Home Blog Page 181

Làm giáo hoàng ở thiên niên kỷ thứ 3: Vatican xem lại phiên bản của mình

Làm giáo hoàng ở thiên niên kỷ thứ 3: Vatican xem lại phiên bản của mình

Trong chương trình phát động một tiến trình cải cách rộng lớn xung quanh tính đồng nghị, ngày 13 tháng 6, bộ Cổ vũ Hiệp nhất Kitô giáo công bố một tài liệu quan trọng để mở ra những con đường suy nghĩ  về cách thức trở thành giáo hoàng, theo cách tiếp cận đại kết hơn.

lavie.fr, Marie-Lucile Kubacki, Rôma, 2024-06-13

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung tại Quảng trường Thánh Phêrô, Vatican, ngày 12 tháng 6 năm 2024.  EVANDRO INETTI/ZUMA PRESS

Năm 1967, hai năm sau khi Công đồng Vatican II kết thúc, Đức Phaolô VI đã nhận xét: “Giáo hoàng (…) chắc chắn là trở ngại nghiêm trọng nhất trên con đường đại kết.” Năm 1995, trong thông điệp Hãy nên một (Ut unum sint), ngài mời gọi tất cả các nhà lãnh đạo và thần học gia các Giáo hội khác nhau đi tìm các hình thức mục vụ mà giám mục Rôma “có thể thực hiện công việc phục vụ yêu thương được mọi người công nhận”.

Một điểm để đi đến… và để khởi hành

Kể từ đó, nhiều nhóm và ủy ban đã nghiên cứu vấn đề gay go này, nhưng đây là lần đầu tiên trong nửa thế kỷ một bản tổng hợp tất cả các suy tư đại kết được thực hiện kể từ Công đồng Vatican II về tính ưu việt và tính đồng nghị đã được xuất bản.

Điều này làm cho văn bản của Bộ trở thành tài liệu quan trọng, có thẩm quyền dù nó có tính cách như một “tài liệu nghiên cứu”. Đó là điểm đến, kết quả của công việc đại kết và đồng nghị được nêu rõ trong lời mở đầu của văn bản, tóm tắt “khoảng ba mươi câu trả lời cho thông điệp Hãy nên một và khoảng năm mươi văn kiện đối thoại đại kết về chủ đề này”, bao gồm Bộ Cổ vũ Hiệp nhất Kitô giáo, các chuyên gia công giáo, một số lớn các nhà thần học từ các truyền thống kitô giáo khác nhau, một số bộ của Giáo triều Rôma và tổng thư ký của Thượng hội đồng.

Nhưng cũng là điểm khởi đầu, hồng y bộ trưởng Kurt Koch đã gởi tài liệu đến những người có trách nhiệm trong các Giáo hội khác để tiếp tục cùng nhau suy nghĩ.

“Phục vụ hiệp nhất ở cấp độ phổ quát”

Những chân trời mới nào xuất hiện trong văn bản của Vatican? Theo hồng y Kurt Koch, kết luận quan trọng nhất là tất cả các tài liệu đều đồng ý về sự cần thiết phải phục vụ hiệp nhất ở cấp độ phổ quát, phải tuân theo nền tảng của công việc và các phương thức thực hiện.

Không chỉ có sự nhất trí về nhu cầu phục vụ sự hiệp nhất ở cấp độ phổ quát, mà vấn đề về tính ưu việt không còn được xem “là một vấn đề” nhưng là cơ hội để cùng nhau suy nghĩ về bản chất của Giáo hội và các mối quan hệ của Giáo hội. Một điều mới lạ xét về lịch sử Giáo Hội trong những thế kỷ gần đây.

Nhưng sự cần thiết này dựa trên cơ sở nào? Thần học gia Hyacinthe Destivelle, quan chức của thánh bộ trong việc chuẩn bị tài liệu giải thích: “Tài liệu dựa trên một số lập luận mà các Giáo hội khác nhau ít nhiều nhấn mạnh theo lập luận của các tông đồ: Giáo hội được thành lập bởi các tông đồ, hình ảnh thánh Phêrô được cho là người đứng đầu trong số những người bình đẳng, “primus inter pares”. Tính ưu việt của danh dự này được Chính thống giáo và Anh giáo công nhận ở mọi cấp độ của Giáo hội, giáo phận, khu vực… Tính mới mẻ vì chúng ta đang ở trong thế giới toàn cầu hóa. Quan sát này mở ra một lập luận thực tế hơn: trong một thế giới siêu kết nối và toàn cầu hóa, chúng ta cần một nhân vật quy chiếu, một nhân chứng, một hiện thân và một thừa tác vụ trong toàn thể Giáo hội mà một người có thể thực hiện được.

Giám mục Giáo hội Rôma

Điều này làm sáng tỏ một loạt các cử chỉ và lời nói của Đức Phanxicô kể từ khi bắt đầu triều của ngài. Ngài đã thực hiện ngay từ buổi tối được bầu làm giám mục Rôma và ngài đã ký tất cả các tài liệu và sắc lệnh chính thức không phải từ Vatican nhưng từ nhà thờ chính tòa Thánh Gioan Lateran, nhà thờ của giám mục Rôma.

Ngay trong năm 2020, ngài đã trả lại tất cả các chức danh khác ngoài chức danh giám mục Rôma trong thư mục lịch sử các giáo hoàng. Năm 2024, ngài thêm vào chức Thượng Phụ Phương Tây, 18 năm sau khi chức này bị Đức Bênêđíctô XVI bỏ.

Từ quan điểm đại kết, tất cả những tín hiệu này đều có tầm quan trọng đặc biệt, vì với tư cách là giám mục Rôma, các Giáo hội khác có thể thừa nhận quyền tối thượng của ngài. Tất cả những thay đổi này được giải thích trong khuôn khổ cuộc cải cách đang diễn ra, với mong muốn suy nghĩ lại cách thức làm giáo hoàng bằng cách phát triển tình huynh đệ giám mục và gia trưởng.

Vấn đề về tính không thể sai lầm

Trong cuộc cải tổ được đề xuất này, đề xuất quan trọng khác được Bộ Hiệp nhất Kitô giáo đưa ra là việc đọc lại Công đồng Vatican I, đã giáo điều hóa vấn đề về tính bất khả ngộ. Tài liệu nghiên cứu của Vatican nhấn mạnh sự cần thiết phải bối cảnh hóa cách tiếp cận của Vatican I thế kỷ 19, khi Giáo hội công giáo thấy mình bị thúc ép phải ứng phó với những thách thức.

Kinh nghiệm đồng nghị

Tóm lại, cách làm giáo hoàng trong thiên niên kỷ thứ 3 này mang hình ảnh kim tự tháp ngược đã được Đức Phanxicô sử dụng: không xóa bỏ vai trò giám mục của Rôma, nhưng tái cấu hình trong chiều kích phục vụ sự hiệp nhất.

Trong bối cảnh này, các Giáo hội khác mong chờ nhiều hơn về kinh nghiệm đồng nghị của Giáo hội công giáo hiện nay, một tiêu chuẩn cho các kitô hữu khác về tính khả tín của sự dấn thân đại kết.

Nếu giáo hoàng là trở ngại chính cho sự hiệp nhất Kitô giáo, như Đức Phaolô VI đã nói, thì đó cũng do thiếu tính đồng nghị, ít nhất là từ quan điểm của các tín hữu kitô khác, đôi khi họ có ấn tượng Giáo hội công giáo hoạt động như chế độ quân chủ có quyền thiêng liêng, sợ trở thành đối tượng của quyền tài phán giáo hoàng.

Hyacinthe Destivelle kết luận: “Đây là lý do tại sao điều quan trọng là phải thấy rằng tiến trình thượng hội đồng hiện tại đang tồn tại, hơn nữa văn bản Hiệp thông Giám mục (Episcopalis communio) do Đức Phanxicô ban hành năm 2018, cuộc cải cách Thượng Hội đồng Giám mục là một câu trả lời cho yêu cầu của Đức Gioan Phaolô II trong thông điệp Hãy nên một nhằm tìm ra những hình thức mới để thực thi thừa tác vụ Phêrô.”

Những tiếng nói chỉ trích đã nhấn mạnh rằng cuộc nổi dậy do Fiducia supplicans, tài liệu Vatican cho phép chúc phúc cho các cặp đồng tính, cũng như việc Đức Phanxicô nói “không” với chức phó tế nữ.

Mặt khác Đêm canh thức Cùng nhau cầu nguyện ngày 30 tháng 9, với sự hiện diện của nhiều đại diện kitô giáo khác nhau trước ngày khai mạc Thượng hội đồng là hình ảnh về điều có thể gọi là cách làm của giáo hoàng trong thiên niên kỷ thứ ba. Họ nói ở Vatican rằng tính đồng nghị đạt được bằng cách bước đi và học tập. Và con đường của Giáo hội vượt xa thời gian của con người, kể cả thời gian của các giáo hoàng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Trí tuệ nhân tạo: Đức Phanxicô không nhân nhượng ba điểm

Trí tuệ nhân tạo: Đức Phanxicô không nhân nhượng ba điểm

fr.aleteia.org, Camille Dalmas, 2024-06-13

Ngày thứ sáu 14 tháng 6, dự kiến Đức Phanxicô sẽ tham dự một phiên họp G7 dành cho trí tuệ nhân tạo, chủ đề ngài đã nói rất nhiều trong những tháng gần đây. Đây là những khuyến nghị chính của ngài.

 1- Trí tuệ nhân tạo làm sáng tỏ

Theo Đức Phanxicô, việc dùng từ ngữ “trí thông minh” là sai, ngài đã khẳng định điều này trong thông điệp nhân Ngày Truyền thông Xã hội: “Chắc chắn máy móc có khả năng ghi nhớ dữ liệu và kết nối chúng với nhau lớn hơn khả năng của con người, nhưng chỉ có con người mới có thể giải mã được ý nghĩa của nó. Xin anh chị em ra khỏi trạng thái thôi miên để không mê sảng rơi vào quyền năng của nó, cho rằng nó là chủ thể hoàn toàn tự chủ và tự quy chiếu, tách biệt khỏi mọi ràng buộc xã hội và quên mất chức vụ của nó chỉ là một tạo vật.” Trong thông điệp hòa bình năm 2024, ngài nhấn mạnh đến giới hạn của những công nghệ mới này: “Không phải mọi thứ đều có thể dự đoán được, không phải mọi thứ đều có thể tính toán được. Việc thực tế hóa dữ liệu dù nó có chức năng như thế nào trong việc quản lý máy móc, đều hàm ý sự mất mát đáng kể về tính xác thực của mọi thứ.”

2- Bảo vệ trí tuệ con người

Ngài bác bỏ quan điểm sợ công nghệ kể cả công nghệ trí tuệ nhân tạo có khả năng cải thiện đáng kể cuộc sống con người, nhưng cho đến lúc này, dữ liệu thu thập cho thấy công nghệ kỹ thuật số đã góp phần vào sự bất bình đẳng ngày càng tăng trên thế giới. Ngài quan tâm nhiều đến việc dùng trí tuệ nhân tạo trong lãnh vực quân sự như robot giết người, trong lãnh vực thông tin với những sai sót nghiêm trọng và những thao túng tiềm ẩn. Ngài đưa ra các hình thức phân biệt đối xử, “kiểm soát xã hội” do việc dùng trí tuệ nhân tạo rộng rãi trong “các quy trình tự động phân loại cá nhân”, chẳng hạn xác định liệu một người có thể nhận tiền vay ngân hàng được hay không.

Trong một lãnh vực khác, ngài lo cho tình trạng mất việc làm khi áp dụng trí tuệ nhân tạo, tạo một xã hội ngày càng bất bình đẳng nặng. Về cơ bản, để phản đối những sai lệch do tầm nhìn ẩn danh của công nghệ, ngài bảo vệ khả năng trao cho con người vai trò chủ thể. Khi được mời phát biểu về trí tuệ nhân tạo ở hội nghị thượng đỉnh G7, ngài nói với các linh mục, ngài muốn đặt câu hỏi này cho các nguyên thủ quốc gia: “Trí thông minh tự nhiên của ông đang hoạt động như thế nào?”

3- Ấn định quy tắc

Đức Phanxicô hoan nghênh những nỗ lực gần đây của một số tổ chức quốc tế nhằm quản lý các công nghệ: “Để các công nghệ này thúc đẩy sự tiến bộ thực sự, góp phần tạo một thế giới tốt đẹp cho một cuộc sống cao hơn. Cần phải đạt một thỏa thuận mang tính ràng buộc ở cấp độ toàn cầu. Dĩ nhiên sẽ không dễ dàng có được thỏa thuận trong các lãnh vực này. Tòa thánh cần đưa ra một hiến chương đạo đức, thiết lập các nguyên tắc thiết yếu dựa trên Lời kêu gọi Rôma năm 2020 về một đạo đức nhân tạo đã được các công ty kỹ thuật số IBM, Microsoft và Cisco khai triển. Văn bản này kêu gọi thiết lập các hệ thống minh bạch, khách quan, toàn diện và tin cậy, bảo vệ quyền riêng tư của người dùng và yêu cầu những người sáng tạo AI phải chịu trách nhiệm.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Trước các diễn viên hài, Đức Phanxicô nói “chúng ta có thể chế giễu Chúa”

Trước các diễn viên hài, Đức Phanxicô nói “chúng ta có thể chế giễu Chúa”

Trong cuộc gặp với hàng trăm diễn viên từ khắp nơi trên thế giới về Rôma ngày thứ sáu 14 tháng 6, Đức Phanxicô nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc sống trong tinh thần hài hước, chúng ta có thể chế giễu Chúa như khi chúng ta chế giễu người thân.

la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, Rôma,2024-06-14

Đức Phanxicô và nữ diễn viên hài người Mỹ Whoopi Goldberg ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Vatican. SIMONE RISOLUTI / AFP

Không phải ngày nào chúng ta cũng có thể thấy nữ diễn viên hài danh tiếng Mỹ Whoopi Goldberg ở Phòng Clementine. Bà là diễn viên ngôi sao của bộ phim Sister Act, đã cùng khoảng một trăm diễn viên thuộc nhiều quốc tịch khác nhau dự buổi tiếp kiến với Đức Phanxicô trước khi ngài lên đường đi Bari, miền nam nước Ý để dự hội nghị thượng đỉnh G7.

Đức Phanxicô đã rất vui trong cuộc gặp này: “Quý vị giúp chúng tôi nhẹ nhõm và tận hưởng cuộc sống qua tài năng hài hước của quý vị. Hài hước là ơn tôi vẫn xin Chúa hàng ngày, vì nó giúp tôi làm việc một cách đúng đắn.”

Đức Phanxicô: “Xin Chúa ban cho con tính hài hước”

Tại Phủ Tông Tòa, nơi Đức Phanxicô thường nói đùa với những người ngài gặp, ngài giải thích: “Hài hước không xúc phạm, không hạ thấp nhân phẩm lỗi lầm của con người. Ngày nay, khi giao tiếp thường tạo đối lập, anh chị em đã biết cách tập hợp những thực tế khác nhau, đôi khi chống nhau trong một tinh thần vui vẻ.”

“Dĩ nhiên chúng ta có thể cười nhạo Chúa”

Đức Phanxicô nói thêm: “Quý vị cũng tạo được một phép lạ khác, cố gắng làm cho mọi người mỉm cười khi giải quyết các vấn đề, những sự thật nhỏ và lớn của lịch sử. Quý vị tố cáo sự lạm dụng quyền lực, nêu bật những tình huống bị lãng quên, những hành vi lạm dụng, những hành vi không phù hợp… Quý vị có thể cười nhạo cả Chúa như khi chúng ta nói đùa với người thân. Xin quý vị tiếp tục làm mọi người cười, giúp mọi người hy vọng, đặc biệt với những người không còn hy vọng. Khi quý vị mang nụ cười đến cho chỉ một người, quý vị đã làm Chúa mỉm cười.”

Đức Phanxicô nhắc đến trách nhiệm của các diễn viên hài: “Quý vị nhớ quý vị có micro trong tầm tay, trách nhiệm của quý vị càng lớn khi tin tức càng nặng nề.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Sự bối rối ở Rôma sau những nhận xét mới của Đức Phanxicô về người đồng tính

Sự bối rối ở Rôma sau những nhận xét mới của Đức Phanxicô về người đồng tính

“Ở Vatican, có một bầu khí của những người đồng tính.” Trước các linh mục Rôma, Đức Phanxicô cảnh báo việc nhận người đồng tính vào chủng viện, một lần nữa ngài dùng từ ngữ frociaggine mà ngài đã xin lỗi vào cuối tháng 5.

la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, Rôma, 2024-06-12

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư 12 tháng 6-2024 tại Quảng trường Thánh Phêrô. ISABELLA BONOTTO / AFP

Ngày thứ ba 11 tháng 6, 200 linh mục có mặt tại giảng đường trường Giáo hoàng Học viện Salêdiêng đã rất ngạc nhiên khi Đức Phanxicô lặp lại lời ngài nói về người đồng tính trong các chủng viện (frociaggine), đã tạo tai tiếng khi ngài nói với các giám mục Ý ngày 20 tháng 5.

Theo hãng thông tấn Ý ANSA, ngài đã nói: “Ở Vatican, có một bầu khí của những người đồng tính.” Câu này được những người có mặt trong phòng xác nhận với báo La Croix. Theo tin chúng tôi được biết, Đức Phanxicô đã nói từ “frociaggine” khi ngài trả lời câu hỏi của một linh mục về cuộc khủng hoảng ơn gọi.

Đức Phanxicô thư cho chủng sinh đồng tính bị loại ra khỏi chủng viện: “Xin con theo đuổi ơn gọi của con”

Một người có mặt trong phòng nói: “Khi ngài nói từ ngữ này, mọi người trong phòng ngạc nhiên và nghĩ: “Chúng ta lại bắt đầu.” Ngày 20 tháng 5, trong cuộc họp đằng sau cánh cửa đóng kín với các giám mục Ý, ngài nói “có quá nhiều người đồng tính trong các chủng viện Ý”. Một tuần sau, báo La Repubblica tiết lộ tin, đã tạo một làn sóng chấn động trên thế giới làm ngài phải xin lỗi. Trong một tuyên bố, Vatican cho biết “giáo hoàng không bao giờ có ý xúc phạm bất kỳ ai hoặc dùng từ ngữ kỳ thị người đồng tính”.

Tiếng lóng la-mã 

Trong báo cáo chính thức cuộc họp ngày thứ ba 11 tháng 6, Vatican cho biết, Đức Phanxicô đề cập đến việc nhận vào chủng viện những người có khuynh hướng đồng tính, ngài nhắc lại phải đón nhận và đồng hành với họ, đưa ra các chỉ dẫn thận trọng của bộ Giáo sĩ liên quan đến việc nhận họ vào chủng viện.

Ngài lặp lại từ ngữ “frociaggine”, tiếng lóng của người la-mã nói về người đồng tính đã tạo bối rối ở Rôma, ở Vatican và ở giáo phận. Bắt đầu với những người thân cận với ngài, họ nghĩ do “lỗi từ vựng” vì ngài không thành thạo tiếng Ý. Theo thông tin của chúng tôi, trong những ngày gần đây, một số người thân cận ngài đã giải thích cho ngài về từ ngữ này khi họ nói chuyện với ngài ở Nhà Thánh Marta.

Một thành viên trong Giáo triều giải thích: “Chúng tôi không bình luận, chúng tôi nhìn nhau tự hỏi không biết ngài còn làm gì nữa.” Một linh mục giáo phận Rôma không giấu bất bình: “Chúng tôi lấy làm tiếc về chuyện này…” Một người khác phản ứng: “Tôi thấy lạ khi ngài dùng từ này, ngài không bắt buộc phải dùng. Ngài muốn lặp lại, vì sao?”

Và nếu Đức Phanxicô biết chính xác những gì ngài làm?

Mối quan hệ khó khăn với các linh mục Rôma

Trước 200 linh mục Rôma, ngài lặp lại ngài phản đối việc cho phép các ứng viên đồng tính vào chủng viện, phù hợp với các quy định của Vatican. Nhưng câu nói nhỏ này không tạo phản ứng phản đối nào. Một linh mục có mặt trong buổi họp nói: “Không ai đứng dậy rời đi. Cuối cùng, theo thông lệ, từng người một xếp hàng chào ngài.”

Kể từ đầu triều, mối quan hệ của ngài với các linh mục Rôma đã phát triển rất nhiều. Được chào đón nhiệt tình năm 2013, trong nhiều năm ngài bị chỉ trích vì bỏ bê các linh mục và không đến thăm các giáo xứ Rôma như các giáo hoàng tiền nhiệm của ngài thường làm. Để khắc phục, ngài có nhiều chuyến thăm giáo xứ Rôma trong năm qua để gặp các linh mục của ngài, nhưng có vẻ như việc này vẫn chưa đủ.

Không vui

Vì vậy, trong số 500 linh mục được mời, chỉ có 200 linh mục đến dự buổi gặp ngày thứ ba 11 tháng 6. Một linh mục giải thích: “Đây không phải là thời điểm tốt, nhiều linh mục đang giúp các trại hè”, các giáo xứ Rôma lo cho các trẻ em và thanh thiếu niên đã nghỉ hè từ 7 tháng 6.

Trong những tháng gần đây, một số linh mục Rôma đã tỏ ra không thiện cảm với ngài, họ không huy động giáo dân trong các giáo xứ dự buổi cầu nguyện đại kết được cộng đồng Taizé tổ chức tháng 10 năm 2023 tại Quảng trường Thánh Phêrô. Tháng 3 năm 2023, các linh mục Rôma tổ chức một cuộc họp kín đáo, làm dấy lên những lời chỉ trích trực tiếp của các linh mục chống ngài, hôm đó ngài không có mặt.

Năm 2017, Đức Phanxicô cách chức hồng y đại diện Angelo de Donatis khỏi chức vụ ngày 6 tháng 4, giao cho tổng giám mục đại diện Baldassare Reina quản lý các công việc hiện tại, trong khi chờ bổ nhiệm một đại diện mới. Dự kiến sẽ trước Năm Thánh 2025, bắt đầu vào ngày 24 tháng 12 năm 2014.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Những nhận xét “xúc phạm” của giáo hoàng có đúng lúc không?

Đức Phanxicô biết các linh mục có khuynh hướng đồng tính nhưng họ “thánh thiện”

Những nhận xét “xúc phạm” của giáo hoàng có đúng lúc không?

Những nhận xét “xúc phạm” của giáo hoàng có đúng lúc không?

pillarcatholic.com, Ed. Condon, 2024-06-12

Ngày thứ tư 12 tháng 6, Đức Phanxicô trở lại trên các mặt báo khi ngài lặp lại tiếng lóng Ý xúc phạm đến người đồng tính trong những tuần gần đây.

Theo một số nguồn tin, chỉ vài tuần sau khi ngài dùng từ ngữ “frociaggine” (làm tình bằng hậu môn) trong cuộc họp kín với các giám mục, ngài lại dùng từ này khi nói chuyện với khoảng 200 linh mục Ý để nói đến bầu khí và văn hóa trong giáo triều Rôma, nhắc lại kỷ luật của Giáo hội: chủng sinh có khuynh hướng đồng tính nặng sẽ không được nhận vào chủng viện.

Theo các phương tiện truyền thông, Đức Phanxicô kể lại cuộc nói chuyện của ngài với một linh mục trong Giáo triều, họ lo lắng có một văn hóa đồng tính bên trong Vatican: “Đúng, có một bầu khí ấu dâm. Đúng, chúng ta thấy ở Vatican.”

Đây là lần thứ hai ngài dùng từ này và đã bị chỉ trích vì có nội dung xúc phạm. Trong cuộc gặp với các giám mục Ý, ngài nói có quá nhiều tình trạng đồng tính trong các chủng viện và kêu gọi giám mục không nhận những người đồng tính vào chủng viện.

Sau lần nói đầu tiên, cơ quan truyền thông Vatican đã thay mặt ngài xin lỗi những ai cảm thấy mình bị xúc phạm. Nhưng việc lặp lại từ ngữ này đã tạo một làn sóng chỉ trích mới.

Nhiều người xem sự thô tục này đi ngược với danh tiếng có từ lâu của ngài về tính bao gồm, chăm sóc mục vụ tận tâm và tế nhị cho người đồng tính.

Cũng có những quan sát viên khác hạ thấp hoặc bác bỏ sự thô tục này, họ cho điều này có thể tha thứ ở người tuổi cao như ngài và tiếng Ý không phải là tiếng mẹ đẻ của ngài, họ còn cho rằng đây là tính hãi sợ và đơn sơ của ngài.

Sự lựa chọn ngôn ngữ của ngài mở rộng thảo luận về quan điểm tổng quát hơn của ngài.

Một số nhà bình luận lưu ý – dù chỉ trích hoặc tán thành – cho rằng mục đích của ngài là củng cố kỷ luật Đức Bênêđictô XVI ban hành năm 2005, theo đó những người có khuynh hướng đồng tính “ăn sâu” không được phép vào chủng viện.

Nhiều người đặt câu nói này bên cạnh câu ngài nói trong cuộc họp báo năm 2013, “tôi là ai để phán xét” về các linh mục đồng tính.

Nhưng trong những nhận xét gần đây nhất, ngài không chủ yếu nhắm vào việc đào tạo ở chủng viện, nhưng về bầu khí và văn hóa của một số tu sĩ mà ngài thấy lan tràn – ít nhất ở một số nơi – đã có tác động không ổn định và có hại.

Vấn đề này ngài thường giải quyết một cách công khai, nhiều lần ngài cũng đã ghi nhận có “vận động hành lang đồng tính” trong Giáo hội trong thời gian tại chức của ngài. Câu nói nổi tiếng: “Nếu người đồng tính chân thành đi tìm Chúa, tôi là ai mà phán xét họ?”, ngài nói để trả lời câu hỏi cụ thể về các báo cáo liên quan đến một linh mục Vatican bị báo chí Ý cáo buộc có quan hệ tình cảm với một cận vệ Thụy Sĩ.

Quan điểm của ngài vào thời điểm đó không phải là bình luận về kỷ luật cấm người có khuynh hướng đồng tính vào chủng viện hoặc vị trí của họ trong Giáo hội, nhưng là việc ngài từ chối phán đoán một linh mục mà ngài cho là vô tội trước lời buộc tội, ngài cho rằng họ đang cố gắng điều chỉnh cuộc sống theo tinh thần Phúc âm và theo quy tắc đời sống tu hành.

Đồng thời, ngài cũng nói về “vận động hành lang của người đồng tính” trong giáo triều, ngài xác định đây là một vấn đề. Sau những cáo buộc kỳ thị người đồng tính, ngài nói rõ, ngài chống lại tất cả vận động hành lang, không chỉ riêng việc vận động cho người đồng tính: “Đồng tính là một xu hướng. Vấn đề là ở vận động hành lang. Vận động hành lang là không thể chấp nhận dù đó là vận động hành lang dành cho người đồng tính nam, cho hành lang chính trị hay cho Hội Tam điểm.”

Ngài đã có bài phát biểu tương tự tại hai cuộc họp gần đây, ngài đã dùng từ ngữ xúc phạm “frociaggine”, nhưng hầu hết các nhà quan sát đều đồng ý, việc ngài dùng từ này là không cần thiết, tấn công và thiếu sáng suốt, làm mất tập trung đáng kể vào điểm ngài muốn nói.

Nhưng các khác biệt trong phản ứng của công chúng với việc vận động hành lang đồng tính và ấu dâm đặt ra một vấn đề khó hiểu và đáng quan tâm: Có từ ngữ hay công thức nào vừa nói lên được thông điệp của ngài vừa không bị cho là xúc phạm không?

Việc ngài bối cảnh hóa mối quan tâm của ngài năm 2013 – của một loại văn hóa bất hợp pháp thuộc bất cứ loại nào và phát biểu với những người có khuynh hướng cuốn hút người đồng giới – đã chỉ nhấn mạnh đến “tôi là ai” mà không tranh luận công khai về người đồng tính.

Nhưng trong các cuộc gặp gần đây với các giám mục và linh mục Ý, ngài không nhấn mạnh đến vấn đề tổng quát của chức linh mục, nhưng nhấn mạnh đến một vấn đề cụ thể. Dù việc chọn một từ khác để nói sẽ ít bị chỉ trích, ít bị buộc tội cố chấp nhưng từ ngữ “đồng tính” khó thoát khỏi chỉ trích.

Thực tế như ngài nói, một số bộ phận của Giáo hội kể cả Vatican có một loại hoạt động tình dục có vấn đề ở mức độ nào đó đã được biết đến, và cho thấy có khả năng làm hại cho Giáo hội dù điều này nhiều khi khó lượng định.

Năm 2021, trang The Pillar đã gặp hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin trong gần hai giờ để trình bày các báo cáo về việc dùng các ứng dụng mại dâm được định vị trong các khu vực hạn chế của Vatican. Hàng chục máy được dùng để truy cập các ứng dụng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc gặp gỡ tình dục ở các khu vực quốc gia Vatican cấm người hành hương và khách du lịch.

Các sinh hoạt tình dục của các giáo sĩ đã đặt ra nhiều vấn đề cho Giáo hội, nhiều lần chính Đức Phanxicô đã nói hoạt động tình dục bao gồm cả phụ nữ và nam giới.

Ở mức cá nhân, những hành vi này tạo ra các cộng đồng củng cố hành vi tội lỗi cho nhau, làm nguy hiểm cho cố gắng của tu sĩ trong việc tuân giữ cuộc sống của mình theo Tin Mừng, điều mà Đức Phanxicô cho rằng, đây phải là mục tiêu của tất cả người công giáo.

Ở cấp thể chế, họ thành lập các nhóm vận động hành lang và củng cố nhau, tạo điều kiện khoan dung chung cho các hành vi bất hợp pháp – trong lãnh vực tình dục, tài chính, hành chính – và cho các tu sĩ mà Đức Phanxicô gọi đó là những người sống hai mặt. Những nơi như Tòa thánh, những người này có thể tạo nguy cơ cho thể chế, các cá nhân có thể bị tống tiền hoặc bị tổn thương khi vi phạm dữ liệu.

Như trang The Pillar đã thảo luận kỹ với hồng y Parolin năm 2021, đây là vấn đề khó khăn và tế nhị cần giải quyết, dù vấn đề và nguy cơ đã rõ ràng nhưng các giải pháp hiệu quả lại không được rõ ràng. Trong cuộc gặp này, lần đầu tiên hồng y đề nghị đưa ra một văn bản dài nêu rõ những mối lo của ngài và đề xuất phản hồi nhưng sau đó ngài từ chối làm, cũng không phải là một đối thoại mà gần như các người có trách nhiệm cao trong Giáo hội sẽ làm trước công chúng.

Theo nghĩa này, Đức Phanxicô mong muốn nêu bật một vấn đề mà ngài cho là hiển nhiên và lan tỏa, có thể được xem là dấu hiệu của một tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ. Nhưng việc ngài thường xuyên dùng từ ngữ kích động có thể làm cho nhiệm vụ của ngài trở nên khó khăn hơn.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô biết các linh mục có khuynh hướng đồng tính nhưng họ “thánh thiện”

Sự bối rối ở Rôma sau những nhận xét mới của Đức Phanxicô về người đồng tính

 

Đức Phanxicô biết các linh mục có khuynh hướng đồng tính nhưng họ “thánh thiện”

Đức Phanxicô biết các linh mục có khuynh hướng đồng tính nhưng họ “thánh thiện”

cath.ch, I.Media, 2024-06-13

Linh mục James Martin mong người đồng tính được hội nhập tốt hơn trong Giáo hội

Theo linh mục Dòng Tên người Mỹ James Martin, Đức Phanxicô biết “có nhiều chủng sinh và linh mục có khuynh hướng đồng tính nhưng họ tốt lành, thánh thiện, sống độc thân”. Gần đây vấn đề này đã tạo nhiều tranh cãi khi ngài dùng từ ngữ xúc phạm.

Sau buổi nói chuyện với Đức Phanxicô ở Nhà Thánh Marta ngày 12 tháng 6, với sự đồng ý của ngài, linh mục Martin nói nhận xét của ngài trên X-Twitter. Linh mục đặc biệt lo mục vụ cho người đồng tính và chuyển giới và đã gặp Đức Phanxicô nhiều lần, linh mục cho biết: “Một lần nữa, ngài công nhận mục vụ của tôi với người LGBTQ, ngài cho thấy tình yêu của ngài với cộng đồng LGBTQ. Thật là một niềm vui lớn lao khi được ngài chúc lành nhân kỷ niệm 25 năm ngày chịu chức của tôi.”

Cộng đồng LGBTQ bị xúc phạm

Đức Phanxicô ca ngợi công việc mục vụ của các tu sĩ Dòng Tên trong quá khứ. Tuy nhiên, vào cuối tháng 5, ngài đã làm cộng đồng LGBTQ phẫn nộ khi ngài dùng từ ngữ “frociaggine” với người đồng tính. Ngài chỉ trích việc có nhiều người có khuynh hướng đồng tính vào chủng viện. Vatican cho rằng đây là lỗi dịch thuật vì tiếng Ý không phải là tiếng mẹ đẻ của ngài. Đầu tháng 6, tranh cãi lại dấy lên khi ngài nhắc lại thuật ngữ này một lần nữa trong một cuộc phỏng vấn riêng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Những nhận xét “xúc phạm” của giáo hoàng có đúng lúc không?

Sự bối rối ở Rôma sau những nhận xét mới của Đức Phanxicô về người đồng tính

Roger-Pol Droit: “Tuổi già tạo hiệu ứng bất ngờ và xa lạ”

Roger-Pol Droit: “Tuổi già tạo hiệu ứng bất ngờ và xa lạ”

lavie.fr/ma-vie, Félicité de Maupeou và Frédéric Theobald, 2024-04-24

Người già ngày càng tăng trong xã hội, theo triết gia Pháp Roger-Pol Droit, tuổi già thực sự là sự tiếp nối cuộc đời chứ không chỉ là chương cuối cùng của nó.

Già đi có nghĩa là gì?

Triết gia Pháp Roger-Pol Droit. Chúng ta nghĩ mình biết, nhưng tôi nghĩ trên thực tế không ai thực sự biết! Trong tâm trí chúng ta chỉ có hình ảnh tiêu cực về tuổi già, tóc rụng, trí nhớ suy giảm, khả năng suy giảm, đó là lý do vì sao chúng ta không thích biết, thật ra chúng ta quên sự đa dạng của tiến trình và cách thức lão hóa. Nói về người già chung chung là ảo tưởng, vì chúng ta khác nhau về tuổi, sức khỏe, về sinh hoạt và còn tùy hoàn cảnh, tùy quan niệm sống của mỗi người… Không khái quát hóa chung chung, đó là lý do vì sao tôi nói về “vùng đất chưa biết” cả về quan điểm cá nhân lẫn xã hội.

Thật vậy, ai cũng có trải nghiệm riêng tuổi già của mình, khó mường tượng trước một cách rõ ràng, chúng ta phải sống với nó. Vì vậy lão hóa là “lãnh vưc chưa được khám phá” trên quy mô xã hội vì chúng ta bước vào một giai đoạn chưa từng có trong lịch sử nhân loại, với sự gia tăng đáng kể số lượng người lớn tuổi. Hiện nay ở Pháp có nhiều người trên 65 tuổi hơn là người dưới 25 tuổi, tình trạng này đặt ra những vấn đề to lớn.

Tuổi già có phải là giai đoạn khủng hoảng không?

Chắc chắn. Cũng như bước ngoặt trong tâm lý ở tuổi thiếu niên, tuổi tác định hình lại các tương quan của chúng ta với ham muốn, với người khác, với quá khứ, với tương lai… Sự định hình sâu đậm này không hẳn là tiêu cực nhưng đôi khi rất khó để trải qua và hiểu được. Văn sĩ Groucho Marx đã hài hước nói: “Trong mỗi người già đều có một người trẻ thắc mắc chuyện gì đã xảy ra!” Tuổi già tạo ra hiệu ứng bất ngờ và xa lạ.

Nhưng chúng ta không nên xem đây chỉ là sầu khổ, tuổi già cũng là lúc chúng ta có được tự do. Cho đến cùng, chúng ta có thể sống, học hỏi và khám phá. Bị kết tội phải uống thuốc độc, triết gia Socrate học chơi đàn lia để “biết chơi đàn này trước khi chết”. Cho đến ngày cuối cùng, chúng ta cũng còn có thể khám phá, cũng còn có những quan hệ  mới.

Nói cách khác, người già không chỉ đã sống mà còn sống!

Đúng, tuổi già không phải là khởi đầu của cái chết như người ta thường nói. Đó là tiếp tục cuộc sống, dù có những thiếu sót và bó buộc. Triết gia Seneca thời cổ đại phát triển ý tưởng này, và triết gia Montaigne tiếp thu, khi chúng ta già đi, chúng ta chết “từng mảnh”: vì thế khi cái chết đến, nó chỉ hoàn thành một công việc đã được khởi đầu tốt đẹp! Hình ảnh này có vẻ an ủi, nhưng thực ra lại có hại, vì nó cho thấy chúng ta ngày càng sống yếu đi, tan rã thành từng mảnh, không còn một cuộc sống thực.

Vì sao ông tập trung vào chủ đề tuổi già?

Kể từ năm 2019, tôi ủng hộ Hội Chia sẻ và Sự sống, quản lý gần 130 viện dưỡng lão, và cũng vì tuổi già là một vấn đề triết học vĩ đại, một thách thức trí tuệ mà điều quan trọng là phải suy nghĩ một cách tập thể, cẩn thận nhất có thể.

Lãnh vực này của xã hội và đời sống con người ngày càng trở nên quan trọng, đặt ra những câu hỏi mới và làm sống lại những câu hỏi cũ, ảnh hưởng đến đời sống mật thiết của cá nhân, gia đình cũng như ngân sách Nhà nước, đến việc tổ chức công việc, đến đạo đức…

Chúng ta ngày càng sống lâu hơn, nhưng liệu đây có phải là chuyện tốt không? Tuổi già thật đáng sợ!

Người già bị trầm cảm rất nhiều, nhưng chúng ta cũng phải nhớ 90% người lớn tuổi đều có sức khỏe tốt! Điều đáng lo ngại nhất là con dốc âm ỉ dẫn đến việc bị cho là “kém nhân tính”, không còn khả năng tự lo vệ sinh cho mình, mắc chứng rối loạn nhận thức, không còn biết mình vừa nói gì hoặc không tự quyết định được.

Trong trường hợp này, rõ ràng các vấn đề về nhân phẩm, quyền tự do, quyền được hiểu biết đòi hỏi phải cố gắng suy nghĩ. Ở đây, đạo đức không thể bị giới hạn trong một loạt các nguyên tắc chỉ trong nửa trang giấy. Đạo đức được xét theo từng trường hợp, từng phát xuất, từng hành động để giúp đỡ người già. Đó là công việc hàng ngày của những người giúp người già.

Chúng ta có thể chuẩn bị để già không?

Chung chung thì có, nhưng cụ thể thì không! Tính đặc biệt của tiến trình làm cho việc chuẩn bị chính xác trở nên khó khăn. Nhưng thật dễ dàng để nhận ra chúng ta ngày càng già đi và – nó đang thành một phần trong phong tục của chúng ta – chẳng hạn việc nghĩ cách bố trí ngôi nhà, những câu hỏi thực tế cái gì là phù hợp, vấn đề tài chính, v.v.

Vì sợ hãi thái quá nên những câu hỏi này thường bị gạt sang một bên. Kết quả: việc đi vào viện dưỡng lão đều làm một cách vội vàng, đôi khi trong hoảng loạn sau một biến cố, sau khi bị té, và người thân yêu cảm thấy có lỗi vì đã không săn sóc chu đáo. Tuy nhiên, khả năng này có thể được các nhà hưu dưỡng lượng định trước, lựa chọn cẩn thận theo các tiêu chuẩn khách quan để giảm tình trạng khó khăn.

Đa số viết di chúc tài sản hoặc nghi thức làm tang lễ, nhưng ít người lên kế hoạch cho sự già đi hoặc tình trạng họ không còn tự động. Có một phủ nhận về tình trạng lão hóa, người lớn tuổi không muốn người khác thấy tình trạng của mình. Chúng ta không muốn nhìn thấy, không muốn cho người khác thấy.

Trong các trường hợp này, các viện dưỡng lão sẽ hoạt động như thế nào?

Dĩ nhiên có những viện dưỡng lão tốt và không tốt. Chúng ta đừng xem các viện dưỡng lão là quỷ dữ quá mức, cũng đừng thần thánh hóa quá mức. Dĩ nhiên ai cũng muốn được… ở nhà mình, nhưng không phải lúc nào cũng được, một người không còn khả năng bị cô lập ở nhà với hai lần y tá đến thăm mỗi 15 giờ vào buổi sáng và buổi tối!

Chúng ta thường chống người già-người trẻ, làm thế nào để nối lại được mối liên kết giữa các thế hệ?

Khoảng cách ngày càng lớn giữa các thế hệ trước hết là do có những thay đổi trong cơ cấu xã hội, làm gia tăng số lượng gia đình hạt nhân cha mẹ-con cái, ngày càng có nhiều cha mẹ đơn thân, phá đi mối quan hệ thân thiết với các thế hệ cũ. Khoảng cách này cũng là kết quả của xu hướng “tuổi trẻ” đang thịnh hành, xem thế hệ mới là trọng tâm, gạt thế hệ cũ ra ngoài, bị cho là không còn “hấp dẫn”.

Tình trạng này tạo hiệu ứng “một mình” và “im lặng”: bị chia cách, các thế hệ sống khép kín giữa họ với nhau, ít nói với nhau, không trao truyền kinh nghiệm, kiến thức, niềm tin cho nhau. Tuy nhiên, một loạt sáng kiến rải rác đang giúp thay đổi tình trạng: các lớp mẫu giáo hoặc trung tâm giữ trẻ được lồng trong các viện dưỡng lão, họ dùng phòng ăn chung, học sinh ở với người lớn tuổi, các nhóm sinh viên đến trình bày công việc của họ trong nhà dưỡng lão, v.v. Một loạt các liên kết và trao đổi đang được nối lại dù những sáng kiến này còn rất nhỏ.

Làm thế nào chúng ta có thể tôn trọng mối quan hệ với người lớn tuổi, mối quan hệ đôi khi khó duy trì?

Tất cả tùy thuộc vào thế giới chung tồn tại giữa nhau, vào sức sống và sự cởi mở của mỗi người. Mối quan hệ với ông bà vẫn bền chặt, dù với những người bệnh Alzheimer.

Triết gia Michel Malherbe có vợ bị bệnh Alzheimer đã có một nhận xét quan trọng: “Mọi người luôn hỏi tôi: ‘Bà còn nhận ra ông không?’ nhưng câu hỏi phải là: ‘Tôi có còn nhận ra bà không?’”. Thái độ đạo đức cố gắng tiếp tục nhìn thấy, đằng sau người thân yêu mà chúng ta có ấn tượng không còn nhận ra, một con người theo đúng nghĩa của con người vượt xa những gì làm chúng ta bối rối. 

Có phải chúng ta đã ở trên triền dốc xem một số người già là “kém nhân tính” do tình trạng lệ thuộc hoặc bệnh tật của họ không?

Đúng, và chúng ta phải chiến đấu với nó. Độ dốc này gắn liền với xu hướng sâu xa trong xã hội muốn loại bỏ những gì tiêu cực, với ý tưởng chúng ta có thể có sức khỏe tuyệt đối về thể chất và tâm lý mà không bị xáo trộn hay rắc rối. Cách mơ này – vì nó là ảo ảnh – thúc đẩy chúng ta muốn giải thoát mình khỏi đau khổ, cái chết, bệnh tật… để mọi thứ trôi chảy nhanh chóng và có hiệu suất.

Sự tưởng tượng này đã ăn sâu vào xã hội, dẫn đến việc loại trừ một phần lớn thực tế xã hội và cuộc sống cá nhân. Dĩ nhiên chúng ta phải chống lại sự tiêu cực, giảm thiểu nó càng nhiều càng tốt, nhưng ý tưởng loại bỏ nó bằng cách không tính đến nó là vô lý. Thay vì gạt bỏ những thách thức to lớn do tình trạng lão hóa dân số đặt ra, điều cấp bách chúng ta phải làm: phân tích chúng một cách sáng suốt và thực tế.

Làm thế nào chúng ta có thể thay đổi cách chúng ta nghĩ về lão hóa?

Trong tất cả các xã hội truyền thống – châu Âu, châu Phi, châu Á – một người được cho là khôn ngoan khi họ có nhiều kinh nghiệm, họ thấy nhiều thứ hơn: những người lớn tuổi nhất là những cực để tham khảo. Sự thể hiện này đã biến mất khỏi thời hiện đại, người trẻ cho rằng cái cũ đã nằm ngoài vòng và làm cho người lớn tuổi trở nên vô hình.

Ngày nay chúng ta thiếu hình ảnh của tuổi già. Thêm nữa ít có các tác phẩm triết học hoặc văn học trong lãnh vực này. Nhà văn Pháp Simone de Beauvoir viết Tuổi già (Vieillesse, 1970) là một trong số ít nhà văn viết về chủ đề này để tố cáo sự tẩy chay mà người già phải chịu. Và chúng ta thấy: chẳng có anh hùng lớn tuổi nào trong các phim, các kịch, các truyện tranh, các tập phim trên truyền hình.

Để thay đổi quan điểm về tuổi già, các công cụ văn hóa đại chúng là rất cần thiết, giống như cách mà bộ phim Intouchables (2011) đã có thể thay đổi quan điểm về người khuyết tật. Có nhiều việc phải làm để nhân cách hóa cách chúng ta nhìn người lớn tuổi, chia sẻ với họ về tính nhân văn và phẩm giá, và cuối cùng là xem xét cuộc sống con người trên toàn bộ phạm vi của nó.

Marta An Nguyễn dịch

Theo Đức Phanxicô, bài giảng lý tưởng không nên dài quá… 8 phút!

Theo Đức Phanxicô, bài giảng lý tưởng không nên dài quá… 8 phút!

fr.aleteia.org, Philippine Renaudin, 2024-06-12

Nhận thức khả năng tập trung kém của giáo dân, tiếp tục bài giáo lý hàng tuần trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần, Đức Phanxicô nhắc các linh mục không nên giảng quá… 8 phút vì giáo dân sẽ chìm vào giấc ngủ: “Chúng ta không cần phải có bằng tiến sĩ tâm lý để hiểu giáo dân thường mất tập trung khi nghe giảng lâu. Tôi muốn nói với các linh mục, họ giảng rất dài và thường không biết mình đang nói gì, thiếu phương châm, thiếu thông điệp, thiếu luận điểm chính xác…”

Đức Phanxicô đòi hỏi khắt khe vừa nội dung, vừa thời gian giảng vì đây là giây phút giáo dân có thể có một trải nghiệm sâu đậm và hạnh phúc với Chúa Thánh Thần, một cuộc gặp an ủi với Lời Chúa, một nguồn đổi mới và tăng trưởng liên tục. Bài giảng là dịp tốt đẹp để chúng ta được Chúa Thánh Thần chạm đến. Nhưng nội dung bài giảng lại không giúp giáo dân suy niệm đúng đắn Lời Chúa và sống tình yêu của Ngài.

Đọc Sách Thánh là nền tảng của đời sống giáo dân

Đức Phanxicô nhắc, đọc Sách Thánh giúp chúng ta hiểu được tình yêu của Chúa trong cuộc sống để từ đó chúng ta hành động, vì đó là nguồn sinh lực quý báu. Do đó các bài đọc có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ các vấn đề lo lắng hàng ngày, chỉ cần dành một khoảnh khắc trong ngày để đọc và suy niệm một đoạn Kinh thánh.

Đức Bênêđíctô XVI chia bốn giai đoạn: lectio, đọc đoạn Kinh thánh, suy niệm, suy ngẫm về sự nhập thể của Lời Chúa trong cuộc sống hằng ngày, oratio, đối thoại với Thiên Chúa và contemplatio, chiêm niệm trước sự hiện diện của Chúa Kitô. Để thuận tiện, chúng ta nên có quyển Kinh thánh trong người.

Chúa Thánh Thần hiện diện trong tất cả

Tuần này, bài giáo lý tiếp tục đề tài Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần soi sáng, giúp chúng ta hiểu Kinh thánh, vì đôi khi chúng ta đọc nhiều lần một đoạn, nhưng không có một cảm xúc cụ thể nào, và một ngày nọ, đoạn này đột nhiên sáng lên, nói với chúng ta, làm sáng tỏ vấn đề chúng ta đang gặp, làm cho ý muốn của Chúa trở nên rõ ràng với chúng ta trong một trạng huống nào đó.

Marta An Nguyễn dịch

Một ngôn ngữ khác

Một ngôn ngữ khác

Làm sao có thể diễn tả được tâm trạng băn khoăn lo lắng của một bà mẹ có con tuổi vị thành niên, làm như những lời nói quen thuộc từ thuở lọt lòng bỗng một sáng một chiều trở thành xa lạ với nó, nói gì nó cũng không nghe. Đứng trước thái độ dửng dưng này, lý luận là chuyện hoài công.

Từ mấy tháng nay, tôi chuẩn bị quà sinh nhật 18 tuổi cho đứa con trai yêu quý, tôi soạn từng tấm hình của từng năm, từng biến cố, từng buổi lễ, từng kỷ niệm thân yêu của gia đình để gom vào một album, nhắc cho con nhớ các kỷ niệm đã ăn sâu vào tâm hồn, để từ đó giúp con bám rễ vào cuộc sống. Tôi chép lại các bài viết kể lại các biến cố đáng ghi nhớ của gia đình, chép lại các câu châm ngôn chỉ nam của tôi, chép lại một ít chuyện tinh hoa đời xưa, các kinh, các bài trích thâm sâu Thánh Kinh với hy vọng một ngày nào đó con tôi để đọc, chú con từ nhỏ đến lớn chưa đọc xong một quyển sách nào, ngoại trừ các sách trong chương trình học.

Tôi hy vọng qua các câu chuyện cổ học tinh hoa, chú rút tỉa được các bài học đạo đức khôn ngoan, các câu châm ngôn ngắn gọn gây tò mò để suy nghĩ thêm, các bài kinh để tối tối đi chơi về chẳng có gì làm, may ra cầm lên đọc, các bài Thánh Kinh may ra có Lời Chúa lọt vào căn phòng bề bộn. Nói là các bài kinh, các bài trích Thánh Kinh nghe cho oai, nhưng thật ra tôi chỉ chép lại kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Chúa Thánh Thần, kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô, bài Điều đó không quan trọng của Mẹ Têrêxa, bài Thánh Vịnh số 22 Chúa chiên nhân lành, bài Tám mối phúc thật, bài tụng ca Tình yêu của thánh Phaolô. Chỉ chừng đó.

Năm nay ngày sinh nhật thứ 18 trùng với 10 năm ngày chồng tôi bị tai nạn xe hơi thập tử nhất sinh và cũng để tưởng niệm thầy Spénard, cha đỡ đầu của chú vừa qua đời. Tôi xin cha bề trên dòng Đa Minh đến nhà làm lễ tạ ơn. Buổi lễ chỉ trong vòng thân mật của gia đình: bố mẹ con cái. Thánh thư là bài Ca tụng tình yêu của thánh Phaolô, thánh vịnh là bài Chúa chiên nhân lành, Phúc âm là bài Người con hoang đàng trở về. Tôi những mong khi nghe các bài này, ơn Chúa sẽ xuống trên người nghe. Tôi vẫn tin các lời thánh có một sức mạnh siêu nhiên ban cho những ai có lòng thành. Sau buổi lễ là bữa cơm thân mật, mọi người ăn uống nói chuyện vui vẻ.

Và rồi cuộc sống bình nhật tiếp tục, tôi đi làm, con đi học, đi chơi, vẫn những câu trao đổi ngắn, con ăn chưa, con làm gì, con đi chơi đâu bây giờ…

Nhưng hôm nay, đã có chuyện lạ xảy ra…

Chú bé ra tay dọn phòng sạch sẽ, căn phòng xưa nay đã rất bề bộn, mất trật tự! Chú điện thoại nhờ cô chị qua giúp một tay. Thấy các con làm việc, tôi phụ một tay vì bình thường chú không cho tôi đụng vào bất cứ chuyện gì.

Trong phòng ngủ có một kệ đựng các ảnh tượng, các vật lưu niệm sau các chuyến du lịch, các quà tặng của bạn và hình các em bé Phi châu do chú bảo trợ và trao đổi thư từ. Chú nhờ tôi chùi sạch kệ, chú khiêng tất cả các vật này ra để một kệ khác ở phòng ngoài, chỉ giữ lại các hình các em bé Phi châu và để các quà tặng của mẹ nhân ngày sinh nhật lên kệ, bảo rằng con để trước mắt để lấy đọc cho dễ.

Tôi phải nén xúc động, xem như câu này là một câu bình thường, lúc đó tôi chỉ muốn hét vang: Tôi còn muốn gì nữa, ngôn ngữ nào cũng là ngôn ngữ, muốn con nói con thương mẹ, con nghe lời mẹ hay muốn con đem những lời mẹ nhắn nhủ để lên một chỗ trang trọng … Tôi còn muốn gì nữa!

Lòng tôi lịm đi nhưng cũng phải cố gắng xem như không có gì xảy ra, may thay tâm hồn tôi chùng xuống vì nghe các bài hát lãng mạn quen thuộc của Pháp, các bài Tâm hồn thi sĩ của Charles Trenet, các bài hát của cố ca sĩ Yves Montand. Hóa ra hai chị em cũng lưu trử các bài này trong máy tính, tôi tưởng chúng chê “nhà quê” không muốn nghe!

Tôi không hiểu vì sao lúc còn trẻ, đứng trước sự sống, con người lúc nào cũng muốn đốt cháy tất cả nhiên liệu: lái xe quá tốc độ, nếm thử các trái cấm, không cái gì có thể cưỡng lại năng lực sống điên cuồng đó. Cứ mỗi lần con lái xe là mỗi lần tôi lo lắng, lắm lúc tôi lại không dám ngồi bên cạnh chú, khuyên chú nên lái chầm chậm là chuyện chói tai, nhưng hôm nay có một tai nạn thảm khốc ở  Canton de Lingwick, một thanh niên 18 tuổi uống rượu say, chở 5 người bạn đi chơi, xe rớt xuống sông, 5 người bạn chết, cậu sống sót, tôi khuyên con lái chầm chậm. Chú bảo: bữa nay con lái chậm rồi, con vừa bị cảnh sát phạt vì lái quá tốc độ!

Một món quà quý giá cho tôi nhân ngày con 18 tuổi!

Marta An Nguyễn

Montreal, 2001

 Thinh lặng, bước đầu đến với Chúa

Mùa Thường niên  

Mùa Thường niên

Ronald Rolheiser, 2024-06-10

Lịch Giáo hội có những mùa đặc biệt để kỷ niệm: Mùa Vọng và lễ Giáng Sinh, Mùa Chay và lễ Phục Sinh, nhưng ngoài những mùa đặc biệt này, Giáo hội mời chúng ta sống và cử hành mùa Thường niên.

Mùa Thường niên. Với hầu hết chúng ta, tôi nghĩ mùa này không nói lên một cái gì đặc biệt – nó nhạt nhẽo, tẻ nhạt, thường ngày, nhàm chán. Trong lòng, chúng ta có cảm giác đó là những gì đè nặng lên chúng ta, nhận chìm chúng ta, đẩy chúng ta ra khỏi môi trường hữu ích của đam mê, lãng mạn, sáng tạo và ăn mừng.

 

Chúng ta dễ dàng chê bai chuyện bình thường. Tôi nhớ một cô sinh viên trẻ chia sẻ trong lớp nỗi sợ lớn nhất đời cô là không thể chống chọi với những điều tầm thường, “là người nội trợ bình thường, người hài lòng làm quảng cáo thuốc giặt!”

Nếu bạn là nghệ sĩ hoặc có khiếu nghệ thuật, bạn dễ là đề tài của chê bai kiểu này vì các nghệ sĩ có xu hướng sáng tạo ngược với những gì bình thường. Chẳng hạn, văn sĩ Doris Lessing đã từng nhận xét lẽ ra George Eliot (1819-1880) có thể là nhà văn giỏi hơn “nếu bà không quá đạo đức”. Điều mà Lessing muốn nói là Eliot đã quá bám vào những điều bình thường, quá an toàn, quá chắc chắn, quá xa khỏi các bờ vực. Trong tác phẩm tiểu sử Cô gái đồng trinh của Bennington (The Virgin of Bennington), bà Kathleen Norris chia sẻ khi còn là nhà văn trẻ, bà là nạn nhân của hệ tư tưởng này như thế nào: “Tôi nghĩ các nghệ sĩ quá nghiêm túc để sống một cuộc sống lành mạnh và bình thường. Bị thúc đẩy bởi những thế lực không thể lay chuyển trong một thế giới lạnh lùng, họ đã phải đương đầu với cuộc đấu tranh không thể tránh khỏi, đôi khi chết người, nhưng luôn cao cả để chống buồn bã và bất hạnh.”

Cuộc vật lộn cao quý với buồn bã và bất hạnh. Nghe có vẻ quyến rũ, đặc biệt với những người trong chúng ta tự cho mình là nghệ sĩ, trí tuệ hoặc tâm linh. Đó là lý do vì sao một ngày nào đó, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể cảm thấy thương hại cho những người có hạnh phúc đơn giản. Chúng ta nghĩ quá dễ với họ, nhưng họ phải đấu tranh để có. Đó là người nghệ sĩ bên trong chúng ta đang lên tiếng. Chúng ta chưa bao giờ thấy một nghệ sĩ bằng lòng làm quảng cáo thuốc giặt!

Xin quý vị đừng hiểu lầm tôi. Có một số xứng đáng cho việc này. Chính Chúa Giêsu đã nói, chúng ta không chỉ sống bằng cơm bánh. Không nghệ sĩ nào cần giải thích ý nghĩa của câu này. Trong số những điều khác, họ biết điều Chúa Giêsu muốn nói, đó là thói quen đơn giản, không nhất thiết đó là thiên đàng. Chúng ta cần cơm bánh, nhưng chúng ta cũng cần vẻ đẹp và màu sắc. Doris Lessing là nghệ sĩ vĩ đại, bà vào đảng cộng sản khi còn trẻ nhưng khi trưởng thành bà bỏ đảng. Vì sao? Một câu nói lên tất cả. Bà nói, bà bỏ đảng cộng sản, “vì họ không tin vào sắc màu!” Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta, cuộc sống không có nghĩa là sống đơn giản như một chu kỳ bất tận: thức dậy, đi làm, làm việc có trách nhiệm, về nhà, ăn tối, chuẩn bị mọi thứ cho ngày hôm sau và sau đó đi ngủ.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều để nói về một thói quen có vẻ kịch tính của sự bình thường. Cuối cùng, nhịp điệu của sự bình thường là nguồn gốc sâu sắc nhất để rút ra niềm vui và ý nghĩa. Tác giả Kathleen Norris sau khi kể cho chúng ta nghe cám dỗ thời trẻ của bà, bà đã vượt lên những điều bình thường để dự vào cuộc chiến cao quý chống buồn bã và bất hạnh, bà chia sẻ cách mà người cố vấn tuyệt vời Betty Kray đã giúp bà thoát khỏi cạm bẫy này như thế nào. Kray khuyên bà viết ra niềm vui cũng như nỗi buồn của mình. Bà Norris nói: “Betty cố hết sức thuyết phục tôi về điều mà những người bạn của bà, những người từng bị điên biết rất rõ: sự trân trọng đơn giản và trong sáng với những gì bình thường trong cuộc sống hàng ngày là kho báu không có gì so sánh trên trái đất này.”

Đôi khi phải có một căn bệnh mới dạy chúng ta điều này. Khi chúng ta lấy lại sức khỏe và năng lượng sau khi bị bệnh, sau khi bị nghỉ việc, sau khi bị ra khỏi nhịp sống và thói quen bình thường, không có gì ngọt ngào cho bằng trở lại với đời sống bình thường – với thói quen của công việc, với những điều bình thường của cuộc sống hàng ngày. Chỉ sau khi bị lấy đi và sau khi được trả lại, chúng ta mới quý sự đơn giản và trong sáng của những việc bình thường hàng ngày, một kho báu tối thượng.

Tuy nhiên, các nghệ sĩ vẫn đúng một phần. Những điều bình thường có thể đè nặng chúng ta, loại chúng ta khỏi môi trường sáng tạo, khỏi môi trường lãng mạn, khỏi môi trường hoang dã, những môi trường làm chúng ta vui vẻ. Nhưng phải công nhận, sự bình thường chính là điều giúp chúng ta không bị cuốn trôi. Nhịp điệu của những điều bình thường giữ vững chúng ta, làm chúng ta tỉnh táo.

Nghệ sĩ Paul Simon trong một bài hát của thập niên 1970 có tựa đề An American Tune, hát về việc đương đầu với những bối rối, sai lầm, phản bội và những sự kiện khác làm khuấy động bình an của chúng ta. Ông kết thúc bài hát khá buồn với những lời: “Ngày mai lại một ngày làm việc và tôi cố gắng nghỉ ngơi một chút. Nghỉ ngơi một chút, đó là tất cả những gì tôi đang cố gắng.”

Đôi khi việc giữ mệnh lệnh này lại giúp chúng ta tỉnh táo hơn. Có rất nhiều điều để nói về việc trở thành một người nhỏ bé, hài lòng, gắn bó với nhịp sống bình thường và thậm chí có thể làm quảng cáo cho thuốc giặt.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất