Home Blog Page 190

Đức Phanxicô đóng cánh cửa chức phó tế nữ

Đức Phanxicô đóng cánh cửa chức phó tế nữ

la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, 2024-05-21

Trong một phỏng vấn với đài truyền hình CBS Mỹ phát sóng ngày thứ ba 21 tháng 5, Đức Phanxicô đóng cánh cửa chức phó tế nữ. Evandro Inetti / ZUMA/MAXPPP

“Tôi tò mò muốn biết, ngày nay liệu một cô bé công giáo lớn lên có hy vọng nào thành phó tế để tham dự vào đời sống Giáo hội không?” Trả lời câu hỏi của nhà báo Mỹ Norah O’Donnell, Đức Phanxicô chỉ trả lời bằng một từ: “Không”. Trong cuộc phỏng vấn này, Đức Phanxicô đã loại bỏ bất kỳ chức phó tế nữ nào.

Ngài giải thích: “Nếu chúng ta nói về phó tế với chức thánh thì không. Nhưng phụ nữ luôn có chức năng phó tế mà không phải là phó tế, đúng không? Phụ nữ phục vụ rất tốt với tư cách là phụ nữ, không phải với tư cách là thừa tác viên trong khuôn khổ chức thánh.”

Nói theo cách này, dường như Đức Phanxicô đóng cửa mọi tham gia của phụ nữ vào chức phó tế, như một thứ trật. Tuy nhiên ngài xem đây như chức năng, không liên hệ với mối liên hệ nào với giới tu sĩ.

Hai ủy ban thừa tác

Giáo hội công giáo có ba chức thánh dành cho nam giới: giám mục dành cho giám mục, linh mục dành cho linh mục và phó tế dành cho phó tế. Trong nhiều năm nay, các tranh luận về chức phó tế vĩnh viễn cho phụ nữ vẫn còn tranh luận. Các điều kiện nghiêm ngặt: nếu độc thân, họ không được làm phó tế trước 25 tuổi, nếu lập gia đình phải trước năm 35 tuổi, trong trường hợp này phải có sự đồng ý của vợ.

Kể từ đầu triều, Đức Phanxicô đã mở hai ủy ban làm việc về vấn đề này dưới sự lãnh đạo của bộ Giáo lý Đức tin. Kết luận của họ chưa bao giờ được công bố. Chủ đề này cũng là chủ đề của sôi nổi trong các phiên họp Thượng Hội đồng tháng 10 năm ngoái.

Đức Phanxicô cũng đã khởi xướng tranh luận này với các hồng y trong một Ủy ban C9 Hồng y. Nữ tu Linda Porcher, người chịu trách nhiệm về chức phó tế giải thích với báo La Croix: “Đa số thành viên trong hội đồng hiểu sự cấp bách về chủ đề chức phó tế nữ, liệu khả năng này có nên được mở ra cho phụ nữ hay không và dưới hình thức nào.”

Trong cuộc phỏng vấn này, nhà báo Mỹ Norah O’Donnell đặt câu hỏi về vấn đề chúc phúc cho các cặp đồng tính, ngài nói: “Điều tôi cho phép không phải là chúc lành cho kết hợp, phải phân biệt giữa chúc phúc và bí tích. Tài liệu của Vatican nói đến các cặp vợ chồng đồng tính không bao gồm từ ‘kết hợp’, chúc phúc cho mỗi người, được. Chúc phúc cho tất cả mọi người.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Vatican minh bạch cho hồng y Gérald Cyprien Lacroix

Vatican minh bạch cho hồng y Gérald Cyprien Lacroix

Hồng y Gérald Cyprien Lacroix

Hồng y Gérald Cyprien Lacroix được Vatican xóa các cáo buộc về hành vi đụng chạm tình dục với một phụ nữ ẩn danh trong một vụ kiện tập thể.

lapresse.ca, Ban biên tập, 2024-05-21

Ngày thứ hai 20 tháng 5, Vatican công bố kết quả điều tra, xác nhận không thấy bất kỳ hành vi sai trái hoặc lạm dụng nào của tổng giám mục Lacroix, giáo phận Quebec Canada, vì thế không có thủ tục tố tụng giáo luật nào cho vụ này.

Tháng 2 vừa qua, cựu thẩm phán Tòa án cấp cao André Denis được giao nhiệm vụ điều hành vụ án. Ngày 6 tháng 5, ông hoàn thành báo cáo điều tra sơ bộ và chuyển đến Đức Phanxicô trong những ngày sau đó.

Theo Vatican, “dựa trên các sự kiện đã được thẩm phán xem xét, báo cáo không giúp xác định được các hành vi sai trái hoặc lạm dụng của hồng y Gérald C. Lacroix”. Trong một tuyên bố, Vatican cám ơn thẩm phán Denis vì công việc của ông, cho biết thẩm phán đã nhận được ủy quyền xuất bản một bản ghi nhớ tóm tắt các yếu tố trong cuộc điều tra của ông.

Thẩm phán Denis sẽ tổ chức cuộc họp báo sáng thứ ba 21 tháng 5 tại Québec để trình bày kết luận của ông. Về phần hồng y Lacroix, ngài cho biết ngài sẽ có kế hoạch phản ứng sau.

Tên của hồng y Lacroix có trong các tài liệu pháp lý ngày 26 tháng 1 của một vụ kiện tập thể ở giáo phận Québec của các nạn nhân bị tấn công tình dục.

Các cáo buộc chống lại hồng y có từ năm 1987 và 1988, nạn nhân lúc đó  17 tuổi. Hồng y Lacroix kiên quyết phủ nhận những cáo buộc này. Trong một video, ngài cho biết ngài chưa bao giờ có một hành động không phù hợp nào với bất kỳ ai.

Ngài tuyên bố tạm thời rút lui khỏi chức vụ cho đến khi tình hình được làm rõ. Hồng y Lacroix là một trong những nhân vật công giáo có ảnh hưởng nhất ở Canada. Ngài được bổ nhiệm làm tổng giám mục Québec năm 2011 và nghiễm nhiên thành người đứng đầu Giáo hội công giáo Canada. Đức Phanxicô phong ngài làm hồng y tháng 1 năm 2014.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Một cuộc phỏng vấn hiếm hoi của Đức Phanxicô với Chương trình 60 Phút của CBS

Một cuộc phỏng vấn hiếm hoi của Đức Phanxicô với Chương trình 60 Phút của CBS

belgicatho.be, Norah O’Donnell, CBS News, 2024-05-19

Đức Phanxicô đã có một cuộc phỏng vấn lịch sử với bà Norah O’Donnell, người dẫn chương trình và biên tập viên tin tức buổi tối của đài CBS phát sóng ngày 20 tháng 5 lúc 10 giờ tối, ngài nói về các quốc gia đang có chiến tranh, cái nhìn của ngài về Giáo hội công giáo, di sản của Giáo hội, niềm hy vọng của ngài với trẻ em và nhiều vấn đề khác. Ngài nói: “Sự thờ ơ toàn cầu là một căn bệnh rất nặng”.

Đức Phanxicô là giáo hoàng đầu tiên đến từ Nam Mỹ, ngài là giáo hoàng cống hiến cuộc đời và sứ vụ của mình cho người nghèo, cho người ở vùng ngoại vi và cho người bị lãng quên. Chúng tôi được mời tham dự cuộc phỏng vấn hiếm hoi tại Vatican, nói chuyện với ngài bằng tiếng mẹ đẻ Tây Ban Nha của ngài qua thông dịch viên trong hơn một giờ. Tình cảm ấm áp, nhanh trí và đức tin của giáo hoàng 87 tuổi không hề bị mất trong bản dịch. Chúng tôi bắt đầu thảo luận về Ngày Thế giới Trẻ em đầu tiên của Giáo hội sẽ tổ chức ngày 25 tháng 5 với hàng ngàn trẻ em, trong đó có các trẻ em tị nạn chiến tranh.

Norah O’Donnell: Nhân Ngày Thế giới Trẻ em, Liên Hiệp Quốc cho biết có hơn một triệu người dân sẽ phải đứng trước nạn đói ở Gaza, trong đó có nhiều trẻ em.

Đức Phanxicô: Không chỉ ở Gaza. Nhưng còn ở Ukraine. Nhiều trẻ em Ukraine đến đây đã không còn nụ cười, thật đau đớn các em đã quên làm sao để cười!

Cha có lời nào nhắn cho Vladimir Putin về Ukraine không?

Xin vui lòng, tất cả mọi người hãy dừng lại. Dừng chiến tranh và phải tìm cách nói chuyện hòa bình. Đấu tranh để có hòa bình, một hòa bình được thương thuyết luôn tốt hơn là một cuộc chiến bất tận.

Những gì xảy ra ở Israel và Gaza đã tạo nhiều chia rẽ và đau khổ trên thế giới. Tôi không biết cha có theo dõi những cuộc biểu tình lớn ở các trường Đại học Mỹ và sự trỗi dậy của chủ nghĩa bài do thái không, cha sẽ nói gì để thay đổi những chuyện này?

Mọi hệ tư tưởng đều xấu, chủ nghĩa bài do thái là một hệ tư tưởng, nó rất xấu. Bất kỳ “chống đối” nào cũng là xấu. Chúng ta có thể chỉ trích chính phủ này chính phủ kia, chính phủ Israel, chính phủ Palestine. Chúng ta có thể chỉ trích bất cứ điều gì chúng ta muốn, nhưng không được “chống” một dân tộc. Không chống người Palestine cũng không chống người do thái. Không.

Trong nhiều bài mọi chuyện của cha, cha kêu gọi hòa bình, kêu gọi ngừng bắn, cha có thể làm trung gian cho hòa bình không?

Điều tôi có thể làm là cầu nguyện. Tôi cầu nguyện rất nhiều cho hòa bình. Và tôi luôn nhắc lại: “Xin dừng lại. Xin thương thuyết.” (Ngài thở dài).

Cầu nguyện là trọng tâm đời của ngài. Ngài sinh ra ở Argentina năm 1936 trong một gia đình nhập cư Ý. Trước khi vào chủng viện, ngài là kỹ sư hóa học. Đời sống của ngài đơn giản. Ngài vẫn mang cây thánh giá bạc đơn sơ của thời ngài là tổng giám mục Buenos Aires. Nơi ngài sống đã tạo nên phong cách cho triều của ngài 11 năm trước. Ngài không ở Dinh tông tòa, ngài ở Nhà Thánh Marta.

Đó là nơi chúng tôi gặp ngài, dưới bức tranh Đức Mẹ tháo gỡ nút thắt. Ngài lúc nào cũng hài hước, cả khi nói đến những chủ đề nghiêm túc như  cuộc khủng hoảng di cư.

Gia đình của cha di cư từ Bắc Ai-len qua Mỹ năm 1930 để có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Gia đình cha đi trốn chủ nghĩa phát xít. Cha nói chuyện với người di cư, với trẻ em, cha khuyến khích các chính phủ xây cầu, không xây bức tường.

Di cư là điều làm cho một đất nước phát triển. Người ta nói người Ai-len di cư mang theo whisky, còn người Ý mang theo mafia… (cười) Đùa thôi. Đừng hiểu lầm điều này. Nhưng người di cư đôi khi phải chịu đựng rất nhiều. Họ đau khổ rất nhiều.

Tôi lớn lên ở Texas và tôi không biết cha có nghe tin thời sự, bang Texas đang đóng cửa một tổ chức từ thiện công giáo ở biên giới Mexico chuyên  hỗ trợ nhân đạo cho những người nhập cư không giấy tờ. Cha nghĩ sao?

Điều này thật điên rồ. Quá điên rồ. Đóng cửa biên giới và để di dân ở đó thì thật điên rồ. Người di cư phải được đón nhận. Sau đó phải xem xét để đối xử với họ như thế nào. Mỗi trường hợp phải được xem xét một cách nhân đạo.

Vài tháng sau ngày được bầu chọn, cha đến hòn đảo nhỏ Lampedusa của Ý gần châu Phi để gặp người di cư trốn nghèo đói và chiến tranh.

Cha nói về đau khổ. Tôi rất xúc động khi cha nói về sự thờ ơ toàn cầu. Xin cha cho biết câu chuyện này.

Bà muốn tôi nói rõ? Mọi người rửa tay, có quá nhiều quan Philatô… họ thấy chiến tranh, bất công, tội ác… và họ rửa tay. Đó là thờ ơ, đó là trái tim chai sạn… Chúng ta phải làm cho trái tim rung động lại. Chúng ta không thể thờ ơ trước những bi kịch như vậy của nhân loại. Toàn cầu hóa thờ ơ là một bệnh rất nặng.

Đức Phanxicô đã không thờ ơ trước các vụ bê bối xảo quyệt nhất trong Giáo hội, nạn lạm dụng tình dục với hàng trăm ngàn trẻ em nạn nhân trên thế giới trong nhiều thập kỷ.

Cha đã làm hơn bất cứ ai để cải cách Giáo hội công giáo, ăn năn về việc giáo sĩ lạm dụng tình dục trẻ em một cách đáng khinh bỉ trong nhiều năm. Nhưng Giáo hội đã làm đủ chưa?

Giáo hội phải tiếp tục làm nhiều hơn. Thật không may, thảm kịch lạm dụng là quá lớn, và khi đối diện với nó, một lương tâm đúng đắn không những không cho phép mà còn đưa ra những điều kiện để chuyện này không thể tiếp tục xảy ra.

Cha đã nói không khoan nhượng.

Điều này không thể dung thứ được. Khi một nam hay một nữ tu sĩ lạm dụng, luật pháp sẽ xử họ. Về điểm này, đã có rất nhiều tiến bộ.

Chính khả năng tha thứ và cởi mở của Đức Phanxicô đã quyết định vai trò lãnh đạo của ngài với 1,4 tỷ người công giáo. Trong một cuộc họp báo trên máy bay từ Rio de Janeiro về Rôma năm 2013, ngài đề cập đến vấn đề đồng tính. Ngài nói: “Nếu người đồng tính chân thành đi tìm Chúa thì tôi là ai mà phán xét họ?” Và ngài không dừng ở đó.

Năm ngoái cha đã cho phép các linh mục chúc phúc cho các cặp đồng giới. Đó là một thay đổi lớn. Xin cha giải thích.

Điều tôi cho phép không phải là chúc phúc cho sự kết hợp. Điều này không thể thực hiện vì chúc phúc không phải bí tích. Tôi không thể. Chúa đã quyết định. Nhưng để chúc phúc cho từng người thì được. Chúc phúc dành cho tất cả mọi người. Nhưng chúc phúc cho kết hợp đồng tính là đi ngược với quyền được ban, đi ngược với lề luật của Giáo hội. Nhưng chúc phúc cho mỗi người thì được, chúc phúc dành cho tất cả mọi người.

Cha đã nói: “Tôi là ai mà phán xét. Đồng tính không phải là tội ác.”

Đó là một thực tế của con người.

Một số giám mục bảo thủ ở Hoa Kỳ phản đối những nỗ lực mới của cha trong việc xem xét lại giáo lý và truyền thống. Cha phản ứng thế nào trước những lời chỉ trích của họ?

Bà dùng một tính từ: “bảo thủ”. Có nghĩa, người bảo thủ là người bám vào một cái gì đó và không muốn nhìn xa hơn. Đó là thái độ tự sát. Vì một bên là truyền thống, xem xét những tình huống trong quá khứ, nhưng bên kia là nhốt mình vào chiếc hộp giáo điều.

Đức Phanxicô đã đặt nhiều phụ nữ vào những vị trí quyền lực hơn bất kỳ giáo hoàng tiền nhiệm nào, nhưng ngài nói với chúng tôi ngài phản đối việc phụ nữ làm linh mục hoặc phó tế.

Sự gắn bó của Đức Phanxicô với học thuyết truyền thống đã làm cho một phóng viên Vatican nhận thấy ngài đã thay đổi bầu khí Giáo hội, nhưng về cơ bản thì lời nói vẫn giống nhau. Điều này làm thất vọng những người muốn thấy ngài thay đổi chính sách hôn nhân cho các linh mục, tránh thai và mang thai hộ.

Tôi biết có nhiều phụ nữ sống sót sau căn bệnh ung thư và họ không thể có con. Điều này đi ngược lại học thuyết của giáo hội.

Về việc mang thai hộ, theo đúng nghĩa của thuật ngữ là không được phép. Đôi khi việc mang thai hộ đã thành việc kinh doanh và nó rất xấu.

Nhưng đôi khi với một số phụ nữ, đó là hy vọng duy nhất.

Có thể được. Hy vọng còn lại là nuôi con nuôi. Tôi muốn nói, tùy theo từng trường hợp, tình huống phải được xem xét cẩn thận và rõ ràng về mặt y khoa và đạo đức. Tôi nghĩ những trường hợp này đều có quy luật chung nhưng phải xét từng trường hợp cụ thể để lượng định tình trạng, để không vi phạm nguyên tắc đạo đức. Nhưng bà đúng. Tôi thích cách bà nói: “Trong một số trường hợp, đó là hy vọng duy nhất”. Điều này cho thấy bà cảm nhận vấn đề này rất sâu sắc. Xin cám ơn. (cười)

Tôi nghĩ đó là lý do vì sao rất nhiều người đã tìm thấy hy vọng ở cha vì có lẽ cha cởi mở và bao dung hơn các lãnh đạo trước đây của Giáo hội.

Chúng ta phải cởi mở với mọi thứ. Giáo Hội là cho mọi người, mọi người, mọi người. Ai cũng là kẻ có tội, tôi cũng là kẻ có tội. Mọi người! Tin Mừng dành cho mọi người. Nếu Giáo hội trục xuất một nhân viên hải quan thì đó không còn là Giáo hội của Chúa Kitô nữa. Giáo hội là cho mọi người. 

Khi nhìn thế giới, điều gì m cho cha hy vọng?

Mọi thứ. Có những thảm kịch nhưng cũng có những điều tốt đẹp. Có những người mẹ anh hùng, những người cha anh hùng, những người có hy vọng và ước mơ, những người nhìn về tương lai. Điều này mang lại cho tôi nhiều hy vọng. Ai cũng muốn sống. Ai cũng muốn tiến về phía trước. Và về cơ bản mọi người là tốt. Về cơ bản tất cả chúng ta đều tốt. Đúng, có những kẻ không tốt và tội lỗi, nhưng bản thân trái tim là tốt.

Marta An Nguyễn dịch

Xứng đáng với mẹ tôi…

Xứng đáng với mẹ tôi…

Sáng nay trước khi đi học lớp: Phúc Âm hóa ước muốn, tôi nhận thư của cha xứ Đốc Sơ nói về lòng bác ái của mẹ tôi, đọc xong tôi ngẫn ngơ cả ngày, đầu óc cứ nghĩ về mẹ tôi, tôi cảm thấy như có một món nợ chưa trả xong…

Mẹ tôi có lòng bác ái, chúng tôi sống quen trong bầu khí này nên chẳng còn thấy đó có một cái gì lạ lùng, phi thường…

Giáo sư dạy lớp Phúc Âm hóa ước muốn là một cha lớn tuổi, dòng Truyền Giáo Tự Hiến (Oblats: dòng tự hiến cho Chúa trong tu viện với tất cả tài sản của mình, nhưng không có lời khấn và không mặc áo dòng). Đó là một giáo sư uyên bác, nhưng điều gây ấn tượng nơi giáo sư là khi nhắc đến các tư tưởng gia có cuộc đời thánh thiện, ông xúc động mãnh liệt, giọng nói run run, cung cách tôn kính.

Phúc Âm hóa ước muốn! Ước muốn gì trong cuộc đời? Ước muốn ba điều quan trọng:

– Một cái gì tốt.

– Một cái gì đúng.

– Một cái gì đẹp.

Và phải vinh danh lòng tốt của người khác. Chưa vinh danh lòng tốt của người khác thì khoan nói đến chuyện vinh danh Chúa.

Vị giáo sư xúc động sâu xa khi nhắc đến lời nói của nhà huyền bí Thụy Sĩ Maurice Zundel: “Tôi đi diễn thuyết nhiều, trên đường đi tôi gặp rất nhiều người, nhưng dù đó là người hành khất, tôi cũng phải tin tưởng và vinh danh lòng tốt của họ, tôi phải xứng đáng với lòng tốt của họ, có như thế tôi mới xứng đáng với lòng tốt của Thiên Chúa.”

Cả ngày tôi cứ nhẩm đi nhẩm lại bức thư của cha xứ Đốc Sơ:

Đốc Sơ, tháng 11-2002

Xin chào chị,

 

Cách đây hai năm, khi bà ngoại về thăm Đốc Sơ, bà thấy ghế ngồi trong nhà thờ xiêu vẹo, hư, mọt, chật hẹp… Bà không chịu được liền phán: “Dì sẽ cho tiền đóng ghế mới”. Tôi tiếc tiền giùm cho bà, vì tốn khá nhiều tiền, nên can bà:  “Thôi kệ!”.

Một năm sau bà gởi thơ xin tôi tính toán đóng ghế tốn bao nhiêu? Tôi giả vờ không trả lời. Ít tháng sau bà gởi thơ nhắc lại và bảo: phải đóng bàn quì có bọc nệm cho khỏi đau đầu gối. Tôi tức cười quá, vì cả giáo phận Huế không có nhà thờ nào có ghế quì bọc nệm! Mà cả nước Việt Nam e cũng chẳng có nhà thờ nào có ghế quỳ bọc nệm!

Tôi trả lời sơ sơ cũng tốn trên 1.000. Bà lặp lại đóng bàn quì bọc nệm! Tốn nhiều tiền lắm! Thực ra nếu đóng mới tất cả 60 bộ ghế gỗ thì phải tốn hơn gấp rưỡi.

Bây giờ bà không tha cho đống ghế xứng đáng làm củi mùa đông!

Vừa mừng cho giáo xứ, mà cũng lo cho lòng bác ái quá sức của bà. Bà đã là bà cố mà bà chưa chịu nghỉ ngơi, cứ luôn lo lắng làm việc, giúp hết người này tới người kia, lo hết việc này tới việc nọ.

Ghế đóng chừng một tháng là xong. Bà sắp về Việt Nam phải không chị?

Xin thăm chị,

Vì sao mẹ tôi cao cả như thế mà lâu nay tôi không thấy, tôi chỉ thấy bà qua hình ảnh một người mẹ hay than phiền con, một người vợ hay cằn nhằn chồng… tôi chưa thấy được chiều kích sĩ phu, chiều kích lương thức nơi mẹ tôi.

Sĩ phu: Khi nước nhà gặp nguy biến, sĩ phu ra tay. Khi ai thiếu thốn, việc gì cần làm, sĩ phu ra tay. Mẹ tôi như thế!

Lương thức: Khi lương tâm lay động, thấy việc tốt, việc đúng, việc đẹp thì âm thầm làm. Mẹ tôi như thế!

Lời vị giáo sư giảng rõ ràng: “Không chối cãi, bác ái là một ơn…”

Ngồi học mà tôi cứ thầm trách mình ngu si, khi nói đến tài ba của Mozart, của các nghệ sĩ, lúc nào tôi cũng cho đó là ơn của Chúa, ngưỡng phục họ là chuyện dư thừa, thế nhưng lòng vẫn cứ thầm mong mình có được ơn như vậy. Còn bác ái cũng là một ơn mà tôi xem những người làm việc bác ái là những người có dư của cải! Suy nghĩ như thế, tôi thật không xứng đáng nhận của cải, không xứng đáng là con của mẹ tôi, lại càng không xứng đáng là con Chúa!

Tôi phải vinh danh lòng tốt của mẹ tôi.

Tôi phải xứng đáng với lòng tốt của bà.

Bây giờ công việc đóng bàn ghế bà đã âm thầm làm xong. Từ nay tôi phải xin bà cho tôi phụ một tay vào các công việc của bà.

Cám ơn bức thư của cha xứ Đốc Sơ.

Cám ơn giáo sư đã mở trí cho tôi.

Tạ ơn Chúa đã dẫn đường cho tôi đi.

Marta An Nguyễn

Thánh Augustinô, tình yêu, tình dục và tội lỗi… một ngộ nhận?

Thánh Augustinô, tình yêu, tình dục và tội lỗi… một ngộ nhận?

 

lavie.fr, Isabelle Francq, 2024-05-09

Thánh Augustinô trong phòng làm việc của ngài, Tranh Botticelli.

Phát biểu tại hội nghị Triết học, linh mục Dòng Tên Dominique Salin, giáo sư thần học và văn học tâm linh tại Trung tâm Sèvres, Paris gạt bỏ những thành kiến mà Giáo hội đã phải trả giá của việc từ bỏ tính dục của Thánh Augustinô.

Dù tình yêu là trọng tâm trong các quan tâm của con người, nhưng tình yêu không hài hòa tốt với triết học, ngoài triết gia Plato, ít nhà tư tưởng Thời cổ đại xem tình yêu là chủ đề để suy nghĩ. Nhưng với Thánh Augustinô thì ngược lại, giữa tội lỗi và lòng đạo đức, tình yêu là trọng tâm. Để chứng minh rõ hơn điều, thần học gia vĩ đại là người đầu tiên trong nghệ thuật viết tiểu sử kể trải nghiệm lãng mạn của ngài. Chủ đề hội thảo Triết học ở Saint-Émilion năm nay là Tình yêu. Linh mục Dòng Tên Dominique Salin, chuyên gia về Thánh Augustinô giải thích tư tưởng ít được biết này ở phương Tây.

Chàng trai hào hoa quyến rũ các cô?

Don Juan (chàng trai hào hoa) ăn năn, khi được ơn Chúa đánh gục lúc 33 tuổi! Thánh Augustinô (354-430) đã bắt kitô giáo trả giá cho việc từ bỏ nhục dục của mình. Khi nói về Thánh Augustinô và tình yêu, chúng ta nên chấm dứt thành kiến này. Vào đầu thế kỷ thứ 5, ngài là giám mục giáo phận Hippone (bây giờ nay là Annaba, Algeria), người trách nhiệm về học thuyết tình dục của kitô giáo, bị đánh dấu bằng sự cấm đoán và mặc cảm tội lỗi. Thánh Augustinô có phải là người phát minh ra tội nguyên tổ không? Tội này có liên quan đến tình dục không? Với nhiều người, lỗi của ông Adong và bà Evà là đã ăn trái táo và truyền về mặt tình dục cho nhân loại, một sở thích quá mức với loại trái ẩn dụ bị cấm! Thực tế ít đơn giản, ít đẹp, ít mang tính triết lý và thi vị.

“Tôi phân tán sức lực, tôi sôi sục với nhục dục của tôi.” Chính những lời tự thú này mà Thánh Augustinô có gương mặt của người trụy lạc ăn năn. Và chúng ta luôn nhấn mạnh, sau khi trở lại năm 33 tuổi, quyết định đầu tiên của ngài là đuổi người phụ nữ ngài đang ở cùng. Với một số người, bạo lực ngài lên án trong Lời thú tội có thể là dấu hiệu của một dạng ám ảnh tình dục bệnh hoạn. Nhưng những thái quá mà Thánh Augustinô tự buộc tội chủ yếu liên quan đến những ngày hè ngài buộc phải ở Thagaste, ngôi làng quê hương của ngài khi ngài 15 tuổi. Thân phụ của ngài là nông dân nghèo nên ngài phải chờ học bổng để đi học khoa hùng biện. Để giết thì giờ, ngài đi lễ ngày chúa nhật để tán tỉnh các cô (Lời thú tội III, 3). Nhưng những hành động lệch lạc này không kéo dài.

Năm 17 tuổi khi còn học ở Carthage, ngài sống với người phụ nữ của đời mình, mẹ của một người con trai, ngài sống với bà 15 năm. Ngài chia tay bà một năm trước khi ngài trở lại, ngài quyết định rửa tội và đi tu. Chấm dứt để theo đuổi sự nghiệp. Ngài được bổ nhiệm làm diễn giả chính thức của triều đình Milano, người hùng biện chính thức của hoàng đế – một thiếu niên dưới quyền nhiếp chính của mẹ – ngài sắp được bổ nhiệm làm thống đốc một tỉnh của Đế quốc, ngài ở đỉnh cao danh dự, nhưng không có tiền. Sau đó, ngài bỏ người phụ nữ này, đính hôn với một nữ thừa kế giàu có nhưng cô gái mới 12 tuổi, tuổi hợp pháp là 14 tuổi nên ngài phải chờ.

“(…) Không thể chịu đựng được thời gian kéo dài áp đặt (hai năm trước khi có được người yêu), ít mặn mà với hôn nhân nhưng đúng hơn là nô lệ của đam mê, tôi có một phụ nữ khác; tất nhiên, đó không phải là vợ, nhưng là hình thức nuôi dưỡng căn bệnh trong tâm hồn tôi và kéo dài cho đến khi tôi có vợ.” Thú nhận lệ thuộc vào xung năng tình dục, xấu hổ nói lên ở đây là điểm quyết định trong quan niệm tình yêu của Thánh Augustinô. Đúng vậy, cho đến một ngày tháng 8 năm 386, khi nghe một giọng nói từ một nơi khác, ngài quyết định rửa tội và đi tu. Ngài tự xét,  ngài không có khả năng sống tiết dục. Đó là đau khổ và thất vọng của ngài.

Khi mới bắt đầu học, ngài đọc các sách của triết gia Cicéron và của phái khắc kỷ, họ đã gieo vào lòng ngài ước muốn thành nhà hiền triết, có nghĩa là thành thánh. Việc khuyến khích tiết dục không phải là phát minh của kitô giáo. Nó không chiếm ưu thế trong đầu óc của người hy lạp-latinh ngoại giáo, nhưng cũng không kém phần có mặt; Plotinus, nhà Tân Platon vĩ đại vẫn độc thân. Điều này vẫn chưa được nhấn mạnh đủ: lý tưởng nên thánh mà Thánh Augustinô đặt ra cho ngài ở tuổi 16 gồm cả việc tiết dục. Nhưng đó là thời điểm ngài đang yêu và muốn ổn định cuộc sống. Từ đó trở đi, đời sống hôn nhân của ngài bị lương tâm cắn rứt. Ngài nhấn mạnh việc kết hôn cản trở sự phát triển đời sống thiêng liêng. Tất cả đã thay đổi kể từ ngày ngài nghe lời mời gọi của Chúa Kitô và của Thánh Phaolô để “thành hoạn quan cho nước Chúa”. Cuối cùng ngài tìm được bình an tâm hồn. Chắc chắn, tiết dục vẫn còn gay go, nhưng ngài không bao giờ tiếc nuối.

Khởi đầu là ham muốn

Theo Thánh Augustinô, tình yêu vượt quá tình dục. Yêu, trong tiếng la-tinh, có nghĩa là thèm ăn (appetere); là chuyển động hướng tới một cái gì đó hay một ai đó (motus ad aliquid). Tình yêu là ham muốn. Ngài có câu nói tuyệt vời: “Tình yêu mở rộng ham muốn, ham muốn mở rộng tình yêu.” Tình yêu cũng như ham muốn là điều tự nhiên của con người. Và chính sự ham muốn đã tạo nên con người. Con vật bị điều khiển bởi phản xạ, bởi sự thúc đẩy và nhu cầu của nó. Con người cũng vậy, nhưng con người có khả năng trì hoãn thỏa mãn để có được khoái cảm cao hơn (delectatio).

Là sinh vật của ham muốn, con người bị đánh dấu bởi sự thiếu thốn. Thánh Augustinô đuổi theo khoái cảm nào? Ngài trả lời: “Sự tốt lành tối thượng, cuộc sống hạnh phúc, ơn lành”. Trạng thái tâm lý tương ứng song song với nó là niềm vui. Ngài khẳng định: con người được tạo dựng cho niềm vui, Thiên Chúa là niềm vui của con người. Vì thế khi đi tìm niềm vui cho mình, chính Thiên Chúa là Đấng con người phải đi tìm, dù con người có biết hay không. Câu nói nổi tiếng của ngài: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa và tâm hồn chúng con không ngơi nghỉ (inquietum) cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa (quiescat in te).”

Nơi con người, lòng khao khát vô tận về cái tuyệt đối là dấu hiệu của Thiên Chúa. Chính ước muốn của Thiên Chúa, tình yêu của Thiên Chúa là động lực của con người. Thánh Augustinô nói: “Khi con người  nghĩ mình đang đi tìm an toàn, niềm vui, yên bình, thanh thản, công lý, khi con người nghĩ mình yêu tiền bạc, phụ nữ, thành công, nhưng thực ra thì họ đang đi tìm Chúa. Vinh quang hay hưởng thụ sẽ không bao giờ là đủ. Mong muốn, hay đúng hơn là nhu cầu, không ngừng lặp lại. Nhưng thường thì mong muốn của chúng ta nhắm sai mục tiêu. Khuynh hướng cá nhân thích mình hơn người khác và nhìn thấy nơi các tạo vật khác là phương tiện để thỏa mãn nhu cầu của mình,” theo thần học của Thánh Augustinô, nó mang một cái tên tai hại: tội nguyên tổ. Nó bóp méo tình yêu thành tự ái thay vì tình yêu đầu tiên và quan trọng nhất phải là tình yêu với Thiên Chúa. 

Hai tình yêu

Đây là cách hình thành nhân học của Thánh Augustinô. Chỉ có một tình yêu, vì ham muốn là một. Nhưng tình yêu này có thể có hai hình thức không tương thích, nó tùy thuộc vào đối tượng nó hướng tới. Ngài viết: “Ai yêu thì muốn trở thành một với những gì mình yêu.” Vì thế: “Con người trở thành những gì mình yêu thích: ai yêu thế gian thì thành thế gian; ai yêu Thiên Chúa hằng hữu thì sẽ được phần hằng hữu trong Chúa.” Đó là chủ đề của hai đô thị – dưới thế và trên trời – trong quyển sách chính của ngài: Đô thị của Chúa (tập 2, XIV, 28).

Chìa khóa của lịch sử nhân loại là đối lập giữa tình yêu đặt Thiên Chúa lên hàng đầu và tình yêu đặt mình lên trên, chỉ yêu các tạo vật vì những lợi ích có được từ chúng. Trong trường hợp đầu tiên, tình yêu Thiên Chúa làm trung gian: Tôi yêu các thụ tạo với một tình yêu tôn trọng, tôn trọng tôi và giúp tôi tôn trọng Thiên Chúa. Tôi tôn trọng Ngài trong những sinh vật của Ngài. Trong trường hợp thứ hai, tôi không tôn trọng các tạo vật, không tôn trọng Chúa trong tạo vật. Tôi yêu chúng vì những lợi ích tôi rút từ chúng, tôi lợi dụng chúng. Và tôi lợi dụng Chúa cho những lợi ích của tôi. Thánh Augustinô gọi tình yêu đầu tiên là tình yêu hay đức ái. Còn tình yêu như công cụ ngài gọi là tham lam, ham muốn hoặc khát dục.

Nguyên tội

Lý tưởng nhất là luôn sống trong tình yêu bác ái: “Anh em hãy yêu thương nhau!” Nhưng thế giới bị sự ác, đau khổ, dục vọng tác động – điều mà Thánh Augustinô và Thánh Phaolô gọi là tội lỗi. Từ quan niệm này, con người nhỏ bé bị tác động bởi bạo lực, bất công, đau khổ. Họ sẽ gánh chịu hậu quả do bản thân có khuynh hướng bạo lực, bất công, hung hãn, dối trá. Vì tổ tiên của họ, kể từ thời ông Adong đã bị tội lỗi tác động. Tội tổ tông, tội chung; tội nguyên tổ không chừa một ai. Chúng ta phải ngây thơ như triết gia Pháp Jean-Jacques Rousseau để nghĩ rằng đứa bé sinh ra trong sáng và ngây thơ. Về điểm này, Freud đồng ý với Thánh Augustinô và Kinh thánh.

 

Thánh Augustinô không phải là người đầu tiên phát minh ra tội nguyên tổ. Ngài đã thấy ở Thánh Phaolô. Ngài đã chính thức hóa học thuyết và củng cố trong cuộc chiến chống lại Thuyết lạc giáo Pêlagiô (thuyết cho con rằng người không cần ơn Chúa) vào cuối đời. Đối với kẻ dị giáo Pelagiô, tự thân con người là khỏe mạnh, có trong mình những năng lực cần thiết để có được nhân đức, thánh thiện và kết hợp với Thiên Chúa. Thánh Augustinô trả lời, con người phạm điều ác nó không muốn và không làm điều tốt nó muốn làm. Tội lỗi là một bí ẩn vượt quá tầm tay chúng ta. Chỉ có Chúa Kitô mới có thể soi sáng con người và hướng dẫn con người đến ánh sáng.

Tầm nhìn bi quan về bản chất con người trở nên không tốt ở bình minh của thời hiện đại, khi Luther và những người theo chủ nghĩa Jansen đọc lại tác phẩm của Thánh Augustinô, họ cứng rắn với suy nghĩ của ngài. Triết gia Pascal thốt lên: “Trái tim con người thật trống rỗng và đầy những thứ bẩn thỉu!” (Pensées, Sellier 181, Lafuma 148). Nhưng chúng ta có thể là người tín hữu kitô nhưng không là người theo chủ nghĩa Jansen. Kể từ thời ông Adong, tội nguyên tổ trong sách giáo lý như một căn bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Từ đó cho rằng hành vi sinh sản là bẩn thỉu chỉ có một bước. Và còn cho rằng, trong hôn nhân, quan hệ tình dục là tội được phép. Phải công nhận quan niệm tính dục của Thánh Augustinô nghiêng về hướng này. Theo ngài, bản chất đôi khi không thể kiểm soát được của xung năng tình dục dường như là một chứng rối loạn; một hình thức bạo lực vô trật tự mà Chúa không lường trước được. Thánh Augustinô xem đó là một triệu chứng và là hậu quả của tội nguyên tổ.

“Cứ yêu và làm những gì mình muốn!”

Theo Thánh Augustinô, chúng ta có thể yêu một người đàn ông, một phụ nữ, yêu âm nhạc, công việc, con cái, bạn bè và cũng có thể yêu Chúa. Chúng ta có thể yêu Chúa như yêu vợ mình không? Ngài trả lời trong quyển Lời thú tội. Ngài tả tình yêu con người và tình yêu thiêng liêng với những từ ngữ giống nhau, nó mang ý nghĩa ẩn dụ khi nói về Thiên Chúa. Chúng thiếu sót khi nói về tình yêu. Để diễn tả tình yêu, ngôn ngữ ít thiếu sót nhất là thơ, ca, hình ảnh, ẩn dụ. Ngôn ngữ thơ không đòi hỏi phải nói lên điều không thể diễn tả được như thần thánh hay con người mà chỉ gợi ý. Đó là cách thơ ca chạm đến trái tim chúng ta. 

Có nhiều thứ trong tôi hơn chính bản thân tôi. Trong tôi có cái khác, trong tôi có một Đấng khác. Thi sĩ Pháp Arthur Rimbaud nói lên điều này hay hơn bất cứ ai: “‘Tôi’ là một người khác.” Cái khác này của thi sĩ, Thánh Augustinô gọi là “con người nội tâm”: chính “con người nội tâm” ôm Chúa trong vòng tay và được Chúa ôm lại. Họ là một, như người đàn ông và đàn bà. Đây là cách nói mà Thầy Eckart khẳng định vào thế kỷ 14: “Chúa và tôi, chúng tôi là một, chúng tôi giống nhau, chúng tôi bình đẳng.” Ở mức độ này, mầu nhiệm Thiên Chúa và mầu nhiệm con người như nhau. Nói về Thiên Chúa, nói về con người đều giống nhau.

“Hãy nói với tôi về tình yêu…” Đúng, nhưng làm sao tôi biết liệu đây có phải là tình yêu thật sự làm cho tôi hành động hay không? Điều gì bảo đảm để chống lại sai sót và ảo tưởng? Theo Tin Mừng, tình yêu được đánh giá theo hoa trái của nó. Thánh Augustinô không tranh cãi về chuyện này, bài giảng trong thư đầu tiên của Thánh Gioan (VII, 7-8) cho thấy ngài rất nhạy cảm trước sự phức tạp của các tình huống. Nhưng với ngài, tình yêu có thể và phải là quy luật của hành động. Tình yêu, luôn luôn.

Marta An Nguyễn dịch

Đời sống đức tin của tôi

Đời sống đức tin của tôi

Nói đến đề tài này, là nói đến đề tài gai góc của mỗi con người từ muôn thuở, chẳng thế mà thánh Phaolô đã miệt mài giảng dạy, viết thư khuyên nhủ tín hữu phải có đức tin, một khi có được đức tin rồi, phải nuôi dưỡng, rèn luyện để đức tin không bị phai mờ, không bị mất đi.

Đức tin là một cái gì không diễn tả được, không nắm bắt được, không học hỏi được, không lý luận được. Tin hay không, thế thôi.

Tôi nhớ lại bài kệ nổi tiếng “Mu” của thiền sư Triệu Châu (Joshu):

Có một vị sư hỏi thiền sư Triệu Châu: “Con chó có phật tính hay không?” Thiền sư Triệu Châu trả lời: “Mu!”

Nếu hỏi con chó có thiên tính không – thì mọi người sẽ xem câu hỏi này là phạm thượng. Vậy, câu trả lời của chúng ta về đức tin phải là câu khẳng định: Có, tôi tin có Thiên Chúa.

Khi khẳng định có đức tin, tôi biết tôi có đức tin, nhưng dấu chỉ nào cho mọi người biết tôi tin ở Chúa? Tôi chỉ dựa trên lời thư thánh Phaolô giảng dạy, để biết tôi đã có đức tin.

 Trước kia tôi làm một cách vô ý thức, vì tôi không có đức tin. (1Tm 1: 12-15)

Dưới tác động của Thần Khí, đức tin của tín hữu làm đời họ biến đổi. (1Tx 4:1-18)

Bây giờ tôi đã biết, tôi để đức tin của tôi ở đâu.

Như thế, dấu hiệu bên ngoài để mọi người nhận biết tôi có đức tin là dấu hiệu nào? Một đời sống trước và sau khi có đức tin khác nhau như thế nào? Tôi chỉ biết lấy những lời then chốt từ thánh lễ ra để áp dụng. Khi đi lễ, được rước Chúa vào lòng, chúng ta ra về có Chúa trong lòng. Trước khi ra về, linh mục nói lời chào cuối cùng: “Bình an của Chúa ở cùng anh chị em.”

Chỉ có đức tin mới làm cho tôi có bình an. Thánh Augustinô đã nói: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa và tâm hồn chúng con không ngơi nghỉ cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”

Câu hỏi “Con chó có phật tính, có thiên tính hay không?” là câu hỏi tôi tự đặt cho tôi bao nhiêu năm trời. Có Chúa hay không? Trong vũ trụ mênh mông này, sau khi chết, tôi sẽ đi về đâu? Tôi là ai trên cõi đời đau khổ này? Tôi là ai mà được may mắn có cha mẹ, có đủ ăn? Ai sinh ra tôi?

Tôi ngạc nhiên khi thấy thiền sư Vô Môn Huệ Khai (Mumon) đã để sáu năm trời để tìm câu trả lời cho câu hỏi “con chó có phật tính hay không”. Ngày đêm ông tập trung sức lực tinh thần để suy nghĩ, đến mức mỗi lần buồn ngủ hay đãng trí, ông đập đầu vào nền đá thiền đường để tỉnh dậy. Sau cùng khi nghe thiền sư Triệu Châu trả lời “Mu”. Mu có nghĩa là chẳng có gì, để qua một bên đi thì Huệ Khai tỉnh ngộ, như thế Mu là cửa ngõ vào niết bàn của Huệ Khai. Tôi đã dám cười ông mất sáu năm cật lực tìm kiếm “con chó có phật tính không” và chỉ khi nghe ông thầy hừ  một tiếng mới khải ngộ. Phần tôi, tôi có đặt câu hỏi, nhưng tôi đã không cật lực tìm kiếm cho ra câu trả lời, suy nghĩ xong bỏ đó, nghĩ rằng không tìm ra câu trả lời càng khỏe, cứ thong dong rong chơi. Trời cho tôi may mắn…, làm ăn ra, dung mạo dễ nhìn, vậy là vui hưởng đời!

Cứ như thế mà thời gian trôi qua, không phải sáu năm, mà e ba mươi sáu năm tôi để câu hỏi ngủ im, không có câu trả lời. Bỗng một ngày tôi nhận thấy tất cả những gì tôi hưởng không mang lại cho tôi hạnh phúc… du lịch, sách vở, âm nhạc không lấp được hố thẳm cô đơn trong lòng tôi. Tôi đi tìm cái đẹp để chứng minh có một cái gì đẹp hơn, ai là người dựng nên hành tinh này?

Và ngày tôi tìm ra “Mu” của tôi, đó là  ngày tôi biết Chúa, tôi quy hàng Ngài, tôi quay về với lòng tốt nguyên khai của tôi.

Tôi đã có chìa khóa vào cửa thiên đàng, tôi phải khẳng định như thánh Phaolô: những gì tôi làm trước đây là trong vô thức, bây giờ tôi có đức tin, tôi phải sống khác. Tôi có bình an vì tôi đã nằm gọn trong lòng Người đã sinh ra tôi. Chỉ có những người có đức tin, mới thấy rõ sự khác biệt giữa đời sống cũ và mới, mới thấy được những thăng trầm trong đời sống cũ là những bước đi cần phải có để dẫn đến một đời sống mới.

Và bỗng một ngày tôi có đức tin, đó là ngày nào?

Không phải một buổi sáng ngủ dậy bỗng thấy mình có đức tin. Không có việc gì làm mà không chuẩn bị, không băn khoăn và bỗng nhiên một ngày có được. Người ta chỉ nói đến giây phút khởi ngộ, nhưng không nói đến những năm tháng trằn trọc. Tôi chỉ biết tôi đặt câu hỏi này lâu ngày, lúc nguội lạnh, lúc nóng bỏng tưởng nếu không tìm ra câu trả lời thì nên chết cho rồi, cho đến ngày tôi nghe vị thầy của tôi nói: “Nếu không có đức tin thì nên sống như con vật, như thế con chó cũng có đức tin à?”

Tôi không được sáng dạ như vị sư, chỉ nghe ông thầy hừ một tiếng là khởi ngộ, tôi cần nghe lời giải thích đầy đủ. Tôi không đi tu, không bỏ hết năng lực ngày đêm để tìm chân lý; nhưng tôi biết, một khi câu hỏi đã được đặt ra, nó sẽ ở mãi trong đầu, nó sẽ không làm cho tôi có bình an, chỉ khi nào chính tôi tự tìm ra câu trả lời, tôi mới có được bình an. Chẳng có thầy nào trả lời giùm cho tôi được. Không có đáp án sẵn.

Đọc lại thư thánh Phaolô, tôi nổi da gà, vì sao thánh Phaolô tiên đoán mọi trạng thái tâm lý sẽ xảy ra khi con người có đức tin, và không có đức tin. Ngài biết con người hay quên và vô ơn nên nhắc nhở:

Tôi xin các con hãy kính trọng ai trong các con đã chịu khó hướng dẫn các con hướng về Thiên Chúa. (1Tx 5: 1-28)

Đức tin của tôi, dù có tha thiết đi tìm, nhưng tôi cần có người hướng dẫn, và giảng dạy để hiểu đúng lời Chúa. Cũng như các người đi tu ngày xưa, không ai đi tu một mình, họ phải vào tu viện, phải tầm sư học đạo, phải khổ cực như thế nào để được khởi ngộ.

Như thế, với tôi đức tin là cái gì tôi phải tự đi tìm, và bây giờ đừng hỏi tôi có đức tin như thế nào, tôi sống đức tin như thế nào. Hỏi những câu hỏi đó, hừ, là dậm chân tại chỗ… xin các bạn cứ ngồi bàn tán tiếp. Ngày xưa vị sư nào khởi ngộ, họ từ bỏ chùa, họ về sống đời sống bình thường, họ có thể tự mở chùa riêng để tu. Họ đã trưởng thành.

Hừ, có đức tin, là không nói nữa, là lên đường đi làm tông đồ!

Tôi quên một chi tiết, trong thời gian học đạo, các vị sư chịu khổ nhục rất nhiều, phải bỏ hết cái tôi để nghe những câu kiểu: “Nếu không có đức tin thì nên sống như con vật, như thế con chó cũng có đức tin à?”

Đúng thiệt, đời sống trước của tôi giống súc vật thiệt. Nếu con chó có phật tính, thì sống như con chó cho rồi!

Marta An Nguyễn

Bốn cách để tăng sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn chúng ta

Bốn cách để tăng sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn chúng ta
Hãy để Chúa Thánh Thần hành động trong chúng ta. Có nhiều cách để chuẩn bị tâm hồn đón nhận Chúa Thánh Thần và chúng ta cần chuẩn bị để đón nhận Ngài.
famillechretienne.fr, linh mục Marc Fassier, 2024-05-2024
Một ngày nọ, các Tông đồ đến hỏi Chúa Giêsu: “Xin Thầy tăng đức tin cho chúng con.” Chúa Giêsu trả lời bằng hình ảnh hạt cải. Thường chúng ta muốn xin Chúa Thánh Thần nhiều hơn để làm những chuyện vĩ đại. Nhưng điều trước tiên chúng ta nên nhớ, Chúa Thánh Thần là một trong Ba Ngôi, dù Ngài không có khuôn mặt riêng, Ngài hiển hiện một cách cá nhân, không giới hạn và trọn vẹn. Đó là ơn triệt để và toàn diện, phản ánh hữu hiệu tình yêu tuyệt đối của Chúa Cha và Chúa Con.
Vì thế câu hỏi là ở khía cạnh nào Chúa Thánh Thần sẽ hành động trong chúng ta: đó chính là cuộc sống chúng ta.
Để nói về việc Ngài đến với chúng ta, ngoài sự hiện diện, truyền thống kitô giáo còn nói đến nơi cư trú của Ngài, Thánh Phaolô đã nói: “Không phải tôi sống mà Chúa sống trong tôi.” Chúng ta luôn ngạc nhiên trước thực tế lạ lùng này. Chúng ta được tạo dựng để có khả năng mang sự hiện diện siêu nhiên của Thiên Chúa trong tận sâu thẳm tâm hồn, Thánh Augustinô đã nói: “Hãy tự hỏi lòng mình: nếu tâm hồn chúng ta tràn đầy bác ái, thì chúng ta đã có Chúa Thánh Thần.”
1. Chăm sóc nơi Chúa Thánh Thần ngự xuống
Theo ngôn ngữ của Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần muốn biến mình thành “vị khách dịu dàng nhất của tâm hồn chúng ta”. Khách sạn tâm hồn chúng ta đã sẵn sàng đón Chúa Thánh Thần gõ cửa chưa? Vì nếu chúng ta là người tốt, sẵn sàng đón nhận Bánh Thánh là Chúa Thánh Thần, thì việc Chúa đến sẽ biến đổi cuộc đời chúng ta và giúp chúng ta trở nên thánh thiện.
2. Dọn dẹp khách sạn tâm hồn
Có nghĩa là làm cho tâm hồn thơm tho dễ chịu để chính chúng ta cũng muốn ở lại, tất cả đều cần đến sự hợp tác của chúng ta. Sắp xếp khách sạn thứ tự là nhận ra sự hỗn loạn của tội lỗi trong cuộc sống và xin Chúa tha thứ.
3. Sống bác ái, nhân ái
Sống bác ái làm cho tâm hồn chúng ta dễ chịu. Sẵn sàng mở cửa là điều không thể nếu tâm hồn chúng ta liên tục phân tán. Khi Chúa Thánh Thần đến, Ngài tự hiến một cách cá nhân, không giới hạn và trọn vẹn.
4. Cầu nguyện mỗi ngày
Cầu nguyện giúp chúng ta sẵn sàng: “Lạy Chúa là Đấng An ủi tối thượng, xin Chúa đến với chúng con!” Điều chúng ta cần là tăng lòng khao khát đón nhận Ngài, nhận ra bước chân của Ngài, nghe Ngài gõ cửa tâm hồn. Thánh Seraphim thành Sarov, nhà thần bí vĩ đại người Nga nói về ước muốn của Chúa Thánh Thần như một cuộc chinh phục: “Mục tiêu thực sự của đời sống kitô hữu chúng ta là chinh phục Chúa Thánh Thần. Cầu nguyện, ăn chay, làm việc thiện và các việc lành khác nhân danh Chúa Kitô là phương tiện để đón nhận Chúa Thánh Thần…” Chúa Thánh Thần muốn hành động nơi người có thiện chí, người muốn tạo cho tâm hồn mình thành nơi ở dễ chịu, nơi dành cho sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa. khi chúng ta nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần, niềm vui của chúng ta sẽ vô cùng lớn lao.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Phỏng vấn hồng y Müller về khoảng cách giữa đạo công giáo và chủ nghĩa cộng sản

Phỏng vấn hồng y Müller về khoảng cách giữa đạo công giáo và chủ nghĩa cộng sản

belgicatho.be, 2024-05-18

Hồng y Gerhard Ludwig Müller, hồng y danh dự bộ Giáo lý Đức tin

Phỏng vấn hồng y Gerhard Ludwig Müller về khoảng cách giữa đạo công giáo và chủ nghĩa cộng sản. Trong một phỏng vấn với Tạp chí America, Đức Phanxicô trích Phúc âm Thánh Mát-thêu chương 25: “Vì xưa Ta đói, các con đã cho ăn; Ta khát, các con đã cho uống; Ta là khách lạ, các con  đã tiếp rước; Ta ở tù, các con đã đến thăm!” Như thế Chúa Giêsu là cộng sản sao? Đằng sau vấn đề này, chúng ta đã giản lược thông điệp Phúc âm thành một thực tế chính trị xã hội. Nếu tôi nhìn Tin Mừng theo quan điểm xã hội học, thì đúng, tôi là cộng sản và Chúa Giêsu cũng vậy. Nhưng đằng sau các Mối Phúc Thật và phúc âm Thánh Mát-thêu có thông điệp của Chúa Giêsu. Thông điệp này là thông điệp của người tín hữu kitô. Người cộng sản đã đánh cắp một số giá trị kitô giáo. Những người khác đã biến nó thành một thảm họa.” Nhân dịp này nhà báo Đức Lothar C. Rilinger đặt câu hỏi với hồng y Müller về toàn bộ khoảng cách giữa đạo công giáo và chủ nghĩa cộng sản. Ngày thứ hai 20 tháng 5 năm 2024, hồng y sẽ cử hành thánh lễ bế mạc Cuộc hành hương Chartres ở Pháp.

Lothar C. Rilinger: Chúng ta bắt đầu bằng một câu hỏi thần học: Liệu Thiên Chúa, Chúa Ba Ngôi của kitô giáo có chỗ đứng trong chủ nghĩa cộng sản không?

Hồng y Gerhard Ludwig Müller:Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4, 8.12). Chân lý này là tổng thể mọi hiểu biết của chúng ta về Thiên Chúa. Ngài  yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Ga 3,16). Chủ nghĩa cộng sản trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848, trong các tác phẩm của Karl Marx và các đệ tử của ông như Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot và các đồng chí của họ cơ bản là vô thần, thể hiện qua bộ ba “không có Chúa – không có lòng thương xót – không có tình yêu”. Đây là điều mà nhà văn Nga Alexander Solzhenitsyn, một trong những nạn nhân tiêu biểu nhất của chủ nghĩa cộng sản đã nhấn mạnh trong tác phẩm Quần đảo Gulag của ông. Marx phủ nhận sự tồn tại của Thiên Chúa như nguồn gốc của mọi sáng tạo, mục tiêu tìm kiếm chân lý và hạnh phúc của mỗi trái tim con người. Ông tuyên bố tôn giáo nói chung là ảo tưởng nguy hiểm, là thuốc phiện tự hủy hoại của con người. Tuy nhiên, trớ trêu thay cho lịch sử, chính việc phi kitô giáo ở phương Tây lại hủy hoại con người về mặt tinh thần và thể chất qua việc dùng ma túy thứ thiệt một cách rộng rãi, và cũng chính ở phương Tây việc hợp pháp hóa ma túy được cho là tiến bộ, đưa con người đến tự hủy diệt.

Từ năm 1905, Vladimir I. Lenin, người sáng lập Liên Xô và là nhân vật lãnh đạo trật tự thế giới vô thần đã kết luận đặc điểm vô thần của chủ nghĩa Marx trong văn bản Chủ nghĩa xã hội và Tôn giáo: “Giai cấp vô sản cách mạng bảo đảm vấn đề tôn giáo là vấn đề hoàn toàn riêng tư.  Và chế độ chính trị này được giải phóng khỏi khuôn mẫu thời trung cổ, giai cấp vô sản sẽ lãnh đạo một cuộc đấu tranh rộng rãi và công khai nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ kinh tế, nguồn gốc thực sự cho sự tàn bạo về mặt tôn giáo của nhân loại.”

Hậu quả việc loại Chúa là Đấng tạo dựng một thế giới tốt đẹp (phản ánh lòng tốt và tình yêu của Ngài), Đấng cứu chuộc con người khỏi tội lỗi, khỏi cái chết bị nhìn qua cái nhìn hư vô về con người, thể hiện bộ mặt satan trong từng trang giấy, trong từng hành động của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nhà văn Nga Fiodor Dostoyevsky tiên đoán hậu quả của chủ nghĩa xã hội vô thần trong quyển tiểu thuyết Những con quỷ (The Demons). Với Marx, con người không phải là con người được tạo dựng theo hình ảnh giống Thiên Chúa với phẩm giá bất khả xâm phạm, nhưng là một tập hợp các điều kiện tư tưởng và xã hội. Con người hoàn toàn phụ thuộc vào tập thể – Nhà nước, quốc gia, giai cấp, chủng tộc – nhưng chúng chỉ là vật liệu cần thiết để xây dựng một trật tự xã hội không tưởng. Vì theo Marx, không có Thiên Chúa, không có nhân quyền bất khả nhượng nào phát sinh từ ý muốn tự nhiên và được mạc khải của Đấng Tạo Hóa, mà chỉ do ý chí thuần khiết trước quyền lực của những kẻ chuyên quyền và bạo chúa.

Đây là lý do vì sao họ có thể thay đổi và thao túng ý thức con người qua tuyên truyền (như Đức Quốc xã đã làm sau này), xem những ý tưởng đã tiêm nhiễm vào họ là nền tảng thực sự của tâm hồn họ. Hệ tư tưởng woke chỉ là một biến thể của tân chủ nghĩa Marx với những hậu quả tàn khốc như “chủ nghĩa xã hội thực sự tồn tại” khi mọi người tin rằng họ có thể – bất chấp bằng chứng sinh học – xác định giới tính của chính mình hoặc thay đổi giới tính bằng phẫu thuật y học.

Nếu bản chất vô thần của chủ nghĩa cộng sản là một sự thật không thể chối cãi, thì người tín hữu kitô vẫn tôn vinh chủ nghĩa cộng sản để xây dựng một thế giới công bằng hơn. Nền tảng của chủ nghĩa cộng sản là thiết lập quyền sở hữu tập thể của cải (của người dân hoặc của cộng đồng), trong chế độ này, cá nhân không thể tự mình làm chủ. Giáo hoàng Lêô  XIII, trong thông điệp Tân Sự (Rerum Novarum) xây dựng học thuyết xã hội của Giáo hội để bảo vệ tài sản cá nhân, vì sự thịnh vượng cá nhân và khả năng thay đổi điều kiện sống của con người phụ thuộc vào đó. Như thế những ý tưởng của Đức Lêô XIII đã lỗi thời?

Cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, chủ nghĩa Mác-Lênin không liên quan gì đến công bằng xã hội, ngoại trừ việc tuyên truyền của Bộ Chính trị và xác quyết phi lý của tất cả những người bị các hệ tư tưởng Mác-xít đánh lừa. Tuy nhiên, với những trí thức mất gốc tôn giáo ở phương Tây, chủ nghĩa cộng sản là một loại tôn giáo họ thích ve vãn, như triết gia Jean-Paul Sartre của Pháp đã làm. Thêm nữa, các triết gia khác cố tình tránh xa kitô giáo, họ bị Chủ nghĩa xã hội quốc gia quyến rũ, chủ nghĩa này chất vấn họ thế nào là con người (Martin Heidegger).

Câu trả lời khả thi duy nhất đối với cuộc cách mạng kỹ nghệ của thế kỷ 19 và đối với những thách thức của toàn cầu hóa phương tiện truyền thông kỹ thuật hiện nay là học thuyết xã hội công giáo. Trên thực tế, bất cứ nơi nào học thuyết được triển khai đều thể hiện một cách xuất sắc (ở Cộng hòa Liên bang Đức sau những trải nghiệm khủng khiếp về chủ nghĩa toàn trị vô thần của những người theo chủ nghĩa Xã hội Quốc gia). Sẽ không có công lý hoàn hảo trên trái đất chừng nào thế giới vẫn còn ở dưới quyền lực của tội lỗi. Sự cứu rỗi viên mãn chỉ đến sau phán xét cuối cùng, khi vương quốc Thiên Chúa được hiện thực hóa trong hình thức hoàn hảo của nó. Nguồn gốc của lịch sử, Thiên Chúa đã tạo ra thiên đàng (biểu tượng hiệp thông với Thiên Chúa trong thế giới để phục vụ con người); nhưng vì tội lỗi con người đã đánh mất – không phải theo nghĩa thần thoại của thuật ngữ nhưng qua quyết định tự do của con người. Và Con Thiên Chúa, qua nhập thể, qua cái chết trên thập giá, qua sự sống lại, Ngài đã đưa chúng ta trở lại thiên đàng với Trời Mới Đất Mới, nơi sẽ chỉ xuất hiện vào cuối cuộc hành hương trần thế của chúng ta, với những thử thách của cuộc hành trình và với niềm an ủi của Thiên Chúa (x. II. Công đồng Vatican, Hiến chế Tín lý về Hội thánh Lumen Gentium 8). Con người muốn mình là thượng đế của mình, người sáng tạo và cứu tinh của chính mình đã biến mình thành công cụ của ma quỷ (Hitler, Stalin, v.v.) và thay vì thiên đường trên trái đất thì địa ngục trần gian xuất hiện, như Auschwitz, các trại cải tạo đã chứng minh. Khmer Đỏ, Cách mạng Văn hóa Trung Quốc.

Marx ghi nhận, trong hệ thống sản xuất, có sự khác biệt giữa người làm thuê và người chủ tư liệu sản xuất. Để bù đắp sự khác biệt này, ông xem đấu tranh giai cấp là tất yếu. Là một phần của cuộc đấu tranh này, một bộ phận trong xã hội phải vào đảng. Nhưng liệu cam kết như vậy – tham gia một đảng và chống lại đảng khác – có phù hợp với quan điểm kitô giáo: tất cả mọi người đều có thể vào vương quốc của Chúa không?

Khá rõ ràng, chủ nghĩa tư bản tồn tại ở Manchester nước Anh vào thế kỷ 19 (giống như ngày nay vẫn còn hố sâu ngăn cách giữa khối dân nghèo trên thế giới và giới tinh hoa quyền lực, thông tin, tài chính), không phải chỉ là kết quả ngẫu nhiên của cuộc cách mạng công nghiệp kỹ thuật, mà còn nảy sinh từ tầm nhìn về nhân loại của giai cấp tư sản tự do, đánh dấu qua chủ nghĩa xã hội Darwin, một lý tưởng đấu tranh của tất cả chống lại tất cả (Thomas Hobbes) và luật của kẻ mạnh nhất (chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc). Nếu chúng ta ở lại với ẩn dụ “trận chiến”, ý nghĩa của từ này trong Kinh Thánh ám chỉ cuộc chiến của con người với ơn Chúa trợ giúp đã can đảm đứng lên chống lại sức mạnh hủy diệt của sự ác trong tâm hồn và ở thế giới bên ngoài. Những người cộng sản, với cuộc đấu tranh: giai cấp xã hội này chống lại giai cấp xã hội khác, và những người theo chủ nghĩa xã hội dân tộc, với sự ưu việt của chủng tộc này so với chủng tộc khác, tham gia vào việc nô dịch và hủy diệt về thể chất, xã hội và tinh thần của tất cả những người mà họ cho là kẻ thù.

Ngược lại, kitô hữu chúng ta, chúng ta yêu thương nhau như anh chị em, kể cả những người tội lỗi và cả kẻ thù, vì họ có Thiên Chúa là Cha, Đấng luôn mở cửa hoán cải cho tất cả mọi người: “Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao. Anh em hãy nhận lấy toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa; như thế, anh em có thể vận dụng toàn lực để đối phó và đứng vững trong ngày đen tối. Vậy hãy đứng vững: lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an; hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin, nhờ đó anh em sẽ có thể dập tắt mọi tên lửa của ác thần. Sau cùng, hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho,  là Lời Thiên Chúa (Êp, 10-17). ”

Trong chủ nghĩa cộng sản, khi cần thiết, phải thực hiện đấu tranh giai cấp bằng bạo lực. Như thế có được phép áp đặt lời Chúa bằng bạo lực không?

Ngay từ thế kỷ thứ 2, Thánh Irênê Lyon đã chống lại những người theo thuyết Trực tri, ngài viết: “Thiên Chúa tạo dựng con người để họ được tự do, sở hữu sức mạnh và linh hồn của chính mình ngay từ đầu, để có thể hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa mà không bị ràng buộc. Việc sử dụng vũ lực không phải là việc của Chúa.” (Chống lại các dị giáo IV 37, 1). Năm 2006, trong bài phát biểu tại Regensburg, Đức Bênêđíctô XVI nhấn mạnh một lần nữa, Thiên Chúa là lý trí và mọi bạo lực mang tính hủy diệt đều mâu thuẫn với Thiên Chúa. Người hồi giáo có thể kêu cầu Chúa – dù theo cách báng bổ – nhưng công việc của họ cho thấy họ là công cụ của ma quỷ, “kẻ nói dối và kẻ sát nhân ngay từ đầu” (Ga 8:44). Con Thiên Chúa đã phải chịu đựng bạo lực bất công trong chính cơ thể, đã không triệu tập mười hai binh đoàn thiên thần ra lệnh cho Phêrô tra kiếm vào vỏ. Chỉ nhờ tình yêu mà chúng ta mới có thể ngăn chặn được vòng xoáy bạo lực.

Chúng ta thường nhắc, kitô giáo nguyên thủy có thể so sánh với chủ nghĩa cộng sản, với lý do là cả hai hệ thống đều ủng hộ việc để chung tài sản vào tập thể. Việc bãi bỏ tài sản tư nhân có cần thiết vào thời kỳ đầu kitô giáo không hay đó chỉ là “nghĩa vụ xã hội về tài sản” (sử dụng công thức pháp lý hiện đại) để yêu cầu mọi người có thể hưởng lợi từ tài sản chung không?

Kitô giáo nguyên thủy là kết quả của đức tin vào Chúa Kitô, Con của Đức Chúa Cha bị đóng đinh, và không có điểm gì chung, về bản chất hay cách thực hiện trên thực tế với các hệ thống chính trị vô thần của chủ nghĩa cộng sản (“tất cả đều là tài sản của nhân dân”) và của Chủ nghĩa xã hội quốc gia (“cá nhân không là gì, nhân dân là tất cả”). Đức ái kitô giáo dựa trên chân lý, tất cả chúng ta đều là con của Chúa và tất cả tài năng chúng ta có, những gì chúng ta có thể làm với tài năng đều là ơn Chúa. Vì thế một tín hữu kitô có của cải tinh thần và vật chất hợp pháp không thể từ chối người anh em nếu họ gặp khó khăn về tinh thần và vật chất. Từ đó nảy sinh việc làm bác ái. Trong kitô giáo, cá nhân là chủ thể của những việc làm tốt của mình. Trong chủ nghĩa xã hội vô thần, nơi con người với tư cách là cá nhân không tồn tại, đó là chủ thể tập thể vô danh dưới hình thức kiểm soát toàn quyền của đảng, phân phối hàng hóa khi họ thấy phù hợp. Trong đời sống thiêng liêng, người tín hữu kitô đích thực nhớ lời dạy của Thánh Phaolô (thường được thánh Augustinô trích dẫn) chống lại người Pêlagiô lạc giáo và sự tự mãn của họ: “Anh em có gì mà đã không nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như thể đã không nhận lãnh?” (1 Cor 4, 7).

Ý tưởng về chủ nghĩa cộng sản theo đó không được có tài sản riêng cũng được tìm thấy trong các quy tắc của một số dòng khất sĩ của Giáo hội, nhưng họ không xem thường nhân loại như chủ nghĩa cộng sản. Đời sống tu viện có thể là mẫu mực cho đời sống của người tín hữu kitô không?

Lý tưởng khó nghèo theo Tin Mừng của đan viện, cũng như khấn đức vâng lời và độc thân vì Nước Trời, bắt nguồn từ sự tự do của người tín hữu để từ bỏ của cải một cách hợp pháp, vốn được công nhận là ơn của Chúa. Ơn gọi của người tín hữu kitô là sống một cuộc sống trần thế, trong hôn nhân và gia đình, đòi hỏi phải có của cải riêng có được do sức lao động của mình. Ơn gọi của người đó cũng có thể là sống theo ba lời khuyên của Phúc Âm, nhưng trong trường hợp này, việc dấn thân vào một cuộc sống như vậy là tự do của người tín hữu kitô để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Tuyên truyền của cộng sản, viện dẫn quá mức các ý tưởng của kitô giáo để thúc đẩy ý tưởng của họ về tài sản tập thể độc quyền, chỉ có thể thu phục được những người không một hiểu biết nào về kitô giáo và sẵn sàng từ bỏ “quyền thừa kế con trưởng” về công bằng xã hội chỉ vì một “chén đậu lăng” của một hệ tư tưởng vô thần và vô nhân đạo.

Làm thế nào chúng ta có thể quản lý nhiều nhiệm vụ của Giáo hội nếu các thành viên của Giáo hội không còn khả năng đóng góp tài chính cho mục đích này?

Giáo hội, với tư cách là một cộng đồng ân sủng, sống hoàn toàn nhờ sự quan tâm yêu thương của Thiên Chúa với con người, tuy nhiên trong phạm vi cấu trúc xã hội hữu hình, Giáo hội cần phương tiện vật chất để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình, không những chỉ để giúp người đang thiếu thốn, những yêu cầu về cơ cấu phải được tôn trọng (tiền lương, tiền nhà, v.v.). Về việc này, mọi giáo dân có nghĩa vụ đạo đức đóng góp vào các chi phí tương ứng tùy theo khả năng của mình, không xem Chúa như “ông chủ cửa hàng”. Chúng ta nợ ơn Ngài trong mọi chuyện, những việc tốt Ngài giúp chúng ta làm, những việc mà Ngài đã chọn chúng ta. Bất cứ điều tốt nào chúng ta tự nguyện làm, chúng ta đều nhận được nhờ ơn của Chúa, và điều này mang lại cho chúng ta niềm vui đích thực.

Trong bối cảnh này, chúng ta tự hỏi Giáo hội và đặc biệt là giáo hoàng phải tham gia vào chính trị thế giới ở mức độ nào? Họ có nên đứng về phía này phía kia trong bối cảnh xung đột hoặc chiến tranh không? Hay thay vào đó họ nên dùng uy tín đạo đức của mình để hòa giải các bên để ký kết một hòa bình chính đáng và kêu gọi kẻ xâm lược sửa chữa những thiệt hại đã gây ra do vi phạm luật pháp quốc tế không?

Giáo hoàng và các giám mục Âu châu vẫn còn tư tưởng kitô giáo: có nghĩa vụ đạo đức phải cấm chiến tranh như một phương tiện chính trị và kêu gọi giáo dân trên khắp thế giới cầu nguyện để Thiên Chúa có thể giúp các nhà lãnh đạo suy nghĩ về hòa bình thế giới. Các nhà lãnh đạo của Washington, Matxcôva và Bắc Kinh – tất cả đều ở độ tuổi từ 70 đến 80 – phải hiểu đến một lúc nào đó, họ sẽ phải chịu trách nhiệm trước tòa Chúa, nơi họ sẽ không thể trốn tránh sau những tuyên truyền vô nghĩa. “Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Chúa Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác.” (2 Cor 5, 10).

Marta An Nguyễn dịch

Giáo hoàng và những chuyến đi xa của ngài: “Ngài muốn thử thách Chúa sao!”

Giáo hoàng và những chuyến đi xa của ngài: “Ngài muốn thử thách Chúa sao!”

Viễn cảnh chuyến tông du Á châu của Đức Phanxicô tháng 9 năm nay làm dấy lên nhiều nghi ngờ ở Vatican. Mỗi thứ bảy hàng tuần, nhà báo Loup Besmond de Senneville, phóng viên thường trực của báo La Croix ở Rôma đưa quý độc giả vào hậu trường của đất nước Vatican nhỏ nhất thế giới này.

la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, 2024-05-17

Đức Phanxicô có thực sự đi châu Á không? Từ nhiều ngày nay câu hỏi này được nhiều người bàn tán ở Vatican. Giữa tháng 4 có một thông báo nói về chuyến tông du dài ngày từ 2 đến ngày 13 tháng 9, đến bốn quốc gia Indonesia, Papua Tân Ghinê, Đông Timor và Singapore. Chuyến đi 12 ngày này là chuyến đi dài nhất triều của ngài.

Hành lang Vatican dấy lên hoài nghi cho chương trình bận rộn này. Làm sao một giáo hoàng lúc nào cũng gặp vấn đề sức khỏe lại đi xa và lâu như vậy, ngài sắp 88 tuổi rồi! Một nguồn tin Vatican giải thích: “Ngài thực sự muốn đi… có vẻ như ngài muốn thách thức Chúa…” Nói cách khác: ngài có thể… bỏ xác ở đó! Ngay cả bạn bè của ngài cũng khó tin chuyện này: “Tôi không biết ngài sẽ đi như thế nào, đây là cả một phiêu lưu!”, nhưng họ nhớ lại: Đức Phanxicô rất kiên cường! Vatican đã thận trọng bỏ dự án Việt Nam trong chương trình tông du của ngài. Đúng như những người thân cận của ngài đã thuyết phục ngài không nên dự Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ở New York, tổ chức chưa đầy hai tuần sau khi ngài trở về từ châu Á. Sẽ quá mệt mỏi, cuối cùng ngài sẽ không đi.

Tuy nhiên, ở Rôma, mọi chuẩn bị đã bắt đầu. Các nhóm “đi trước” đã làm việc để lên chương trình, giải quyết các vấn đề hậu cần và an ninh cho bất cứ chuyến tông du nào của ngài. Họ đã làm việc tại sân bay nhỏ Dili, thủ đô Đông Timor, công việc được tiến hành để máy bay của giáo hoàng có thể đáp xuống. Một trong những quan chức cao cấp của Giáo triều cho biết: “Sau những vấn đề về sức khỏe của mùa đông vừa qua, bây giờ ngài rất khỏe mạnh.” Hiện nay có khi ngài có hơn mười cuộc họp mỗi ngày, chắc chắn tháng 9 này ngài sẽ đi châu Á, dù bên trong bức tường Vatican luôn có tiếng thì thầm lo ngại cho sức khỏe của ngài.

Marta An Nguyễn dịch

Chúa Thánh Thần của tôi

Chúa Thánh Thần của tôi

Ngày xưa khi họp nhóm, mỗi lần họp chúng tôi có một đề tài, ai nhận đề tài nào thì soạn đề tài đó… Đến lượt tôi là đề tài Chúa Thánh Thần!

Với tôi, đề tài này khó vì viết về Chúa Thánh Thần thì khó, làm sao mình có kinh nghiệm cụ thể về Chúa Thánh Thần được, muốn viết đề tài nào thì đề tài đó đã nằm sâu trong lòng, viết chỉ là công việc khơi dậy, còn Chúa Thánh Thần, chẳng lẽ chuyện gì cũng nói nhờ… Chúa Thánh Thần! Nói nhờ Chúa Giêsu, Đức Mẹ, Thánh Giuse thì các bạn còn tin nhưng Chúa Thánh Thần thì là lạ!

Thường chúng ta thích huyền hoặc hóa, thích tìm một chỗ cho các thờ phượng của mình, để Chúa trên cao, trong nhà thờ, trong nhà nguyện, qua các vị chủ chăn đáng kính, ai hướng nội thì để Chúa trong lòng, nhưng Chúa Thánh Thần thì khó có chỗ cho Ngài, lại ít khi tâm tình với Ngài! Dù vậy, khi nhớ lại những kỷ niệm ấu thơ, Chúa Thánh Thần khi nào cũng có một chỗ trong tâm hồn tôi.

Ngày xưa… gia đình tôi có thói quen đọc kinh tối trước khi ngủ, kinh đầu tiên là kinh Đức Chúa Thánh Thần, có lẽ đó là kinh chúng tôi cầm trí được nhiều nhất vì đọc lúc còn tỉnh ngủ, sau đó là một loạt các kinh khác, tôi không còn nhớ rõ. Tôi thuộc lòng Kinh Chúa Thánh Thần:

Chúng tôi lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng, chúng tôi xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng chúng tôi là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng tôi: chúng tôi xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống;

Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng tôi.

Chúng tôi cầu cùng Đức Chúa Trời, xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các thánh Tông đồ, thì rày chúng tôi cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống an ủi dạy dỗ chúng tôi làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng tôi. Amen.

Tôi rất thích các chữ thiêng liêng sáng láng vô cùng, tôi cảm thấy các chữ này có một quyền lực vô song, nên, mỗi lần không thuộc bài, không hiểu bài, nhất là lúc làm bài thi, thay vì đi tìm lá thuộc bài ép vào vở như các bạn, trước một câu hỏi khó, tôi cầm lòng cầm trí đọc kinh Chúa Thánh Thần, thế nào sau đó tôi cũng gỡ bí được vài câu, sau này lên đại học, tôi còn giữ thói quen này. Tôi không nhớ tôi đã quên Chúa Thánh Thần bao nhiêu năm trời và cũng không biết vì sao, và bằng cách nào, bây giờ Chúa Thánh Thần lại hiện diện trong đời sống của tôi. Tôi dịch bài vở, có những câu, những chữ chợt đến trong đầu tôi, tôi không thể tìm câu tìm chữ nào hay hơn… chỉ có thể thầm tạ ơn “Chúa Thánh Thần đã thổi đến!”

Tôi nghĩ Chúa Thánh Thần thương tôi, vì tôi đã trở lại, đã đi xa và bây giờ trở về với ngôi nhà yên lặng, đã ở yên để con cái tìm về, đường về có khi rất ngắn nhưng có khi lại xa diệu vợi. Chưa về yên nghỉ trong căn nhà tĩnh lặng thì mỏi chân! Tôi về nhà, ngồi yên một chỗ và tôi thấy các Đấng đang chờ tôi! Chúa Cha im lặng ôm tôi vào lòng, tôi nghe nhịp tim của Ngài mòn mỏi chờ tôi. Chúa Con nhìn tôi thông cảm, dường như Ngài đồng tình với chuyện ra đi của tôi… Ngài không cần nghe câu chuyện của tôi, quá lắm thì như người con hoang đàng, không ăn cám heo nhưng cũng ăn những gì không nên ăn! Còn Chúa Thánh Thần thì làm sao tôi biết Ngài ở đâu, Ngài là gió, làm sao tôi biết gió từ đâu thổi đến, gió mang gì đến và gió mang gì đi! Tôi ví Ngài như cái “modem”, “modem” của Ngài và của tôi truyền dữ kiện qua nhau bằng ngôn ngữ không lời, thở cùng buồng phổi, thông cảm cùng quả tim. Ngài hướng dẫn những gì tôi làm, Ngài tìm bài vở, tìm chữ cho tôi, tôi biết không có Ngài, tôi không làm gì được! Vững tin vào Chúa Thánh Thần, có Chúa Thánh Thần soi sáng, tôi tự tin bước đi. Ngài âm thầm làm, Ngài không đòi hỏi gì. Ngài là gió, là bồ câu, là tự phát, tự sinh, vì:

Chúa Thánh Thần là gió
Làm sao biết gió từ đâu thổi đến
Chúa Thánh Thần là gió
Làm sao tránh được gió
Ngài lấp tràn sự sống
Từ Ngài vạn vật nảy sinh.
Chúa Thánh Thần là bồ câu
Là dịu hiền, là mật ngọt
Là tiếng cúc cu của đôi chim thương nhau.
Chúa Thánh Thần là lửa
Lửa của tình yêu, của tha thứ, của thương xót
Làm sao tắt được lửa.
Chúa Thánh Thần tự phát, tự sinh
Ngài ở đó tự muôn đời
Ngài đến từ đâu, nào ai biết
Giờ đây, tôi chỉ biết,
Để gió mơn man thổi, tôi được tươi mát,
Để bồ câu hót êm tai tôi nghe
Để lửa chiếu lung linh tâm hồn tôi được ấm
Và để Đấng Vô cùng dẫn tôi đi.

Tôi không giải thích được Chúa Thánh Thần, tôi chỉ cảm nhận Ngài ở bên tôi, giúp tôi suy nghĩ, giúp tôi hành động, có Ngài bên cạnh, tôi yên tâm tiến bước.

Marta An Nguyễn

Bài mới nhất