâu sắc. Thể chế đầu tiên chia ngày thành từng giờ và sống theo sự phân chia này là các đan viện (ora et labora, cầu nguyện và làm việc). Một ví dụ rất quan trọng khác là khái niệm về ý thức. Quan niệm chúng ta có về ý thức cũng mang tính kitô giáo, phần lớn hình thành qua việc xưng tội cá nhân được thể chế hóa vào đầu thế kỷ 13. Ngược lại với niềm tin phổ biến, tâm linh cá nhân đã phát triển rất tốt trước đạo tin lành.

Giáo sư cũng giải thích câu hỏi về Nhà nước. Bang Capetian, “res publica”: nhà vua là người quản lý đến từ kitô giáo phải không?

Đúng, đó là cơ bản. Vào cuối thời Trung cổ, luật pháp của Nhà Nước tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, đây là cuộc cách mạng pháp lý xuất phát từ chính giáo luật, được thực hiện vào thời cải cách Gregorian nổi tiếng của thế kỷ 11: thời của Giáo hoàng Gregory VII. Một sự khác biệt cơ bản giữa hành động của nhà vua và luật pháp. Từ góc độ kitô giáo, việc giải quyết tranh chấp trong xã hội không còn thực hiện theo luật của kẻ mạnh nhất hay danh dự nhưng nhân danh luật pháp: nói cách khác, chúng ta phải đi theo “con đường của pháp luật” hơn là “tấn công”. Đây là yếu tố rất quan trọng, là nền tảng của xã hội phương Tây. Cuộc cách mạng pháp lý này đã cho phép ra đời các nghị viện và sau đó là các chế độ dân chủ. Chúng ta thường cho rằng Nhà nước hiện đại được xây dựng để chống lại Giáo hội nhưng thực ra chính chế độ giáo hoàng, thông qua quá trình phát triển mang tính nhà nước chính quyền, là nguồn gốc của Nhà nước hiện đại.

Sự phân biệt giữa thiêng liêng và thế tục sẽ làm nảy sinh chủ nghĩa thế tục?

Đúng, đây lại là một yếu tố thiết yếu trong sự đóng góp của kitô giáo. Thánh Ambrose giáo phận Ý Milan và cả Giáo hoàng Gelasius ở thế kỷ thứ 5 là những người đầu tiên thiết lập sự phân biệt giữa Nhà nước và Giáo hội, giữa thế tục và thiêng liêng. Rõ ràng, các khái niệm phát triển qua nhiều thế kỷ và chủ nghĩa thế tục bây giờ không giống chủ nghĩa của thế kỷ thứ 5. Tuy nhiên, từ quan điểm trí tuệ, sự phân biệt quyền lực – được thiết lập lại ở cấp độ thể chế bởi cuộc Cải cách Gregorian vào thế kỷ 11, theo đúng nghĩa đen đã được khắc sâu vào DNA của các xã hội phương Tây.

Điều gì trong kitô giáo đã phân biệt hai điều này?

Câu nói nổi tiếng của Chúa Kitô: “Của Xêda trả cho Xêda và của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa”. Chúng ta không gặp sự phân biệt như vậy trong đạo hồi. Điều này cho phép Nhà nước thoát ra khỏi quyền lực tôn giáo và ngược lại, xác định các mối quan hệ của họ.

Năm 1905, sự tách biệt chỉ có thể thực hiện được vì từ nguồn gốc đã có sự phân biệt này. Vì vậy mọi người đều được hưởng lợi, Nhà nước và Giáo hội.

Chính xác. Nhưng chủ đề này phức tạp hơn chúng ta nghĩ, vì mối quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội đã có nhiều xáo trộn trong nhiều thế kỷ. Về vấn đề này, trong quyển sách của tôi, tôi phục hồi một trong những đóng góp của “Chủ nghĩa Constantin” chính trị, là sự chuyển đổi đế chế sang kitô giáo. Thật vậy, các hoàng đế Constantine rồi Theodosius ở thế kỷ thứ 4 đã làm cho người dân trở lại nhiều đến mức Đế quốc La Mã chuyển sang kitô giáo. Sự cải đạo này đã là tâm điểm của nhiều lời chỉ trích kể từ Công đồng Vatican II. Nhưng một trong những khía cạnh tích cực của sự hoán cải này là nó buộc Nhà nước phải áp dụng quan điểm Tin Mừng và khi làm như vậy, phải quan tâm đến những người yếu thế nhất. Đây cũng là một cuộc cách mạng chính trị.

Giáo sư cũng đề cập đến sự phát triển của khoa học. Vì sao khoa học phát triển ở phương Tây?

Trong bài phát biểu với các tu sĩ Bernardines, Đức Bênêđíctô XVI giải thích các xã hội đầu thời Trung cổ bị chi phối bởi việc Đi tìm Thiên Chúa (“Querere Deum”). Vì thiên nhiên là do Thiên Chúa tạo dựng nên con người mong muốn nghiên cứu vấn đề này. Vì thế đức tin và lý trí có mối liên hệ mật thiết với nhau: hiểu được thiên nhiên thực ra là hiểu được thần thánh. Trung Quốc phát minh ra nhiều kỹ thuật như clepsydra (đồng hồ nước) nhưng chúng ta không thấy khoa học ở Trung Quốc phát triển như ở phương Tây. Vì thế nhà trung cổ Jacques Le Goff chứng minh kitô giáo đặt ra những trụ cột cho trí tuệ khoa học: việc đặt ra các nghi ngờ, sự cần thiết phải chứng minh những gì đưa ra, sự từ chối lập luận từ chính quyền, ý tưởng cho rằng kiến thức là một giải phóng, v.v. Điều thú vị là chúng ta tìm thấy sự khiêm nhường trong cách tiếp cận khoa học kitô giáo này, một nhân đức mà chỉ có Giáo hội coi trọng, còn các nền văn hóa khác lại không hiểu rõ. Do đó, lịch sử Giáo hội có một số lượng lớn các nhà khoa học: từ Gerbert d’Aurillac, ông vua toán học đã giới thiệu các chữ số Ấn Độ-Ả Rập ở châu Âu đến Mendel, cha đẻ của ngành di truyền học hiện đại.

Chúng ta có thể nói Giáo hội là nguồn gốc của dân chủ không?

Sẽ hơi vội vàng… Điều chắc chắn là Giáo hội đã duy trì nguyên tắc bầu cử trong suốt lịch sử của mình: bầu giám mục, cha bề trên trong các tu viện, bầu giáo hoàng… Nhưng đó sẽ là một lạm dụng ngôn ngữ để nói rằng người dân đã tham gia vào các công nghị trong thời kỳ đầu của Giáo hội. Đối diện với các tà giáo, các giám mục quyết định tự mình giải quyết vấn đề để đáp ứng tốt hơn và góp phần truyền bá học thuyết Chính thống. Vì thế họ gặp nhau trong khuôn khổ các thượng hội đồng.

Mặt khác, đời sống công ty như chúng ta biết ngày nay gắn liền với ý thức về quyền lực của tu viện: người lãnh đạo có những người có trình độ, các cố vấn, hỗ trợ họ bằng cách tổ chức các cuộc họp. Nhà sử học Charles de Miramont nêu rõ, yếu tố đầu tiên làm cho các cuộc họp mang tính thể chế là các quy tắc. Dĩ nhiên các cuộc họp đã tồn tại trước đó, nhưng các quy tắc đã thể chế hóa chức năng của chúng. Luận án của bà Amandine Perrier nêu lên mối liên hệ sâu sắc tồn tại giữa kinh doanh và thế giới tu viện. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các tu viện trở thành trung tâm kinh tế trong thời trung cổ và hiện đại.

Và nhân quyền?

Nhân quyền có nền tảng trong các tác phẩm của các tác giả Tây Ban Nha thế kỷ 16 như Las Casas, Vitoria, Suarez… Vào thời điểm đó, chúng ta không nói về nhân quyền mà nói về luật pháp của các quốc gia, vốn tạo thành nền tảng của luật pháp quốc tế. Luật pháp quốc tế định hình luật pháp quốc gia. Chắc chắn nhân quyền đã bị báo chí chỉ trích nặng nề trong Giáo hội thế kỷ 19, vì cho rằng nhân quyền chống lại sự siêu việt của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Giáo hội hiểu, cùng với Đức Bênêđíctô XV, Đức Piô XI và đặc biệt là Đức Piô XII, rằng nhân quyền là nguồn cảm hứng cho kitô giáo. Giáo hội cũng thiết lập quan điểm cho rằng quyền bao gồm nghĩa vụ và ngược lại.

Chúng ta có thể nói rằng Giáo hội đã ủng hộ nữ quyền không?

(Cười) Câu hỏi của ông hơi khiêu khích… Vào các thế kỷ đầu, việc trở thành nhà hoạt động vì nữ quyền không có ý nghĩa gì! Tuy nhiên, nếu so sánh hoàn cảnh của phụ nữ theo luật la-mã và theo luật do thái với những gì phụ nữ được hiểu biết trong xã hội kitô giáo, chúng ta thấy đã có một cuộc cách mạng thực sự. Chắc chắn có những văn bản gay gắt với phụ nữ của giới tu viện, nhưng cũng có những văn bản tuyệt đẹp. Khi tác giả Bossuet cho rằng phụ nữ là một mẫu “xương thừa”, triết gia Pierre Lombard thế kỷ 12, đã đưa mẫu xương thừa này lên gần trái tim, vì thế phụ nữ đã trở thành ngang hàng với nam giới…

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Christophe Dickès: “Giáo hội phải dựa vào lịch sử của mình để xây dựng tương lai”

Giáo sư sử gia Christophe Dickès, tác giả quyển sách Vì Giáo hội (Pour l’Eglise, nxb. Perrin)

Chân phước Carlo Acutis: Toán trừ

Chân phước Carlo Acutis: Toán trừ

“Thánh hóa không phải là tiến trình thêm vào nhưng bớt đi: bớt “cái tôi” để nhường chỗ cho Thiên Chúa.” Chân phước Carlo Acutis

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles. Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator. Marta An Nguyễn dịch

 

Tuy không nhất thiết, nhưng điều này đôi khi có thể xảy ra. Có lẽ dành cho những người có trái tim trong sáng, những người sáng suốt nhất, những người can đảm nhất, hoặc dành cho những người xúc động trước các sự kiện hoặc những người băn khoăn về cái chết. Điều này đôi khi xảy ra, khổ thay không phải lúc nào cũng xảy ra, đến mức mà suy nghĩ chung, ngay cả trong lãnh vực tôn giáo, thường đi theo hướng ngược lại. Điều này đôi khi xảy ra và Carlo cho thấy Carlo có một trực giác rất sớm khi Carlo nói “đủ rồi!”. Carlo nói không phải vì mệt mỏi, vì mất lòng tin vào thế giới, vì thiếu nhiệt tình hay vì quá nhiều thất vọng. Không. Carlo chỉ sợ tích lũy. Tôi tin Carlo nhận thức được thế giới với cảm giác đã nhận được rất nhiều, đã mong muốn, đã đạt được rất nhiều, đã tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn nhất, nhưng lại cảm thấy một trống rỗng ngày càng lớn, điều này liên tục nhắc chúng ta, sự thiếu vắng điều gì đó làm cho cuộc chạy đua để tích trử thành vô ích. Dù sao thì chúng ta cũng sẽ luôn thiếu một thứ gì đó… Vì đó là bản chất của chúng ta, vì chúng ta là những kẻ ăn xin. Tiếp tục tích lũy chẳng ích gì, nó càng làm mọi việc trở nên xấu hơn, thà nhận lời tiên tri về bài toán trừ.

Carlo cảm nhận được điều này lúc 15 tuổi, và với tôi, như thế là rất sớm. Có thể chúng ta không nhận ra điều này, và rồi chúng ta nhầm lẫn cuộc chạy đua để có kinh nghiệm, để cầu nguyện, để đi hành hương, kế hoạch mục vụ, gợi ý suy tư, sách vở… với sự thánh thiện. Chúng ta choáng váng trước chủ nghĩa tiêu dùng vô tận, như thể là người tín hữu kitô thì phải tham gia vào vô số hoạt động. Tôi càng đọc câu này của Carlo Acutis, tôi càng “thấm” sự im lặng. Như thể Carlo cần lấy lại hơi thở, cần làm bài toán trừ: để loại bỏ, để chận âm thanh, để chận lại các dấu hiệu, bỏ đi, làm nhẹ đi cho đến khi  thấy mình trần trụi và chân thực, đắm chìm trong im lặng với Đấng Hằng Sống.

Càng đọc câu này, tôi càng tin, thật lạ khi ở tuổi 15, với bao nhiêu sức lực và óc hiếu kỳ, giữa khao khát sống của một thiếu niên năng động luôn muốn tìm hiểu thì lại thấy chỉ có trừ đi thì mới có thể đi theo con đường của khôn ngoan. “Thánh hóa không phải là một quá trình thêm vào mà là bớt đi”: càng đọc tôi càng cảm nhận sự khó nghèo sâu sắc của câu này, một khó nghèo chân thật, không bề ngoài, một khó nghèo xa rời mọi luân lý, một khó nghèo của những người hiểu, bài toán trừ là thái độ đúng đắn. Một phép trừ vĩnh viễn, một phép trừ làm chúng ta trở thành kẻ ăn xin và thiếu thốn, một phép trừ không thể dừng lại cho đến ngày cuối cùng khi chúng ta được tái sinh vào cuộc sống vĩnh cửu, một viên mãn sẽ không đối lập với trống rỗng, nhưng đắm chìm trong phép trừ.

Chỉ những người thực sự yêu, chỉ những người đang yêu mới biết người được yêu không bao giờ có thể lấp đầy những khoảng trống của chúng ta, nhưng còn làm những khoảng trống này lớn thêm, rằng tình yêu làm chúng ta vĩnh viễn là những kẻ ăn xin. Nếu chúng ta yêu một người, chúng ta tự giam mình, chúng ta không còn cảm thấy đủ cho chính mình, chúng ta hành động theo lối trừ, chúng ta mất ngủ, chúng ta mất hứng thú với cuộc sống không có tình yêu, chúng ta quay lưng lại với những nhu cầu của mình, chúng ta không còn muốn được vui sướng, chúng ta muốn hạnh phúc được ôm lấy người mình yêu. Tình yêu là trừ bỏ bản thân. Giống như cái chết. Như thể Carlo đang chuẩn bị đi ra khỏi thế giới này, thực sự, quá nhanh, quá sớm. Tôi đọc lại câu của Carlo và tôi tự hỏi làm thế nào các phụng vụ nặng nề của chúng ta có thể nói về cái vô hạn, làm sao lời cầu nguyện của chúng ta có thể đi tìm và phó mình cho mầu nhiệm Phục sinh. Làm sao chúng ta có thể tin được nếu chúng ta để chỗ cho im lặng, chúng ta sẽ thấy Dung Nhan Ngài?

Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận để không nhượng bộ trước cám dỗ liên kết việc loại “cái tôi” với sự an toàn của một “Thiên Chúa” sẵn sàng lấp đầy khoảng trống. Chúa không ở đó để lấp khoảng trống của chúng ta, như thế sẽ quá mạo hiểm, quá hạn chế, Chúa sẽ mang lấy hình dạng “cái tôi” trống rỗng của chúng ta, Ngài ở trong hình ảnh của chúng ta, theo sự giống nhau của chúng ta. Như thế sẽ là quá ít. Làm trống rỗng chúng ta thôi chưa đủ, Ngài còn phải làm trống chính Ngài. Tôi nghĩ đến tiên tri Êlia ở ngoài hang động. Thiên Chúa là hơi thở, là khoảng trống, là im lặng như gió thoảng. Ngài tự do, Ngài không bị ràng buộc bởi một thân xác, Ngài bước đi trong vô cực, xa rời hình ảnh quyền lực.

Nếu tình yêu hành động bằng bài toán trừ vĩnh viễn, thì Thiên Chúa cũng vậy, Ngài tránh những định nghĩa, những giàn giáo của tư tưởng, Ngài không bằng lòng lấp đầy những khoảng trống của chúng ta. Tình yêu là cuộc gặp giữa hai phép trừ biến hai nhân vật chính của câu chuyện thành kẻ ăn xin. Thiên Chúa cũng là kẻ ăn xin tình yêu chúng ta. Qua tình yêu, Ngài loại trừ chính Ngài. Người nào yêu sẽ không tự hủy hoại, nhưng cũng không xâm chiếm người khác. Nếu việc trừ đi “cái tôi” chỉ là việc thêm “Chúa” vào thì đó sẽ chỉ là mối quan hệ không liên quan gì đến tình yêu. Người yêu thương không hủy diệt, không xâm chiếm. Hai người yêu nhau cùng đi, mối quan hệ của chúng ta với Chúa cũng vậy. Nói theo cách của Carlo Acutis: “ít tôi hơn” có nghĩa là “ít Chúa hơn” và ngược lại. Sự thánh thiện có nghĩa là bỏ lại đằng sau logic của mối quan hệ đối lập, nhị nguyên với Thiên Chúa. Nhưng điều này phải học, và với thời gian, với sự thân mật của cuộc gặp Chúa, chúng ta không còn tìm kiếm đối tượng vĩnh cửu lời cầu nguyện của chúng ta ở bên ngoài, bên trên nhưng với một Thiên Chúa là đồng minh, là bạn đồng hành, bạn thân của chúng ta.

Thiên Chúa không phải là một thay thế cho con người. Chúa không thích lấp đầy khoảng trống chúng ta để lại. Mối quan hệ với Ngài là mối quan hệ thực sự, một kiểu giao thoa với một Giao ước sâu đậm. Tình yêu ở trong lời nói, trong im lặng của chúng ta. Tình yêu sống trong nụ cười, trong nước mắt chúng ta. Tình yêu đồng hành với chúng ta, trở thành da thành thịt, tình yêu không lạc lối. Tình yêu không bao giờ ngoảnh mặt, Tình yêu nhìn thế giới qua đôi mắt chúng ta. Tình yêu là vô tận. Nhưng cuối cùng, chúng ta chỉ nhận ra Tình yêu trên Thập giá, trên Đồi Canvê. Trên Thập giá, chúng ta nhận ra một Thiên Chúa im lặng kinh hoàng, chỉ nói lời tha thứ, khi thiên đàng dường như không quan tâm đến cái chết của người công chính. Nhưng ít nhất điều gì đó đang xảy ra, với cái chết là nhân vật chính với máu, nỗi đau, nước mắt và nỗi buồn. Chúng ta có thể nhận ra một Thiên Chúa nào đó khi đối diện với cái chết này. Và tôi nghĩ đến viên đội trưởng. Đứng trước nỗi đau, chúng ta có thể nói bạo lực và cái ác đã nhường chỗ cho sự tốt lành của Thiên Chúa, Đấng yêu thương và tha thứ. Thường, chúng ta chỉ có chừng đó. Chúng ta “ít hơn” và Chúa “nhiều hơn”. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ.

Chúng ta “ít hơn” và Chúa “nhiều hơn”. Vậy, khi gặp khó khăn trong cuộc sống, chúng ta phải làm gì? Chúng ta xin phép lạ, chúng ta hành xác và chúng ta xin Đấng Toàn năng lấp đầy khoảng trống. Khi con người không còn biết cách đương đầu với những tai ương trong cuộc sống, chúng ta cầu khẩn vị thần sẽ lấp đầy những thiếu sót của chúng ta. Nhưng sự việc không hoạt động theo cách đó. Chúng ta phải đến mộ vào buổi sáng Phục sinh, phải có can đảm đi bộ đến nơi chôn cất để có được lời giải thích về phép trừ: sự trống rỗng, sự vắng mặt thiêng liêng. Chúa rút lui và chúng ta cảm thấy thiếu thốn. Sự trọn vẹn của Thiên Chúa bù đắp cho những thiếu sót của chúng ta sẽ được thể hiện rõ ràng trong quyền lực, trong một phục sinh sáng ngời, sẽ lấp đầy những thiếu sót của chúng ta: khoảng trống.

Chúng ta hiểu điều gì xảy ra khi Chúa Kitô chết trên Thập giá vì đó là điều chúng ta mong đợi. Kẻ ác không hiểu và lên án, còn Thiên Chúa tốt lành lại chết oan và tha thứ. Những gì chúng ta thấy, chúng ta phần nào hiểu được. Và chúng ta kể theo hàng ngàn cách, với rất nhiều từ ngữ và hình ảnh. Chỉ cần nghĩ đến thập giá trong nghệ thuật: rất nhiều tích lũy, trong khi ngôi mộ tượng trưng cho sự trừ bớt.

Vào ngày thứ nhất trong tuần Bà Maria Mácđala đến mộ từ sáng sớm; trời vẫn còn tối. Bà thấy hòn đá đã được lăn ra. Bà chạy đi tìm ông Simon Phêrô và người môn đệ được Chúa Giêsu yêu mến, bà nói với họ: “Chúa đã được đem ra khỏi mộ, và chúng ta không biết họ để Ngài ở đâu.” Ông Phêrô cùng môn đệ kia đi ra mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn ông Phêrô và đến mộ trước. Cúi xuống, ông thấy khăn trải giường đã được trải phẳng; nhưng ông không bước vào. Ông Simon Phêrô đến sau, ông bước vào ngôi mộ; ông thấy các tấm vải đã được trải phẳng, tấm khăn liệm bao quanh đầu Chúa Giêsu không được đặt cùng với các tấm vải nhưng được cuộn riêng tại chỗ. Đúng lúc đó người môn đệ kia bước vào, người đã đến mộ trước. Ông thấy và ông đã tin (Ga 20:1-8).

Để hiểu Tình yêu, phải tin vào logic của bài toán trừ. Người yêu luôn đồng hành cùng người mình yêu nhưng vẫn để họ có một không gian riêng. Và họ không để không gian xâm chiếm họ sau đó, như thể để trả thù. Sự sống lại không phải để lấp đầy khoảng trống vô tín của chúng ta! Những nhân chứng đầu tiên bước vào ngôi mộ hiểu đây là nơi sự sống được nhìn thấy: từ bên trong ngôi mộ. Chúng trở thành phép trừ trong trái tim của một Thiên Chúa là phép trừ. Sự thánh thiện, con đường trưởng thành của mỗi người, không phải là sự hủy diệt bản thân vì quyền năng của Thiên Chúa, mà là một phần rất nhỏ của Tình yêu hiện diện ở đó, trong sự thu hẹp quyền lực, một Thiên Chúa bị loại bỏ. Một khoảng trống trong ngôi mộ. Tình yêu rời bỏ không gian. Và Thiên Chúa không xâm phạm, có lẽ Ngài còn không có quyền năng theo nghĩa chúng ta hiểu. Tình yêu không áp đặt, không xin chúng ta cho không gian, tình yêu ở ngay đó, ngay trung tâm cuộc sống chúng ta, một cơn khát tình yêu vĩnh cửu, như với tất cả những người yêu nhau.

Marta An Nguyễn dịch

Hồng y Pietro Parolin chúc Tổng thống Donald Trump có “nhiều  khôn ngoan”

Hồng y Pietro Parolin chúc Tổng thống Donald Trump có “nhiều  khôn ngoan”

cath.ch, Maurice Page, 2024-11-07

Ngày thứ năm 7 tháng 11, hồng y Quốc Vụ Khanh Pietro Parolin chúc tân Tổng thống Donald Trump có nhiều khôn ngoan và vượt lên được sự phân cực”. Đức Phanxicô chưa bày tỏ phản ứng của ngài trước chiến thắng của Đảng Cộng hòa.

Hãng tin Ansa Ý loan tin, Hồng y Pietro Parolin, nhân vật “số 2” của Tòa Thánh phản ứng trước chiến thắng của Tổng thống Donald Trump trong một sự kiện được tổ chức tại Đại học Gregorian Rôma về trí tuệ nhân tạo: “Tôi tin Tổng thống Donald Trump cố gắng vượt lên sự phân cực. Chúng tôi hy vọng đây là yếu tố mang lại ổn định để bình định các cuộc xung đột đang làm đẫm máu thế giới hiện nay.”

Bộ ngoại giao Vatican đặc biệt quan tâm đến tình hình ở Trung Đông và Ukraine, nơi Tòa Thánh đề nghị làm trung gian hòa giải: “Tổng thống Trump nói ông sẽ chấm dứt chiến tranh. Chúng ta hy vọng dù ông không có cây đũa thần.”

Về cuộc xung đột ở Ukraine, Tổng thống Trump hứa sẽ giải quyết trong vòng 24 giờ, nhưng theo hồng y Parolin rất khó để bình luận vì tình hình hiện nay rất bất ổn: “Tổng thống Trump không đưa ra dấu hiệu cụ thể về cách thức thực hiện việc này. Chúng ta chờ xem ông sẽ đề xuất những gì sau khi nhậm chức.”

Theo Đức Phanxicô, cả bà Kamala Harris và ông Donald Trump đều “chống lại sự sống”. Quan điểm của Đức Phanxicô và Tổng thống Trump khác nhau về các vấn đề sinh thái, khí hậu, về mối quan hệ với hồi giáo. Tổng thống Trump đã thông qua sắc lệnh hành pháp có tiêu đề “Lệnh cấm người Hồi giáo”, cấm các công dân của 7 quốc gia có dân số chủ yếu là người hồi giáo nhập cảnh.

Ở cấp độ ngoại giao, Đức Phanxicô hoan nghênh các cuộc gặp lịch sử của Tổng thống Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un  năm 2018 và 2019 nhưng Bộ Ngoại giao Vatican bất bình và lo ngại sau quyết định của ông Donald Trump chuyển sứ quán Mỹ từ Tel-Aviv về Giêrusalem. Tại khu vực trong lửa và máu sau vụ thảm sát ngày 7 tháng 10 năm 2023, việc Tổng thống Trump trở lại chính trường được Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ca ngợi là một “chiến thắng to lớn”.

Có một số chủ đề đã đưa Giáo hoàng và Tổng thống Donald Trump xích lại gần nhau như việc cả hai đều phản đối phá thai. Hồng y Parolin hy vọng việc bảo vệ sự sống mà Tổng thống Trump tuyên bố không được làm bằng chính sách “phân cực và chia rẽ” nhưng tân tổng thống có thể mở rộng sự đồng thuận.

Tháng 9 vừa qua, khi được hỏi về tình thế tiến thoái lưỡng nan của người công giáo Mỹ trong cuộc bầu cử, Đức Phanxicô cho biết: “Cả hai đều chống lại sự sống, dù đó là người loại bỏ người di cư hay người giết hại trẻ em”. Bà Kamala Harris, ứng cử viên Đảng Dân chủ đã vận động đặc biệt ủng hộ việc khôi phục quyền phá thai của liên bang. Đức Phanxicô mời gọi người Mỹ bỏ phiếu theo lương tâm của mình: “Ai là người ít ác hơn, người này hay người kia. Tôi không biết.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Linh mục Antonio Spadaro: Vatican sẽ tìm cách đối thoại với Tổng thống Trump

Nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump có những căng thẳng nhưng cũng có khả năng hợp tác với Đức Phanxicô

“Donald Trump và James David Vance trở thành các nhà lãnh đạo của kỷ nguyên công giáo mới ở Mỹ”

Nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump có những căng thẳng nhưng cũng có khả năng hợp tác với Đức Phanxicô

Nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump có những căng thẳng nhưng cũng có khả năng hợp tác với Đức Phanxicô

Hai nhà lãnh đạo thế giới có quan điểm đối lập về vấn đề di cư nhưng có thể tìm được tiếng nói chung trong cố gắng thúc đẩy hòa bình qua con đường thương thuyết ở Ukraine.

Đức Phanxicô tiếp Tổng thống Donald Trump tại Vatican ngày 24 tháng 5 năm 2017. (ảnh: Vatican Media/L’Osservatore Romano)

ncregister.com, Francis X. Rocca Vatican, 2024-11-06

Việc cựu Tổng thống Donald Trump đắc cử nhiệm kỳ thứ hai có khả năng nối lại mối quan hệ thường căng thẳng giữa Đức Phanxicô và ông.

Các tương quan giữa Vatican và nước Mỹ là mối quan tâm đặc biệt của người công giáo, nhưng vì Đức Phanxicô là người ủng hộ hòa bình và công lý xã hội được thế giới công nhận nên quan hệ giữa Washington và Rôma cũng là quan tâm của cộng đồng quốc tế.

Phần lớn căng thẳng giữa hai bên có khả năng tập trung vào vấn đề di cư, một vấn đề cả hai đã có những xung đột công khai trong quá khứ. Trong chiến dịch tranh cử vừa qua, Tổng thống Trump hứa sẽ trục xuất hàng triệu người nhập cư không có giấy tờ, một chính sách gần đây Đức Phanxicô cho là tội nghiêm trọng “chống lại sự sống”.

Nhưng Vatican và Nhà Trắng có thể có được tiếng nói chung trong nhiệm kỳ thứ hai này của Tổng thống Trump trong cuộc chiến của Nga chống lại Ukraine. Đức Phanxicô và Tổng thống Trump đã bất đồng quan điểm về vấn đề di cư ngay cả trước khi ông Trump nhậm chức. Tháng 2 năm 2016, trong một phỏng vấn, Đức Phanxicô nói với các phóng viên lời hứa trục xuất hàng triệu người nhập cư và xây tường dọc theo biên giới phía nam là kẽ hở của một người không có “tinh thần kitô giáo”. Ông Trump trả lời, thật xấu hổ khi Giáo hoàng đặt câu hỏi về đức tin của ông.

Nhưng hai người đã gần gũi hơn về vấn đề phá thai, trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông Trump cương quyết phản đối việc phá thai, ông nêu tên ba thẩm phán Tòa án Tối cao đã tiếp tục bãi bỏ phán quyết năm 1973 Roe kiện Wade, thiết lập quyền phá thai theo hiến pháp. Đức Phanxicô thường lên án phá thai với những lời lẽ mạnh mẽ, ngài xem việc này như việc thuê người sát thủ.

Kể từ khi rời nhiệm sở, Tổng thống Trump có lập trường tự do hơn về phá thai, trong chiến dịch tranh cử, ông tuyên bố sẽ phủ quyết lệnh cấm phá thai của liên bang nếu ông đắc cử. Ông ủng hộ việc thụ tinh trong ống nghiệm, một thủ tục thường liên quan đến việc phá hủy phôi thai của con người và bị cấm trong giáo lý đạo đức công giáo.

Một lãnh vực có khả năng đưa hai bên gần nhau: đó là “ý thức hệ giới tính”, theo Đức Phanxicô, đây là ý thức hệ đáng lo ngại của thời đại chúng ta khi xóa bỏ sự khác biệt giữa nam và nữ. Đầu năm nay, Bộ Giáo lý Đức tin tuyên bố: “Bất kỳ sự can thiệp nào vào việc chuyển đổi giới tính đều có nguy cơ đe dọa đến phẩm giá duy nhất mà con người nhận được ngay khi thụ thai.” Các vấn đề chuyển giới, bao gồm vấn đề chuyển giới của các vận động viên nữ, đó là vấn đề nổi bật trong chiến dịch của Tổng thống Trump. Tuy nhiên, đây là vấn đề tế nhị, vì Đức Phanxicô có cách tiếp cận mục vụ với người chuyển giới, ngài đã nhiều lần gặp họ ở Vatican.

Chính sách môi trường là lãnh vực Đức Phanxicô và Tổng thống Trump bất đồng quan điểm. Trong thông điệp Chăm sóc ngôi nhà chung Laudato Si năm 2015, ngài kêu gọi giảm dùng nhiên liệu hóa thạch để chống lại tình trạng nhiệt độ toàn cầu nóng lên, mối đe dọa lớn cho sự sống trên trái đất, nhưng Tổng thống Trump lại hứa sẽ thúc đẩy sản xuất nhiên liệu hóa thạch.

Tuy nhiên lãnh vực bất đồng rõ ràng nhất vẫn là vấn đề di cư. Tháng 9 vừa qua, khi trả lời các nhà báo, Đức Phanxicô cho rằng “đuổi người di cư đi, từ chối khả năng làm việc của họ, từ chối lòng hiếu khách là một tội nghiêm trọng”. So sánh quan điểm này với việc Phó Tổng thống Kamala Harris hợp pháp hóa phá thai, Đức Phanxicô cho biết, cuộc bầu cử đặt ra cho người công giáo Mỹ phải lựa chọn “cái ác ít hơn”, ngài để cho lương tâm của mỗi cử tri quyết định đó là gì.

Lãnh vực đối ngoại cũng tạo căng thẳng giữa ngài và tân  tổng thống. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Tổng thống Trump, Vatican đã phản đối khi Hoa Kỳ công nhận Giêrusalem là thủ đô của Israel, sau đó Ngoại trưởng Mike Pompeo đã cáo buộc Vatican không quan tâm đến việc Trung Quốc vi phạm nhân quyền khi theo đuổi mục tiêu xích lại gần Bắc Kinh. Các vấn đề này có khả năng là những điểm đau đầu trong quan hệ Hoa Kỳ-Tòa thánh trong bốn năm tới.

Nhưng vấn đề địa chính trị Ukraine là vấn đề mà cả Đức Phanxicô và Tổng thống Trump thường có lập trường gây tranh cãi, có thể là một lãnh vực hợp tác và thậm chí là hòa hợp giữa họ.

Kể từ đầu năm 2022 khi Nga tiến hành cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine, Đức Phanxicô không ngừng kêu gọi chấm dứt xung đột, ngài luôn đau buồn cho số phận của người dân Ukraine. Nhưng ngài tránh đổ lỗi trực tiếp cho Nga hoặc cho Tổng thống Vladimir Putin về cuộc chiến, ngài cho rằng lý do có thể là do sự mở rộng về phía đông của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO. Ngài cũng lên án việc chi tiêu vũ khí để đáp trả hành động xâm lược của Nga và việc áp dụng các lệnh trừng phạt Matxcơva. Lập trường trung lập này đã làm cho người công giáo và các cấp cao của Ukraine và Đông Âu thất vọng. Ngài nói, sự trung lập của Vatican về các vấn đề chính trị, thương mại và quân sự là cần thiết để có được uy tín của một trung gian tiềm năng.

Tổng thống Trump công khai ngưỡng mộ Putin, ông nói ông có khả năng chấm dứt chiến tranh chỉ trong một ngày, một chiến công sẽ phải đòi hỏi Ukraine nhượng bộ. Phó Tổng thống đắc cử James David Vance đưa ra một kế hoạch hòa bình cho phép Nga giữ lại lãnh thổ mà họ đã chinh phục và đảm bảo sự trung lập của Ukraine, loại trừ tư cách thành viên NATO mà quốc gia này mong muốn.

Nếu Hoa Kỳ, nước ủng hộ Ukraine lớn nhất áp dụng chính sách như vậy dưới thời chính quyền tiếp theo, liệu họ có thể nhờ đến Vatican để được hỗ trợ về mặt đạo đức cho lập trường của mình không? Liệu Đức Phanxicô hay các nhà ngoại giao của ngài có tán thành một kế hoạch như vậy, một cách rõ ràng hay không?

Một liên minh như vậy có vẻ không có khả năng xảy ra, nhưng chính trị quốc tế đã biết đến những người bạn đồng hành xa lạ hơn.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hồng y Pietro Parolin chúc Tổng thống Donald Trump có “nhiều  khôn ngoan”

Linh mục Antonio Spadaro: Vatican sẽ tìm cách đối thoại với Tổng thống Trump

“Donald Trump và James David Vance trở thành các nhà lãnh đạo của kỷ nguyên công giáo mới ở Mỹ”

Linh mục Antonio Spadaro: Vatican sẽ tìm cách đối thoại với Tổng thống Trump

Linh mục Antonio Spadaro: Vatican sẽ tìm cách đối thoại với Tổng thống Trump

cruxnow.com, Ban biên tập, 2024-11-07

Đức Phanxicô và Linh mục Dòng Tên Antonio Spadaro / Ảnh Vatican News.

Dù có những xung đột giữa Đức Phanxicô và Tổng thống Trump về các vấn đề từ nhập cư và biến đổi khí hậu đến Trung Quốc và Trung Đông, nhưng theo linh mục Dòng Tên Antonio Spadaro, thứ trưởng Bộ Văn hóa, cố vấn thân cận của Đức Phanxicô, Rôma luôn chủ trương đối thoại.

Ngày thứ tư 6 tháng 11, trong các cuộc phỏng vấn với các cơ quan thông tin Ý, Linh mục hy vọng sẽ đối thoại với Tổng thống Trump về các vấn đề trong nước và quốc tế. Theo Linh mục, cần phải có đối thoại “để có một xã hội Mỹ tốt đẹp hơn vì có nhiều người không cảm thấy mình được đón nhận, được bảo vệ, được lắng nghe ở chính đất nước của họ.”

Linh mục Spadaro cho biết, về mặt quốc tế, đối thoại giữa Washington và Rôma là rất quan trọng: “Quan điểm của Tòa thánh luôn rộng mở, mang tính quốc tế, công nhận Hoa Kỳ có vai trò quan trọng để tránh các cuộc xung đột đang diễn ra trên thế giới, từ Ukraine bị tử đạo đến Palestine bị tử đạo để tình trạng không trở nên xấu hơn.”

“Cần tìm ra giải pháp”

Linh mục Spadaro cho biết sự tương phản giữa Đức Phanxicô và Tổng thống Trump về nhiều vấn đề không nhất thiết là trở ngại cho việc đối thoại: “Tòa thánh chưa bao giờ chia thế giới thành người tốt và người xấu, mở cửa cho người tốt, đóng cửa với người xấu, nhưng luôn xây dựng liên minh chính trị. Ở Mỹ, người công giáo không thiên bên này bên kia, họ giữ vững lập trường chính trị, họ không đứng về bên nào để tránh sự pha trộn giả tạo giữa tôn giáo và chính trị. Đối thoại và ngoại giao là để xây dựng cầu nối và phá bỏ các bức tường.”

Theo Linh mục, trong quá khứ đôi khi Tổng thống Trump kết hợp tôn giáo với chính trị (bài diễn văn Liên bang năm 2018) làm cuộc đối thoại với Vatican không chỉ đáng mong muốn mà còn cần thiết. Thước đo của sự vĩ đại là quan tâm đến người nghèo, người thiệt thòi, người thiếu thốn, những người như ông Ladarô đứng ngoài cửa, chứ không phải vĩ đại theo tiêu chuẩn của Tổng thống Trump. Điều này áp dụng cho rất nhiều người bị lãng quên ở Mỹ, những người cảm thấy họ không còn thuộc về nơi này nữa và cũng áp dụng cho những người di cư, những người tạo nên chính cấu trúc của xã hội Mỹ.

Cho đến nay, bình luận của Linh mục Spadaro là tuyên bố công khai duy nhất của một viên chức Vatican về kết quả bầu cử ở Mỹ. Ngày thứ tư 6 tháng 11, Vatican News, cơ quan thông tin chính thức của Vatican đăng một bài viết về việc tái đắc cử của Tổng thống Trump, nhấn mạnh đến bản chất chiến đấu, bất chấp mọi khó khăn để trở lại chính trường của ông: “Sự nghiệp chính trị của ông được cho là một kỳ tích chưa từng có, khi ông đã xoay xở để trở lại Nhà Trắng sau hai lần luận tội, nhiều phiên tòa khác nhau và hai bản án hình sự. Sau vụ tấn công Đồi Capitol, vòng xoáy đi xuống của ông là rõ ràng, ông còn bị chính đảng của ông từ bỏ, và ông đã xoay xở để giành lại quyền kiểm soát.”

Thường thường, các giáo hoàng không gởi thông điệp chính thức đến các tân tổng thống Mỹ cho đến khi họ nhậm chức, nhưng có một tiền  lệ phá vỡ nghi thức này – Đức Bênêđíctô XVI đã gởi thư chúc mừng Tổng thống Barack Obama ngay sau khi ông đắc cử tháng 11 năm 2008. Năm 2016, Đức Phanxicô đợi đến ngày nhậm chức mới viết thư chúc mừng nhà lãnh đạo mới của nước Mỹ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

“Donald Trump và James David Vance trở thành các nhà lãnh đạo của kỷ nguyên công giáo mới ở Mỹ”

Nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump có những căng thẳng nhưng cũng có khả năng hợp tác với Đức Phanxicô

Hồng y Pietro Parolin chúc Tổng thống Donald Trump có “nhiều  khôn ngoan”

“Donald Trump và James David Vance trở thành các nhà lãnh đạo của kỷ nguyên công giáo mới ở Mỹ”

“Donald Trump và James David Vance trở thành các nhà lãnh đạo của kỷ nguyên công giáo mới ở Mỹ”

la-croix.com, Massimo Faggioli, Giáo sư thần học lịch sử tại Đại học Villanova, 2024-11-07

Một ngày sau chiến thắng của Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, giáo sư Massimo Faggioli giải thích sự đột phá phiếu bầu của cử tri công giáo trong kết quả các cuộc thăm dò, cho thấy đạo công giáo ở Mỹ đã chuyển sang chủ nghĩa truyền thống dân tộc đầy đe dọa như thế nào.

Khẩu hiệu “Làm cho nước Mỹ cầu nguyện lại” được trưng bày ở Hội nghị truyền thông Kitô giáo của Hiệp hội Truyền thông Tôn giáo Quốc gia năm 2024 tại Nasville, Tennessee, nơi chờ đón cựu Tổng thống, ứng cử viên Đảng Cộng hòa Donald Trump ngày 22 tháng 2 năm 2024. Seth Herald / REUTERS

Chiến thắng của Tổng thống Donald Trump năm 2024 đã chôn vùi di sản của Tổng thống Joe Biden, sự rút lui của người công giáo cấp tiến về khuôn viên trường đại học của họ, về các tạp chí trí tuệ và bong bóng truyền thông xã hội. Chiến thắng của Trump đã đưa Phó Tổng thống trẻ tuổi J. D. Vance lên sân khấu thế giới, một triệu phú 40 tuổi trở lại đạo công giáo năm 2019, theo chủ nghĩa truyền thống được các nhân vật khổng lồ của chủ nghĩa tự do công nghệ ở Thung lũng Silicon ủng hộ: một kết hợp giữa Charles Maurras và Elon Musk.

J. D. Vance, người đồng tranh cử và là người thừa kế có thể của Donald Trump

Cuộc bầu cử này kết thúc theo phong cách của văn hào Anh Shakespeare, sử thi về hai người công giáo đứng đầu Đảng Dân chủ: Tổng thống Joe Biden và cựu Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi, người đã thuyết phục ông rời khỏi cuộc tranh cử mùa hè năm 2024. Việc Tổng thống Trump trở lại chính trường cho thấy sự phục tùng của nhiều giám mục Mỹ trước các chuyện chính trị mang tính đảng phái về “các cuộc chiến tranh văn hóa”, khuyến khích các nhà tài chính lớn đánh đồng đạo công giáo thể chế với hệ thống guồng máy cai trị Hoa Kỳ.

Sự thay đổi trong cuộc bỏ phiếu của người công giáo

Nhưng việc Tổng thống Trump tái đắc cử không chỉ là câu chuyện của giới tinh hoa. Đó cũng là lịch sử của người công giáo. Một thăm dò gần đây cho thấy phần lớn 56% người công giáo đã bỏ phiếu cho Donald Trump, so với 41% cho Kamala Harris. Năm 2020, Joe Biden suýt giành được phiếu của người công giáo (52% so với 47%). Trump và Vance đã đầu tư vào cuộc bỏ phiếu tôn giáo và công giáo, và đã làm được điều này mà không có quan điểm trực tiếp về vấn đề phá thai. Cả hai đảng chính trị hiện nay đều có quan điểm ủng hộ quyền lựa chọn, nhưng theo những cách khác nhau. Tính phi đạo đức đáng tự hào của Trump đã giúp các cử tri tôn giáo vượt qua điểm này: trong nhiều trường hợp, họ bỏ phiếu cho ông trong khi vẫn duy trì sự ủng hộ quyền phá thai.

Bà Harris và ông Walz đã thất bại trong việc thu hút cơ sở bầu cử, họ có những nỗ lực dàn dựng một cách bề ngoài. Do quyết định năm 2022 của Tòa án Tối cao cho phép hạn chế phá thai, Đảng Dân chủ ủng hộ các vấn đề phá thai và giới tính. Một sự cực đoan hóa, nếu nói đến giới tinh hoa trí thức và học thuật, họ sẽ bị các cử tri không ủng hộ. Như nhà văn kitô giáo người Anh G. K. Chesterton đã nói, nước Mỹ vẫn là “một quốc gia có linh hồn của một Giáo hội”.

Tái định nghĩa đạo công giáo Hoa Kỳ

Không rõ sẽ như thế nào và bằng cách nào Trump và Vance sẽ thực hiện lời đe dọa của họ với nhiều người công giáo (trục xuất 12 triệu người). Các khu vực được Giáo hội công giáo tài trợ sẽ tiếp tục có được ảnh hưởng sau nhiệm kỳ đầu tiên của Trump: sau khi giành được đa số tại Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, mục tiêu là khôi phục các thông tin xác thực của cánh hữu công giáo ở Mỹ – trong đó tính từ “người Mỹ” đóng góp phần lớn để xác định lại khái niệm “công giáo”.

Chỉ trong tám năm, người công giáo cấp cao nhất đã đi từ đạo công giáo Mỹ tự do theo Vatican II của Joe Biden sang chủ nghĩa truyền thống dân tộc của Phó Tổng thống Vance, loa phóng thanh của Tổng thống Trump trong việc truyền bá những lời dối trá tuyên truyền theo chủ nghĩa bản địa (từ ngữ căm thù người Haiti, người nhập cư, nhưng đó chỉ là một ví dụ). Chúng ta sẽ xem các giám mục công giáo sẽ phản ứng thế nào sau khi cố gắng tước quyền rước lễ của Joe Biden năm 2020-2021 vì lập trường ủng hộ sự lựa chọn của ông – trước khi bị Vatican can thiệp.

Đạo công giáo ở Hoa Kỳ tiêu biểu cho văn hóa Mỹ hiện tại. Câu hỏi quan trọng đối với tất cả người công giáo, không chỉ ở Hoa Kỳ, là đạo công giáo Mỹ có điểm gì chung với đạo công giáo được tin và được giữ ở các nơi khác. Hay chỉ là một hiện tượng được hướng dẫn bởi một chủ nghĩa bảo thủ của miền đất bị cháy không. Đây không chỉ là vấn đề của công giáo. Liên minh của Trump có nghĩa là rất ít cộng đồng tôn giáo và nhóm nhân khẩu học không bị ảnh hưởng theo một cách nào đó. Nhưng Trump và Vance đã thành công trong việc khai thác cuộc bỏ phiếu tôn giáo và công giáo theo cách buộc cộng đồng kitô giáo phải đáp trả tương ứng.

Theo bước chân đạo tin lành của những năm 1970

Một số người nói rằng một quốc gia có xu hướng phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và bài ngoại đã rơi vào ách thống trị của chính sách mị dân. Đây là một phần sự thật, nhưng còn nhiều điều hơn thế nữa, đặc biệt với đạo công giáo. Những gì chúng ta đã chứng kiến trong những thập kỷ gần đây là sự suy sụp về mặt trí tuệ diễn ra theo dấu chân của đạo tin lành trong những năm 1970 và 1980. Đây là một phần của quá trình hậu Âu hóa tôn giáo ở Mỹ, làm cho tôn giáo ở Mỹ ngày càng ít có khả năng đương đầu với các giá trị Khai sáng, thế tục hóa và chủ nghĩa đa văn hóa. Đây là một trong những tác động của “sự giải mã văn hóa”, như tác giả Olivier Roy đã trình bày trong tác phẩm gần đây của ông.

Đạo công giáo Mỹ gần gũi với đạo tin lành, không chỉ đạo tin lành của người da trắng. Điều này thể hiện rõ trong hành vi chính trị của các cử tri gốc Latinh, cả công giáo và tin lành, những người đang rời bỏ Đảng Dân chủ bất chấp mọi tấn công dữ dội của Tổng thống Trump nhằm vào người nhập cư. “Đó là kinh tế, đồ ngu,” nhưng đó cũng là một quan điểm khác về chính trị và lãnh đạo chính trị. Nhiều đảng viên Đảng Dân chủ cho rằng, dựa trên chủng tộc, “một nước Mỹ ít da trắng hơn và đa dạng hơn” có nghĩa là một nước Mỹ tiến bộ hơn: giả định này đã bị bác bỏ dứt khoát trong các cuộc bầu cử này. Sự đa dạng về văn hóa và sắc tộc của đạo công giáo Hoa Kỳ không có nghĩa là họ tự nhiên bỏ phiếu cho đảng “công bằng, đa dạng và hòa nhập”.

Cuộc bầu cử năm 2024 đánh dấu một bước ngoặt đã được nhìn thấy từ lâu trong đạo công giáo ở Mỹ: ngày càng có ít người công giáo ở Hoa Kỳ giống Kennedy, Biden và Pelosi. Đó là sự rạn nứt thế hệ báo hiệu một sự rạn nứt sâu sắc hơn trong truyền thống của người công giáo trong nền chính trị Hoa Kỳ. Nhưng đó cũng là một sự phá vỡ văn hóa. Biden trở thành nhà lãnh đạo công giáo cuối cùng trong một Giáo hội Hoa Kỳ được hình thành từ Thế chiến II và công đồng Vatican II. Trump và Vance là những người đầu tiên của một kỷ nguyên mới, cũng trong đạo công giáo Hoa Kỳ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump có những căng thẳng nhưng cũng có khả năng hợp tác với Đức Phanxicô

Hồng y Pietro Parolin chúc Tổng thống Donald Trump có “nhiều  khôn ngoan”

Linh mục Antonio Spadaro: Vatican sẽ tìm cách đối thoại với Tổng thống Trump

Bài mới nhất