Home Blog Page 180

Điều gì sẽ xảy ra nếu triết gia Kant giúp chúng ta trở nên nhân bản hơn?

Điều gì sẽ xảy ra nếu triết gia Kant giúp chúng ta trở nên nhân bản hơn?

Ba trăm năm sau khi triết gia qua đời, chúng ta có nên đánh thức ông dậy không? Công trình của nhà tư tưởng vĩ đại Thời hiện đại và Khai sáng nước Đức là một khối núi không dễ dàng leo lên được. Báo L’Hebdo La Croix chọn 6 điểm nổi bật trong tư tưởng nhân văn của ông, có giá trị trong việc định hướng suy nghĩ và hành động của chúng ta, đồng thời tránh những suy thoái chính trị và đạo đức đang đe dọa chúng ta.

la-croix.com, Elodie Maurot, 2024-04-17

Ba trăm năm sau khi ông ra đời, triết gia Khai sáng người Đức Emmanuel Kant (1724-1804) tiếp tục khai sáng cho thời đại chúng ta. Anne-Lise Boutin

Năm 1781, gió thổi vào thành phố cảng Kưnigsberg, thủ đô cũ của Vương quốc Phổ, nay là Kaliningrad, nước Nga. Là nhân vật quen thuộc và rất nổi tiếng, mỗi ngày, giáo sư Emmanuel Kant bước đi đều đặn, cùng giờ mỗi chiều, đi một lộ trình, mặc cùng chiếc áo khoác dài. Một nghi thức thao luyện sức khỏe, theo một giờ nhất định, triết gia dậy lúc 5 giờ sáng. Buổi sáng sau khi làm việc ở nhà xong, giáo sư đi dạy ở trường đại học – ông thích kể một vài câu chuyện hài hước mà sinh viên rất thích – sau đó ông cùng bạn bè ăn trưa. Khi về nhà, ông học cho đến tối, tắt nến khi chưa ăn gì vào đúng 10 giờ tối.

Nhìn bề ngoài, ngày nào cũng giống ngày nào… Nhưng, con người với cuộc sống đều đặn như chiếc đồng hồ vừa làm một cuộc cách mạng vĩ đại trong bộ môn triết lý khi ông xuất bản quyển Phê phán lý tính thuần túy, một tác phẩm hàng đầu sẽ cách mạng hóa ngành học của ông.

Tác phẩm của ông sẽ tạo nên dấu ấn, một trước-một sau trong lịch sử triết học.

Đắm chìm trong suy nghĩ của mình, ông băng qua một trong bảy cây cầu bắc qua sông Pregel. Một cơn gió mạnh từ biển Bắc xua tan những đám mây tụ trên phố cổ, để lộ tia nắng rực rỡ. Có phải nhà hiền triết Kant cũng cảm thấy ông đã mang lại ánh sáng cho người đương thời, làm sáng tỏ những câu hỏi triết học còn mơ hồ cho đến nay đó không? Chắc chắn tác phẩm của ông sẽ tạo nên dấu ấn một trước-một sau trong lịch sử triết học và những người kế thừa ông giờ đây sẽ phải suy nghĩ, hoặc theo ông hoặc chống ông.

Một hành vi phê phán

Một trước-một sau mà Kant giới thiệu là hành vi phê phán. Triết Michaël Fœssel, giáo sư Trường Cao đẳng (École Polytechnique), tác giả quyển Kant và sự mập mờ của thế giới (Kant et l’équivoque du monde, nxb. CNRS) giải thích: “Kant phát minh ra cách sử dụng lý trí có khả năng tự hành động, tự phán xét. Và nếu điều này có vẻ không làm chúng ta ngạc nhiên, thì đó là vì chúng ta là những người thừa kế ông. Kant thiết lập một tòa án lý trí trong đó lý trí có thể vừa bị cáo vừa thẩm phán.”

Triết gia Kant xem công việc phê phán này là cần thiết vào thời điểm của những tranh cãi về triết học đang nỗi lên rất nhiều và rất gay gắt. Một mặt, các triết gia theo chủ nghĩa kinh nghiệm, trong đường lối của triết gia Hume, khẳng định kiến thức hoàn toàn bắt nguồn từ kinh nghiệm giác quan, Hume bị đối thủ của ông buộc tội là theo chủ nghĩa hoài nghi. Còn những người theo chủ nghĩa duy lý, những người thừa kế các triết gia Descartes và Leibniz, đặt kiến thức vào mô hình toán học và nhận thấy họ bị buộc tội theo chủ nghĩa giáo điều. Những nhà siêu hình học này tìm cách suy nghĩ về những gì vượt ra ngoài (meta) thế giới cảm giác (vật lý), tuyên bố họ có thể chứng minh bằng lý luận về sự tồn tại của Chúa, sự bất tử của linh hồn, tự do… Nhưng liệu điều này có thể thực hiện được không?

Trong một thời gian dài, Kant đã lý luận như họ, nhưng khi gần đến sáu mươi tuổi, ông “nghĩ ngược lại chính ông” và ông thức dậy từ “giấc ngủ giáo điều” của ông, theo cách nói của ông. Ông quyết định thoát ra các cuộc tranh đua triết học để suy ngẫm về những điều kiện và quy luật của tri thức. Ông sẽ quan tâm đến chủ đề tạo ra kiến thức, trước khi lao vào nói điều gì đó về các đối tượng triết học.

Christophe Bouriau, triết gia và giáo sư tại Đại học Lorraine, tác giả Kant, (nxb. Cerf) nhấn mạnh: “Chủ nghĩa phê phán là triết lý của một phong cách mới, kiểm tra nền tảng của nó hơn là tìm cách nâng cao kiến thức của chúng ta.”

Lý trí, giữa táo bạo và khiêm tốn

Sau Aufklärung, thời kỳ Khai sáng của Đức, “Sapere aude!” (Dám biết!) là khẩu hiệu của Kant. Kant vạch ra công trình triết học xoay quanh ba câu hỏi lớn – tôi có thể biết được gì?, tôi phải làm gì? Tôi có thể hy vọng điều gì? – phân định các lãnh vực khác nhau, mỗi lãnh vực có những điều kiện khả năng riêng. Vì thế ông chứng minh sự tồn tại của các đối tượng siêu hình (Chúa, linh hồn, thế giới được nhìn trong tổng thể của nó, v.v.) không thể được xác lập bằng bằng chứng. Đây là một biến động hoàn toàn về mặt lý thuyết.

Với lòng dũng cảm, Kant vạch ra con đường dẫn đến lý trí, giữa táo bạo và khiêm tốn. Tác giả Michaël Fœssel, phân tích: “Chúng ta có thể nói ông là người có tư tưởng về sự tỉnh ngộ của thời hiện đại. Ông đưa ra một ngây thơ nào đó với sức mạnh của kiến thức, nhưng đó là sự vỡ mộng đặc thù của tuyệt vọng, vì trong tư cách là người của Khai sáng, ông thiết lập lý trí theo đúng quyền của nó để trở thành cơ quan quyền lực nhất.”

Con của người thợ làm yên ngựa được nuôi dưỡng trong tinh thần Khai sáng và có người mẹ trìu mến, mộ đạo (được yêu mến), có thể nói triết gia là người có tinh thần hòa giải. Tác giả Christophe Bouriau phân tích: “Với Kant, vấn đề không phải là phủ nhận sự tồn tại của Chúa, nhưng chứng tỏ, không phải qua bằng chứng hay lý luận mà chúng ta có thể biết được sự tồn tại của Ngài. Đó là lý do vì sao đức tin vẫn giữ được tất cả ý nghĩa của nó. Vì thế Kant sẽ nói, ông đã để lại một chỗ cho đức tin.”

Làm rõ để xoa dịu

Bằng cách cung cấp sự rõ ràng, triết gia cũng triển khai một dự án trấn an, một dự án ôn hòa trong lãnh vực tư tưởng cũng như trong lãnh vực chính trị. Tác giả Michaël Fœssel nhấn mạnh: “Cả hai có mối liên hệ với nhau, vì triết gia Kant có ý tưởng cho rằng chiến tranh thường diễn ra dưới hình thức thập tự chinh: chính nhân danh các nguyên tắc, niềm tin, giáo điều, các cạnh tranh chung mà chúng ta tiến hành chiến tranh, và điều này ngày nay vẫn còn xảy ra”.

Với Kant, sự thật và hòa giải có thể tiến triển ngay khi chúng ta phê phán các diễn từ được cho là phổ quát để kiểm tra chúng. Điều làm cho ông quan tâm là trong những điều kiện nào chúng ta có thể khẳng định điều gì đó có thể được tất cả mọi người chấp nhận. Tác giả Michaël Fœssel lưu ý: “Luận điểm tuyệt vời của ông, cái phổ quát là một hình thức chứ không phải nội dung, có thể là Chúa hay nhân quyền.” Theo Kant, luôn có công việc phổ cập phải được thực hiện dựa trên đặc thù. Cái phổ quát vẫn là một chân trời.”

Triết lý của Kant còn mang tính cách nhân văn cấp tiến và khắt khe, xem mỗi người là người anh em của mình. Triết gia Olivier Abel, giáo sư danh dự tại Viện Thần học Tin lành nhấn mạnh: “Theo triết gia Kant, con người phải tự chủ, chịu trách nhiệm về chính mình. Tôi phải biện minh cho bản thân và chấp nhận những người khác cũng biện minh họ theo cách tương tự”. Có lẽ đó là sự thế tục hóa một đạo đức về căn bản rất mang tính phúc âm. Chúng ta luôn có đi có lại: chúng ta phải liên tục có khả năng chấp nhận quan điểm của người khác.” 

Căng thẳng hướng tới phổ quát, tranh luận, tôn trọng người khác…

Vào thời điểm chiến tranh và ưu tiên cho dân tộc quay trở lại, nhu cầu về danh tính và tin tức giả, tác phẩm của triết gia Kant vẫn là liều thuốc giải độc mạnh mẽ cho những tệ nạn đang đe dọa chúng ta. Tác giả Olivier Abel lưu ý: “Thực sự ngày nay chúng ta cần quay về với Kant, vì vấn đề với các nền dân chủ tự do của chúng ta là chỉ có các ý kiến. Kant tìm thấy khả năng tìm kiếm sự thật một cách khách quan, một đạo đức liêm chính và trung thực, đó là đặc trưng của các học giả, nhà giáo, nhà báo… Không có điều này, chúng ta chỉ có tôn giáo về các mối quan hệ sức mạnh và quan hệ vốn liếng. Kant là lá chắn thực sự chống lại mối nguy hiểm này.”

Marta An Nguyễn dịch

Giáo phận San Diego nạp đơn xin phá sản lần thứ hai

Giáo phận San Diego nạp đơn xin phá sản lần thứ hai

cruxnow.com, John Lavenburg, 2024-06-17

Hồng y Robert Walter McElroy, sau cuộc họp công nghị tại Đền thờ Thánh Phêrô ngày 27 tháng 8 năm 2022. Andrew Medichini/AP.

Giáo phận San Diego phải đối diện với khoảng 450 vụ kiện cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên của các linh mục, tu sĩ và giáo dân trong giáo phận, hôm nay hồng y McElroy thông báo giáo phận sẽ nạp đơn xin phá sản lần thứ hai.

Thông báo này đưa ra 16 tháng sau khi hồng y cho biết giáo phận đang xem xét công việc này. Trong thư ngày 13 tháng 6, hồng y viết: “Trong năm qua, giáo phận đã tổ chức các cuộc nói chuyện với các luật sư đại diện cho các nạn nhân bị lạm dụng, tôi phối hợp với ban lãnh đạo Giáo phận đã đi đến kết luận, đây là thời điểm chính thức đi vào giai đoạn phá sản và tiếp tục bàn thảo quá trình phá sản.”

Ngài giải thích việc phá sản mang lại con đường tốt nhất cho giáo phận: “Vừa bồi thường công bằng cho nạn nhân bị lạm dụng tình dục, vừa tiếp tục sứ mệnh giáo dục, phục vụ mục vụ và đến với người nghèo, với những người bị gạt ra ngoài lề xã hội của giáo hội. Việc nạp đơn xin phá sản là để có được sự công bằng giữa các yêu cầu bồi thường khác nhau của các nạn nhân, thành lập một quỹ để bồi thường cho nạn nhân bị lạm dụng tình dục trong quá khứ, giải quyết việc phá sản, chịu trách nhiệm pháp lý với họ và hướng làm việc trong tương lai.”

Bất chấp những thách thức, hồng y McElroy nói rõ: “Giáo hội phải chịu trách nhiệm. Khi chúng ta vượt qua quá trình khó khăn này trong năm tới, điều quan trọng là tất cả chúng ta phải nhớ đó là sự thất bại về mặt đạo đức của những người trực tiếp lạm dụng trẻ em và thanh thiếu niên, cũng như sự thất bại về mặt đạo đức to lớn không kém của những người đã phân công, đã không cảnh giác dẫn đến những vết thương tâm lý và tinh thần vẫn còn làm tan nát trái tim và tâm hồn của rất nhiều người trong chúng ta.”

Ngài nói thêm: “Những bước tiến to lớn mà chúng ta đã thực hiện trong 20 năm qua để bảo vệ trẻ vị thành niên trong Giáo hội và hơn thế nữa không thể bắt đầu với việc giảm nhẹ trách nhiệm đạo đức to lớn mà tôi, với tư cách là giám mục của anh chị em, và toàn bộ cộng đồng công giáo tiếp tục gánh chịu.”

Phía các luật sư của các nạn nhân cho rằng việc nạp đơn xin phá sản là để tránh việc bồi thường công bằng cho các nạn nhân lạm dụng tình dục trẻ em. Luật sư Irwin Zalkin của Công ty Luật Zalkin cho biết: “Sau gần một năm hòa giải, chúng tôi hy vọng các trẻ em nạn nhân sống sót sau vụ lạm dụng tình dục, giáo phận và công ty bảo hiểm của giáo phận sẽ có thể có được thỏa thuận giải quyết và đồng ý lập kế hoạch bồi thường qua vụ phá sản không thể tránh khỏi của giáo phận đã công bố khoảng một năm trước. Rõ ràng các giáo phận công giáo và các công ty bảo hiểm đã áp dụng chiến lược sử dụng các vụ phá sản để giải quyết các vụ lạm dụng tình dục trẻ em, giảm tiền bồi thường trả cho người sống sót và tước bỏ quyền xét xử của họ. Những nỗ lực này là lạm dụng hệ thống phá sản.”

Khoảng 450 vụ kiện chống lại giáo phận San Diego bắt nguồn từ luật AB 218 của California năm 2019 loại bỏ thời hiệu với bất kỳ khiếu nại nào về lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên trong ba năm, kể từ ngày 1 tháng 12 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2022.

Sau khi nộp đơn xin phá sản năm 2007, giáo phận đã phải trả 198 triệu đô la để giải quyết 144 khiếu nại về lạm dụng, trước đó hồng y McElroy đã nói vụ này đã làm cạn kiệt phần lớn tài sản của giáo phận. Những tuyên bố này được thúc đẩy bởi việc dỡ bỏ thời hiệu của bang California. Nếu những con số trong các vụ kiện hiện tại tương tự như những con số của năm 2007, thì khoản chi trả của giáo phận cho những người sống sót có thể vào khoảng 500-600 triệu đô la.

Trong thư ngày 13 tháng 6, hồng y McElroy cho biết, dù chỉ có giáo phận nạp đơn xin phá sản nhưng các giáo xứ của giáo phận và các trường trung học sẽ phải “đóng góp đáng kể vào việc giải quyết để có giải pháp cuối cùng cho trách nhiệm pháp lý mà họ phải đối diện”.

Giáo phận San Diego là giáo phận thứ sáu ở California nạp đơn xin phá sản.

Gần đây nhất là giáo phận Fresno đã nạp đơn xin phá sản  tháng trước khi phải đối diện với 154 vụ kiện lạm dụng tình dục trẻ em. Bốn giáo phận khác ở California đã xin phá sản là tổng giáo phận San Francisco, và các giáo phận Sacramento và Oakland.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các phụ nữ Antigone của Tin Mừng đối diện với chủ nghĩa toàn trị và mãnh lực của đồng tiền

Các phụ nữ Antigone của Tin Mừng đối diện với chủ nghĩa toàn trị và mãnh lực của đồng tiền

la-croix. com, Clemence Houdaille, 2024-06-16

Antigone là nhân vật trong huyền thoại Oedipe của Sophocle thời cổ đại, bà chống lại luật lệ để bênh vực các anh của mình. Trong một tác phẩm lôi cuốn và sâu sắc, nhà báo Denis Lensel kể lại số phận phi thường của một số phụ nữ đã dựa trên đức tin của mình để bảo vệ bản chất thiêng liêng của sự sống.

Ảnh minh họa: Biểu tình ngày 18 tháng 2 năm 2005, trước Tòa án Công lý Liên bang ở Brasilia (Brazil), sau vụ ám sát nữ tu Dorothy Stang. FERNANDO BIZERRA JR/EFE/Newscom/MaxPPP /

Cho đến chết, Antigone đã phản đối người chú Creon của bà để bảo vệ bản chất thiêng liêng của cuộc sống và sự tôn trọng dành cho người chết. Thế kỷ 20 và 21 của chúng ta đã chứng kiến các Antigone đứng lên chống lại bóng tối, họ thường dựa trên đức tin của họ vào Chúa Kitô.

Nhà báo Denis Lensel viết quyển sách “Các Antigone của Phúc âm” để kể mười một hành trình của những phụ nữ đã dũng cảm đứng lên, chống lại gian ác dù phải bị nguy hiểm đến tính mạng. Thần học gia Anne-Marie Pelletier viết lời nói đầu: “Vào cùng thời điểm và ở cùng một nơi, khi mà cái ác đã bộc lộ sự ác độc qua nhiều mặt, nhân loại sẽ tìm thấy khả năng phản kháng để phản đối, tuân theo đường lối của sự thật và công lý đối với và chống lại mọi thứ.”

Những Antigone “theo bước chân Maria Mađalêna”

Các Antigone đương thời: nữ tu Dorothy Stang bị hai kẻ giết mướn sát hại ngày 12 tháng 2 năm 2005, sơ đã đứng lên bênh vực các nông dân nghèo, với Kinh thánh là vũ khí duy nhất của sơ. Bà Jocelyne Khoueiry ở đất nước Lebanon bị nội chiến tàn phá và hủy hoại trong nhiều năm đã đứng lên đấu tranh cho hòa bình, biến dấn thân chính trị thành dấn thân tôn giáo.

Bà Stefania Schabatura, người Ukraine, chống lại áp bức của Liên Xô để bảo vệ tự do cho đất nước mình, cho Giáo hội công giáo hy lạp, cho Giáo hội Litva.

Nữ tu Nijolè Sadunaitè người Litva, xuất thân từ một gia đình bị đàn áp và bị đày đến Siberia. Bà Nadejda Mandelstam người Nga, vợ của một nhà thơ chết trong trại cải tạo, bà Margarete Buber-Neumann và Milena Jesenska trong địa ngục Ravensbrück đã giải cứu những người vô tội có số phận phải chết dưới bàn tay của những kẻ hành quyết Đức Quốc xã. Và các bà Sophie Scholl, Etty Hillesum, Elise Rivet và Agnès Tsao Kou Ying đã tranh đấu dũng cảm để chống sự tàn ác. Những Antigone của Tin Mừng này là chứng từ cho hành động anh hùng của họ còn hơn cả lời nói, họ đi theo bước chân của Maria Mađalêna đứng dưới chân thập giá, họ cho chúng ta những tấm gương đánh dấu bằng sự hy sinh vô giá của họ.

Marta An Nguyễn dịch

Linh mục Timothy Radcliffe và Lukasz Popko: “Cùng đọc Kinh thánh với nhau giúp chúng tôi hiểu thêm Kinh Thánh”

Linh mục Timothy Radcliffe và Lukasz Popko: “Cùng đọc Kinh thánh với nhau giúp chúng tôi hiểu thêm Kinh Thánh”

lepelerin.com, Christophe Chaland, 2024-06-11

Linh mục Timothy Radcliffe và Lukasz Popko: Hình © Louise Allavoine / Le Pèlerin

Linh mục Timothy Radcliffe: “Tôn giáo không biến mất, tôn giáo đang có những hình thức mới.”

Cựu Bề trên Tổng quyền của Dòng Đa Minh Timothy Radcliffe, nổi tiếng tự do ngôn luận vừa xuất bản quyển sách cùng viết với linh mục học giả Kinh Thánh Lukasz Popko, cũng dòng Đa Minh. Lời mời tham dự vào cuộc trò chuyện thân thiện của Thiên Chúa với con người.

Đặt câu hỏi với Chúa, lời nói đầu của Đức Phanxicô (Interroger Dieu, Nxb. Du Cerf)

Thưa linh mục Timothy, quyển sách này cha và linh mục Lukasz viết khi cha bị bệnh ung thư. Nhưng cha đã kiên trì…

Linh mục Timothy Radcliffe: Mọi chuyện bắt đầu trước đại dịch khi tôi đến Trường Kinh Thánh và Khảo cổ học ở Giêrusalem. Sư huynh theo lẽ ra đón tôi bị kẹt ở Paris, và tôi bắt đầu nói chuyện về Kinh Thánh với linh mục Lukasz, một học giả, một nhà nghiên cứu Kinh Thánh sâu rộng. Ý tưởng đến với chúng tôi là chia sẻ niềm vui được trao đổi khi nói về cuộc trò chuyện giữa Thiên Chúa và nhân loại trong Kinh Thánh. Nhưng một tuần sau tôi bị ung thư rất nặng. Tôi đã phải mổ mười bảy giờ, sau đó tôi bị bệnh trong nhiều tháng. Cuộc trò chuyện với linh mục Lukasz và tình bạn của anh đã nuôi dưỡng tôi trong thời gian tôi lấy lại sức. Quyển sách này rất quan trọng để duy trì hy vọng cho tương lai.

Linh mục Lukasz Popko: Cuộc trao đổi này cho tôi niềm vui được giải quyết những câu hỏi hiện sinh của Kinh Thánh đặt ra. Đó là một thay đổi trong nghiên cứu!

Kinh Thánh là phản ánh một cuộc trò chuyện? Chúa nói chuyện với con người?

Linh mục Timothy Radcliffe: Kinh thánh ghi lại một loạt trò chuyện, đôi khi vui vẻ, đôi khi giận dữ. Công đồng Vatican II nói rằng Thiên Chúa trò chuyện với nhân loại để đi vào tình bằng hữu với nhân loại (Hiến chế Dei Verbum, 2 và 21).

Các cha là tu sĩ, các cha tìm nguồn sống trong Kinh Thánh, nhưng với thời buổi mạng xã hội và phim truyền hình nhiều tập, người ta có còn đọc Kinh Thánh không?

Linh mục Lukasz Popko: Sách vở vẫn là một phần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta thấy qua sự thành công của các Hội chợ Sách như Hội chợ Sách quốc tế ở Turin nước Ý tháng 5 vừa qua, ngày càng thu hút nhiều người, năm 2024 có đến 222.000 lượt khách đến Hội chợ. Tôi không lo cho tương lai của sách vở, đặc biệt với Kinh Thánh.

Linh mục Timothy Radcliffe: Khi tôi học Kinh Thánh ở Paris, đó là một kinh nghiệm khám phá tuyệt vời, nhưng năm mươi năm sau, Kinh Thánh vẫn còn mới mẻ với tôi. Đó là nguồn sống vô tận của tôi.

Linh mục Lukasz Popko: Tôi đang nghĩ đến các bản tin trên prixm.org, Instagram và trên podcast hàng tuần, đã đưa Kinh Thánh đến bằng ngôn ngữ của văn hóa ngày nay: 120.000 người ghi tên để nhận một đoạn phim Kinh Thánh ba phút, với những tài liệu tham khảo về nghệ thuật cổ điển cũng như văn hóa đại chúng và các phân tích thần học. Sáng kiến này ra đời từ công trình nghiên cứu “Kinh thánh theo truyền thống” của chúng tôi đã làm từ hàng chục năm nay ở Trường Kinh Thánh Giêrusalem.

Linh mục Timothy Radcliffe: Tôn giáo không hề biến mất. Nó có những hình thức mới. Đúng hơn là thế tục hóa đang giảm. Kinh Thánh vẫn là nguồn sống. Là một niềm vui lớn của tôi, được cùng nhau trò chuyện chung quanh Kinh Thánh và thấy được niềm vui của những người ở đây.

Linh mục Timothy Radcliffe và Lukasz Popko: Hình © Louise Allavoine / Le Pèlerin

“Đức tin trưởng thành dựa trên các hành động được đức tin khơi dậy, chứ không trên những điều xác thực.” Linh mục Lukasz Popko

Như thế nào?

Linh mục Timothy Radcliffe: Chúng ta có thể đọc một mình – đó là lectio divina. Nhưng sẽ sinh động hơn nếu chúng ta cùng đi dạo với ai đó. Khi tôi ở tu viện Đa Minh Santa Sabina, Rôma, hàng tuần chúng tôi tụ tập với nhau quanh các bài Kinh Thánh của chúa nhật tuần sau. Đó là một niềm vui lớn của chúng tôi. Các anh em đến từ nhiều môi trường khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, một số có trình độ đại học, một số có kinh nghiệm sống, mỗi người đều cống hiến một cái gì đó. Chúng ta có thể làm chuyện này ở các giáo xứ.

Linh mục Lukasz Popko: Trong các nhóm chia sẻ này, khi gặp nhau mọi người nghĩ mình chẳng có gì để đóng góp. Nhưng tất cả đều “có đủ”. Đúng là ngược đời, những câu hỏi, câu trả lời của người khác đã nuôi dưỡng tôi.

Linh mục Timothy Radcliffe: Nó hơi giống việc bánh có nhiều trong Tin Mừng. Chúng ta có thể cho gì? Tôi không có nhiều thứ để cho. Tôi chia sẻ và nhiều người được nuôi dưỡng.

Linh mục Lukasz Popko: Lời Chúa mạc khải cho chúng ta. Nếu tôi thành thật đặt câu hỏi, nói lên những lo âu của tôi, tôi nói cho người khác biết về tôi. Kinh Thánh trở thành dịp để mình biết mình và biết người anh em. 

Linh mục Timothy Radcliffe: Yêu Chúa cũng gần giống như yêu anh em mình. 

Lần đầu tiên các cha cảm nhận được Chúa nói chuyện với các cha qua Kinh Thánh là lúc nào?

Linh mục Lukasz Popko: Lúc tôi 14, 15 tuổi, tôi hát các bài hát suy niệm Taizé trong các nhóm cầu nguyện. Đó là những bài trong Kinh Thánh.

Linh mục Timothy Radcliffe: Tôi có kinh nghiệm này khi tôi là sinh viên ở trường Biển Đức tại văn phòng phụng vụ. Sau này, trong tập viện Đa Minh, tôi bị sốc khi nghe giải thích đoạn “tiệc cưới Cana” (Ga 2), Đức Mẹ nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi!” Đây là câu rất quan trọng cho một người mới! (Cười…)

Ngày nay, các bạn trẻ tìm một căn tính mạnh, khao khát một đức tin thể hiện những điều xác thực. Các cha có hiểu họ không?

Linh mục Timothy Radcliffe: Tôi thường thấy điều này. Khi tôi còn là sinh viên ở Paris, đôi khi có những sư huynh lớn tuổi làm suy giảm đức tin tuổi trẻ chúng tôi. Đó không phải là cách chúng tôi tiến về phía trước. Chúng ta phải hiểu và chấp nhận việc tìm kiếm sự thật của họ, đó là sự thật. Nhưng tin vào sự phục sinh của Chúa Kitô, vào thiên tính của Ngài, không giải quyết được mọi sự, chỉ là khởi đầu của một con đường. Những chắc chắn nó sẽ thực sự mở ra những không gian vượt ngoài mọi kiến thức. Những điều xác thực không ngăn cản việc đi tìm.

Linh mục Lukasz Popko: Chính khái niệm về những điều xác thực không liên quan gì đến sự thật. Triết gia Karl Popper đã nói: “Với hai tay trong túi, tôi ‘chắc chắn’ mỗi bàn tay có năm ngón; nhưng nếu mạng sống của người bạn thân nhất của tôi phụ thuộc vào sự thật của mệnh đề này, tôi sẽ đem tay ra khỏi túi để kiểm tra.” Những điều xác thực phụ thuộc vào bối cảnh, nó mang tính tương đối. Ngoài ra, việc đi tìm những điều xác thực có thể làm chúng ta bị tê liệt và ngăn không cho chúng ta quyết định. Đức tin trưởng thành dựa trên những hành động được đức tin cảm nghiệm, chứ không chỉ dựa trên những xác tín được tuyên bố. Chúng ta phải cho mình cơ hội để phát triển.

Đức Phanxicô đã mở đầu cuộc trò chuyện tốt đẹp với Thượng hội đồng. Điều này làm cho một số người lo ngại…

Linh mục Timothy Radcliffe: Thử thách lớn nhất của một Giáo hội hiệp nhất là phải nói chuyện với nhau. Đó là điều rất cần thiết và dễ chịu (giọng của cha trở nên sôi nổi). Thử thách của Thượng hội đồng tháng 10 sắp tới sẽ là nói chuyện với nhau, không phải giữa người thuộc cánh tả hay cánh hữu, nhưng giữa những người ở các châu lục khác nhau, châu Phi, châu Á, châu Âu…

Còn linh mục Lukasz, cha sẽ nói gì?

Linh mục Lukasz Popko: Tôi sống ở Giêrusalem, nơi luôn có xung đột. Chúng tôi không có lựa chọn: hoặc tự sát hoặc nói chuyện với nhau. Thử thách đầu tiên trong tình huống này là cố gắng hiểu người khác, đặt mình vào vị trí của họ. Kẻ thù của tôi muốn nói gì?

Linh mục Timothy Radcliffe: Đúng, vì xét cho cùng thì những khác biệt đều có ích.

Niềm hy vọng của các cha với Giáo hội là gì?

Linh mục Timothy Radcliffe: Đức Phanxicô đã bắt đầu một điều gì đó rất quan trọng với Thượng hội đồng và đại đa số người công giáo đều hiểu điều này. Nhưng chúng ta phải mở rộng cuộc đối thoại với các linh mục không được mời. Và đối đầu với các nhà thần học, những vấn đề ít được quan tâm cho đến nay, liên quan đến Truyền thống và sự thật đức tin của chúng ta.

Đằng sau hậu trường

Linh mục Timothy Radcliffe và Lukasz Popko: Hình © Louise Allavoine / Le Pèlerin

Ba giờ trước cuộc gặp của chúng tôi tại nhà xuất bản Du Cerf với linh mục Timothy Radcliffe, tôi được biết linh mục Lukasz Popko, đồng tác giả quyển sách Đặt câu hỏi với Chúa cũng sẽ có mặt. Tôi nhận thấy ở đây tất cả sự tế nhị của tu sĩ Đa Minh nổi tiếng người Anh, người mong muốn chia sẻ ánh sáng với người anh em, nhà nghiên cứu xuất sắc, có khả năng làm việc với mười ngôn ngữ. Tính hài hước và thích sự thật của họ đã làm cho cuộc gặp được tốt đẹp, dù linh mục Timothy rất mệt, ngài thức dậy từ 4 giờ sáng.

Tiểu sử linh mục Timothy Radcliffe

  • 1945 Sinh tại London (Vương quốc Anh).
  • 1965 Vào dòng Đa Minh.
  • 1992-2000 Bề trên Tổng quyền, ngài đi thăm các cộng đoàn Đa Minh trên năm châu lục.
  • 2023 Giảng tĩnh tâm và suy niệm thiêng liêng trong phiên họp đầu tiên của Thượng hội đồng về tính đồng nghị.

Tiểu sử linh mục Lukasz Popko

  • Sinh ngày 30 tháng 5 năm 1978 tại Żary (Ba Lan).
  • 1999 Vào dòng Đa Minh.
  • 2013 Viết luận án tiến sĩ về chú giải tại Trường Khảo cổ và Kinh thánh Pháp ở Giêrusalem (Ébaf).
  • 2015 Giáo sư chú giải Kinh Thánh tại Ébaf.

Sách Đặt câu hỏi với Chúa, lời nói đầu của Đức Phanxicô (Interroger Dieu, Nxb. Du Cerf)

Marta An Nguyễn dịch

Những điều tốt lành đức tin mang lại

Tôi muốn quay trở lại hang động…

Tôi muốn quay trở lại hang động…

Trong những lúc khó khăn này, chúng ta thường bị cám dỗ lui về trốn trong cái kén của mình và không chịu ra ngoài. Tuy nhiên theo nhà tâm lý học Jacques Arènes giải thích, chúng ta phải đương đầu với thực tế để chế ngự nó.

lavie.fr, Jacques Arenes, 2022-04-27

Một du khách trẻ quan sát phong cảnh từ bên trong hang động. GETTY IMAGES / ISTOCK

“Plato, nói với tôi đi, tôi muốn quay trở lại hang động…” Đây là câu nói hài hước và có phần đáng sợ mà gần đây tôi đọc trong một câu tweet triết học. Bạn biết hang động của Plato, câu chuyện ngụ ngôn này ở trong sách Cộng Hòa, quyển VII. Huyền thoại về hang động là huyền con người sống bị xiềng xích dưới lòng đất, nơi họ không nhìn thấy ánh sáng và chỉ biết thực tế bên ngoài qua những bóng đen chiếu xuống đáy hang. Khi họ có thể bước ra ngoài ánh sáng “thật” của mặt trời, họ sẽ bị ánh sáng chói lòa này làm phỏng mắt và mất cảm giác về thế giới thực.

Tôi không chắc lời khẳng định đau đớn này nơi miệng của người đương thời chỉ là sự trốn chạy khỏi cái “thật”, một mong muốn tự nguyện rút khỏi vũ trụ của cái có thể hiểu được mà Plato mong muốn, khi chúng ta vẫn bị cám dỗ để cậy vào sự nhạy cảm trên những gì chúng ta nghĩ là chúng ta nhìn thấy hoặc cảm thấy. Nó diễn tả nỗi đau khi chúng ta phải đi ra ngoài, phơi bày bản thân ra ngoài, chịu đựng mối quan hệ với người khác mà không có sự giúp đỡ của ánh sáng ban ngày. Và nếu thực tế làm chúng ta đau? Kể từ khi có dịch Covid, nhiều người nói với tôi họ khó khăn khi đi ra khỏi hang, cảm thấy bị bỏ mặc ra ngoài cho một tấm màn quan hệ và xã hội phức tạp, căng thẳng và đôi khi là bạo lực.

Hãy tự bảo vệ mình thêm một lần nữa…

Sự thật nóng bỏng, đáng lo ngại

Trở lại hang động của mình là để tìm thấy chính mình hoặc với gia đình nhỏ của mình và một vài người bạn dù mình không xem cuộc sống của mình là vinh quang hay đáng kể. Đó cũng là và trên hết để bảo vệ chính mình. Vì sao chúng ta cần nơi để trú ẩn như vậy? Vì cuộc sống xã hội có vẻ khó khăn, và vì không có sự thật – tôi không nói những sự thật khoa học, và một lần nữa, chúng ta hiểu việc tiêm chủng đã không còn có sự đồng thuận – ngày nay không một sự thật xã hội nào được xã hội và tập thể công nhận có thể đứng vững.

Và thật nghiêm trọng và đau đớn. Trong các giai đoạn bầu cử, người ta dễ dàng tố cáo những lá phiếu cực đoan, và sự thu hút của chúng đối với một số khía cạnh nào đó của thực tế được chọn đã bị bóp méo. Nhưng còn những người khác, những người nghĩ trong ánh sáng mặt trời, họ chỉ giữ lại một số khía cạnh của thực tế phù hợp với họ, thậm chí để bảo vệ họ thì sẽ như thế nào với những người này?

Sự thật nóng bỏng, đáng lo ngại và không phải lúc nào chúng ta cũng có thể đối diện với nó. Vẫn cần phải khiêm tốn trước sự mù quáng phần nào của chúng ta, để ít nhất chúng ta nhấp nháy mắt một chút. Chúng ta tất cả đều bị giới hạn, nhưng chúng ta học một sự thật khác: để ra khỏi hang động chúng ta cần có người đồng hành. Trong tầm nhìn của Plato, nhà triết học có thể đóng vai trò này, vừa làm việc trên chính mình, vừa tiến xa hơn về phía mặt trời cũng lóa mắt bị mù.

Chầm chậm hao mòn

Một thực tế khó khăn để suy nghĩ và để cùng làm một cách tập thể

Điều chắc chắn – đó là điểm duy nhất mà tôi không nghi ngờ gì trên thế giới này – là không có lý do gì để buộc một người ra khỏi hang động của họ, nếu mình không ở bên cạnh họ trong ánh sáng chói lòa và nhiễu xạ mặt trời chúng ta, trong đau khổ của một thực tại khó khăn để suy nghĩ và để cùng làm một cách tập thể. Đương sự không nhìn thấy, hoặc chỉ nhìn thấy những cái bóng, ít nhiều là những cảnh huyền hoặc quyến rũ khi họ ở trong lòng trái đất.

Nhưng bản thân tôi, tôi đang ở đâu với sự thật mà tôi sẵn sàng khẳng định? Và trên hết, những huyền hoặc mà người hàng xóm, người bạn đồng hành của tôi nói về tôi như thế nào. Và những chiếc bóng lay động trước mắt tôi, không giống với những chiếc bóng của họ, chúng che giấu điều gì khỏi nỗi sợ hãi hay ham muốn của tôi, ngay cả khi chúng dường như nắm giữ một phần sự thật, dù hơn hay nhỏ? Sự thật chung, là không ra khỏi hang động một mình, cùng nắm tay, quay đầu nhẹ để không bị lóa mắt.

Marta An Nguyễn dịch

Đau khổ có tránh được không?

Tìm hiểu đức tin qua dụ ngôn

Tìm hiểu đức tin qua dụ ngôn

lavie.fr, Alexia Vidot, 2024-06-14

So sánh và các câu hỏi hóc búa

Các dụ ngôn là trọng tâm giáo huấn của Chúa Giêsu; theo nhà chú giải Daniel Marguerat, Phúc Âm Nhất Lãm có 43 dụ ngôn. Vì sao Chúa Giêsu dùng dụ ngôn? Trước tiên chúng ta cần hiểu ý nghĩa của từ nguyên này. Nguồn gốc tiếng hy lạp là ném bên cạnh, para-ballein và từ đó là so sánh và gộp lại với nhau. Tương ứng với từ machal trong tiếng do thái có nghĩa là “bí ẩn”.

Dụ ngôn là bài viết ngắn gọn, giàu hình ảnh và biểu tượng, mang hình thức một câu chuyện bí ẩn, tạo bối rối.

Một cố gắng giải thích

Là giáo sư, là nhà giáo dục giỏi, Chúa Giêsu biết sức mạnh của việc làm gương. Để giúp chúng ta có thể hiểu được những thực tế bên ngoài chúng ta – ở đây là các bí ẩn của Nước Trời – Ngài bắt đầu bằng những thực tế qua kinh nghiệm của chúng ta. Nhưng cách giảng dạy này không thể làm được nếu chúng ta không tích cực tham dự, không có sự cộng tác của chúng ta để lời Chúa Giêsu rơi xuống đất tốt.

Ý nghĩa của các dụ ngôn không bao giờ rõ ràng, trên thực tế nó nhắm vào trí thông minh của chúng ta, vì thế liên quan đến tự do của chúng ta. Họ đòi hỏi chúng ta cố gắng suy nghĩ để hiểu: “Ai có tai thì nghe!” (Mc 4:9), qua đó Ngài mời gọi chúng ta tự đi tìm ý nghĩa Lời của Ngài. Nhưng, chúng ta nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu.

Chúa Giêsu, dụ ngôn đích thực của Thiên Chúa

Bằng ngôn ngữ dụ ngôn, Chúa Giêsu không có ý giảng kiến thức về một Thiên Chúa trừu tượng, tách rời khỏi đời sống cụ thể của chúng ta: Ngài muốn chúng ta thấy Thiên Chúa hằng sống ẩn mình trong thế giới này và trong các thực tại hàng ngày, nơi Ngài hành động, giống như hạt giống chôn trong lòng đất mang trong nó là cả một cây to lớn sau này.

Đức Bênêđíctô XVI viết: “Đó là sự hiểu biết được ban như một ơn để nói với chúng ta: Thiên Chúa đang trên đường đến với chúng ta. Nhưng ở đây kiến thức đặt ra một yêu cầu: phải có đức tin và để cho đức tin hướng dẫn.” Qua đó, các dụ ngôn là lời mời gọi hoán cải. Chính Chúa Giêsu là “dụ ngôn” thực sự của Thiên Chúa, vì dưới dấu hiệu nhân tính ẩn giấu, Ngài bộc lộ thiên tính của Ngài.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đền thánh Assisi đón nhận thi thể chân phước Carlo Acutis, niềm vui của linh mục quản nhiệm Marco Gaballo

Đền thánh Assisi đón nhận thi thể chân phước Carlo Acutis, niềm vui của linh mục quản nhiệm Marco Gaballo

acistampa.com, Veronica Giacometti, 2024-06-11

Thi thể của chân phước Carlo Acutis (bây giờ gần như là thánh) đã yên nghỉ ở Đền thánh Santa Maria Maggiore – Thánh địa Spogliazione, ở đây Thánh Phanxicô Assisi đã quyết định bỏ hết của cải trần gian để chỉ sống cho Chúa, hơi giống cuộc đời của thiếu niên Carlo Acutis, chỉ yêu mến bí tích Thánh Thể. Assisi là  nơi hành hương danh tiếng, nhưng kể từ năm 2019 có rất nhiều người trẻ đến đây để suy nghĩ về quyết định bỏ hết mọi chuyện trần gian của Thánh Phanxicô Assisi và cầu nguyện ở mộ của chân phước Carlo. Chúng tôi hỏi chuyện linh mục quản nhiệm Marco Gaballo để biết bầu khí những ngày này ở Assisi.

Carlo Acutis yên nghỉ tại Thánh địa Spogliazione, cha nghĩ gì về việc chân phước Carlo Acutis gắn kết với nơi của Thánh Phanxicô Assisi?

Linh mục quản nhiệm Marco Gaballo: Trước khi qua đời, Carlo xin được chôn cất ở thị trấn của Thánh Phanxicô và Thánh Clara. Carlo đã nói về ước muốn này: “Assisi là thành phố tôi hạnh phúc nhất”. Dù không ở trong nhóm Phan Sinh nào nhưng Carlo xem Thánh Phanxicô là điểm tựa gần gũi nhất, tin tưởng nhất để đi theo Chúa Giêsu. Carlo có nói đùa: “Tôi muốn thành thánh, nhưng không giống như Thánh Phanxicô, ngài chỉ ăn chay năm tuần Mùa Chay”, nhưng thật ra Thánh Phanxicô theo chế độ tu khổ hạnh nghiêm nhặt, không ai bắt chước được, kể cả những người bạn trung thành nhất của ngài. Đây là điều đáng kể với chúng ta. Phanxicô và Carlo ở nơi có thông điệp rất mạnh: Phanxicô với việc từ bỏ mọi chuyện thế gian đã cho Carlo thấy đây là ý nghĩa cho quyết định của mình. Sau tám thế kỷ, Carlo cho thấy sự mới mẻ và lôi cuốn của Thánh Phanxicô sống động hơn bao giờ hết ở thời buổi này.

Mỗi ngày cha đều sống với niềm vui ở bên cạnh Carlo tại Đền thánh. Dòng người hành hương, giáo dân, khách du lịch đến đây như thế nào, họ nói gì với cha, chứng từ nào làm cha xúc động nhất?

Đúng là dòng người hành hương rất ấn tượng và ngày càng đông hơn, đa số là người trẻ, thậm chí cón rất nhỏ, các em có tinh thần học hỏi và trưởng thành cao. Theo tôi, mộ của Carlo là yếu tố nổi bật nhất: ngôi mộ làm việc như một nhà máy điện, ngược với truyền thống thường cho mộ là nơi của đau buồn, của nước mắt, đánh dấu một đời đã hết, một quan hệ đã xong. Nhưng ở mộ của Carlo, câu chuyện và cuộc sống bắt đầu lại, ngôi mộ có một động lực, một sức sống mới, đặc biệt với những người mà nỗi đau và chấn thương của họ vẫn còn nóng, họ tìm được ở đây sức mạnh, năng lực nội tâm mới để đối diện với hoàn cảnh của mình. Thêm nữa nhiều người còn tìm được những hướng đi mà tôi không thể nhớ hết, tôi thấy được họ đã suy nghĩ về họ, về quan hệ của họ với vật chất, với đức tin, với bí tích Thánh Thể. Nhất là sự về sống lại, về cái chết mà văn hóa thời nay muốn loại bỏ.

Cha tìm thấy điểm tương đồng nào giữa Carlo Acutis và Thánh Phanxicô, vì sao Carlo yêu quý Thánh Phanxicô nghèo hèn đến vậy?

Thoạt nhìn có vẻ như không có gì có thể so sánh Thánh Phanxicô và Carlo Acutis. Có quá nhiều khác biệt: tám thế kỷ xa nhau, một khoảng cách khó có thể vượt qua, nhưng những gì gắn kết họ thì lại nhiều. Cả hai đều trọn vẹn hướng về Chúa Giêsu, cả hai theo cách riêng của mình tận hiến đời mình cho Tin Mừng, hoa trái của họ tiếp tục sinh sôi sau khi họ qua đời và theo nhiều cách rất khác nhau, cả hai nhắc chúng ta đừng theo một hình mẫu cố định, dù mẫu hình này đạo đức đến đâu, và phải có trách nhiệm với đời mình.

Cha đón nhận tin phong thánh của chân phước Carlo như thế nào?

Chúng tôi quá đỗi vui mừng khi nghe tin. Chuông các nhà thờ chính ở Assisi vang lên lúc 10:30 sáng thứ năm hôm đó; trưa hôm đó cha quản nhiệm Jean Claude báo tin cho mọi người ở thánh đường Spoliation trước sự chứng kiến của cha mẹ Carlo, những người hành hương có mặt, nhân viên làm việc ở thánh đường. Về các sự kiện trong tương lai, chúng tôi chưa có kế hoạch gì, chúng tôi chờ tuyên bố chính thức.

Xin cha cho biết mối quan hệ của cha và Carlo Acutis, và vì sao người trẻ ngày nay nên theo gương của Carlo Acutis…

Tạ ơn Chúa, đời sống của tôi được gắn kết với đời sống của Thánh Phanxicô và chân phước Carlo. Tôi chưa bao giờ có thể tưởng tượng hay mơ về tất cả những điều này:  một đặc ân chưa từng có và tôi thấy mình không xứng đáng, tôi được giúp những người đến đây để nhận ơn từ dòng ân sủng Chúa đã mở ra. Đặc biệt tôi nghĩ đến những người trẻ, những người còn rất nhỏ đến đây để được ơn. Với họ, Carlo minh chứng việc theo Chúa Giêsu và lời dạy của Ngài sẽ không lấy đi những gì tốt đẹp trong cuộc sống con người. Như Carlo, chúng ta có thể là thánh, thổi kèn saxophone, lướt Internet, chơi nhiều môn thể thao và yêu động vật.

Marta An Nguyễn dịch

Linh mục DJ Guilherme: “Công nghệ kỹ thuật có thể đưa các bạn trẻ đến với Chúa”

Linh mục DJ Guilherme: “Công nghệ kỹ thuật có thể đưa các bạn trẻ đến với Chúa”
Linh mục DJ Guilherme là khách mời nổi bật tại lễ hội Crossfire ngày 8 tháng 6 năm 2024 tại Belfaux | © Joao Carita, Giáo hội công giáo vùng Fribourg, Thụy Sĩ
cath.ch, Raphal Zbinden, 2024-06-12
Linh mục DJ Bồ Đào Nha Guilherme Peixoto đốt cháy sàn nhảy trong ngày lễ hội Crossfire 8 tháng 6 năm 2024 tại Belfaux. Với ngài, âm nhạc điện tử là “ngôn ngữ” hàng đầu để nói về Chúa cho người trẻ.
Nụ cười ấm áp, cặp kính tròn, cổ cồn Rôma… từ Đại hội Thế Giới Trẻ Lisbon đến các thánh lễ của Đức Phanxicô, phong cách sinh động của linh mục DJ Bồ Đào Nha Guilherme Peixoto đã tạo danh tiếng quốc tế.
Xin cha cho biết cha sử dụng bàn xoay DJ như thế nào?
Linh mục Guilherme Peixoto: Tôi luôn thích âm nhạc điện tử, khi còn trẻ tôi nghe loại nhạc này rất nhiều. Nước Bồ Đào Nha chúng tôi là đất nước du lịch, có nhiều bãi biển và câu lạc bộ, mọi người thích khiêu vũ tiệc tùng nên loại nhạc này là tự nhiên với chúng tôi. Tại chủng viện, tôi ở trong nhóm hướng đạo, thói quen của chúng tôi là họp buổi sáng, nhảy nhạc techno buổi tối.

“Tôi hơi ngạc nhiên khi được yêu cầu: đánh thức khách hành hương lúc 7 giờ sáng!”

Năm 2005, tôi đến một cộng đoàn mới ở giáo phận Braga, miền bắc Bồ Đào Nha, có nhiều chuyện cần sửa đổi ở đây. Với nhóm mục vụ, chúng tôi tổ chức các buổi karaoke cho giới trẻ. Giữa hai bài hát, tôi có thói quen bật nhạc. Dần dần, tôi bắt đầu dự vào các trò chơi, trò chơi này dẫn đến trò chơi khác, tôi bắt đầu nổi tiếng trong vùng. Trong nhiều năm, tôi trau dồi nghệ thuật, tôi theo các khóa học DJ ở Porto, bây giờ tôi vẫn còn học vì nghệ thuật này luôn phát triển, đặc biệt là các phát triển về công nghệ.
Cho đến ngày cha biểu diễn trước một triệu rưỡi người, tại Parque Tejo…
Đúng, thật không thể tưởng tượng được. Tôi nhận lời mời của ban tổ chức khoảng một tháng rưỡi trước sự kiện. Nhưng tôi hơi ngạc nhiên khi ban tổ chức yêu cầu: đánh thức người hành hương dậy lúc 7 giờ sáng.
Điều quan trọng phải hiểu: làm DJ là làm việc ban đêm và phải biết tạo tâm trạng. Âm nhạc điện tử phức tạp hơn một số người nghĩ, phải làm sao để đưa người nghe vào hành trình, truyền cho họ một thông điệp cụ thể. Tôi suy nghĩ nhiều và cố gắng tìm loại âm nhạc thích hợp.
Linh mục Padre Guilherme làm chứng trong lễ hội Crossfire ở Belfaux | © Raphal Zbinden
Nhạc phải đủ mạnh để đánh thức mọi người nhưng không quá hung hăng. Thông điệp tôi muốn truyền liên quan đến những gì Đức Phanxicô nói về Ngày Thế Giới Trẻ, tôi đưa các lời nói mạnh của ngài trong những ngày này vào phần đầu và phần cuối. Tôi cố gắng chia sẻ với người trẻ niềm vui và niềm tin mà tôi cảm nhận được.
Làm sao cha kết hợp mục vụ với hoạt động nghệ thuật của cha?
Đúng, tôi rất bận. Ngoài công việc linh mục và DJ, tôi còn làm tuyên úy quân đội ở ba căn cứ trong vùng. Lúc đầu rất khó khăn, nhưng tôi may mắn có giám mục Jose Manuel Garcia Cordeiro ủng hộ tôi, ngài giúp đỡ tôi rất nhiều. Tôi có một nhóm hỗ trợ giúp tôi trong các chuyến đi. Hiện nay có một linh mục trong giáo xứ giúp tôi, nếu tôi bận, ngài làm mục vụ giúp tôi.
Cha có gần 900.000 người theo dõi trên Instagram, cha xuất hiện trên nhiều đài truyền hình Globe, cha được mời đến một số quốc gia… Danh tiếng này có làm mất bình an nội tâm của cha không?
Rất nhiều linh mục hoạt động trong nhiều lãnh vực nghệ thuật, họa sĩ, thi sĩ, ca sĩ… Tôi nghĩ quan trọng là mình khiêm tốn, tất cả chúng ta đều được mời gọi dùng tài năng của mình, bất kể tài năng đó là gì để truyền bá sứ điệp Tin Mừng.
Như thế cha xem âm nhạc của cha là sứ mệnh thiêng liêng?
Khi tôi bắt đầu sáng tác, nó không dính gì đến đức tin. Nhưng rồi mọi chuyện hướng về đức tin khi tôi hiểu tiềm năng của âm nhạc. Tôi nhận ra sức mạnh trong lời nói của Đức Phanxicô khi ngài kêu gọi chúng ta đừng ngại khi ra khỏi nhà thờ, đưa Chúa Giêsu đến những nơi mà Ngài không đến được.

Nếu tôi đi dự lễ hội với quyển Kinh Thánh trên tay, chắc chắn sẽ chẳng có tác dụng gì. Để gặp gỡ người trẻ, chúng ta phải nói ngôn ngữ của họ. Trong các lễ hội, đó là âm nhạc điện tử.

“Nhiều người cởi mở với thông điệp tôi truyền tải”

Và điều ngạc nhiên khi mình nói ngôn ngữ của họ, cánh cửa sẽ mở ra. Vì thế tôi được mời đến những nơi không dính gì đến Giáo hội. Nhưng chúng ta phải đến đó, tôn trọng họ và mang đến cho họ những gì tốt nhất. Tôi không muốn được mời chỉ vì tôi là linh mục, nhưng vì tôi tạo được âm nhạc hay.
Cha có thể thu hút giới trẻ đến với đức tin như thế nào?
Dù sao tôi thấy các bạn trẻ cởi mở với thông điệp tôi muốn nói. Theo tôi, âm nhạc là con đường đặc ân để đưa con người đến với Chúa, và mọi thể loại âm nhạc đều có thể làm được điều này. Nhưng âm nhạc điện tử giúp chúng ta nói chuyện với thế hệ trẻ. Đôi khi, với họ, đó là lời loan báo Tin Mừng đầu tiên, vì trong số những người này, có những người chưa bao giờ có một liên hệ nào với Giáo hội.
Marta An Nguyễn dịch

Danh hài Pháp Manu Payet, mẹ của ông và Đức Phanxicô  

Danh hài Pháp Manu Payet, mẹ của ông và Đức Phanxicô

Ngày thứ sáu 14 tháng 6, một vị khách bất ngờ có mặt trong buổi tiếp kiến với Đức Phanxicô. Mỗi thứ bảy hàng tuần, nhà báo Loup Besmond de Senneville, phóng viên thường trực của báo La Croix ở Rôma đưa quý độc giả vào hậu trường của đất nước Vatican nhỏ nhất thế giới này.

la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, Rôma, 2024-06-14

Dưới trần nhà cao vút của Phòng Clementine ở Điện Tông tòa, một bà lớn tuổi bắt tay Đức Phanxicô. Bộ vest thanh lịch, đội chiếc mũ xinh đẹp, bà đi cùng con trai Manu Payet đến buổi tiếp kiến sáng thứ sáu 14 tháng 6 của Đức Phanxicô với hàng trăm diễn viên hài trên thế giới. Trong dịp này, nam diễn viên hài người Pháp Payet đã thắt cà-vạt, hai mẹ con tặng Đức Phanxicô bức tranh Reunion, hòn đảo quê hương của họ.

Ở lối ra, bà mẹ hãnh diện im lặng đứng bên cạnh con trai đang trả lời các nhà báo. Ông nói ông đã đi Reunion để đón mẹ và tập trung vào cuộc gặp giữa bà và Đức Phanxicô đến mức ông quên những lời ông định nói với ngài. Ông xúc động nói khi bước ra cửa: “Tôi đã có dịp tặng món quà mà nhiều người con trai muốn tặng mẹ.” Sau đó hai mẹ con đến quầy “cà phê giáo hoàng” gần đó.

Không có gì lạ khi cảnh tượng này xảy ra tại Vatican, nơi Đức Phanxicô tiếp hàng chục người mỗi ngày. Ngài tiếp các hiệp hội, các phái đoàn giáo xứ, các dòng tu, đó là sinh hoạt hàng ngày của ngài. Sau bài phát biểu, nghi thức luôn giống nhau: từng người một xếp hàng chào ngài. Một số đem con cái, gia đình đi cùng: một cuộc gặp mà họ sẽ nhắc lại rất lâu trong đời: từ lâu họ đã mơ gặp giáo hoàng. Với những người đi theo họ, Đức Phanxicô luôn trìu mến với trẻ em, người lớn tuổi, ngài muốn nhấn mạnh đến đối thoại giữa các thế hệ và tầm quan trọng của tất cả mọi người, dù họ là ai.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô và Trí tuệ nhân tạo, cách Giáo hội làm chính trị

Đức Phanxicô và Trí tuệ nhân tạo, cách Giáo hội làm chính trị

Ngày thứ sáu 14 tháng 6, Đức Phanxicô được mời phát biểu về Trí tuệ nhân tạo trong hội nghị G7 tại Bari, nước Ý. Không chỉ dừng lại ở một chủ đề bên lề, sự can thiệp này cho thấy cách Giáo hội đặt đức tin trước các vấn đề chính trị.

la-croix.com, Emeline Sauser, 2024-06-14

Arnaud Alibert, Tổng biên tập báo La Croix Emeline Sauser

Tuần này, cuộc gặp nguyên thủ quốc gia của các quốc gia tự do công nghiệp hóa nhất: Hoa Kỳ, Ukraine, Ấn Độ, Kenya, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada, Brazil được tổ chức ở Bari vùng Pouilles, miền Nam nước Ý. Đức Phanxicô được chính phủ Ý mời đến dự, chúng ta có thể ngạc nhiên trước sự hiện diện của ngài ở đây, vì đây là lần đầu tiên một giáo hoàng đến dự cuộc họp G7. Không cần phải chứng minh lợi ích chính trị của sự hiện diện của ngài, nhưng đây là dấu hiệu cho thấy đức tin kitô giáo không tách đời sống thiêng liêng khỏi đời sống xã hội hằng ngày, chắc chắn, đức tin xác định từng kế hoạch nhưng không tách rời, từ đó dẫn đến chiều kích chính trị của đức tin, nói cách khác, cách đức tin chiếu ánh sáng lên thực tại của lãnh vực chính trị.

Chúng ta cần phải phân biệt: khi thi hành đạo đức, Giáo hội ra lệnh mọi người phải hành động một cách cụ thể. Giáo hoàng không thể làm điều này với các nguyên thủ quốc gia, ngay cả Giáo hội cũng không thể hướng dẫn để giáo dân bỏ phiếu. Cách hỗ trợ khác nhau. Đức tin soi sáng những điểm cần suy nghĩ, để các nhà hoạt động chính trị và cử tri không còn có thể suy nghĩ và hành động như thể họ không biết gì. Từ chỗ bị gạt ra ngoài lề về mặt chính trị, một chủ đề có thể trở nên thiết yếu.

Đức Phanxicô: “Con người không được trở thành thức ăn cho các thuật toán, giao tiếp phải hoàn toàn mang tính nhân văn”

Đức Phanxicô đến nói chuyện với các nhà lãnh đạo thế giới về trí tuệ nhân tạo, đây là điều đáng ngạc nhiên trong bối cảnh tin tức quốc tế quá bận rộn, trong đó AI chỉ là chủ đề phụ. Nhưng chúng ta đã bắt đầu hiểu rõ Đức Phanxicô. Trên hết, qua thái độ mục vụ, dù vấn đề nhỏ nhất nhưng cũng là vấn đề cơ bản cho lối sống chúng ta trong xã hội. Vì thế một hiểu biết về trí tuệ nhân tạo giúp chúng ta “định vị” bản thân để xây dựng tương lai. AI chỉ là một kỹ thuật. Chính những gì con người làm với nó mới đem lại giá trị cho AI. Với Giáo hội, rủi ro lớn nhất là AI ở trong tay những người bị vướng bởi hệ tư tưởng tự do về hiệu quả và cạnh tranh. Đức Phanxicô muốn AI phải được thúc đẩy bởi mối quan tâm đến lợi ích chung, bắt đầu bằng việc bảo vệ những người yếu nhất.

AI gắn kết chúng ta với thời buổi chính trị hiện nay, chất vấn chúng ta về cách kitô giáo dự đoán về tương lai. Nếu sự quan tâm đến những người khiêm tốn nhất chi phối việc khai triển AI, thì nó phải là la bàn của chúng ta khi chúng ta bỏ phiếu!

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nghi ngờ, để “nhân bản hóa” trí tuệ nhân tạo

Linh mục Paolo Benanti: Đi tìm trái tim và linh hồn của trí tuệ nhân tạo

Bài mới nhất