Home Blog Page 119

“Tôi sẽ không đi Paris!”: vì sao Đức Phanxicô từ chối đến “Pháp”?

“Tôi sẽ không đi Paris!”: vì sao Đức Phanxicô từ chối đến “Pháp”?

lefigaro.fr, Jean-Marie Guénois, 2024-12-13

Dù ngài sẽ đi Pháp vào cuối tuần này lần thứ ba, nhưng Đức Phanxicô chưa bao giờ có chuyến đi chính thức và muốn thông báo điều này.

Một Giám mục Pháp nói: “Tôi hy vọng ngài sẽ không nói ‘tôi sẽ đi Corsica nhưng tôi không đến Pháp!” như ngài đã nói trong chuyến đi Marseille năm ngoái. Đây là phản ứng của một Giám mục Pháp có ảnh hưởng. Khen những người theo chủ nghĩa tự trị và những người ly khai, tác động này sẽ rất bùng nổ, thậm chí là thảm họa nếu nhìn từ Paris. Chúng ta hy vọng ngài được cố vấn kỹ trước khi đi Ajaccio ngày chúa nhật này. Nhưng ngài là người rất tự do, ngài không ngần ngại nói những gì ngài nghĩ dù nhiều khi không đúng về mặt chính trị.

Dù chính thức, không chính thức, cấp quốc gia hay thành phố, trên bình diện văn hóa hay tôn giáo, các chuyến đi của ngài đều mang tính “chính trị”, theo nghĩa cao quý của thuật ngữ này, vì người đứng đầu Giáo hội Công giáo khi đến thăm tín hữu có cùng đức tin, ngài luôn đến thăm một “thành phố” với người dân và các công chức được người dân bầu lên. Các nhà lãnh đạo chính trị nghiêng mình chào ngài hoặc đi tìm ngài. Tổng thống Emmanuel Macron rất muốn đến chào từ giã ngài chiều chúa nhật trước khi ngài về lại Rôma như ông đã làm năm ngoái ở Marseille.

Nhưng cũng phải công nhận ngài đối xử với nước Pháp tốt hơn Tây Ban Nha, Đức và ngay cả quê hương Argentina của ngài, ngài chưa bao giờ về thăm. Ngài đến Pháp ba lần: Strasbourg năm 2014 để thăm Nghị viện Châu Âu, Marseille năm 2023 và Ajaccio năm 2024. Nhưng vì sao ngài từ chối một cách có hệ thống bất kỳ chuyến đi cấp nhà nước nào đến Pháp?

Đức Phanxicô ưu tiên cho “các nước nhỏ”

Cơ hội chắc chắn đã mất nhưng chuyến đi này lẽ ra có thể diễn ra tuần trước, với lễ khánh thành Nhà thờ Đức Bà Paris. Những người ở Vatican giải thích sẽ quá “phức tạp” nếu kết hợp sự hiện diện của ngài cho một “sự kiện ngoại thường” với “chuyến đi mục vụ” vốn nhất thiết phải được tổ chức. Nhiều người chắc chắn việc Tổng thống Macron nhất quyết muốn thấy Đức Phanxicô đứng dưới vòm Nhà thờ Đức Bà đã làm ngài khó chịu. Cuối tháng 9, trở về sau chuyến đi dài ngày ở Châu Á, ngài đã nói hai lần “Tôi sẽ không đến Paris”. Và chúng ta luôn biết ngài, giáo hoàng “xã hội” trong 47 chuyến tông du, ngài luôn đến “các quốc gia nhỏ” hoặc những nơi có hoàn cảnh khó khăn như chuyến đi Iraq năm 2021.

Ngài từ chối thăm chính thức nước Pháp không ở thái độ chống Pháp. Sẽ không có ý nghĩa gì đối với một giáo hoàng. Đúng hơn đó là sự tự do của Giáo hoàng Châu Mỹ Latinh muốn đi ra khỏi những gì quá mang nặng tính thể chế, được thiết lập, bị bắt buộc hoặc phải theo vì hình thức. Ngài thích xác định mình theo cách đoạn tuyệt với một Giáo hội quá thể chế để có một Giáo hội huynh đệ hơn.

Marta An Nguyễn dịch

Với đa số người Pháp Đức Phanxicô đã “đúng” khi thích Corsica hơn Nhà thờ Đức Bà Paris

Lời khấn mà chúng ta không chọn  

Lời khấn mà chúng ta không chọn

Ronald Rolheiser, 2024-12-02

Là tu sĩ Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, tôi đã khấn bốn lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh, vâng lời và trung thành. Tôi đã tự nguyện khấn, không một ép buộc nào khác ngoài một cảm nhận mạnh mẽ trong lòng: tôi cần khấn những lời khấn này. Tự nguyện khấn, không một áp lực, nhưng là một xa xỉ mà hàng triệu người trên thế giới này không có được. Họ có thể khấn những lời khấn này (theo một phương thức khác) vì họ bị hoàn cảnh ép buộc phải làm như vậy. Trên thực tế, đó là những lời khấn mà người khác khấn giùm cho họ.

Nhà thơ người Anh William Wordsworth 91770-1850) đã viết câu thơ:

Trái tim tôi tràn đầy;

tôi không khấn nhưng lời khấn được làm cho tôi;

một ràng buộc được ban cho tôi mà tôi không biết,

để tôi phải như vậy,

nếu không tôi sẽ phạm một tội rất lớn.

Tôi nghĩ hầu hết chúng ta đều quen biết những người mà điều này là đúng với họ, họ không bao giờ chính thức khấn lời khấn tu trì, nhưng họ sống độc thân, vâng lời, khó nghèo và trung thành theo cách riêng của họ. Gần như suốt đời, hoàn cảnh đã buộc họ phải sống như vậy, đã lấy đi quyền tự do để họ không bao giờ có thể tự lựa chọn nơi nào họ sẽ đến, nơi nào họ sống, trường nào họ học, công việc nào họ làm và (không kém phần quan trọng) họ có nên kết hôn hay không. Thay vào đó, họ sống không tự do trong những năm tháng trưởng thành của mình, bị hoàn cảnh và nghĩa vụ ràng buộc, họ hy sinh các ước mơ và kế hoạch riêng của mình để phục vụ người khác.

Nhiều người trong chúng ta biết có những người vì hoàn cảnh nghèo đói, cha mẹ qua đời, hoàn cảnh gia đình hoặc bệnh tật cá nhân đã phải thề nguyện. Một số anh trai của tôi rơi vào trường hợp này. Nhưng, và đây là vấn đề, mặc dù những lời thề đó không được thực hiện một cách rõ ràng hoặc công khai, nhưng chúng là những lời thề được thánh hiến, thiêng liêng theo nghĩa Kinh Thánh.

Được thánh hiến có nghĩa là gì? Thánh hiến là gì?

Thật đáng buồn, ngày nay chúng ta đã biến từ này thành một “danh từ của nhà thờ”, chúng ta nói về các tòa nhà được thánh hiến (nhà thờ), các chén thánh được thánh hiến và những người được thánh hiến (các mục tử, những người tu hành đã khấn). Tại sao chúng ta lại nói về họ như những người được thánh hiến? Câu trả lời nằm ở ý nghĩa ban đầu của việc được thánh hiến.

Được thánh hiến đơn giản có nghĩa là được “đặt sang một bên” – dù đầu tiên không phải vì mục đích cho nhà thờ. Thay vào đó, quý vị nên tưởng tượng tình huống này: quý vị vừa rời khỏi nơi làm việc và đang lái xe về nhà thì gặp một vụ tai nạn. Quý vị không phải là người trong vụ nhưng quý vị là người đầu tiên ở đó. Lúc đó, quý vị mất tự do của mình. Quý vị không còn tiếp tục lái xe. Có người bị thương và quý vị ở đó! Quý vị phải hành động chỉ vì quý vị ở đó. Lúc đó quý vị là người thánh hiến, được thánh hiến do hoàn cảnh, do nhu cầu. Và chính lúc đó lời của nhà thơ Wordsworth áp dụng cho quý vị.

Có một tương đồng thú vị với tình huống mà ông Môsê gặp khi Chúa xin ông đưa người Israel ra khỏi Ai-cập để thoát khỏi chế độ nô lệ. Ông không muốn làm việc này, cũng không tình nguyện làm. Ông đưa ra nhiều lý do khác nhau để biện minh với Chúa vì sao ông không phải là người phù hợp, cuối cùng ông hỏi Chúa: “Tại sao lại là con? Tại sao không phải là anh em con?” Về bản chất, câu trả lời của Chúa là: “Vì con đã chứng kiến dân tộc con bị áp bức. Vì con đã chứng kiến nên con không còn tự do. Con giống như người đầu tiên có mặt tại hiện trường vụ tai nạn.”

Đó chính là ý nghĩa của việc được thánh hiến, được kêu gọi, có một ơn gọi. Trong khi chúng ta vẫn hoàn toàn tự do (lái xe tránh xa vụ tai nạn) nhưng chúng ta không còn tự do về mặt hiện sinh hay đạo đức nữa – nếu không, như nhà thơ Wordsworth nói, chúng ta sẽ phạm tội nghiêm trọng. Lựa chọn của chúng ta là phải tiếp tục cuộc sống hay ở lại giúp đỡ? Câu hỏi duy nhất của chúng ta là: trách nhiệm của tôi ở đây là gì? Hoàn cảnh đã đưa ra cho chúng ta lời khấn.

Có thể hữu ích khi hiểu ơn gọi, lời khấn và sự thánh hiến qua lăng kính này. Tôi đã từng tự do lựa chọn hiến mình cho một ơn gọi yêu cầu tôi khấn công khai, sống giản dị, từ bỏ hôn nhân và gia đình riêng, sẵn sàng phục vụ người khác và kiên trì trong suốt quãng đời còn lại. Một số anh chị em của tôi (và hàng triệu đàn ông, đàn bà) cũng làm điều tương tự nhưng không có sự công nhận và hỗ trợ của cộng đồng như lời khấn của chúng tôi. Họ cũng sống cuộc sống thánh hiến, dù không được công chúng công nhận.

Khi khẳng định điều này, tôi không loại trừ những người đã kết hôn, trong hôn nhân họ cũng như tôi, họ đã tuyên thệ công khai và nhận được sự công nhận và hỗ trợ của cộng đồng như tôi; ngoại trừ việc độc thân, lời khấn của họ cũng giống tôi.

Tất cả chúng ta đều thường xuyên ở hiện trường của một vụ tai nạn, không được tự do lái xe đi, bị bắt buộc, bị ràng buộc bởi những lời khấn được lập ra cho chúng ta. Điều đó được cho là có ơn gọi.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hồng y Radcliffe, diễn giả lôi cuốn và “ngôi sao” của Thượng Hội đồng  

Hồng y Radcliffe, diễn giả lôi cuốn và “ngôi sao” của Thượng Hội đồng

Linh mục Timothy Radcliffe, Dòng Đa Minh người Anh là một trong 21 tân hồng y được Đức Phanxicô bổ nhiệm trong công nghị ngày 7 tháng 12-2024| © Grégory Roth

cath.ch, I.Media, 2024-12-13

Được phong hồng y ngày 7 tháng 12 năm 2024, Linh mục Timothy Radcliffe, 79 tuổi, vào Dòng Đa Minh cách đây 60 năm trước, ngài là hiện thân của Dòng. Với các sách được xuất bản trong 24 ngôn ngữ và với các hội nghị trên khắp thế giới, ngài nổi tiếng là diễn giả uy tín được kính trọng.

Tại Vatican, trong những năm gần đây, tiếng nói của ngài mang tinh thần Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, dự án của Đức Phanxicô muốn có một Giáo hội ít giáo sĩ hơn, có tính tham gia nhiều hơn và toàn diện hơn. Cựu Giám tỉnh Dòng Đa Minh, ngài vẫn là linh mục và không phong giám mục như các hồng y khác. Ngài sẽ tiếp tục mặc áo trắng Dòng Đa Minh chứ không mặc màu tím hồng y.

Ngài cho biết ngài “bị sốc” khi nghe tin này. Ngày sẽ là cử tri nếu có mật nghị cho đến sinh nhật thứ 80 của ngài tháng 8 năm 2025. Dù sao, ngài có thể có ảnh hưởng trong việc chọn giáo hoàng tiếp theo, ngài là nhân vật được công nhận và đánh giá cao vì ý thức thỏa hiệp của ngài.

Linh mục Timothy Radcliffe: “Đặt truyền thống và tiến bộ đối lập nhau là không phải tinh thần kitô giáo”

Tình trạng hỗn loạn của những năm 1960

Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1945, năm 1965 ngài vào Dòng Đa Minh khi 20 tuổi. Ngài học thần học ở Paris với thần học gia Yves Congar, sau đó ngài học tại Oxford. Ngài chịu chức ngày 2 tháng 10 năm 1971. Ngài cho biết: “Tôi đã sống qua những năm 1960 đầy khó khăn, khi đó nhiều tu sĩ rời bỏ dòng. Đó là thời kỳ hỗn loạn”, nhưng ngài khẳng định ngài “bám chặt” vào con đường tu hành của mình, vì ngài đã nhận được “những lời dạy cao cả  và tốt đẹp”.

Tinh thần hài hước người Anh

Khi bắt đầu công việc mục vụ, ngài giảng dạy Kinh thánh ở trường đại học Blackfriars Hall Oxford và ngài vẫn ở Oxford cho đến nay. Ngài làm bề trên tu viện Oxford từ năm 1982 đến năm 1988, rồi giám tỉnh Dòng Đa Minh từ năm 1988 đến năm 1992.

Qua năm tháng, ngài nổi tiếng quốc tế với các sách nói về cuộc gặp với đức tin. Ngài bác bỏ thuật ngữ “linh đạo” mà giới phê bình thường dùng để nói về các tác phẩm của ngài, ngài xem đó là một tư tưởng thần học. Ngài nổi tiếng đến mức các phương tiện truyền thông cho ngài là “giáo hoàng” trong mật nghị năm 2005 dù ngài không phải là hồng y.

Trong các bài giảng, ngài trích nhiều tác giả, thi ca và văn học thế tục làm độc giả ngạc nhiên khi họ thấy được những điểm khác nhau. Nhưng nhất là trong các bài giảng của ngài, ngài chêm vào những câu chuyện hài hước của truyền thống nước Anh: “Tôi ý thức, khi nói chuyện với khán giả, nếu tôi không giữ chân họ bằng chuyện cười hoặc bằng giọt nước mắt thì sau vài phút họ sẽ ngủ gục.”

Giám tỉnh Dòng Đa Minh

Được bầu làm Bề trên Tổng quyền Dòng Đa Minh năm 1992, ngài là người kế vị thứ 84 của Thánh Đôminicô. Ngài ở chức vụ này cho đến năm 2001, ngài đã đi mọi châu lục (trừ Nam Cực) để thăm nhiều cộng đồng khác nhau, tổ chức hội nghị và hướng dẫn các khóa tĩnh tâm. Ngài thành lập mạng lưới Giáo dân Tình nguyện Đa Minh Quốc tế để đi truyền giáo và góp phần thành lập văn phòng đại diện của các tu sĩ Dòng Phanxicô và Đa Minh tại Liên Hiệp Quốc.

Ngài là giám đốc Viện Las Casas tại Blackfriars Hall, cơ quan thúc đẩy công bằng xã hội và nhân quyền từ năm 2014 đến năm 2016. Năm 2015, ngài được bổ nhiệm làm cố vấn cho Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình tại Giao triều Rôma, bây giờ thuộc bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện. Ngài có chân trong Hội đồng về các phương pháp tiếp cận của kitô giáo trong việc phòng thủ và giải trừ quân bị.

Vượt lên các chia cắt

 Ngài là diễn giả nhận được nhiều tưởng thưởng. Quyển sách Ý nghĩa nào trong việc trở thành người tín hữu kitô? (What Is the Point of Being a Christian) được Giải thưởng Michael Ramsey năm 2007, ngài nhận bằng tiến sĩ danh dự của 13 trường đại học trong đó có các trường Oxford, Fribourg và Angelicum ở Rôma. Ngài có chân trong hội “Freeman” của Thành phố Luân Đôn, một hiệp hội thúc đẩy các hoạt động từ thiện ở thủ đô Anh quốc.

Ngài vừa khỏi bệnh ung thư hàm nặng làm ngài bị suy giảm khả năng nói. Ngài được Đức Phanxicô bổ nhiệm làm phụ tá thiêng liêng cho Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, các suy ngẫm của ngài được chú ý và được đánh giá cao. Trong các bài can thiệp, ngài không ngừng kêu gọi vượt lên chia rẽ “giữa cấp tiến và bảo thủ”.

Gần gũi với bệnh nhân AIDS

Trong những năm 1980, ngài giúp đỡ các bệnh nhân AIDS – ngài là một trong những linh mục người Anh đầu tiên làm mục vụ cho họ, và đã làm ngài nổi tiếng là người “ủng hộ LGBT”. Ngài không ngần ngại bảo vệ điều tốt đẹp trong mối quan hệ giữa hai người cùng giới, nhưng ngài vẫn là người bảo vệ học thuyết của Giáo hội về hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Vào thời điểm xuất bản tài liệu Fiducia supplicans (tháng 12 năm 2023) cho phép chúc phúc cho các cặp đồng tính, một lần nữa ngài thể hiện quyền tự do ngôn luận của ngài, ngài chỉ trích những tâm trí bất an cũng như việc thiếu tham khảo ý kiến, đặc trưng của văn bản này của bộ Giáo lý Đức tin.

Nghệ thuật của nghịch lý

Ngài thường hay nói: “Ai cũng nghĩ học thuyết là giáo điều, nó không cho phép mình tự suy nghĩ. Tôi có thể nói đó là hoàn toàn sai.” Ngài nhìn thấy trong việc nghiên cứu học thuyết “một hành trình khám phá vô tận, một hành trình giải phóng”. Ngài không ngần ngại áp dụng nghệ thuật nghịch lý của ngài: “Tôi nghĩ niềm vui lớn nhất là phát hiện ra rằng bạn đã sai lầm trong suốt cuộc đời về một chủ đề nào đó. Nó rất tự do.”

Sẽ còn một thời gian ngắn nữa là đến sinh nhật 80 của ngài, ngài là một ba hồng y cử tri người Anh Vincent Nichols và Arthur Roche. Ngài là một trong hai tân hồng y Đa Minh cùng với Tổng Giám mục Alger Jean-Paul Vesco.

Marta An Nguyễn dịch

Timothy Radcliffe: “Tương lai càng nguy hiểm thì việc cùng nhau đi tìm lợi ích chung càng cấp bách”

Đức Phanxicô ở Corsica: sự ngạc nhiên thần thánh

Đức Phanxicô ở Corsica: sự ngạc nhiên thần thánh

la-croix.com, Linh mục Arnaud Alibert, Tổng biên tập báo La Croix, 2024-12-12

Trên đường phố Corsica

Ngày chúa nhật 15 tháng 12, Đức Phanxicô sẽ đi đến đảo Corsica. Sự kiện mang tính lịch sử. Dù bất ngờ bao nhiêu, sự kiện này cũng mang một ý nghĩa. Kể từ đầu triều Đức Phanxicô, chúng ta đã quen chú ý đến lời nói và hành động của ngài. Ngài thường dùng từ ngữ “cái đẹp” để nói để nói lên con người được đức tin và tình huynh đệ soi sáng và hôm nay ngài đến hòn đảo mang tên này. Ngài luôn nhìn thế giới từ các vùng ngoại vi và ngài đến nước Pháp từ vùng cực nam của nước này.

Thay vì suy đoán ý nghĩa chuyến đi, chúng ta nên nhìn vào điều ngài quan tâm. Trước làn sóng xanh của hòn đảo, đôi mắt của ngài sẽ nhìn vào không gian lịch sử của truyền thống giao lưu và gặp gỡ của vùng Địa Trung Hải, vùng biển năm ngoái ngài tố cáo ở Marseille, đó là “nghĩa trang mênh mông” của người di cư. Cuối ngày, trong thánh lễ được tổ chức tại quảng trường bên dưới bức tượng của Hoàng đế Napoléon, có lẽ ngài sẽ nói về những gì ngày nay con người phải tự hỏi để thấy ý nghĩa cho sự tồn tại của mình. Vì với tôn giáo bình dân, chủ đề của cuộc họp, con người dù ở đâu, trong hy vọng hay trong vực thẳm nỗi buồn của họ, họ đều có thể tìm đến nhau.

Đức Phanxicô đến đảo Corsica như một chuyến tông du chứ không một chuyến đi cấp Nhà nước như người dân đảo Corsica nói. Hồng y Bustillo phát biểu: “Ngài đến theo cách của người Ý, ngài sẽ đi qua đường phố Ajaccio như trong các cuộc rước kiệu ở Sartène hay ở những nơi khác. Nếu chúng ta muốn tìm lý do của chuyến đi, có lẽ chúng ta nên tìm ở lời ngài đã khéo léo nói với anh em giám mục: hãy rời khỏi ghế của họ. Giáo hội đồng nghị sẽ không chỉ được sinh ra từ Thượng hội đồng Rôma kết thúc vào tháng 10 mà từ sự gần gũi với đức tin của người dân, sự xuất hiện của ngài sẽ mang lại ý nghĩa cao quý cho việc này.”

Marta An Nguyễn dịch

Chương trình chuyến tông du của Đức Phanxicô đến đảo Corse ngày 15 tháng 12-2024

Từ các vị thánh đến những người nổi tiếng: Cuộc cách mạng về sự ngưỡng mộ và noi gương

Từ các vị thánh đến những người nổi tiếng: Cuộc cách mạng về sự ngưỡng mộ và noi gương

Thánh Tarcisius

Ronald Rolheiser, 2024-12-09

Khi tôi còn là cậu bé lớn lên trong cộng đoàn Công giáo, giáo lý thời đó làm cho tâm hồn chúng tôi nhiệt thành qua các câu chuyện về các bậc tử đạo, các thánh và những người sống theo lý tưởng cao cả về đức hạnh và đức tin. Tôi còn nhớ câu chuyện của Thánh Tarcisius ở thế kỷ thứ ba, cuộc đời của Tarcisius đã tác động trên trí tưởng tượng và cảm hứng trong tuổi trẻ của tôi.

Theo truyền thuyết (hay sự thật) thì thánh Tarcisius là chú bé giúp lễ 12 tuổi sống trong thời Kitô giáo bị bách hại. Lúc đó giáo dân Rôma phải lén lút xem lễ trong các hầm mộ, sau các thánh lễ bí mật này, một phó tế hoặc người giúp lễ sẽ đi trao Mình Thánh Chúa cho các bệnh nhân và tù nhân. Một hôm nọ, sau thánh lễ, cậu bé Tarcisius đưa Mình Thánh Chúa đến một nhà tù, thì giữa đường bị một nhóm côn đồ chặn lại bắt Tarcisius đưa cho họ, Tarcisius không chịu đưa, em bảo vệ Mình Thánh Chúa bằng cả cơ thể mình, kết quả là Tarcisius bị đánh đến chết.

Năm tôi 12 tuổi, cùng tuổi với thánh Tarcisius, câu chuyện này đã thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của tôi. Tôi đã muốn có lý tưởng cao cả như thế trong đời. Trong trí tưởng tượng non trẻ của tôi, thánh Tarcisius là người hùng tuyệt vời nhất mà tôi muốn trở thành.

Từ đó đến nay, chúng ta đã đi một quãng đường khá dài, cả trong văn hóa lẫn giáo hội. Chúng ta không còn thấy xúc động một cách lãng mạn với những câu chuyện về các vị thánh thời xưa lẫn nay. Đúng, chúng ta vẫn dành cho các ngài một chỗ trang trọng và chính thức trong nhà thờ cũng như trong lý tưởng cao cả của mình, nhưng bây giờ chúng ta lại xúc động một cách lãng mạn bởi những người giàu, người nổi tiếng, người đẹp, các ngôi sao ca nhạc, các vận động viên lừng lẫy, những người có tài năng về thể chất cũng như trí tuệ. Họ thổi bùng trí tưởng tượng của chúng ta, thu hút sự ngưỡng mộ của chúng ta, và chúng ta muốn được như họ.

Hồi đầu thế kỷ 19, Alban Butler, một người Anh trở lại, đã thu thập các câu chuyện về đời sống các thánh và làm tuyển tập Hạnh Các Thánh của Butler có 12 tập. Trong gần 200 năm, quyển sách này đã tạo hứng khởi cho không biết bao nhiêu tín hữu kitô cả già lẫn trẻ. Nhưng bây giờ đã không còn như thế nữa.

Ngày nay, quyển Hạnh Các Thánh của Butler đã bị thay thế bởi vô số tạp chí, podcast, trang web đăng cuộc đời của những nhân vật giàu có nổi tiếng, đập vào mắt chúng ta qua màn hình điện thoại, máy tính, trên mọi kệ báo, mọi quầy trả tiền ở siêu thị.

Thực sự, chúng ta đã chuyển từ thánh Tarcisius sang Justin Bieber, từ thánh Thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu sang Taylor Swift; từ thánh Tôma Aquinô sang Tom Brady, từ thánh Mônica sang Meryl Streep, từ Thánh Augustinô sang Mark Zuckerberg, từ thánh Julian thành Norwich sang Marianne Williamson, từ thánh gốc Phi đầu tiên Máctinô Porres sang LeBron James. Những người này đang thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn của chúng ta, và chúng ta muốn được nên giống họ nhất.

Xin quý độc giả đừng hiểu lầm ý tôi, những người này không có gì xấu và ngưỡng mộ họ chẳng có gì là sai. Thật sự chúng ta nên ngưỡng mộ họ vì mọi vẻ đẹp và tài năng đều xuất phát từ Thiên Chúa, Đấng tạo tác mọi sự tốt đẹp. Từ đức hạnh của một vị thánh cho đến vẻ đẹp của một ngôi sao điện ảnh, hay sự lôi cuốn của một vận động viên, tất cả đều do một Đấng tạo tác và tất cả đều phát xuất từ nguồn của mọi sự tốt đẹp là chính Thiên Chúa.

Thánh Tôma Aquinô từng nói, kìm nén lời khen cho người xứng đáng là một tội, vì chúng ta đang giấu đi của ăn cho người cần nó để sống. Vẻ đẹp, tài năng, và sự duyên dáng cần được thừa nhận và công nhận. Vấn đề tôi muốn nói đến không phải là ngưỡng mộ. Đúng hơn, vấn đề là trong khi chúng ta cần ngưỡng mộ và công nhận tài năng, duyên dáng và vẻ đẹp, nhưng bản thân những điều này không tỏa ra nhân đức và sự thánh thiện. Chúng ta không nên tự động đồng nhất sự duyên dáng của con người với đức hạnh, mặc dù ở thời buổi này, đây là chuyện rất hấp dẫn, rất dễ dàng.

Một trong những điểm yếu nhất của các giáo hội thời nay, là trong khi chúng ta đã nâng cấp và thanh lọc rất nhiều cho trí tưởng tượng về trí tuệ của mình đồng thời đã có những nghiên cứu Kinh thánh và thần học tốt hơn, lành mạnh hơn, thế nhưng chúng ta vẫn chật vật trong việc chạm đến trái tim con người. Trong khi chúng ta có thêm sức mạnh để thỏa mãn về mặt tri thức, nhưng chúng ta lại chật vật trong việc chạm đến trái tim con người, chật vật để làm cho giáo dân rung động với đức tin và nhất là với giáo hội của họ. Chúng ta chật vật trong việc thổi bùng trí tưởng tượng lãng mạn mà một thời chúng ta đã làm được nhờ hạnh các thánh.

Với tình trạng này, chúng ta có thể làm được gì đây? Chúng ta có tìm ra những vị thánh thổi bùng được các lý tưởng của mình không? Tác phẩm rất hay của Robert Ellsberg về hạnh các thánh (cuộc đời các thánh và những vĩ nhân đạo đức) có trở thành quyển Hạnh Các Thánh mới ngang tầm quyển Hạnh Các Thánh của Butler không? Các tiểu sử thế tục về một số vĩ nhân đạo đức trong thời chúng ta có làm chúng ta muốn noi gương không? Liệu cuộc đời của một Dag Hammarskjold, cựu Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc có thể là nguồn cảm hứng về đạo đức và đức tin cho chúng ta được không? Liệu ngoài kia có một Têrêxa Hài Đồng Giêsu mới không? Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần những câu chuyện hứng khởi về những người nam, người nữ, cả già và trẻ, đã sống trọn đức hạnh anh hùng. Chúng ta cần những mẫu gương đạo đức, những cố vấn về đạo đức. Nếu không, chúng ta chỉ đang tự lừa mình khi đồng nhất tối giản hóa sự duyên dáng của con người với đức hạnh.

J.B. Thái Hòa dịch

Khăn keffiyeh biểu tượng của Palestina đã được lấy khỏi máng cỏ ở Vatican

Khăn keffiyeh biểu tượng của Palestina đã được lấy khỏi máng cỏ ở Vatican

catholicherald.co.uk, Elise Ann Allen, 2024-12-11

Chiếc khăn keffiyeh trải trên máng cỏ ở Hội trường Phaolô VI đã được lấy đi, chiếc khăn này là biểu tượng gây nhiều tranh cãi của Palestina.

Ngày 7 tháng 12 khi máng cỏ được chưng tại Hội trường Phaolô VI với tượng Chúa Giêsu nằm trên chiếc khăn keffiyeh, chiếc khăn thường được người Palestina quấn trên đầu như chiếc mũ truyền thống đã làm cho nhiều người nghĩ đây là một tuyên bố chính trị của người Palestina, họ được Tòa Thánh ủng hộ. Chiếc khăn keffiyeh được xem là biểu tượng ủng hộ Palestina.

Máng cỏ được hai nghệ sĩ của Đại học Dar al-Kalima, Bêlem thiết kế, được xem như một “đồng ý sâu sắc với cuộc đấu tranh của người Palestina” nhưng đã bị các cộng đồng Israel và Do Thái chỉ trích mãnh liệt.

Phản ứng dữ dội bắt đầu sau khi Đức Phanxicô gặp các ân nhân đóng góp để cây Giáng sinh và Máng cỏ được dựng lên ở Quảng trường Thánh Phêrô.

Trong buổi tiếp kiến ngày thứ bảy 7 tháng 12, ngài kêu gọi chấm dứt chiến tranh và xung đột, ngài xin mọi người nhớ đến các anh chị em ở Bêlem và những nơi khác đang ở trong tình trạng chiến tranh: “Chiến tranh đã đủ rồi, bạo lực đã đủ rồi! Việc mua bán vũ khí là trục lợi để giết người.”

Các nghệ sĩ Palestina Johny Andonia và Faten Nastas Mitwasi làm máng cỏ từ những cây ô liu của Đất Thánh. Ủy ban cấp cao về các vấn đề Giáo hội ở Palestina, một thực thể của Tổ chức Giải phóng Palestina, Đại sứ quán Palestina tại Tòa thánh và một số tổ chức địa phương khác ở Bêlem tài trợ việc làm máng cỏ.

Ông Ramzi Khouri, thành viên ủy ban điều hành của Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) gởi đến Tổng thống Palestina Mahmoud Abbas lời chào nồng nhiệt và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của ông với giáo hoàng Phanxicô, ngài đã không ngừng ủng hộ chính nghĩa của người Palestina, nỗ lực không mệt mỏi của người dân nhằm chấm dứt chiến tranh ở Gaza và thúc đẩy công lý. Kể từ cuộc chiến bùng nổ sau cuộc tấn công ngày 7 tháng 10 năm 2023 của phiến quân Hamas vào Israel, làm cho khoảng 1.200 người thiệt mạng và hơn 250 người khác bị bắt làm con tin, rất nhiều lần Đức Phanxicô lên án cuộc chiến ở Gaza.

Cho đến nay, bạo lực sau cuộc phản công của Israel đã làm cho hơn 40.000 người thiệt mạng và gây thiệt hại lớn cho cơ sở hạ tầng của Gaza, bao gồm hệ thống y tế, trong khi khả năng tiếp cận viện trợ nhân đạo vẫn còn hạn chế.

Giáo hoàng gọi cuộc chiến là “vô đạo đức” và các nhân vật hàng đầu của ngài đã đặt câu hỏi về sự trả đũa của Israel vì phản ứng quân sự của Israel không tương xứng.

Tháng trước, những đoạn trích từ quyển sách phỏng vấn Đức Phanxicô sắp được báo La Stampa xuất bản, trong đó Đức Phanxicô gọi cuộc chiến ở Gaza là “cuộc diệt chủng”. Ngài kêu gọi một cuộc điều tra để xác định liệu các hành động của Israel ở Gaza có thể xem là diệt chủng hay không. Tháng 11, Ủy ban Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc tuyên bố họ đã ra phán quyết các hành động của Israel ở Gaza là phù hợp với tội diệt chủng.

Đức Phanxicô đã gặp gia đình các con tin Israel và liên tục kêu gọi thả các con tin ngay lập tức, ngài cũng chỉ trích các cuộc không kích của Israel vào Lebanon, gọi chúng là “trái với đạo đức”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Vì sao Đức Phanxicô cầu nguyện trước máng cỏ Chúa Giêsu nằm trên khăn keffieh, biểu tượng của Palestina

Máng cỏ keffiyeh của người Palestina là chủ đề bàn tán ở Rôma

“Phục vụ người nghèo là con đường duy nhất để thành người tín hữu kitô”

“Phục vụ người nghèo là con đường duy nhất để thành người tín hữu kitô”

la-croix.com, Jean de Saint-Cheron, nhà văn, phụ trách chuyên mục của nhật báo La Croix, 2024-11-18

Cơ quan Cứu trợ Công giáo Pháp vừa công bố báo cáo thường niên về tình trạng nghèo đói với những dữ liệu đáng báo động, nhà văn Jean de Saint-Cheron nhắc chúng ta về tầm quan trọng của việc hướng về người khác. Ông tin đây là cách duy nhất để trở thành người tín hữu kitô thực sự: giúp đỡ những người thiếu thốn nhất, đó là việc khẩn cấp phải làm.

Mỗi buổi sáng trước khi đạp xe đạp đi làm tôi đều mang găng tay. Mỗi buổi tối về nhà kiểm thùng thư, tôi đều thấy vài thư nhắc nhở của các Cơ quan Từ thiện, từ Cơ quan Cứu trợ Công giáo Pháp, Mẫu bánh mì cho người nghèo đến Hội Anh em người nghèo… Cái lạnh đã về, vừa thắt chặt trái tim vừa bắt tôi phải rút hầu bao! Nghĩ đến người phụ nữ tôi gặp hàng ngày trong chiếc túi ngủ, nghĩ đến Patrick, người pha trò ngoài công viên, anh sẽ ngủ ngoài trời hôm nay, nghĩ đến những người khác cùng hoàn cảnh, lòng tôi se lại.

Chúng ta thường tự an ủi: “Việc này có Nhà nước lo! Chúng ta không thể mang tất cả đau khổ của nhân loại vào lòng!” nhưng truyền thống bác ái và toàn bộ Tin Mừng lại nhắc chúng ta một chuyện khác. Vào ngày cuối cùng, chúng ta sẽ bị người nghèo trong lịch sử phán xét. Chúa Giêsu đã nói, Tin Mừng và mọi Truyền thống đều dạy chúng ta đừng bao giờ rời mắt khỏi người anh em trần trụi, xa lạ, đói khát.

Người nghèo và Giáo hội

Vì vậy, phục vụ người nghèo không phải là cách để trở thành người tín hữu kitô nhưng là cách duy nhất để trở thành. Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo nói rõ: “Thiên Chúa chúc lành cho những ai đến giúp đỡ người nghèo và khiển trách những ai quay lưng với họ. (…) Tình yêu cho người nghèo là một trong những lý do buộc chúng ta phải làm việc, để có thể làm điều tốt bằng cách giúp đỡ người túng thiếu” (Êp 4:28). Thánh Gioan Chrysostom nhấn mạnh: “Không cho người nghèo, không chia của cải của mình cho họ là cướp của họ và tước đoạt mạng sống của họ. Chúng ta nắm giữ không phải của cải của chúng ta, nhưng của cải của họ.” Thánh Grêgôriô Cả nhắc: “Khi chúng ta cho người nghèo những thứ thiết yếu, chúng ta không rộng lượng cho họ của cải của mình, chúng ta trả lại cho họ những gì của họ. Chúng ta làm nghĩa vụ công lý nhiều hơn là làm bác ái.” Việc cứu rỗi thế giới và an ủi người nghèo không có con đường nào khác ngoài con đường công lý và bác ái.

Linh mục François Odinet, tuyên úy Cơ quan Cứu trợ Công giáo nói: “Người nghèo nắm giữ một quyền lực trong Giáo hội, điều này thật nghịch lý nhưng theo một nghĩa nào đó chúng ta không thể tranh cãi được, giống như Vương quốc Thiên Chúa đã ở đó rồi, ở giữa chúng ta và chúng ta không thấy. Nhưng niềm tin Nước Trời đang đến, đến qua những kẽ hở vẫn tồn tại bất chấp việc sử dụng quyền lực của con người, có thể nuôi dưỡng niềm hy vọng cho chúng ta, vì sự sáng tạo của các môn đệ Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần khơi dậy, mời gọi chúng ta xem sứ mệnh của Giáo hội, không chỉ là việc loan báo một thông điệp, mà còn là trải nghiệm thực sự của con người, vừa cá nhân vừa mang tính quan hệ và xã hội.”

Hãy nắm bắt cơ hội để giúp đỡ

Với những ai muốn cứu một nền văn minh phương Tây bị khô héo và thường là hoang tưởng theo một cách khác thì những lời của bà Cristina Campo có một tác động mạnh: “Với tôi, văn minh Phương Tây dường như không còn là văn minh nữa, nó không còn những đặc điểm tạo nên một nền văn minh. Một nền văn minh phải được truyền tải bằng tình yêu.” Nếu có một nơi mà người tín hữu kitô phải là dấu hiệu của sự mâu thuẫn cũng như sự hiệp thông, thì đó là tình yêu và phục vụ người nghèo.

Mỗi người có nhiệm vụ phải mở lòng ra với nỗi đau của người khác, nỗi đau làm chúng ta băn khoăn, nỗi đau đôi khi làm chúng ta không muốn nhìn thấy. Những đợt sương giá đầu tiên sẽ là dịp để chúng ta giúp giáo xứ, giáo phận.

Marta An Nguyễn dịch

Vì sao Đức Phanxicô cầu nguyện trước máng cỏ Chúa Giêsu nằm trên khăn keffieh, biểu tượng của Palestina

Vì sao Đức Phanxicô cầu nguyện trước máng cỏ Chúa Giêsu nằm trên khăn keffieh, biểu tượng của Palestina

la-croix.com, Mikael Corre, đặc phái viên thường trực tại Rôma, 2024-12-09

Ngày thứ bảy 7 tháng 12, Đức Phanxicô khánh thành máng cỏ tại Vatican, trước khi ngài đến, một thành viên của phái đoàn Palestina đã đặt tấm khăn keffieh màu đen và trắng, biểu tượng của người Palestina.

Máng cỏ năm nay được các nghệ sĩ Palestina gốc Bêlem làm tặng. ANDREAS SOLARO / AFP

Đây không phải là lần đầu tiên Lễ Giáng sinh nối kết Chúa Giêsu ra đời với các trẻ em nạn nhân của chiến tranh hoặc di cư. Nhưng ngày thứ bảy 7 tháng 12, hình ảnh Đức Phanxicô ngồi xe lăn trước máng cỏ Chúa Giêsu nằm trên chiếc khăn keffiyeh – chiếc khăn đen trắng dùng che đầu đã trở thành biểu tượng đấu tranh của người Palestina – đã tạo nhiều phản ứng ngược nhau trên mạng xã hội.

Tối thứ bảy 7 tháng 12, vài giờ trước lễ khánh thành máng cỏ truyền thống, cây thông cao 29 mét được dựng lên ở Quảng trường Thánh Phêrô, với cảnh Chúa giáng sinh lấy cảm hứng từ những ngôi nhà của ngư dân Ý, một tác phẩm bằng gỗ cao khoảng 3 mét, có đế hình tròn của các nghệ sĩ Palestina Johny Andonia và Faten Nastas Mitwasi đến từ Bêlem làm.

Ban đầu không có khăn keffiyeh

Đức Phanxicô lên tiếng trước các phái đoàn Ý và Palestina: “Chúng ta ngắm nhìn các máng cỏ Bêlem được dựng trên đất Chúa Giêsu sinh ra. Anh chị em thân mến, chiến tranh, bạo lực đã nhiều quá rồi! Anh chị em đã biết, đầu tư sinh lợi nhất là sản xuất vũ khí, lợi nhuận từ việc giết người… Nhưng làm sao điều này lại có thể xảy ra? Chiến tranh như thế là đủ rồi!”

Ban đầu, máng cỏ không có khăn keffieh như trong các bức hình đầu tiên chụp tại Hội trường Phaolô VI ngày thứ bảy. Chiếc khăn đen trắng được một thành viên của phái đoàn Palestina đặt lên trước khi Đức Phanxicô đến.

Trong một tuyên bố bằng tiếng Ả Rập, Tổ chức Giải phóng Palestina (PLO) cho biết, máng cỏ được Đại sứ quán Palestina tại Tòa Thánh, một số cơ sở kitô giáo ở Bê lem như Trung tâm Piccirillo của Quỹ Gioan-Phaolô II giúp đỡ người khuyết tật, Tổ chức Giải phóng Palestina (PLO) tài trợ để làm.

Chủ tịch Ủy ban, Tiến sĩ Ramzi Khoury cùng với phái đoàn có mặt tại Vatican trong lễ khánh thành máng cỏ. Theo thông cáo báo chí của Tổ chức Giải phóng Palestina, ông đã chuyển đến Đức Phanxicô lời chào mừng của Tổng thống Chính quyền Palestina Mahmoud Abbas, “hoan nghênh nỗ lực của Đức Phanxicô nhằm chấm dứt chiến tranh ở Dải Gaza và việc ngài tiếp tục ủng hộ người dân Palestina và chính nghĩa của họ”.

Hiệp định Giáng sinh

Khi triều Đức Phanxicô bắt đầu, từ năm 2015 Vatican chính thức công nhận nhà nước Palestina. Kể từ thỏa thuận được ký năm 2000, Tòa Thánh duy trì quan hệ song phương với Tổ chức Giải phóng Palestina. Từ ngày 7 tháng 10 năm 2023 khi cuộc tấn công Hamas xảy ra, Đức Phanxicô luôn cố gắng duy trì quan điểm cân bằng, lên án các vụ đánh bom ở Gaza và Lebanon, đồng thời kêu gọi thả ngay lập tức các con tin Israel, ngài đã gặp thân nhân của họ nhiều lần.

Trong quyển sách phỏng vấn phát hành ở Ý, Tây Ban Nha và Châu Mỹ Latinh ngày 19 tháng 11, lần đầu tiên ngài cáo buộc tội diệt chủng liên quan đến các hoạt động của Israel ở Gaza, ngài cho rằng “cần nghiên cứu vấn đề này một cách cẩn thận để xác định xem tình huống có phù hợp với định nghĩa kỹ thuật do các luật gia và tổ chức quốc tế đưa ra hay không”.

Ngày chúa nhật 8 tháng 12, trong giờ Kinh Truyền Tin ngài đưa ra lời kêu gọi “các nhà lãnh đạo và cộng đồng quốc tế ra lệnh ngừng bắn trên tất cả các mặt trận chiến tranh để người dân có thể mừng lễ Giáng sinh”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hình ảnh máng cỏ năm nay tại Vatican.

Hồng y Jean-Paul Vesco: “Có một trước và một sau Giáo hoàng Phanxicô”

Hồng y Jean-Paul Vesco: “Có một trước và một sau Giáo hoàng Phanxicô”

cath.ch, I.Media, 2024-12-08

Hồng y Jean-Paul Vesco khi còn là Giám mục giáo phận Oran trước chân dung của Chân phước Pierre Claverie | © Bernard Hallet

Tổng giám mục Pháp Jean-Paul Vesco, 62 tuổi, người theo đường lối của Giáo hoàng Phanxicô, được phong hồng y trong Công nghị ngày 8 tháng 12 năm 2024. Là cựu luật sư, ngài vào Dòng Đa Minh khi 33 tuổi. Ngài giải thích ngài nhận chức hồng y “với tư cách là người công dân Algeria”.

Trả lời phỏng vấn của Hãng tin I.Media, ngài cho biết ngài bị sốc khi nghe tin vì như thế ngài có trách nhiệm bầu chọn giáo hoàng tương lai. Ngài phân tích các lý do có thể thúc đẩy Đức Phanxicô chọn ngài, một mục tử đứng đầu một Giáo hội nhỏ ở vùng đất hồi giáo. Trong thâm tâm, ngài không giấu sự ngưỡng mộ của mình với giáo hoàng Argentina, người mong muốn cải cách quản lý Giáo hội bằng cách thúc đẩy vai trò của giáo dân và phụ nữ.

Cha phản ứng như thế nào khi biết quyết định của Đức Phanxicô phong cha làm hồng y?

Hồng y Jean-Paul Vesco: Tôi sẽ không độc đáo cho lắm khi tôi nói tôi hoàn toàn bất ngờ, nhưng đó là cú sốc của tôi. Tôi nghe tin khi tôi đang lái xe đi làm lễ. Một nhà báo Vatican News gọi điện thoại hỏi phản ứng của tôi… Ông nói Giáo hoàng vừa đọc tên tôi trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật 8 tháng 12.

Tôi có cảm giác có điều gì đó rất sâu đậm đang nhói lên trong lòng, một đổi mới, một cảm giác mình là một sáng tạo mới. Khi tôi gọi điện thoại báo tin cho người mẹ thân yêu của tôi, bà nói: “Mẹ cũng có cảm xúc giống như khi con vào chủng viện”. Khi đó tôi hiểu từ ngữ “phong hồng y” có vẻ đã lỗi thời, thực ra không phải vậy. Tôi có cơ hội để làm điều gì đó mới mẻ. Tôi không muốn bỏ lỡ.

Cha đã được Chính quyền Algeria chúc mừng?

Tôi đã được Tổng thống Cộng hòa tiếp, đó là dấu chỉ của một sự công nhận lớn lao. Dĩ nhiên phải mất thời gian để mọi người nhận thức được ý nghĩa của việc đề cử này và đó là điều bình thường: Rôma không phải là trung tâm của thế giới. Đây cũng chính là ý nghĩa việc tôi được đề cử! Có một nhận thức sâu sắc nơi Đức Phanxicô rằng Rôma không được là cái rốn của vũ trụ.

Nhưng bây giờ mọi thứ đã trở nên lớn hơn. Hồng y đoàn Algeria muốn nhắc đến hình ảnh của Hồng y Léon-Etienne Duval (1903-1996). Điều này đánh thức điều gì đó trong ký ức tập thể của người dân Algeria.

Tổng thống Cộng hòa Abdelmadjid Tebboune đã lên kế hoạch đi thăm Đức Phanxicô tháng 11 năm 2023. Cuộc tấn công ngày 7 tháng 10 đã làm gián đoạn mọi việc và kế hoạch đã bị hủy bỏ. Tôi hy vọng sẽ có cơ hội lại.

Cha cảm thấy cha là Tổng giám mục Algeria, là người Pháp hay người Địa Trung Hải?

Algeria! Tôi sinh ra là người Pháp nhưng với tư cách là người Algeria, tôi nhận chức hồng y này. Tôi được biết Đức Phanxicô đã nói: “Bây giờ chúng ta phải có một Hồng y người Algeria.” Đó là cách nên được giải thích, không chỉ là lời nói: Tôi có quốc tịch Algeria. Điều này rất quan trọng vì chức hồng y này là một vinh dự cho nhiều người dân Algeria.

“Người ta kể cho tôi nghe Đức Phanxicô đã nói: ‘Bây giờ chúng ta có một hồng y người Algeria’.”

Cha nghĩ gì khi một ngày nào đó cha dự mật nghị?

Tin này tạo một phản ứng tê điếng trong lòng tôi. Tất cả chúng ta đều mang hình ảnh các hồng y bước vào Nhà nguyện Sixtine… Có điều gì đó hơi điên rồ khi tôi nghĩ tôi sẽ ở trong nghi thức này.

Nhưng sau cú sốc to lớn – và tích cực – của tin này là câu hỏi “để làm gì” xuất hiện. Câu hỏi này tôi đặt ra vì tôi không biết gì: ngài mong chờ gì ở tôi? Câu hỏi này làm tôi băn khoăn và tôi cũng hỏi Chúa. Tôi còn lâu mới là người giỏi nhất và tôi không thể xem đề cử này như một phần thưởng, đây không phải lúc! Tôi đã bỏ nghề luật sư để vào Dòng Đa Minh như một tập sinh, tôi từ bỏ mọi kế hoạch nghề nghiệp. Và bây giờ tôi gần như bất ngờ thấy mình là bề trên Tỉnh Dòng. Tôi cũng có cảm giác ngạc nhiên như khi tôi được bổ nhiệm làm giám mục Oran, rồi tổng giám mục Alger…

Hôm nay, tôi được tấn phong hồng y trong khi Hội đồng Giám mục chúng tôi chỉ có 10 giám mục và đã có một hồng y… Có phải Đức Phanxicô nghĩ rằng nên có một hồng y thứ hai cho khu vực của chúng tôi không! Chúa mong chờ gì ở tôi trong tất cả những chuyện này?

Trong thánh lễ Tạ ơn, Linh mục Jean-Jacques Pérennès (phải) dâng áo của Chân phước Pierre Claverie cho Giám mục Jean-Paul Vesco. | © Bernard Hallet

Mối quan hệ của cha với Đức Phanxicô như thế nào?

Nếu ông nói mối quan hệ cá nhân thì gần như không có! Trước khi có thông báo, tôi chưa bao giờ gặp trực tiếp ngài. Mối quan hệ của tôi với ngài tóm tắt qua vài cuộc gặp thoáng qua: tôi tham gia Thượng Hội đồng về Gia đình ở Rôma năm 2015; trong buổi tiếp kiến của ngài với Tổng giám mục Alger năm 2017 khi tôi còn làm Giám mục Oran và chúng tôi chuẩn bị phong 19 chân phước Algeria; buổi nhận dây Pallium của tôi – một buổi lễ chúng tôi gần như không nói gì với nhau; một hội nghị Caritas có 300 người tham dự và ở Marseille năm 2023, nơi tôi bắt tay ngài như tất cả các giám mục khác. Và đó là tất cả…!

Vì thế mối quan hệ của tôi với ngài trên hết là thiêng liêng. Tôi chia sẻ dự án ngài làm cho Giáo hội. Đức Gioan-Phaolô II là giáo hoàng thời tuổi trẻ của tôi, Đức Bênêđíctô là người phong tôi làm giám mục và Đức Phanxicô là người ở giai đoạn trưởng thành của tôi.

“Vì vậy, mối quan hệ của tôi với Đức Phanxicô trên hết là thiêng liêng.”

Hướng dẫn mục vụ chính của cha cho giáo phận là gì?

Khi tôi là Giám mục giáo phận Oran, tôi chọn phương châm mà hai nữ tu da trắng đã tự đặt ra trong những năm tháng khó khăn: “Tôi muốn sống và làm cho mọi người cũng muốn sống”. Tôi mong muốn Giáo hội Oran nhỏ bé này “sống và làm cho mọi người cũng muốn sống.”

Khi đến Alger, lòng tôi tràn ngập lời Thánh Gioan: “Lạy Cha, những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai”. Nhiệm vụ của tôi ở đây là chăm sóc mọi người. Đó là dự án mục vụ to lớn để chăm sóc từng người đã được rửa tội, từng người tôi gặp, dù họ là tín hữu kitô hay không. Để áp dụng con đường này, tôi muốn sống một Giáo hội có tính đồng nghị hơn, như thế có sự tham gia của giáo dân nhiều hơn, dù trên thực tế giáo dân là trụ cột của Giáo hội nhưng các linh mục, tu sĩ nam nữ là thành phần chủ yếu của Giáo hội.

Cha có hai phương châm, huy hiệu của cha là gì?

Giống như Chân phước Pierre Claverie, hay Tổng giám mục Henri Teissier, cựu tổng giám mục Alger, tôi không chọn quốc huy vì với tôi nó tượng trưng cho dấu hiệu của sự cao quý. Là giám mục không phải là để bước vào chức vụ cao hơn. Danh hiệu cao quý của tôi là trở thành người anh em và xứng đáng như người anh em. Mặt khác, tôi thích phương châm vì phương châm được chia sẻ và mang lại sự sống.

Cha đề cập đến tính đồng nghị. Cha có đồng ý với những chỉ dẫn của Thượng Hội đồng không?

Tôi đồng ý, Thượng Hội đồng này đã ở với tôi từ lâu rồi. Chúng tôi thấy đã có sự đồng thuận rộng rãi và điều này xác nhận phương pháp cũng như lộ trình đã thực hiện. Chúng tôi đang hướng tới trách nhiệm giải trình cao hơn với giáo dân và tìm sự đồng thuận thay vì có các quyết định độc đoán. Theo tôi, một trong những bài học lớn của Thượng Hội đồng là lên án bất kỳ một khả năng nào để có một công đồng mới theo mô hình Vatican II. Ngày nay, một Thượng Hội đồng chỉ gồm các giám mục sẽ không còn tồn tại nữa.

Tổng giám mục Jean-Paul Vesco, giáo phận Oran, Algeria tháng 10 năm 2015, trong Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình | © Bernard Hallet

Câu hỏi về vị trí và vai trò của phụ nữ trong Giáo hội là một trong những chủ đề tranh luận chính. Cha có mong chờ một cái gì mạnh mẽ hơn không?

Tôi không phải là một trong những người mong chờ Thượng Hội đồng đưa ra quyết định quan trọng về một chủ đề cụ thể. Nhưng có một thay đổi văn hóa đã diễn ra, một đột biến, giống như một Công đồng Vatican III.

Tôi ở Rôma để thăm các cơ quan trong chuyến đi ad limina với các giám mục trong vùng của tôi, tôi rất xúc động trước sự hiện diện của phụ nữ ở các chức vụ có trách nhiệm cao (thư ký dưới quyền, thứ trưởng…). Giáo hội sẽ không thể hoạt động được nếu không có sự bổ sung cho nhau giữa nam và nữ.

Cha đã có tiếng nói mạnh trong Thượng Hội đồng về Gia đình năm 2015, đặc biệt trong việc hỗ trợ những người ly dị và tái hôn. Cách giải quyết các chủ đề nhạy cảm trong Giáo hội có thay đổi sau 10 năm triều Đức Phanxicô không?

Tôi nghĩ văn hóa đồng nghị đang lan rộng và Thượng Hội đồng về Gia đình đã đánh dấu một bước ngoặt. Đây là lần đầu tiên các câu hỏi được đặt ra cho các giáo dân đã được rửa tội. Từ đó mọi việc được tiến triển nhanh: bây giờ giáo dân nam cũng như nữ có quyền bỏ phiếu trong Thượng Hội đồng. Chúng ta nhận ra, trong Giáo hội cũng như trên thế giới, chúng ta càng chia sẻ trách nhiệm bao nhiêu thì chúng ta càng thấy có nhiều điều để chia sẻ bấy nhiêu. Theo tôi, rõ ràng là có một trước và một sau “Giáo hoàng Phanxicô”. Chúng ta sẽ không quay trở lại như trước bất kể ai là người kế nhiệm ngài.

Hồng y Angelo Becciu chủ trì lễ phong chân phước cho bàn thờ kabile của các tu sĩ Tibhirine. Tổng giám mục Jean-Paul Vesco đứng thứ 2 từ trái sang | © B. Hallet

Mười chín vị chân phước và tử đạo của Algeria đã được phong chân phước cách đây sáu năm và Đức Phanxicô có thể sớm phong thánh cho họ không?

Đức Phanxicô đã công nhận sự tử đạo của 19 chân phước này. Điều này không hiển nhiên, chẳng hạn Chân phước Charles de Foucauld không được công nhận là tử đạo dù ngài bị giết một cách dã man… Hơn nữa, 19 chân phước bị ám sát trong bối cảnh nội chiến làm cho  200.000 người chết – trong đó có khoảng một trăm giáo sĩ hồi giáo. Họ có chết trong sự căm ghét đức tin không? Điều này không hoàn toàn rõ ràng. Nhưng việc công nhận tử đạo miễn cho họ khỏi cần phép lạ để được phong chân phước.

Để phong thánh, giáo hoàng có thể làm bất cứ điều gì, kể cả việc miễn cho họ một lần nữa khỏi nhu cầu về một phép lạ được công nhận. Nhưng cá nhân, tôi sẽ không ước điều đó! Tôi mong chúng ta  chờ một phép lạ như một dấu chỉ. Tôi cảm thấy dấu chỉ đang hiện diện và hoạt động. Tôi muốn điều này được nhìn thấy!

Luật sư kinh doanh rồi đi tu

Sinh ngày 10 tháng 3 năm 1962 tại Lyon, thân phụ của ngài là nhà đại lý bảo hiểm và mẹ là y tá. Ngài có bằng thạc sĩ luật kinh doanh và thạc sĩ quản trị kinh doanh tại Trường Cao đẳng Hành chánh. Ngài hành nghề luật sư kinh doanh ở Paris từ năm 1989 đến năm 1995. Xúc động trước ơn gọi sau khi tham dự một thánh lễ truyền chức năm 1994, ngài vào Dòng Đa Minh, ngài khấn tạm ngày 14 tháng 9 năm 1996 và ba năm sau ngài khấn trọn. Sau khi có bằng giáo luật về thần học của phân khoa Công giáo Lyon, ngài chịu chức ngày 24 tháng 6 năm 2001 và là tu sĩ Dòng Đa Minh.

Tổng giám mục Jean-Paul Vesco định cư ở Tlemcen, giáo phận Oran, Algeria, ngài đáp lại lời kêu gọi xây dựng Dòng Đa Minh sáu năm sau vụ ám sát Chân phước Pierre Claverie. Năm 2005, ngài làm Tổng Đại diện giáo phận Oran. Ngài trở về Pháp sau khi được bổ nhiệm làm Giám tỉnh và sau đó được Đức Bênêđíctô XVI bổ nhiệm làm Giám mục giáo phận Oran năm 2012. Khẩu hiệu giám mục của ngài là: “Tôi muốn sống và làm cho mọi người muốn sống.”

Ngày 27 tháng 12 năm 2021, Đức Phanxicô bổ nhiệm ngài làm Tổng giám mục Alger thay thế Tổng giám mục Paul Desfarges về hưu. Ngài được tấn phong ngày 11 tháng 2 năm 2022 tại Nhà thờ Thánh Tâm ở Alger. Kể từ khi được bổ nhiệm làm người đứng đầu Tổng Giáo phận Alger, ngài đã giữ chức vụ Tông tòa của giáo phận Oran trong thời gian trống tòa. Ngài nhập tịch tháng 2 năm 2023 theo sắc lệnh tổng thống của Tổng thống Cộng hòa Abdelmadjid Tebboune.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô xuất hiện với vết bầm ở cằm trong công nghị phong Hồng y ngày 7 tháng 12-2024

Đức Phanxicô xuất hiện với vết bầm ở cằm trong công nghị phong Hồng y ngày 7 tháng 12-2024

Journaldemontreal.com, AFP, 2024-12-07

Ngày 7 tháng 12, trong công nghị phong 21 hồng y, Đức Phanxicô xuất hiện với chiếc cằm bị bầm. Các hồng y này một ngày nào đó sẽ bầu người kế vị, phản ánh một Giáo hội toàn cầu hóa luôn hướng về miền Nam hơn bao giờ hết.

Với giọng nói khó thở, ngài xuất hiện với một khối máu tụ lớn ở dưới cằm được quấn băng. Theo các nguồn tin của Vatican, ngày thứ sáu 6 tháng 12, ngài bị té khi ra khỏi giường nhưng tin này chưa được Vatican thông báo chính thức.

Với “công nghị bình thường” lần thứ 10 kể từ đầu triều, trong vài ngày sắp tới Đức Phanxicô sẽ 88 tuổi, ngài tiếp tục củng cố di sản và định hình Hồng y đoàn theo hình ảnh của ngài. Cho đến nay ngài đã chọn hơn 78% trong số 140 “hồng y cử tri”, các hồng y dưới 80 tuổi sẽ dự mật nghị tiếp theo, mật nghị phải có đa số 2/3 để bầu giáo hoàng.

Công nghị bắt đầu chiều thứ bảy 7 tháng 12 tại Đền thờ Thánh Phêrô huy hoàng, cùng ngày Nhà thờ Đức Bà Paris mở cửa lại và Đức Phanxicô đã từ chối lời mời tham dự.

Như thường lệ, các “Giám mục hoàng tử Giáo hội” lần lượt quỳ xuống trước mặt ngài để nhận chiếc mũ đỏ tứ giác và nhẫn hồng y. Đức Phanxicô nói lời khuyến khích: “Tiến lên!”

Kể từ đầu triều, Đức Phanxicô luôn nhấn mạnh đến các giáo phận xa xôi, nơi ngài thường gọi là “vùng ngoại vi”, những nơi người công giáo là thiểu số, ngài muốn xóa thói quen phân biệt hệ thống các giám mục ở các giáo phận nhỏ với các giám mục ở các giáo phận lớn như Milan hay Paris.

Trong số các tân hồng y có 5 giám mục đến từ Châu Mỹ Latinh (Ecuador, Chi-lê, Brazil, Peru, Argentina), nhưng chỉ có 2 giám mục đến từ Châu Phi (Abidjan, Bờ Biển Ngà và Algers ở Algeria). Tổng giám mục Dominique Joseph Mathieu người Bỉ, giáo phận Tehran-Isfahan Châu Á-Thái Bình Dương, vùng được mở rộng nhiều nhất trong thập kỷ qua, Tổng giám mục Tokyo, Tổng giám mục cộng đồng Ukraine của Melbourne (Úc) Châu Á-Thái Bình Dương đại diện đến dự.

Trong bài phát biểu, ngài nói: “Anh em có lịch sử khác nhau, đến từ các nền văn hóa đa dạng và đại diện cho tính công giáo của Giáo hội, Chúa mời gọi anh em làm chứng cho tình huynh đệ, là nghệ nhân hiệp thông và người xây dựng sự hiệp nhất.”

Tổng giám mục Jean-Paul Vesco 62 tuổi cho biết: “Hồng y đoàn thể hiện sự đa dạng phong phú, về mặt địa lý và xã hội học, một dấu hiệu tích cực nhưng với điều kiện phải củng cố tính hợp đoàn.”

Đức Phanxicô thường lên án “tính thời thượng tâm linh”, ngài cố gắng loại bỏ thói sùng bái bề ngoài giới thượng lưu Giáo hội, cảnh báo các hồng y về nguy cơ để “bị lóa mắt bởi sự thu hút của uy quyền, của quyến rũ quyền lực”.

Việc lựa chọn hồng y hoàn toàn thuộc quyền người đứng đầu Giáo hội Công giáo, người lựa chọn họ theo tiêu chuẩn lựa chọn và ưu tiên của mình.

Nhiệm vụ của các Hồng y là hỗ trợ Giáo hoàng trong chính quyền trung ương của Giáo hội. Một số sống ở Rôma và có các chức vụ trong Giáo triều (cơ quan điều hành Vatican) nhưng hầu hết đều phục vụ trong giáo phận quê hương của họ.

Việc bổ nhiệm các hồng y được các nhà quan sát xem xét kỹ lưỡng, họ xem đây là dấu hiệu để thấy nhà lãnh đạo tương lai của Giáo hội Công giáo và của 1,4 tỷ tín hữu là người như thế nào.

Đặc biệt là kể từ khi ngài để “cánh cửa mở” cho việc từ nhiệm như Đức Bênêđíctô XVI đã làm nếu sức khỏe suy giảm biện minh cho việc từ nhiệm.

Nhạy cảm với một Giáo hội tại chỗ và tách rời khỏi chính mình, Đức Phanxicô tìm cách thăng tiến hàng giáo sĩ của các nước đang phát triển lên hàng ngũ cao nhất của Giáo hội.

Nhưng việc bầu chọn một giáo hoàng luôn không thể đoán trước được và một số hồng y do Đức Phanxicô bổ nhiệm không phải lúc nào cũng chia sẻ ý tưởng của ngài, hoặc công khai có quan điểm chống lại ngài.

Cũng có các quan sát viên nghĩ rằng, tính đa dạng lớn lao của  các hồng y, những người không biết rõ nhau, ít gặp nhau sẽ làm cho mật nghị phải tìm thỏa hiệp với một nhân vật mạnh mẽ và cân đối, tạo uy tín cho niềm tin tập thể.

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất