Home Blog Page 191

Trung thành với truyền thống hành hương ngày lễ Hiện Xuống, cuối tuần này nước Pháp lên đường!

Trung thành với truyền thống hành hương ngày lễ Hiện Xuống, cuối tuần này nước Pháp lên đường!

Cuộc hành hương của giáo phận Reims và Ardennes tại Igny ngày 29 tháng 5 năm 2023.

fr.aleteia.org, Mathilde de Robien, 2024-05-16

Vào tuần lễ Chúa Hiện Xuống, các cuộc hành hương Chartres và Jambville quy tụ đông đảo giáo dân, nhưng các cuộc hành hương ở những nơi khác cũng đông không kém.

“Chúng ta đi trước, đưa tay dọc theo túi quần, không mang gì, không  lộn xộn, không lời nói. Với bước đi đều đặn, không vội vàng, không cậy nhờ. Từ những cánh đồng trước mặt đến đến những cánh đồng gần nhất.”

Đó là cách nhà thơ Charles Péguy nói lên tinh thần hành hương thúc đẩy khi ông đi trên “con đường đến Chartres”. Một tiến trình chậm rãi, thầm lặng dưới cái nhìn nhân từ của Đức Trinh Nữ Maria. Loại bỏ những gì còn sót lại của thế gian để chỉ tập trung vào từng bước đi. Với một mục tiêu duy nhất, một nhà thờ, một thánh đường, tuy không phải là mục tiêu cuối cùng, nhưng là một bước đi để đến Thiên đàng. Một kinh nghiệm mà hàng ngàn người hành hương ở Pháp đang chuẩn bị sống trong ngày lễ Hiện Xuống cuối tuần này. Dù đi Chartres, Jambville, Provence, Charente hay Hồ Bairon, cuối tuần này nước Pháp trung thành với truyền thống hành hương của họ, họ lên đường!

Các cuộc hành hương lễ Hiện Xuống là truyền thống cổ xưa liên quan trực tiếp đến lễ Hiện Xuống trong sách Công vụ Tông đồ, khi Chúa Thánh Thần hiện xuống: “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi” (Cv 2:1) họ nghe có tiếng động “như cơn gió mạnh” tràn vào nhà. Sau đó “những chiếc lưỡi như ngọn lửa” xuất hiện. Và khi được ơn Chúa Thánh Thần, các tông đồ “bắt đầu nói các thứ tiếng khác”. ngày đó ứng nghiệm lời Chúa Kitô đã hứa với họ trước đó: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, khắp miền Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Được Chúa Thánh Thần ban sức mạnh, họ can đảm rời Phòng Tiệc Ly và bắt đầu làm chứng Chúa Kitô sống lại. Vì thế hành hương ngày lễ Ngũ Tuần nhắc lại cuộc lên đường của các tông đồ đến với các dân tộc trên khắp trái đất để loan báo Tin Mừng.

Chartres và Frat, hai nơi hành hương, hai bầu khí, một Thiên Chúa. P.RAZZO/CIRIC

Đoàn hành hương lớn nhất là đoàn hành hương Chartres, với 18.000 người hành hương, tuổi trung bình là khoảng 20 tuổi, ban tổ chức đã ngừng ghi danh một tháng trước. Sự lôi cuốn nhờ truyền thống phụng vụ, nhu cầu được hướng dẫn, được hỗ trợ, lòng tôn kính Đức Mẹ trong một xã hội ngày càng phi kitô giáo. Có nhiều lý do để thành công.

Hành hương Frat

Frat, cuộc hành hương khác cũng có số người tham dự kỷ lục năm nay, tụ họp sinh viên đại học của tám giáo phận Ile-de-France, quy tụ hơn 11.000 bạn trẻ ở Jambville (Yvelines): ba ngày hội họp cầu nguyện. Điểm nổi bật: rửa tội cho 10 bạn trẻ, buổi ngợi ca của ban nhạc Glorious, các buổi cầu nguyện, buổi chầu mang âm hưởng Thế vận hội 2024 với chủ đề: “Đừng làm chậm đà tiến của bạn” và lời kêu gọi tiếp tục cầu nguyện, làm việc bác ái và hy vọng. Linh mục Philippe Néouze, người đồng hành với nhóm Frat nhấn mạnh: “Thánh Phaolô phát triển hình ảnh thể thao để minh họa đời sống người tín hữu kitô, Ước mong của Frat là nhận biết có sự hiện diện của Chúa Kitô bên cạnh các bạn trẻ, Chúa Thánh Thần trong họ, để họ sống trong tinh thần Thánh Phaolô: phát triển cuộc sống bác ái, huynh đệ, dám làm chứng cho Chúa Kitô…”. Học sinh có dịp nghe các nhân chứng: một cựu võ sĩ judoka trở thành chủng sinh, một linh mục dâng thánh lễ, làm trọng tài cho các trận bóng đá, hai bạn trẻ rapper truyền giáo, sơ Albertine, người có hàng ngàn người theo dõi trên Instagram…

Hành hương ở các nơi khác trong nước Pháp

Chartres và Jambville là hai nơi hành hương nổi tiếng của nước Pháp, nhưng các giáo phận và các giáo xứ đều tổ chức hành hương trong cuối tuần này. 

Cuộc hành hương do giáo phận La Rochelle và Saintes tổ chức để tưởng nhớ các vị tử đạo ở cầu Rochefort

Các sáng kiến tích cực có phạm vi tiếp cận rộng rãi như cuộc hành hương cầu nguyện cho ơn gọi đến thánh địa Ile Madame, ở Charente-Maritime. Năm giáo phận – Poitiers, La Rochelle, Angoulême, Limoges và Tulle – đã cùng nhau tổ chức cuộc hành hương bắt đầu đi từ Rochefort ngày 19 và 20 tháng 5, đặc biệt được tổng giám mục Pascal Wintzer kêu gọi cầu nguyện cho ơn gọi: “Nhiều giáo dân đói khát sự thật, ánh sáng và Tin Mừng. Vai trò của tôi là giúp giáo dân thỏa cơn khát, cơn đói này.” Ngài xin mọi người đáp ứng để giáo dân có được chủ chăn, ngài sẽ dâng thánh lễ với sự tham dự của 1.000 người.

Cuộc hành hương của giáo phận Reims và Ardennes ngày 29 tháng 5 năm 2023.

Ở giáo phận Reims và Ardennes, giáo dân được mời gọi đi quanh hồ Bairon ngày thứ hai lễ Hiện Xuống như ngày xưa các tông đồ đi ở hồ Tibêria. Tổng giám mục Éric de Moulins-Beaufort đã phát động cuộc hành hương cách đây ba năm ở Champagne-Ardenne! Năm 2022 có 800 giáo dân đi hành hương ở sa mạc Saint-Walfroy. Năm ngoái, có 1.200 người hành hương ở ngọn núi xung quanh tu viện Đức Bà Val d’Igny. Năm nay có 1.500 giáo dân mọi lứa tuổi đã ghi tên.

Ngày thứ hai 20 tháng 5, một thánh lễ long trọng được tổng giám mục François Bustillo, giáo phận Ajaccio cử hành để tôn vinh các thánh của Provence.

Nói chung các nơi khác trong nước Pháp đều tổ chức các cuộc hành hương đa dạng và khác nhau minh chứng cho năng động của Giáo hội ở Pháp mời gọi giáo dân lên đường để được tràn đầy hơi thở của Chúa Thánh Thần, để cùng với Đức Mẹ đi theo bước chân của Chúa Kitô.

Marta An Nguyễn dịch

Nghệ nhân hòa bình, với đôi bàn tay trần Đức Phanxicô mơ chấm dứt chiến tranh

Nghệ nhân hòa bình, với đôi bàn tay trần Đức Phanxicô mơ chấm dứt chiến tranh

Ngày thứ bảy 18 tháng 5, trong Hội nghị Hòa bình ở Verona, Đức Phanxicô kêu gọi các nhà lãnh đạo chấm dứt thái độ thờ ơ của họ trước chiến tranh. 12.000 người tụ tập dưới ánh nắng gay gắt ở Đấu trường Verona để tham dự diễn đàn về hòa bình. MARCO BERTORELLO / AFP

la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, 2024-05-18

 

Trong bộ áo khoác nâu, linh mục Alex Zanotelli 85 tuổi đặt lá cờ biểu tượng hòa bình lên đầu gối Đức Phanxicô. Linh mục người Comboni đã sống 30 năm khó khăn ở Nairobi, Kenya. Tại Verona, Đức Phanxicô kêu gọi chấm dứt chiến tranh: “Hòa bình phải được thực hiện trong đối thoại, một công việc đòi hỏi kiên nhẫn. Chúng ta phải nhìn thẳng vào các xung đột, đối đầu với chúng để giải quyết chúng tốt hơn.”

“Giải Nobel của Quan Philatô”

Tại đấu trường Verona đã có từ 2.000 năm, Đức Phanxicô tiếp tục kêu gọi chấm dứt chiến tranh, ngài kêu gọi các nhà lãnh đạo phải hành động, không được che giấu dưới những danh từ hoa mỹ hèn nhát: “Tôi nghĩ chúng ta có thể trao cho nhiều người giải Nobel Quan Philatô. Họ là những chuyên gia rửa tay. Không quan tâm đến hòa bình là một tội nghiêm trọng. Chúng ta nhìn vào danh sách các quốc gia sản xuất vũ khí. Hòa bình không bao giờ là kết quả của ngờ vực, của những bức tường, của vũ khí bắn nhau.”

Tại đấu trường Verona, tất cả các nhà vận động hòa bình Ý gặp nhau. Các lãnh đạo của cộng đồng Sant’Egidio bên cạnh Hiệp hội Pax Christi, các nhóm có mặt ở đấu trường vẫy những lá cờ nhiều màu ghi: “Bất bạo động. Xin ngừng lửa ngay bây giờ.”

Đức Phanxicô hiểu, bảo vệ hòa bình là một thách thức lớn và đi ngược dòng. Nhưng với ngài, không hành động là không thể, có một châm ngôn của người Tây Ban Nha: Nước đọng là nước thối. Người bất động là người bị bệnh đầu tiên.”

Cám dỗ trả thù và hận thù

Trước đám đông, ngài xúc động khi nghe lời chứng của hai thương gia Israel và Palestine nói về sự mất mát người thân của họ. Trong cuộc tấn công khủng bố của Hamas ngày 7 tháng 10 năm 2023, cha mẹ của Inon Maoz bị sát hại ở một ngôi làng không xa Dải Gaza. Anh trai của Abu Sarah Aziz bị quân đội Israel giết chết vào cuối những năm 1980, trong phong trào Intifada đầu tiên.

Cả hai đều nếm kinh nghiệm muốn trả thù. Abu Sarah Aziz nhớ lại: “Khi anh trai tôi chết, tôi mới 10 tuổi. Suốt 8 năm tôi chỉ muốn trả thù. Tôi chỉ tập trung vào việc trả thù. Sau đó tôi hiểu, nếu tôi làm như vậy, tôi là con tin của những kẻ đã sát hại anh. Tôi phát bệnh cả thể chất và tinh thần vì đau đớn và căm ghét. Tôi hiểu, cách tốt nhất để chữa lành là ngừng ghét bỏ và chọn yêu thương.”

Sau lời chứng của hai người, cả đấu trường đã vỗ tay rất lâu. Đức Phanxicô nói: “Tôi nghĩ nỗi đau khổ của hai anh em cũng là nỗi đau khổ của hai dân tộc, chúng ta không thể nói gì. Nhưng họ đã có can đảm để ôm nhau trong vòng tay.”

Sức mạnh của người dân, sự yếu đuối của giới lãnh đạo

Sự cứu rỗi đến từ người dân hơn là từ giới lãnh đạo, từ các cường quốc, từ giới thượng lưu. Đức Phanxicô nhấn mạnh: “Tương lai của nhân loại nằm trong tay người dân và khả năng tổ chức của họ. Hòa bình phụ thuộc vào thực tế, chứ không phụ thuộc vào các hệ tư tưởng. Các hệ tư tưởng không có chân để đi, không có tay để chữa lành, không có mắt để nhìn thấy nỗi đau của người khác. Hòa bình được tạo ra bằng đôi chân, đôi tay và đôi mắt của những người trong cuộc.”

Ngồi ở hàng ghế đầu, giám mục Carlassare, giáo phận Rumbek, Nam Sudan gật đầu đồng ý với Đức Phanxicô, ngài hiểu sống giữa chiến tranh là như thế nào. Ngài biết những lời nói của Đức Phanxicô đôi khi như tiếng kêu trong sa mạc: “Đúng, tôi nghĩ tiếng nói của chúng ta là tiếng nói trong sa mạc, nhưng đó là những hạt giống đi vào sa mạc, nơi luôn có một chút sự sống. Không có con đường nào khác ngoài con đường hòa bình. Chúng ta phải đi con đường này, dù phải trải qua nhiều xung đột. Điều quan trọng là chúng ta không phản ứng lại bằng bạo lực. Khi đó hòa bình mới bắt đầu.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hình ảnh Đức Phanxicô tại Verona ngày 18 tháng 5-2024

Célestin, 19 tuổi, đàn organ và Chúa

Célestin, 19 tuổi, đàn organ và Chúa

fr.aleteia.org, Marthe Taillée, 2024-05-14

Célestin Vanneufville, 19 tuổi, nghệ sĩ chơi đàn organ và điều khiển dàn hợp xướng đặt niềm đam mê âm nhạc của anh để phục vụ Chúa Kitô. Anh giải thích: “Bài hát và âm nhạc giúp chúng ta đi vào lời cầu nguyện một cách sâu xa và chạm đến mọi người!”

19 tuổi, âm nhạc đã là cả cuộc đời anh. Chúng tôi gặp anh qua hội thoại truyền hình tại nhà cha mẹ anh, anh nói: “Thật hạnh phúc khi kết hợp đam mê và đức tin vào công việc hàng ngày!” Anh là sinh viên tại nhạc viện Saint-Maur-des-Fossés (Val-de-Marne), rời cuộc sống Paris để đi nghỉ một tuần ở trang trại Somme của gia đình. Tại đây đức tin mãnh liệt của anh vào Chúa đã được rèn giũa, anh thừa hưởng đam mê âm nhạc bên ngoại: “Bà tôi và bà cố đàn piano”, anh là người con thứ năm trong gia đình có sáu người con. Từ 5 tuổi anh đã mê “âm thanh và hòa âm” với cây đàn guitar của mẹ, anh bắt đầu chơi nhạc cụ này ở trường âm nhạc của làng: “Đó là mối tình đầu tiên của tôi với âm nhạc.”

Có khi Célestin đàn cho năm thánh lễ vào cuối tuần. Célestin Vanneufville

Sau hai năm học tại trường nội trú Foyer de Charité ở Courset, Pas-de-Calais, Célestin vào trường Liesse, một Học viện Âm nhạc mới thành lập ở Sarthe năm 2022, trường nội trú công giáo chuyên ngành âm nhạc hoàn toàn phù hợp với anh. Trường chỉ có vài chục học sinh. Cả gia đình đón nhận con đường của anh như “ơn quan phòng của Chúa” vì rất phù hợp với thanh niên đam mê âm nhạc.

Học xướng âm, học đàn, ca hát, hát kinh chiều mỗi tối… chương trình học kéo dài tám năm cho đến khi có bằng tú tài. Với nền tảng âm nhạc vững chắc và khám phá kho tàng phụng vụ, anh vững chắc bước đi. Đặc biệt với đàn organ, “mối tình thứ hai sau cây đàn guitar”. Anh giải thích: “Đó là nhạc cụ của dàn nhạc rất phổ biến.” Bây giờ anh đánh đàn cho các thánh lễ ở Sainte-Marie-des-Batignolles (Paris) và học chuyên ngành về nhạc cụ này.

Chúng ta cần những nhạc sĩ giỏi để phục vụ Chúa.

Anh không bao giờ nghi ngờ đức tin của mình, anh học chơi đàn organ thật giỏi để mang lại nét đẹp cho phụng vụ, anh giải thích: “Chúng ta cần có những nhạc sĩ giỏi để nâng cao phụng vụ qua thánh nhạc. Những bài hát có bốn bè với dàn nhạc đi theo sẽ đi vào chiều sâu của lời cầu nguyện và làm mọi người xúc động. Và như thế là một cách truyền giáo. Nhưng phải chuẩn bị cẩn thận trong mục đích nâng cao tâm hồn và có sự kết hiệp giữa các tu sĩ.”

Với bằng tú tài trong tay, kể từ năm ngoái anh viết và đàn organ tại nhạc viện Saint-Maur-des-Fossés, đệm đàn thánh lễ và chỉ huy dàn hợp xướng. Một lịch trình chặt chẽ giúp anh tận hưởng đời sống sinh viên và hát hàng tuần trong ca đoàn tuyên úy ở Sorbonne, anh hát giọng nam cao. Ở đây anh hoàn toàn theo đam mê của mình mà không phải gánh trọng trách.

Giữ gìn “tâm hồn mật thiết với Chúa Giêsu”

Làm thế nào anh nuôi dưỡng đức tin khi điều khiển ca đoàn hoặc đàn cho năm thánh lễ cuối tuần? Anh trả lời: “Thật không dễ để tập trung cầu nguyện khi ở một mình, tập trung để đàn với cây đàn organ khó khăn. Đôi khi tôi cầu nguyện trước thánh lễ và rước lễ một lần vào cuối tuần. Điều quan trọng là không đánh mất tâm hồn mật thiết của mình với Chúa Giêsu.”

Anh mong sớm được nghiên cứu âm nhạc cấp cao: “Tôi cũng thích giảng dạy, tôi có năng khiếu sáng tác.” Ngạc nhiên trước nội dung bài Magnificat, anh đặt nhạc đoạn đầu của bài thánh ca và hát trong suốt 8 năm ở Học viện Âm nhạc Liesse. Anh cũng sáng tác Ave Maria và phổ nhạc một bài thơ của Nicolas Vodé về chủ đề Thế vận hội Olympic sẽ được biểu diễn tại nhà thờ Saint-Eustache (Paris 1) và được các sinh viên của Học viện hát ngày 22 tháng 5.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô, giáo hoàng của các nhà tù

Đức Phanxicô, giáo hoàng của các nhà tù
 Đức Phanxicô rửa chân cho các tù nhân ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 2018.
fr.aleteia.org, Cyprien Viet, 2024-05-17
Ngày thứ bảy 18 tháng 5, Đức Phanxicô sẽ thăm nhà tù Montorio ở Verona, miền đông-bắc Ý, đây là chuyến thăm nhà tù lần thứ 15 của ngài. Trong các chuyến tông du, ngài thường đến thăm các nhà tù, mang dấu hiệu tôn trọng và hy vọng đến cho họ trong các ngày Thứ Năm Tuần Thánh với nghi thức rửa chân.
Ngài sẽ đến thăm nhà tù “Casa Cirdariale di Montorio” lúc 11h45 và sẽ dành hai giờ để gặp các nhân viên nhà tù, các tình nguyện viên, các tù nhân và ngài sẽ ăn trưa với họ. Ban giám đốc nhà tù cho biết, tù nhân Filippo Turetta, người ám sát bạn gái Giulia Cecchettin không ở trong số các tù nhân được phép gặp giáo hoàng.
Chuyến đi này tiếp nối chuyến đi Venice ngày 28 tháng 4, tại đây ngài đã gặp các tù nhân ở nhà tù Giudecca, ngài nói “nhà tù có thể là nơi tái sinh”.
Khi còn ở Argentina, ngài thường đi thăm các nhà tù ở Argentina – đặc biệt vì một trong các em ngài đã bị giam ở đó, cố nhà báo Thụy Sĩ Arnaud Bédat viết trong quyển Phanxicô, người Argentina của ông – đặc biệt trong các chuyến tông du nước ngoài, ngài luôn đến thăm các nhà tù. Một trong những hình ảnh ấn tượng trong chuyến đi Chi-lê tháng 1 năm 2018 là hình ảnh ngài đến thăm nhà tù dành cho phụ nữ, ngài được Bà tổng thống Michelle Bachelet lúc đó hướng dẫn.
Nghi thức rửa chân
Trước 600 phụ nữ sốt sắng và cảm động, và sau khi ngài nghe lời xin tha thứ của một nữ tù nhân, Đức Phanxicô mời họ đứng dậy và khuyến khích họ ý thức về phẩm giá của mình: “Chúa Giêsu mời gọi chúng ta từ bỏ logic đơn giản trong việc phân chia thiện và ác, để bước vào một logic khác, có khả năng chấp nhận sự mong manh, giới hạn kể cả tội lỗi để giúp chúng ta tiến về phía trước.”
Đức Phanxicô tại nhà tù Rebibbia dành cho phụ nữ tháng 3 năm 2024. Ảnh: Handout/ VATICAN MEDIA/ AFP
Các ngày Thứ Năm Tuần Thánh ở Rôma cũng là dịp ngài rửa chân trong nhà tù, năm đầu tiên ngài rửa chân cho các thiếu niên phạm pháp. Ngày 28 tháng 3 vừa qua, ngài đến thăm nhà tù nữ Rebibbia. Trong một bài giảng ngắn, ngài nói: “Tất cả chúng ta đều có những thất bại lớn nhỏ, mỗi người đều có câu chuyện của riêng mình nhưng Chúa luôn chờ chúng ta, Ngài mở rộng vòng tay và không bao giờ mệt mỏi khi tha thứ.” Ngồi trên trên chiếc xe lăn, ngài rửa chân cho 12 tù nhân. Sau khi đổ nước lên chân, ngài dùng khăn lau khô trước khi hôn họ, một số tù nhân đã xúc động rơi nước mắt.
Đức Phanxicô không phải là giáo hoàng đầu tiên đến thăm các nhà tù. Một trong những hình ảnh xúc động của Đức Gioan-Phaolô II là hình ảnh ngài vào nhà tù Rebibbia năm 1983 để ôm hôn Mehmet Ali Agça, người Thổ Nhĩ Kỳ đã ám sát ngài hai năm trước đó, ngày 13 tháng 5 năm 1981. Dù bị sốc và ngạc nhiên, nhưng các giáo hoàng làm gương cho giáo dân, các ngài làm theo lời dạy của Chúa Kitô trong Phúc âm Thánh Mát-thêu chương 25, câu 36: “Ta ở tù, các con đã đến thăm.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Joachim Bouflet: “Đức tin không cần những hiện tượng siêu nhiên”

Joachim Bouflet: “Đức tin không cần những hiện tượng siêu nhiên”

la-croix.com, Christophe Henning, 2024-05-16

Phỏng vấn sử gia Joachim Bouflet, chuyên gia về các hiện tượng thần bí.

Ngày thứ sáu 17 tháng 5, Vatican công bố một tài liệu về các lần Đức Mẹ hiện ra, sử gia Joachim Bouflet phân tích các vấn đề này của Giáo hội ngày nay.

Một giáo dân cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ Mễ Du, Bosnia và Herzegovina tháng 6 năm 2023, nhân kỷ niệm 42 năm ngày Đức Mẹ hiện ra với các mục đồng ở đây. Fehim Demir / EPA/MAXPPP

Hồng y Víctor Manuel Fernández sẽ công bố một tài liệu mới để phân định các lần Đức Mẹ hiện ra và các sự kiện siêu nhiên khác ngày thứ sáu 17 tháng 5. Nội dung của một văn bản như vậy có thể là gì?

Sử gia Joachim Bouflet: Hiện tại chưa ai biết nội dung này, nhưng đây là dịp để hiểu những hiện tượng giả thần bí, đặc biệt là những lần Đức Mẹ hiện ra. Văn bản gần nhất có từ năm 1978, như thế cần một văn bản mới để hiểu rõ hơn vấn đề này. Giáo hội đã mất rất nhiều thời gian để phân tích việc Đức Mẹ hiện ra ở Mễ Du, chắc chắn đã dẫn đến việc xem lại các lần Đức Mẹ hiện ra ở những nơi khác.

Như thế văn bản của bộ Giáo lý Đức tin mang ý nghĩa gì?

Trong một xã hội tế nhị với những điều kỳ diệu và siêu nhiên, đây là dịp để nhắc giáo dân có một khoảng cách với các hiện tượng này. Điều quan trọng cần nhớ là các dấu hiệu, dù thế nào chăng nữa cũng không làm thay đổi đức tin của chúng ta. Đứng trước các đề xuất, chúng ta sẽ nghiêm túc hơn. Chẳng hạn vì sao khi nhắc đến nhà thần bí giả Maria Valtorta (1897-1961) Giáo hội không công nhận các tác phẩm của bà có nguồn cảm hứng siêu nhiên? Nhưng có nhiều nhà thần bí chân chính được công nhận như Thánh Gioan Thánh giá, Edith Stein, Madeleine Delbrêl…

Vậy các lần Đức Mẹ hiện ra là trọng tâm của cuộc tranh luận?

Những lần Đức Mẹ hiện ra đã nuôi dưỡng trí tưởng tượng nhưng liệu việc này có nuôi dưỡng đức tin hay không thì tôi không chắc. Khi giáo dân hành hương đến Rue du Bac ở Paris, dù Đức Mẹ có hiện ra hay không cũng không thay đổi gì trong lời cầu nguyện của họ với Đức Mẹ. Họ có biết chưa có sự công nhận chính thức nào về những lần Đức Mẹ hiện ra với Catherine Labouré không?

Chúng ta giải thích như thế nào về cơn sốt của những dấu hiệu này, vốn có thể củng cố đức tin kitô giáo?

Lúc nào giáo dân cũng có một khao khát cho những chuyện mới lạ: vì sao chúng ta quên Cha Thánh Piô, cha đã có nhiều hiện tượng lạ, bây giờ ngài đã được phong thánh và không còn nhiều người quan tâm đến ngài… Ai cón nhớ đến nữ tu Mariam Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh, Dòng Cát Minh qua đời tại Bêlem 1878 khi mới 32 tuổi? Với nhiều người đương thời, sự việc này còn hơn cả việc đi tìm điều huyền bí, theo tôi, đây là một cách để thoát thực tế, trấn an mình qua lòng sùng kính quá mức. Như thể chúng ta cần một điều gì đó phi thường, quên một đức tin đơn giản. Nhưng việc đi tìm thần bí không làm ồn ào, chỉ trong mật thiết của tâm hồn. Chúng ta không cần thêm dấu lạ để tin, có Phúc âm là đủ.

Nếu những lần hiện ra có thể không cần thiết thì các cuộc hành hương vẫn mang một ý nghĩa?

Ở Lộ Đức, Fatima hay ở nhiều nơi Đức Mẹ hiện ra khác, vẫn có một mục vụ chung quanh Đức Mẹ, dù nơi đó có Đức Mẹ hiện ra hay không. Người có lòng mộ đạo bình dân đến cầu nguyện với Đức Mẹ, họ không mong chờ một giúp đỡ nào khác. Tôi tin tưởng ở đức tin bình dân. Nhưng cũng có một số người dùng siêu nhiên để khơi dậy cảm xúc, giật gân, quá mức cần thiết không liên quan gì đến đức tin. Đức tin thể hiện qua việc làm bác ái, quan tâm đến người nghèo, hoạt động vì hòa bình. Đức tin trong hành động không cần những dấu hiệu phi thường.

Văn bản mới có thể mang lại điều gì?

Tôi chưa biết nội dung nhưng điều đầu tiên cần làm là giao cho các giám mục phân định, không phải lúc nào cũng nhờ đến Rôma. Sau đó, sống tinh thần giáo hội địa phương, có nghĩa lắng nghe lòng đạo đức và minh triết bình dân.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các cuộc hiện ra, phép lạ, mặc khải: Vatican giúp các giám mục phân định rõ hơn

Các cuộc hiện ra, phép lạ, mặc khải: Vatican giúp các giám mục phân định rõ hơn

lepelerin.com, Dominique Lang, 2024-05-17

Tượng Đức Mẹ ở Mễ Du, Bosnia-Herzegovina, được cho là nơi Đức Mẹ hiện ra nhưng chưa được Giáo hội công nhận.

Tin đã được loan báo cách đây vài tuần, cuối cùng văn bản được công bố ngày thứ sáu 17 tháng 5, mục tiêu chính là nhắc lại các quy tắc, thủ tục mục vụ và giáo luật phải theo, đặc biệt là cho các giám mục khi họ đứng trước “các hiện tượng được cho là siêu nhiên”, cụ thể về các lần Đức Mẹ hiện ra hoặc các phép lạ liên quan đến các nhân vật hoặc các địa điểm.

Văn bản này có nội dung gì?

Tài liệu được bộ Giáo lý Đức tin Đức tin công bố, dưới ngòi bút của hồng y Víctor Manuel Fernández gồm 23 mục làm rõ định hướng chung cho công việc giám mục phải thực hiện khi đứng trước một hiện tượng siêu nhiên. Tiếp theo là 27 điều khoản thuộc giáo luật để làm rõ các thủ tục, gồm trách nhiệm chung của các giám mục, bộ Giáo lý Đức tin và giáo hoàng.

Vì sao có văn bản này?

Văn bản này là bản cập nhật của một tài liệu cũ đã được Đức Phaolô VI phê chuẩn năm 1978 và không được công bố chính thức cho đến… năm 2011, dưới triều Đức Bênêđíctô XVI khi đó đang đương đầu với cuộc khủng hoảng các vụ tai tiếng làm rung chuyển Giáo hội.

Tài liệu mới này nhằm mục đích đẩy nhanh các thủ tục, tránh tạo các điểm cố định khó quản lý. Tháng 11 năm 2023, bộ đã quyết định đi xa hơn bản cập nhật đơn giản, đặc biệt làm rõ vai trò của mọi người nhất là của các giám mục địa phương. Cuối cùng ngày 4 tháng 5, Đức Phanxicô đã chấp nhận văn bản làm lại này.

Vấn đề mục vụ và thần học nào?

Sau khi nhắc lại hoạt động liên tục của Chúa Thánh Thần trong Lịch sử, các sự kiện “siêu nhiên” có thể tiếp tục diễn ra, tài liệu nhấn mạnh đến các thánh địa Đức Mẹ là nơi tôn kính mang lại nhiều hoa quả, vượt ra ngoài các bài thần học. Những sự kiện này nhấn mạnh ơn Chúa hành động như Ngài mong muốn, vượt xa khả năng lý luận trực tiếp của con người.

Tuy nhiên, phân định là cần thiết, cần nhắc lại văn bản này được hai tu sĩ Dòng Tên ký: hồng y Fernandez và Đức Phanxicô. Phân định để tránh những thái quá về thiêng liêng, tâm lý, luân lý và thần học, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp nhận một cách phi thường những điều phi lý. Một lời nhắc nhở khẩn cấp và cần thiết khi Giáo hội công giáo tiếp tục làm sáng tỏ những vụ bê bối lạm dụng, các vụ thao túng.

Siêu tự nhiên

Tài liệu nhắc lại, trong quá khứ, công việc phân định của giám mục địa phương đôi khi dẫn đến những khó khăn. Cho đến nay đã có một công cụ “ghi nhận điều siêu tự nhiên”, một tuyên bố công khai có thể đưa ra khi kết thúc cuộc điều tra để xác nhận một hiện tượng siêu nhiên.

Nhưng một xác nhận như vậy thường dẫn đến sự thái quá trong cách diễn tả hoặc thực hành. Chẳng hạn một giám mục nào đó đề nghị từ nay trở đi tất cả các tín hữu phải tin vào một cuộc hiện ra nào đó. Các nhà trách nhiệm địa phương đã triển khai những cách thực hành đôi khi trở nên không thể kiểm soát được.

Theo truyền thống công giáo, nếu sự hiện ra của Đức Mẹ có thể được công nhận, thì những lần hiện ra này không bao giờ ngang hàng với đức tin được công bố trong tín điều, tin Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc và tin Thiên Chúa Ba Ngôi.

Văn bản nhắc lại, thủ tục điều tra quá rườm rà và phức tạp đến nỗi “sau năm 1950, không quá sáu trường hợp được các cơ quan pháp lý giáo luật chính thức giải quyết”.

Một công cụ mới

Một cách để tiến về phía trước là dùng một công cụ mục vụ khác. Giám mục có thể tuyên bố “Không có trở ngại” (Nihil obstat), có nghĩa tín hữu có thể cầu nguyện ở nơi này vì chưa xác định được những hiện tượng trái ngược với đức tin của tín hữu kitô.

“Những kết luận có thể có này thường không bao gồm một tuyên bố về tính chất siêu nhiên của hiện tượng được quan sát, nghĩa là khả năng khẳng định một cách chắc chắn về mặt đạo đức, xuất phát từ một quyết định của Thiên Chúa, Đấng trực tiếp muốn điều này. Đúng hơn, “không có trở ngại” chỉ đơn thuần cho thấy, như Đức Bênêđíctô XVI đã giải thích trước đây, đối với hiện tượng này, “giáo dân được phép tuân theo một cách thận trọng”. Vì đây không phải là một tuyên bố bản chất siêu nhiên của các sự kiện, đây chỉ để giúp đỡ giáo dân nhưng ‘không phải là điều bắt buộc’.

Trích từ tài liệu của Vatican

Một lịch sử phức tạp

Trên thực tế, thế kỷ 20 đã chứng kiến nhiều thủ tục phức tạp thuộc loại này. Không trích dẫn rõ ràng, tài liệu đặc biệt đề cập đến việc quản lý những lần Đức Mẹ hiện ra ở Amsterdam (1945-1959), đã mất hơn nửa thế kỷ mới được chính xác phân định.

Bằng cách tránh sử dụng “tuyên bố về tính siêu nhiên”, tạo những mong chờ không kiểm soát, thay vào đó, tài liệu mang lại cho giám mục khả năng hỗ trợ hiện tượng một cách hợp lý và không quá nhiệt tình. Tuy nhiên, đứng trước các bằng chứng khách quan về sự giả mạo, giám mục sẽ có thể dễ dàng đưa ra tuyên bố về tính không siêu nhiên.

Một thủ tục mới và sáu cấp độ

Vì thế tiến trình này cần được làm sáng tỏ: chính giám mục địa phương là người thực hiện việc phân định mục vụ và thiêng liêng với hiện tượng thuộc loại này. Tuy nhiên, phải tham khảo ý kiến của bộ Giáo lý Đức tin trước khi có bất kỳ sự chấp thuận nào. Và phải trở thành đối tác chính thức của quyết định này.

1- “Không có trở ngại” cho phép triển khai nơi hiện ra như một đề xuất mục vụ, nhưng không ép buộc bất cứ điều gì, và không đưa ra phán quyết dứt khoát về tính xác thực siêu nhiên của một hiện tượng.

2 – Một bước dưới đây, tuyên bố Prae oculis habeatur (“Điều này phải được ghi nhớ”) nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa những điều tích cực và tiêu cực trong một hiện tượng nào đó và cần phải làm rõ thêm.

3- Thấp hơn một bước là tuyên bố Curatur (“Chịu trách nhiệm”). Đây là những hiện tượng có chiều kích mơ hồ làm cho giám mục không thể khuyến khích các tín hữu đến đó. Nhưng trách nhiệm của giám mục là phải theo dõi các giáo dân nào cứ đến những nơi này.

4- Tuyên bố Sub mandato (“Theo ủy quyền”) nhấn mạnh xung quanh hiện tượng có những người lạm dụng, đặc biệt lạm dụng tài chính hoặc chống lại giám mục địa phương.Với sự hỗ trợ của Rôma, vấn đề này phải được can thiệp để tiếp tục công việc hướng dẫn mục vụ.

5 – Tuyên bố Prohibetur et obstruatur (“Bị cấm và ngăn chặn”) xảy ra trong trường hợp các điểm quan trọng chiếm ưu thế trên các khía cạnh tích cực hơn. Sau đó, giám mục phải giải thích cho giáo dân biết hiện tượng này, không đề nghị họ tôn kính.

6- Cuối cùng, tuyên bố “Không có siêu nhiên” là tuyên bố công khai tố cáo bản chất lạm dụng, dựa trên những sự kiện cụ thể của một hiện tượng được công bố sai lầm là siêu nhiên.

Sự phân loại này giúp đồng hành tinh tế hơn giữa các thực tại phức tạp với một điểm chung quan trọng: cả giám mục lẫn thánh bộ đều không tuyên bố một cách dứt khoát rằng một hiện tượng có nguồn gốc siêu nhiên.

Các lời nhắc cần thiết

Những điểm đầu tiên của tài liệu nhắc chúng ta không có hiện tượng siêu nhiên nào có thể theo vào bất cứ gì đã được Chúa Kitô mạc khải trong Kinh Thánh. Đối diện với những hiện tượng không thể giải thích được ở một thời điểm nào đó, phân định thiêng liêng phải được thực hiện để biết liệu đây có phải là công việc của một hành động thiêng liêng hay không,  những lời dạy nhận được có phù hợp với Tin Mừng hay không, liệu kết quả mang lại có tốt hay không, v.v.

Trong các thủ tục tiếp theo, dưới hình thức các điều khoản giáo luật nhắc nhở mọi người phải kiềm chế việc đưa ra một tuyên bố công khai dứt khoát, mời gọi các giám mục liên tục làm việc để hỗ trợ và phân định.

Cần nhấn mạnh, không được dùng những chuyện giật gân (nước mắt máu, bánh thánh biến đổi, v.v.) trong các hiện tượng này.

Văn bản quy định rõ, sau khi tổ chức một nhóm chuyên gia để cùng giám mục đánh giá một hiện tượng thuộc loại này, giám mục phải thuê một công chứng viên để ghi chép mọi hoạt động của ủy ban. Phải làm sáng tỏ  nơi giải tội và những người tháp tùng thiêng liêng cho những người thấu thị hoặc những người được phép lạ, cần điều tra khoa học khi cần thiết, v.v.

Cuối cùng,văn bản nhấn mạnh bên cạnh công việc nghiêm túc của giám mục và ủy ban, bộ Giáo lý Đức tin vẫn có khả năng can thiệp vào bất kỳ giai đoạn nào trong tiến trình.

Kết luận

Chúng ta hiểu, ở thời điểm Giáo hội cố gắng hết sức để làm sáng tỏ mọi việc nhằm thoát khỏi tình trạng tham nhũng, thao túng và lạm dụng thái quá, thì tài liệu này là hòn đá quý của tòa nhà.

Tài liệu trực tiếp và công khai tấn công vào một vấn đề phức tạp, những hiện tượng không giải thích được về phép lạ, sự hiện ra và những mạc khải cá nhân khác. Vấn đề càng trở nên phức tạp vì với các phương tiện truyền thông hiện tại, một sự kiện nhỏ nhất thuộc loại này cũng có thể có tác động trên toàn thế giới, với những chia sẻ cảm xúc và tranh luận làm các cơ quan có thẩm quyền của Giáo hội phải làm việc.

Tài liệu ngầm đề cập đến những lần hiện ra ở Amsterdam, nhưng không nói gì về những lần hiện ra ở Mễ Du,một trong những hồ sơ có lịch sử đầy sóng gió và phân định phức tạp.

Với sáu cấp độ được đề xuất, trong tương lai việc tuyên bố về tình trạng của những lần hiện ra sẽ dễ dàng hơn, không rơi vào bẫy xác nhận thuần túy và không có sắc thái, cũng như giáo dân của những nơi này muốn.

Việc phân định nhằm phục vụ việc chăm sóc mục vụ và lòng đạo đức, trong đó các hiện tượng kỳ lạ là một trong những nơi thể hiện, cần được nêu bật ở đây. Sẽ là điều tích cực khi nghe các giám mục trên thế giới, những người thường bất lực, đôi khi vụng về, thậm chí bị cám dỗ để bị lôi cuốn vào những gì dễ dàng cho là ‘phép lạ’ khi họ đứng trước các hiện tượng này.

Ở đây Đức Phanxicô và bộ Giáo lý Đức tin đã làm sáng tỏ một cách tuyệt vời, chấp nhận sự phức tạp của các tình huống, nhưng không để chúng làm bối rối tâm trí và trái tim.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Églantine Gabaix-Hialé, nữ phóng viên gan dạ đi tìm Chúa

Églantine Gabaix-Hialé, nữ phóng viên gan dạ đi tìm Chúa

fr.aleteia.org, Raphalle Coquebert, 2024-05-09

Vì phải làm phóng sự những chuyện đau lòng ở Trung Đông, bà  Églantine Gabaix-Hialé, 45 tuổi, phóng viên gan dạ không có đức tin, bà có thể rơi vào trạng thái tuyệt vọng nếu bà không gặp các nhân chứng của Chúa Kitô. Trong quyển sách “Chúa ở giữa đống đổ nát” xuất bản ngày 10 tháng 5, bà bày tỏ lòng kính trọng sâu xa với các chứng nhân. Một câu hỏi dai dẳng đi theo bà: họ được cái gì nâng đỡ?

Đọc tác phẩm của bà, tôi có cảm tưởng như bà sống một trăm đời sống! Xin bà cho biết về bà.

Phóng viên Églantine Gabaix-Hialé: Thật ra hành trình của tôi không phải là hành trình một chiều. Tôi có bằng thạc sĩ triết học, tôi muốn làm thiện nguyện trước khi bước vào đời sống nghề nghiệp. Và tôi đã nhiễm virus Trung Đông! Tôi ở đây ba năm trước khi về Pháp. Trước đây tôi làm 10 năm cho tuần báo La Vie, sau đó tôi phụ trách các trung tâm tiếp đón người vô gia cư  của cơ quan Công giáo Cứu cấp ở Paris. Tôi đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau trong lãnh vực nhân đạo, trước khi làm việc với Hiệp hội Đông phương (Œuvre d’Orient) năm 2017 trong nhiệm vụ là người quản lý sứ mệnh. Hiện nay tôi có công việc ưa thích nhưng nó làm cho tôi phải liên tục đối diện với những tình huống đau đớn. Tôi gặp những người có hay không có đức tin, tất cả đều chiến đấu không ngừng nghỉ để có một thế giới nhân bản và huynh đệ ở những quốc gia tôi yêu thích.

Eglantine Gabaix-Hialé

Từ đâu bà có khát khao này với nước ngoài, đặc biệt với Trung Đông?

Từ năm kết thúc chương trình học của tôi. Tôi lớn lên trong môi trường đồng nhất, tôi ở chung phòng với tám sinh viên thuộc sáu quốc tịch khác nhau ở Salamanca (Tây Ban Nha). Và kinh nghiệm này đã làm cho tôi muốn khám phá thế giới. Sau khi dự buổi thuyết trình của Phái đoàn Hợp tác Công giáo, tôi quyết định. Mới đầu là khát khao phiêu lưu, có lẽ cùng với mong muốn cứu thế giới (hơi trẻ con)! Rồi định mệnh đưa tôi đến Trung Đông.

Xin bà kể cho chúng tôi biết quá trình của bà như thế nào.

Lần đầu tiên tôi làm thiện nguyện ở Ai Cập trong một cộng đồng nữ tu: một năm gay go và bất ổn ở một đất nước rất đẹp nhưng cũng rất khó khăn. Tôi muốn ở một nơi nào khác ngoài những người đi tu và ở các đất nước khác. Trớ trêu thay, tôi được giao làm việc hai năm ở Mar Moussa, một tu viện ở Syria. Không chút do dự, tôi chấp nhận. Đây là nơi tôi bị Trung Đông cuốn hút: các đất nước này có một tinh thần hiếu khách đặc biệt! Tấm lòng ấm áp và quan tâm đến những người xa lạ đã chạm trái tim tôi. Đến mức tôi cảm thấy như nhà tôi ở Syria, ở Lebanon, ở Iraq… Thật khó để giải thích, nhưng nó là như vậy. Đó là lý do tôi thường xuyên trở lại những nơi này với những hỗn loạn ở đây.

Mar Moussa – Eglantine Gabaix-Hialé

Vì vậy từ khi còn rất trẻ, bà đã đối diện với những chuyện điên rồ của đàn ông: chiến tranh, nghèo đói, hoang tàn… Nhưng ngược lại, bà đã gặp các ông, các phụ nữ có một niềm hy vọng không thể chối cãi.

Họ là những nhân vật chính trong quyển sách của tôi. Những người không đầu hàng số phận, những người muốn tin vào tương lai, họ xắn tay áo lên… Tôi nghĩ đến tu sĩ Abouna Jacques ở Mar Moussa, ngài là tổng giám mục Mourad của Homs, Hama và Nebek. Ngài đã trải qua chiến tranh, qua cái chết của những người thân yêu, bị giam sau khi bị nhóm hồi giáo Daesh bắt cóc năm 2015, bị lưu đày, nhưng ngài không hận thù… Một niềm vui thực sự ở trong tâm hồn ngài: đó là tiếng cười của ngài, đó là niềm an ủi. Tôi cũng nghĩ đến cô Souzan, kỹ sư 25 tuổi và cô Hala, kiến trúc sư 30 tuổi người Syria tôi gặp ở Homs. Năm 2012, khu phố của họ bị phá hủy hoàn toàn, họ ở lại để xây dựng thành phố của họ. Lòng tôi tan nát khi bước qua đống đổ nát nhưng tôi ngạc nhiên trước nghị lực của họ. Họ thật can đảm và tự do biết bao! Hiện nay ở Syria, cứ 10 phụ nữ mới có 1 ông! Tôi viết những chuyện này trong sách của tôi.

Tất cả những người xây dựng và chứng nhân của Hy vọng này đều có một điểm chung: đức tin. Điều này làm cho những người không tin luôn đặt câu hỏi…

Tôi lớn lên trong gia đình công giáo, tôi được rửa tội nhưng tôi không có đức tin. Tôi chán đi lễ vô cùng, Kinh thánh không làm tôi lay động. Nhưng tôi không vô thần cũng không phải là người theo thuyết bất khả tri. Không có thuật ngữ nào tương ứng với hoàn cảnh của tôi: Tôi không thù nghịch với đạo, đạo công giáo thu hút tôi và tôi không ngừng tìm kiếm. Vô ích! Năm 25 tuổi, tôi từ Ai-cập về, tôi đặt Chúa vào chân tường: “Chúa ơi, con cho Chúa hai năm để Chúa cho con biết Chúa là ai?”

Erbil – Eglantine Gabaix-Hialé

Bây giờ tôi đã 45 tuổi, Chúa vẫn chưa trả lời tôi… Hay nói đúng hơn, Chúa trả lời tôi một cách khác. Chúa gởi tôi đến Mar Moussa, một tu viện lạc lõng giữa sa mạc đầy đá và tôi ở đây hai năm thật tuyệt vời. Tôi yêu cộng đồng đại kết và hỗn hợp dành riêng cho đối thoại và hiếu khách của hồi giáo-kitô giáo, tôi đã ở đó với các khách du lịch, những cuộc gặp tốt đẹp trong im lặng… Tôi cảm thấy an toàn với cảm giác tôi đang ở nơi lẽ ra tôi phải ở. Chắc chắn là tôi không quay lưng đi như Thánh Phaolô, tôi cảm nghiệm ở đây có một bình an không giống nơi nào khác. Có lẽ vì tôi chìm trong lời cầu nguyện.

Một nghịch lý bà thú nhận trong quyển sách: bà không biết cầu nguyện lại tin vào lời cầu nguyện của người khác!

Đúng, vì môi trường, vì công việc, tôi gặp rất nhiều tín hữu. Tôi biết họ cầu nguyện cho tôi và tôi chắc chắn lời cầu nguyện này không thể vô ích… Dù cả khi Chúa không tồn tại, những lời cầu nguyện này là sự thật. Lời cầu nguyện kết tụ với nhau, chúng phải có tác dụng! Một chuyển động của trái tim hướng về người khác chỉ có thể hữu ích. Tôi rất tiếc không thể cầu nguyện lại cho họ…

Trong số các tín hữu bà gặp, bà có ấn tượng mạnh với các nữ tu Tiểu Muội Chúa Giêsu.

Đúng vậy, các nữ tu chia sẻ cuộc sống với người nghèo nhất ở những nơi không thể đến được (trại tị nạn, vùng ngoại ô mất vệ sinh), họ nâng đỡ tôi qua đức tin của họ vào con người, vào Chúa. Tôi gặp họ ở Israel, ở Iraq – một đất nước vẫn còn một số ít tín hữu kitô thoát khỏi nạn diệt chủng…

Irak – Eglantine Gabaix-Hialé

Tôi nghĩ đến nữ tu Elishoua với tất cả lòng biết ơn, sơ đã an ủi tôi bằng nụ cười trong suốt năm thử thách 2016 của tôi. Tôi dạy ở đó ba năm và chứng kiến các thị trấn hoàn toàn đổ nát. Tôi rã rời kiệt quệ. Sơ không lạc quan nhưng thầm lặng tiến về phía trước, sơ cùng đi với với một sơ khác trên chiếc xe lữ hành giữa trại tị nạn đông đúc có 2.000 tín hữu. Làm sao chúng ta có thể trụ vững trong bối cảnh khủng khiếp như vậy mà không nản lòng? Đó là câu hỏi làm tôi nhức nhối. Có cái gì đó siêu phàm… Tôi đi tìm nguồn gốc. Và tôi không thể không kết nối đức tin với những người phi thường này.

Có phải để làm chứng cho họ mà bà viết quyển sách này?

Tôi chứng kiến chiến tranh đã làm cho các dân tộc gục xuống, hận thù xâm chiếm lấn át trái tim, và bất chấp tất cả, Hy vọng vẫn tồn tại nơi những người này, họ gắn kết với thế giới bằng lòng kiên cường, lòng tốt và niềm vui của họ. Một ngọn lửa bên trong thúc đẩy họ. Tôi gặp nhiều người trong số họ, điều đó quý giá đến mức tôi không thể không làm chứng.

Trong số những người này có Paolo, bà đã đề tặng quyển sách cho Paolo.

Bề trên tu viện Mar Moussa là tu sĩ Dòng Tên người Ý sinh năm 1954, vào đầu những năm 1980 cha thành lập cộng đồng phụng vụ theo nghi thức công giáo Syriac. Một người uyên bác, thạo nhiều ngôn ngữ, có năng khiếu kịch nghệ… Nhưng trên hết, đó là người đi đến cùng cam kết của mình: năm 2012 cha bị trục xuất khỏi Syria vì lập trường chống chính phủ, tháng 7 năm 2013 cha bí mật trở lại để thương thuyết giải phóng con tin. Cha biến mất ở Raqqa, không ai biết chuyện gì đã xảy ra với cha. Cha biết rất nguy hiểm, tôi thú nhận tôi đã rất giận cha… Chúng tôi cùng viết các tác phẩm về hồi giáo, về Chúa Giêsu.

Chúa ở giữa đống đổ nát (Dieu au milieu des ruines, Églantine Gabaix-Hialé, nxb. Mame, 2024).

Marta An Nguyễn dịch

Mầu nhiệm của thăng thiên

Mầu nhiệm của thăng thiên

Ronald Rolheiser, 2024-05-13

Thăng thiên là gì? Thăng thiên là một sự kiện trong đời Chúa Giêsu và các môn đệ tiên khởi của Ngài, cũng là ngày lễ của kitô giáo, một thần học, một linh đạo, tất cả kết lại thành một mầu nhiệm mà hiếm khi chúng ta cố gắng giải thích. Thăng thiên là gì?

Có một phần trong sự Thăng thiên là bí ẩn nghịch lý đến kỳ lạ. Đó là nghịch lý: một người nào đó đã đi vào cuộc đời chúng ta, chạm đến chúng ta, nuôi dưỡng chúng ta, xây dựng chúng ta, đem lại cho chúng ta sự sống, người đó là một ơn đem lại sự sống tuyệt diệu. Nhưng trong việc cuối cùng khi chúng ta phải tạm biệt sự hiện diện của người đó, thì họ cũng mang lại một ơn khác. trong việc người nào đó ra đi, cũng có một ơn. Sự hiện diện cũng phụ thuộc vào sự vắng mặt. Có ơn lành chúng ta chỉ có thể trao khi ra đi.

Chính vì thế, khi từ biệt các môn đệ trước lúc thăng thiên, Chúa Giêsu đã có những lời: “Ta đi thì tốt hơn cho anh em. Giờ anh em sẽ buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ biến thành niềm vui. Đừng giữ Ta, Ta phải lên trời.”

Chúng ta nên hiểu những lời này như thế nào? Người chúng ta yêu thương giờ đi xa thì làm thế nào nào có thể tốt hơn được? Làm thế nào mà nỗi buồn của chia ly và sự rời xa đau đớn lại trở thành niềm vui? Làm sao một lời từ biệt cuối cùng lại đem đến sự hiện diện sâu sắc hơn của người đó?

Chuyện này khó giải thích, dù ai cũng có kinh nghiệm trong cuộc đời về chuyện này. Tôi xin đưa ra một ví dụ: Năm tôi 23 tuổi, chỉ trong vòng ba tháng, cả cha mẹ của tôi đều lần lượt qua đời. Với tôi và các anh chị em, nỗi đau mất cha mẹ quá lớn. Như với bất kỳ nỗi mất mát lớn nào, ban đầu chúng ta cảm thấy đau khổ, bị đoạn tuyệt, lạnh lẽo, bất lực, yếu đuối, mất đi mối liên hệ sống còn của mình, và cảm nhận sự tàn bạo của cái chết tuyệt đối ập đến khi chúng ta chưa chuẩn bị đủ. Trong mọi mất mát, cái chết hay một chia ly đau đớn, mới đầu không có gì là ấm áp.

Dĩ nhiên thời gian có thể chữa lành mọi thứ, nhưng nó không chỉ có nghĩa chúng ta được bình an qua năm tháng, nó còn hơn thế. Sau một thời gian, với tôi là vài năm, tôi không còn cảm thấy lạnh lẽo nữa. Cái chết của cha mẹ không còn là chuyện đau đớn. Thay vào đó, sự vắng mặt của họ biến thành sự hiện diện ấm áp, nặng nề nhường chỗ cho nhẹ nhàng trong linh hồn, dường như việc họ không thể nói chuyện với tôi lại là một hiện diện liên tục, vững vàng mới mẻ đầy kinh ngạc, và ơn lành họ chưa mang lại trọn vẹn cho tôi khi còn sống, thì bây giờ lại bắt đầu thấm sâu hơn, vững chắc hơn vào tận tâm hồn tôi. Với các anh chị em của tôi cũng thế. Nỗi buồn của chúng tôi biến thành niềm vui, và chúng tôi bắt đầu tìm thấy lại cha mẹ một cách thâm sâu hơn, ở một nơi sâu thẳm hơn của linh hồn, cụ thể là những nơi mà tinh thần của họ đã bừng nở khi còn sống. Họ đã lên trời, chúng tôi được tốt hơn nhờ thế.

Chúng ta thường xuyên có dạng trải nghiệm này, chỉ là ít mãnh liệt hơn. Chẳng hạn khi con cái trưởng thành ra khỏi nhà để xây dựng cuộc sống riêng, cha mẹ rất buồn. Cái chết thật sự phải xảy ra, sự thăng thiên phải xảy ra. Cách kết nối cũ phải chết đi, dù có đau lòng đi chăng nữa. Nhưng chúng ta biết, con cái chúng ra rời đi thì tốt hơn.

Và chuyện này cũng đúng với mọi chuyện khác trong đời. Khi chúng ta đến thăm ai, điều quan trọng là chúng ta đến, nhưng việc chúng ta đi cũng quan trọng. Chúng ta đi, dù đau đớn, nhưng đó là một phần của món quà khi chúng ta đến thăm. Sự hiện diện của chúng ta phần nào phụ thuộc vào sự vắng mặt của chúng ta.

Chúng ta cẩn thận phân biệt điều này với ý của câu: “Xa cách làm lòng thêm yêu thương.” Câu này phần lớn là không đúng. Sự vắng mặt làm yêu mến thêm, nhưng chỉ trong một thời gian và hầu hết là vì những lý do sai. Sự vắng mặt về thể lý, sự xa cách đơn thuần không có động lực tinh thần sâu sắc thì thường chấm dứt mối quan hệ hơn là đào sâu mối quan hệ. Cuối cùng, gần như lúc nào chúng ta cũng đơn giản là xa rời nhau. Cách sự thăng thiên đào sâu thân mật, hiện diện và ơn lành thì không như thế.

Thăng thiên đào sâu sự thân mật bằng cách cho chúng ta một hiện diện mới, sâu sắc hơn và phong phú hơn, nhưng nó chỉ đến nếu như cách thức hiện diện cũ của chúng ta bị rời đi. Có lẽ chúng ta hiểu chuyện này rõ nhất qua kinh nghiệm con cái trưởng thành và rời nhà. Thật đau đớn khi thấy con cái lớn lên và xa chúng ta. Thật đau đớn khi phải nói tạm biệt. Thật đau đớn khi để ai đó ra đi.

Nhưng nếu con cái có thể nói những lời mà lòng chúng cảm nhận thì chúng sẽ nói như Chúa Giêsu đã nói trước khi thăng thiên: “Con đi thì tốt hơn cho cha mẹ. Giờ cha mẹ sẽ buồn, nhưng nỗi buồn sẽ biến thành niềm vui khi một ngày không xa, con sẽ đứng trước cha mẹ như người con trường thành, có thể cho cha mẹ món quà sâu sắc hơn từ sự trưởng thành của con”.

J.B. Thái Hòa dịch

Giáo hội cần chuyên gia trong ngành truyền thông hơn bao giờ hết

Giáo hội cần chuyên gia trong ngành truyền thông hơn bao giờ hết

Ba khách mời ở hội nghị bàn tròn về báo chí tôn giáo: bà Dominique-Anne Puenzieux, ông Paolo Mariani, bà Anne-Sylvie Sprenger  © Lucienne Bittar.

cath.ch, Lucienne Bittar, 2024-05-15

Bằng cách tài trợ cho các phương tiện truyền thông có khả năng giải thích các sự kiện tôn giáo, các Giáo hội truyền thống Thụy Sĩ cung cấp dịch vụ không chỉ cho các giáo dân mà còn cho toàn xã hội. Họ góp phần vào các cuộc tranh luận dân chủ, xã hội và văn hóa. Đây là điều mà các chuyên gia báo chí tôn giáo Thụy Sĩ vùng nói tiếng Pháp bảo vệ ngày 14 tháng 5 năm 2024 trong một hội nghị bàn tròn tổ chức ở Geneva.

Xã hội được cho là đã thế tục hóa, nhưng việc đi tìm đời sống thiêng liêng vẫn ở trong tâm trí của người đương thời và thực tế tôn giáo thì ở khắp mọi nơi, kể cả tính chính thống trong cuộc chiến giữa Nga và Ukraine.

Các phương tiện truyền thông “thế tục” đầu tư vào những vấn đề này, nhưng đôi khi họ thiếu bí quyết của các nhà báo chuyên ngành. Đây có phải lãnh vực của những người có đức tin hoặc của thần học gia không? Họ có phục vụ cộng đồng tôn giáo mà không vướng vào việc chiêu mộ không?

Để trả lời các câu hỏi này, một số chuyên gia báo chí Thụy Sĩ vùng nói tiếng Pháp đã họp ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại Bảo tàng Cải cách Quốc tế ở Geneva. Cuộc họp có chủ đề “Vai trò của truyền thông tôn giáo ở Thụy Sĩ vùng nói tiếng Pháp” có khoảng năm mươi người trong Giáo hội và giới truyền thông tham dự.

Để phục vụ đức tin và thông tin

Cùng với nhà báo Lucas Vuilleumier, bà Isabelle Falconnier, giám đốc Câu lạc bộ Báo chí Thụy Sĩ CSP chủ tọa buổi họp, bà nhấn mạnh các phương tiện truyền thông có “mối liên hệ với một Giáo hội lịch sử chính thức và truyền thống tôn giáo, Tin lành, cải cách hoặc Công giáo”. Điều gì nổi bật trong bài viết của họ? Phục vụ đức tin hay phục vụ thông tin khách quan? Họ cho biết họ dung hòa cả hai.

Bà Anne -Sylvie Sprenger, chủ bút tờ Protesinfo chia sẻ: “Chúng tôi cần đến nhà báo Lucas Vuilleumier vì chúng tôi cần người giàu kinh nghiệm, hiểu biết các Giáo hội khác, người có đời sống thiêng liêng và hiểu ý nghĩa thế nào là một tín hữu.”

Nhà báo Bernard Hallet, tổng biên tập trang Công giáo Thụy Sĩ được thành lập 10 năm nay khẳng định: “Chúng tôi là những người có đức tin và cũng là nhà báo. Điều quan trọng là có thể giao tiếp, tổng hợp và truyền đi những gì là đời sống đức tin, một đời sống vô cùng phong phú và phức tạp.”

Các chuyên gia được công nhận

Ông Paolo Mariani, giám đốc Văn phòng Truyền thông Tin lành cho biết: “Chúng tôi được cơ quan công quyền kêu gọi nói về tôn giáo và tâm linh một cách trung lập, dù chúng tôi theo bất cứ tôn giáo nào. Không có mục tiêu truyền giáo mà chỉ có mục tiêu giải thích. Tuy nhiên, để có được kiến thức chuyên môn, các nhà báo phải quan tâm đến các vấn đề tôn giáo và kiến thức thần học cá nhân.”

“Chắc chắn chúng tôi là những người có đức tin nhưng cũng là những nhà báo. Điều quan trọng là phải tổng hợp và truyền tải đời sống đức tin, một đời sống vô cùng phong phú và phức tạp.” Bernard Hallet

Với Tạp chí hàng tuần Echo của kitô giáo, câu hỏi được đặt ra theo cách khác vì tờ báo luôn độc lập, dù về mặt lịch sử, báo luôn gần gũi với Giáo hội công giáo. Kể từ năm 2000, tạp chí được thúc đẩy bởi mong muốn cung cấp một khuôn khổ văn hóa và xã hội cho các giá trị mà kitô giáo truyền tải, luôn lấy gia đình là mục tiêu. Bà Dominique-Anne Puenzieux lập luận: “Vì thế tổng biên tập hiện tại của chúng tôi và một trong các nhà báo của chúng tôi được tuyển dụng dựa trên kiến thức về văn hóa kitô giáo và dấn thân của họ trong lãnh vực này.”

Các khách mời nhấn mạnh thách thức của việc phải đáp ứng mong đợi của một số đối tượng, về mặt thế hệ cũng như về các nền văn hóa không phải lúc nào cũng tương thích.

Theo nhà báo Bernard Hallet, không phải chúng tôi phục vụ trong cộng đồng công giáo mà sự đa dạng không tồn tại hoặc các tín ngưỡng và tôn giáo khác bị lãng quên: “Hoạt động báo chí của chúng tôi dần dần nhường chỗ cho phương tiện truyền thông mạng, xử lý tin tức công giáo dưới nhiều hình thức khác nhau, giải thích các sự kiện trong các bài báo và video cũng như sự hiện diện trên mạng xã hội. Điều này giúp chúng tôi gặp các bộ mặt khác nhau, thế hệ khác nhau và truyền những gì tạo nên truyền thống cũng như sự đa dạng của đạo công giáo.

Những người gìn giữ một truyền thống

Bà Anne-Sylvie Sprenger chia sẻ: “Chúng tôi là những người gìn giữ truyền thống, một truyền thống đã cùng đi với nhân loại trong hơn 2000 năm. Sự phong phú này đã dần dần mất đi vì việc truyền tải trở nên khó khăn. Chúng tôi không giỏi hơn các nhà báo khác, nhưng Giáo hội của chúng tôi giúp chúng tôi tập trung vào những chủ đề này. Nói cách khác, các Giáo hội tài trợ cho hoạt động báo chí chuyên biệt, tránh những sai sót mà chúng ta có thể thấy trên báo chí nói chung.”

“Chúng tôi không giỏi hơn các nhà báo khác, nhưng Giáo hội của chúng tôi giúp chúng tôi tập trung vào những chủ đề này.” Anne-Sylvie Sprenger

Ngoài ra, các nhà báo tôn giáo còn được hưởng lợi từ một mạng lưới mà những nhà báo khác thiếu. Bà Joël Burri lưu ý: Điều này giúp họ mở rộng quan điểm mà không phải lần nào cũng mời cùng một chuyên gia.

Phải làm gì khi đứng trước các tin thời sự tiêu cực?

Bà Isabelle Falconnier hỏi các đồng nghiệp cách họ giải quyết những chủ đề nhức nhối: “Thật khó để tìm một khoảng cách phù hợp, khi phải đào sâu vào những tin tức không may liên quan đến một Giáo hội mình có liên hệ như vấn đề lạm dụng trong các Giáo hội.”

Nhà báo Bernard Hallet của trang Công giáo Thụy Sĩ trả lời: “Chúng tôi chưa bao giờ chịu bất kỳ áp lực nào của Giáo hội. Và dù sao nó cũng không có tác dụng với chúng tôi. Chúng tôi giải quyết các vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau. chúng tôi đăng các thông tin có tính cách thời sự ngay lập tức, sau đó chúng tôi có những bài đào sâu để tìm hiểu thêm. Mục đích để giải thích các hiện tượng lạm dụng, bản chất hệ thống của nó, kêu gọi các nạn nhân, các nhà xã hội học và các nhà thần học. Nhưng chúng tôi cẩn thận để không làm độc giả bị tràn ngập, công việc của chúng tôi là cần thiết và có lợi, cho phép chúng tôi thách thức với các giám mục, hỏi họ xem họ làm thế nào để phát triển Giáo hội.”

Bà Anne-Sylvie Sprenger của báo Protestinfo giải thích: “Với vụ nhà báo Gottfried Locher, bị kêu gọi từ chức sau cáo buộc lạm dụng tình dục, tâm lý và tinh thần của một cộng tác viên. Chúng ta cần biết điều gì sẽ có hại cho Giáo hội? Chúng ta phải tuân thủ các quy tắc đạo đức của nhà báo, đối chiếu các nguồn, bối cảnh hóa, cân nhắc tính hữu ích hay không, có nên tiết lộ thông tin hay không. Đối đầu với thế lực phản kháng trong Giáo hội đến lúc nào? Chính sức mạnh phản kháng này là điều các Giáo hội mong muốn.”

Tuy nhiên, một sức mạnh phản kháng bị xử lý sai do thực tế tài chính, do cách kể chuyện cá nhân và tất cả phản hồi tiêu cực của mạng xã hội. Bà Burri chia sẻ: “Nhưng tôi muốn giữ thái độ lạc quan. Chúng tôi tin một Trang Nhất đẹp, không những giúp độc giả đọc những gì họ muốn đọc mà còn bổ sung các điều khác có giá trị.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Làm sao phân biệt được điều siêu nhiên với những chuyện lừa đảo, ảo tưởng hay ma quỷ?

Làm sao phân biệt được điều siêu nhiên với những chuyện lừa đảo, ảo tưởng hay ma quỷ?
la-croix.com, nhà tiểu luận Jean de Saint-Cheron, phụ trách chuyên mục báo La Croix, 2024-05-142024-05-14

Tranh sơn dầu trên vải của danh họa Caravaggio: Bà Thầy bói phiêu lưu.

Nhà tiểu luận Jean de Saint-Cheron suy ngẫm về vấn đề siêu nhiên trong kitô giáo và sự khác biệt giữa siêu nhiên với ma thuật. Trích lời của triết gia Pascal, ông nhắc lại hành động hữu hình của Thiên Chúa “không bao giờ hiển nhiên đến mức có thể thuyết phục được mọi người”. Tác giả trả lời vấn đề này cho các câu hỏi của độc giả.
Nhà tiểu luận Jean de Saint-Cheron
Đã ba tuần nay tôi cố gắng làm sáng tỏ một chủ đề mà người tin hay không tin đều quan tâm: vấn đề siêu nhiên, đặc biệt ở những biểu hiện hữu hình như phép lạ, những hiện tượng phi thường v.v. Trong phạm vi báo La Croix dành cho tôi cũng như cho các tác giả khác trong chuyên mục này chỉ được viết 3.700 ký tự, vì thế với chủ đề quá lớn, quá khó này, cần phải ngắn gọn và chính xác.
Hiện nay với những chuyện huyền bí, mê tín tôi nghĩ chúng ta phải biết phân biệt thế nào là siêu nhiên theo thần học kitô giáo: “Tất cả những điều siêu nhiên trong kitô giáo đều xuất phát từ mệnh lệnh yêu thương, từ tình yêu.” Mệnh lệnh này mang nhiều ý nghĩa với tôi, nhưng có một số người lại nói ngược lại, tôi xin nêu lên ở đây một số yếu tố giúp tôi hy vọng.
Sự nhầm lẫn của siêu nhiên
Truyền thống thần bí kitô giáo luôn cảnh báo để giúp chúng ta chống lại sự nhầm lẫn giữa điều siêu nhiên chính là Thiên Chúa và điều huyền bí mà chúng ta gọi là “siêu nhiên”, vốn không phải là Thiên Chúa, nhưng lại kích thích sự tò mò hời hợt và sự thiếu kiên nhẫn của chúng ta trước những điều chưa biết (đặc biệt là qua các vụ đồng cốt). Một số nhà thần bí vĩ đại nhất lịch sử, Thầy Eckhart, Thầy Ruysbroeck, Thánh Têrêxa Avila, Thánh Gioan Thánh Giá, những người được Chúa ban ơn phi thường đã viết nhiều tác phẩm giúp giáo dân tránh xa ma thuật, mê tín và những hiện tượng kỳ lạ.
Dưới mắt các thánh, điều siêu nhiên có giá trị duy nhất là tình yêu của Thiên Chúa. Thánh Gioan Thánh giá khuyên chúng ta nên cẩn thận với những chuyện huyễn học như đặc ân, các hình ảnh siêu nhiên tưởng tượng… và phải tránh chúng như tránh dịch hạch: “Điều an toàn nhất là phải trốn những chuyện siêu nhiên này. Chúng ta chỉ chấp nhận những gì phù hợp với lý trí và luật Phúc Âm.”
Tiêu chuẩn để phân biệt
Đây là tiêu chuẩn quan trọng để phân biệt điều gì là siêu nhiên và điều gì là lừa đảo, mê sảng hay ma quỷ (tôi biết tôi sẽ gặp rủi ro khi dùng thuật ngữ này). Dù không phải là kitô hữu, nhưng triết gia Bergson đã đưa ra những điều cốt yếu: “Chủ nghĩa thần bí chân chính, trọn vẹn và tích cực được lan rộng nhờ lòng bác ái vốn là bản chất của nó. Chủ nghĩa thần bí này là cảm giác của một số người có được khi họ là công cụ của một Thiên Chúa yêu thương mọi người bằng tình yêu bình đẳng, Đấng xin họ yêu thương nhau.” Và cảm giác chỉ là công cụ giúp chúng ta khiêm tốn, không kiêu hãnh; nhu cầu tình yêu này làm chúng ta trở nên rộng lượng, không ích kỷ; đáp ứng lời yêu cầu thiêng liêng này là làm cho nó thành cụ thể chứ không phải chỉ trên lý thuyết.
Triết gia Pascal viết: “Đức tin khác với bằng chứng. Hành động hữu hình của Thiên Chúa không bao giờ hiển nhiên đến mức có thể thuyết phục được mọi người: có đủ ánh sáng cho những ai mong muốn thấy, có đủ bóng tối cho những ai có khuynh hướng ngược lại.” Đó là không gian dành cho tự do con người. Thiên Chúa không áp đặt. Các phép lạ không thuyết phục được những người không muốn nhìn thấy chúng – điều này chúng ta thấy rõ trong Tin Mừng. Qua đức tin, chúng ta thấy Chúa ban những dấu lạ và chúng ta nhận biết những dấu chỉ này. Nhưng trên hết, đức tin khuyến khích chúng ta trở nên những dấu chỉ: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” (Ga 13:35). Điều làm cho Thánh Phanxicô Assisi thành thánh, là chứng nhân của Thiên Chúa không phải là các dấu thánh nhưng là nụ hôn ngài hôn người cùi.
Marta An Nguyễn dịch

Những người mê tín, họ tin gì?

Bài mới nhất