Tám phụ nữ trong Thông điệp Nhân loại tuyệt vời của Đức Lêô
globalcatholic.com, Debora Flock, 2026-06-16
Hình ảnh được được tô màu bằng AI: Dorothy Day, Marie Curie, Mẹ Têrêxa, Benazir Bhutto, Wangari Maathai, Laura Montoya, Elisabeth Elliot và Maria Montessori.
Trong Thông điệp Nhân loại tuyệt vời, Đức Lêô nêu tám phụ nữ trong các lãnh vực đức tin, khoa học, giáo dục và chính trị, những người có cuộc sống minh chứng cho lòng can đảm, phục vụ và phẩm giá con người có thể biến đổi xã hội như thế nào.
Trọng tâm Thông điệp Nhân loại tuyệt vời Magnifica Humanitas là bảo vệ con người trong thời Trí tuệ Nhân tạo.
Ngày thứ hai 25 tháng 5, sau lễ Hiện Xuống, Đức Lêô đích thân trình bày văn kiện này tại Vatican, ngài nêu bật tám phụ nữ như những tấm gương sống về cách đức tin, lòng can đảm và tình yêu tha nhân có thể biến đổi xã hội.
Trong đoạn 124 của chương thứ ba, ngài nhấn mạnh: “Lịch sử có thể thay đổi nếu dù chỉ một người đàn ông hay một phụ nữ thực sự coi trọng phẩm giá của tất cả mọi người.”
Theo ngài, các phụ nữ này thể hiện nhân tính cao cả mà Thiên Chúa đã đặt trong chúng ta – một nhân tính gìn giữ, tỏa sáng phẩm giá, công lý và hy vọng bất chấp những hạn chế và sự phản kháng của xã hội.
Việc họ làm việc trong những lĩnh vực khác nhau – giáo dục, y học, khoa học và chính trị – chứng tỏ sự vĩ đại thực sự không nằm ở quyền lực, không nằm ở việc giữ đạo nhưng ở sự tận tâm với tha nhân.
Ngài nhấn mạnh họ không phải là các nữ anh hùng hoàn hảo, nhưng là những người bình thường với những nghi ngờ, thất bại và đau khổ. Tuy nhiên, chính xác đó là sức mạnh của họ: “Cuộc đời của họ nhắc chúng ta tiến bộ về mặt đạo đức gần như là một hành trình dài và khó khăn, với những trở ngại. Lời chứng của họ cho thấy lòng tốt không tự nhiên mà có, nhưng cần phải kiên trì và ghi nhớ.” (Magnifica Humanitas, Chương 3, Số 125)
Công việc của họ là lời kêu gọi chúng ta không được đánh mất bản chất con người, đặc biệt là trong thời công nghệ, khi hiệu quả được ưu tiên hơn nhu cầu cá nhân. Sự thánh thiện, đức tin, khoa học và chính trị không đối lập nhau, nhưng là con đường để khôi phục nhân loại về sự vĩ đại vốn có của nó.
Trong số tám phụ nữ này có Mẹ Têrêxa, bà Marie Curie và một số nhân vật ít được biết đến ở châu Âu.
Tám phụ nữ này là ai, và điều gì đã làm cho họ là gương mẫu cho xã hội ngày nay?
Mẹ Têrêxa
Mẹ Têrêxa Calcutta (1910-1997) là nhân vật được biết đến nhiều nhất. Sinh ra với tên Anjezë Gonxhe Bojaxhiu ở Albania, khi 18 tuổi Mẹ vào Dòng Nữ tu Loreto.
Trong thời gian truyền giáo ở Ấn Độ, Mẹ trải nghiệm điều Mẹ mô tả là “tiếng gọi trong tiếng gọi”, Mẹ thành lập Dòng Thừa sai Bác ái.
Mẹ Têrêxa (Ảnh: motherteresamovie.com)
Mẹ cảm nhận có một thôi thúc sâu đậm để phục vụ những người nghèo khổ nhất và sống theo phương châm: “Chúng ta không thể làm những việc vĩ đại, chúng ta chỉ có thể làm những việc nhỏ với tình yêu vĩ đại.”
Mẹ và các nữ tu Dòng của Mẹ sống trong cảnh nghèo khó cùng cực, chia sẻ mọi thứ với người nghèo và người bệnh mà họ chăm sóc. Năm 2016, Mẹ được phong thánh trong một quá trình phong thánh nhanh nhất lịch sử Giáo hội.
Trong khi những người ủng hộ nhấn mạnh đến sự tận tâm hoàn toàn của Mẹ với người nghèo khổ nhất và nỗ lực của Mẹ để những người sắp chết không phải chết một mình, thì những người chỉ trích lại cho rằng Mẹ đã lãng mạn hóa sự nghèo khó thay vì giải quyết các nguyên nhân cấu trúc của nó.
Bà Laura Montoya (1874–1949)
Ảnh: Tạp chí Công giáo
Bà Montoya cảm nhận bà được kêu gọi để truyền giáo. Được người mẹ đơn thân nuôi nấng, bà bắt đầu làm việc từ khi còn nhỏ để giúp gia đình.
Sau đó, bà là giáo viên, bà phát triển phương pháp sư phạm dựa trên tình yêu. Thay vì nhấn mạnh kỷ luật và việc học thuộc lòng, bà dạy học với những câu chuyện, bài hát và những hành động bác ái thiết thực.
Năm 1914, bà thành lập Dòng Truyền giáo Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và Thánh Catarina Siêna cùng với sáu người bạn đồng hành. Họ sống giữa các dân tộc bản địa Colombia, học ngôn ngữ và phong tục người bản địa và tìm cách truyền bá đức tin Kitô giáo một cách phù hợp với văn hóa.
Bà Elisabeth Elliot (1926-2015)
Ảnh tư liệu của Elisabeth Elliot – elisabethelliot.org
Sinh ra ở Bỉ và lớn lên ở Hoa Kỳ, là con gái của một mục sư, bà có khiếu ngôn ngữ từ khi còn nhỏ. Bà học tiếng Hy Lạp và thần học để có thể đọc và dịch Kinh Thánh bằng ngôn ngữ gốc.
Năm 1953, bà kết hôn với nhà truyền giáo Jim Elliot và theo ông đến Ecuador. Ở đó, ông bị giết khi truyền giáo cho người Waorani.
Bất chấp thảm kịch, bà ở lại với chính bộ lạc mà các thành viên của họ đã giết chồng bà. Tương truyền khi trở về với bộ tộc Waorani, bà đã ôm những kẻ giết chồng mình. Một trong số họ, Kimo, sau này trở thành bạn thân và giúp bà dịch Kinh Thánh sang tiếng Waorani.
Ngoài việc dịch Kinh Thánh, bà còn viết một số sách về lòng tha thứ và tin tưởng Chúa trong những lúc khó khăn.
Bà Maria Montessori (1870–1952)
Ảnh: montessori-vienna.at
Bà là con của một gia đình học giả giàu có, là một trong những phụ nữ đầu tiên ở Ý theo học ngành y.
Ngày nay, tên tuổi của bà Montessori được biết đến nhiều nhất qua triết lý giáo dục được dùng trong các trường học và nhà trẻ trên toàn thế giới.
Sau khi tốt nghiệp, bà chuyên về tâm thần học, giáo dục và làm việc với trẻ em khuyết tật về trí tuệ. Bà tin trẻ em có bản năng muốn học hỏi và có thể tự học một cách độc lập khi được đặt trong môi trường phù hợp.
Phương pháp Montessori được xây dựng dựa trên nguyên tắc: trẻ em học tập độc lập trong môi trường được chuẩn bị sẵn với sự tự do khám phá.
Năm 1907, bà thành lập Ngôi nhà của Trẻ em – Casa dei Bambini ở Rôma dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và chậm phát triển. Ngày nay có hơn 20.000 trường Montessori đang hoạt động trên toàn thế giới.
Bà Marie Curie (1867–1934)
Tên khai sinh của bà là Maria Salomea Skłodowska, bà học vật lý và toán học ở Paris vì phụ nữ không được phép học đại học ở Ba Lan thời Ba Lan bị Nga chiếm đóng.
Năm 1895, bà kết hôn với ông Pierre Curie. Qua nghiên cứu của họ, bà khám phá và nghiên cứu về phóng xạ năm 1898.
Sau đó, cùng với Hội Phụ nữ Pháp, bà đã giúp phát triển các thiết bị chụp X-quang di động để dùng trong Thế chiến thứ nhất.
Công việc của bà với các vật liệu phóng xạ đã làm cho bà qua đời vì bệnh bạch cầu.
Cho đến ngày nay, bà vẫn là người duy nhất nhận được giải Nobel ở hai bộ môn: Vật lý (1903) và Hóa học (1911).
Bà tiếp tục truyền cảm hứng cho phụ nữ trong khoa học và là biểu tượng của sự quyết tâm và kiên trì.
Bà Dorothy Day
Ảnh: franciscan.edu
Dorothy Day (1897–1980) không sống cuộc đời của một vị thánh truyền thống, bà là nhà hoạt động xã hội.
Sinh ra ở Brooklyn, bà làm nhà báo và viết cho các báo xã hội chủ nghĩa như The Call. Trước khi trở lại đạo công giáo, và sau khi sinh con gái Tamara, bà đã sống cuộc đời không theo khuôn phép, bà có nhiều mối quan hệ và một lần phá thai.
Năm 1927, bà vào Giáo hội Công giáo, bà gặp ông Peter Maurin. Cùng nhau, họ thành lập Phong trào Công nhân Công giáo năm 1930.
Phong trào thúc đẩy công bằng xã hội và bất bạo động, đồng thời thành lập các nhà tạm trú cho người vô gia cư và thất nghiệp ở New York.
Bà là người tham gia nổi bật trong các cuộc biểu tình vì quyền lợi người lao động, bình đẳng chủng tộc và hòa bình. Bà bị bắt nhiều lần, trong các cuộc biểu tình chống Thế chiến II và Chiến tranh Việt Nam.
Bà Benazir Bhutto
Benazir Bhutto. (Ảnh: achievement.org)
Benazir Bhutto (1953–2007) là con gái của Thủ tướng Pakistan Zulfikar Ali Bhutto.
Ngay sau khi học xong Khoa học chính trị và triết học tại Harvard và Oxford, bà về Pakistan, nơi cha bà bị hành quyết sau một cuộc đảo chính quân sự.
Sau nhiều năm bị quản thúc tại gia, bà phải sống lưu vong. Bốn năm sau, bà trở về và trở thành lãnh đạo của Đảng Nhân dân Pakistan.
Năm 1988, bà là nữ thủ tướng đầu tiên được bầu tại một quốc gia đa số theo đạo Hồi.
Các báo cáo cho biết nhiều phụ nữ đã khóc trên đường phố trong lễ nhậm chức của bà. Suốt cuộc đời, bà đấu tranh cho dân chủ, quyền phụ nữ và giáo dục – đặc biệt giáo dục cho phụ nữ.
Bà bị ám sát năm 2007. Cái chết của bà đã gây ra nỗi đau buồn và các cuộc biểu tình trên toàn thế giới, bà vẫn là biểu tượng của dân chủ và quyền phụ nữ trong thế giới Hồi giáo.
Bà Wangari Maathai
Ảnh: nelsonmandela.org
Wangari Maathai (1940–2011) là nhà hoạt động môi trường người Kenya và là phụ nữ châu Phi đầu tiên nhận giải Nobel Hòa bình, bà nhận giải năm 2004.
Sinh ra trong một gia đình Kikuyu ở vùng nông thôn, từ rất sớm, bà đã bảo vệ môi trường. Sau khi học khoa sinh học tại Hoa Kỳ, bà lấy bằng tiến sĩ về giải phẫu học, trở thành người phụ nữ đầu tiên ở Đông Phi có được thành tích này. Sau đó, bà giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Nairobi.
Năm 1977, bà thành lập Phong trào Vành đai Xanh và đã trồng hơn 30 triệu cây xanh.
Những cuộc biểu tình chống nạn phá rừng và tham nhũng đôi khi làm bà gặp nguy hiểm đến tính mạng. Năm 1984, bà bị bắt vì phản đối việc xây dựng một tòa nhà cao tầng trong công viên công cộng.
Với tư cách là Thứ trưởng Bộ Môi trường Kenya (2003–2005), bà mạnh mẽ ủng hộ phát triển bền vững.
Trong bài phát biểu nhận giải Nobel năm 2004, bà tuyên bố: “Chúng ta không thể cứu Trái đất nếu chúng ta không cứu những người đang sống trên đó.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Tám phụ nữ trong Thông điệp Nhân loại tuyệt vời của Đức Lêô
Phát triển kỹ năng (coaching) thực sự có chỗ đứng trong Giáo hội không?






























