Home Blog Page 176

Liệu trận đại dịch năm 2020 có làm chúng ta thay đổi mãi mãi không?  

Liệu trận đại dịch năm 2020 có làm chúng ta thay đổi mãi mãi không?

newyorker.com, Adam Gopnik, 2024-02-19

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến chúng ta theo hàng triệu cách. Nhưng những ý nghĩa chúng ta hiểu về biến cố này vẫn không giúp chúng ta nắm bắt được trọn vấn đề.

Bốn năm sau khi đại dịch bùng phát, các nhà văn đã khảo sát bối cảnh quá khứ gần đây của chúng ta: sự mất mát về nhân mạng, trạng thái hoang tưởng lên đến cao điểm, những đam mê chính trị và tư duy đặc thù hóa một số sự kiện toàn cầu.

Hình / Ben Wiseman

Những năm nào của thế kỷ trước được cho là những năm then chốt? Có thể biện luận năm 1929 là do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến hàng loạt các cuộc khủng hoảng như sự xuất hiện Chủ nghĩa Quốc xã (và Chính sách Kinh tế Mới), điểm cuối cùng là Thế chiến thứ hai; còn năm 1945 khi Hoa Kỳ thoát khỏi Thế chiến với chiến thắng theo kiểu không theo quy ước – như anh hùng Hercule đã bóp cổ hai con rắn trong cái nôi và như Updike nghĩ, Hoa Kỳ đã có vũ khí sát thương nhất chưa từng có; còn với năm 1968 được đánh dấu bằng một loạt vụ ám sát và tình trạng bất ổn trong nước báo hiệu việc khởi đầu cho sự kết thúc của đế chế tường thành Mỹ, cũng như sự thức tỉnh về giải phóng và quyền lực mềm của cánh tả châu Âu và của người Nga. Những năm khác cũng đáng kể với những sự kiện ghi nhớ: 1979, với tiếng tăm lừng lẫy của Thủ tướng Anh, bà Margaret Thatcher và của Giáo chủ Ayatollah Khomeini với cuộc chiến ở Afghanistan; năm 1989 Bức tường Bá Linh sụp đổ; năm 2001 với chủ nghĩa khủng bố và chống khủng bố. Nhưng năm 2020 với loại virus xuất hiện từ Trung Quốc đã làm thế giới bế quan tỏa cảng, đúng là năm then chốt và mọi người đều đồng ý.

Viết lại lịch sử của một sự kiện đã xảy ra từ nhiều thế hệ trước đã là khó khăn. (Các phong trào năm 1968 ở Paris và những nơi khác vào thời điểm đó có vẻ là cánh tả nhưng thực ra nó đánh dấu sự đoạn tuyệt của những người trẻ cấp tiến với Đảng Cộng sản). Viết về một tình tiết xảy ra cách đây năm phút cũng có cái khó của nó. Ai có thể biết được cái gì có giá trị và cái gì không? Tuy nhiên, năm 2020 dường như đã mang tính lịch sử – giờ đây, rất nhiều việc chúng ta làm trong thời đại dịch đã trở nên xa xuôi: lau chùi bằng dịch tẩy trùng, cách ly hai mét. Andrew Cuomo và Joe Exotic cả hai đều là siêu sao nhưng không còn ai chú ý trong những tháng đầu đại dịch. Chúng ta từng phỏng đoán thành phố New York sẽ thoát khỏi đại dịch như thế nào: bị chấn thương, vui mừng hay bị phạt một thời gian ngắn cho bừng tỉnh để xã hội sẽ bình đẳng hơn chăng? Bây giờ thành phố đã trở lại bình thường và dường như không có nhiều thay đổi so với cuộc sống giữa tháng 3 năm 2020.

Các nhà hàng chật cứng – có thực sự là họ đã bị đóng cửa vài tháng theo lệnh không? – tàu điện ngầm chật như nêm và chẳng ai mang khẩu trang ở những nơi này dù có người thề sẽ mang hoài. Quỹ đạo chính trị của đất nước dường như đang đi trên con đường thảm khốc giống như trước đại dịch. Buổi tối, nhiều tòa nhà tối om, không còn ánh sáng rực rỡ như trước, nhưng trên đường phố New York vẫn còn những nơi ăn uống trên vỉa hè được khéo léo tùy cơ ứng biến. Không ai biết chúng sẽ kéo dài được bao lâu.

Tất cả những điều đó có ý nghĩa gì? Có rất nhiều ý kiến trái chiều chung quanh việc này nhưng vẫn có những lập luận xem ra hợp lý. Có ý kiến cho rằng, đại dịch dường như đã thay đổi cả một thời đại: một triệu người chết vì bệnh dịch ở Mỹ; học sinh không được học đàng hoàng và đi lui đến mức không thể khắc phục được. Hoang tưởng sợ hãi vốn đã lan tràn trong thời đại truyền thông xã hội, bây giờ lại càng gia tăng, bào mòn niềm tin vào các tổ chức. Có lập luận cho rằng phần lớn các thiệt hại là do chính chúng ta làm: lẽ ra các trường học không nên đóng cửa; mang khẩu trang có thể cứu được một số người nhưng cũng có những trường hợp không cứu được; và, vì những quy định cứng ngắc bất chấp quyền con người với cái giá phải trả: xã hội đã mất niềm tin ở mức cao nhất.

Bên cạnh đó cũng có ý kiến cho rằng, các quy định hạn chế đi lại, cách ly theo khu vực chưa thực hiện đúng mức thì đã bị bỏ rơi quá sớm, nên hiện nay, với đại dịch vẫn tiếp diễn có một số gia đình vẫn chưa có đủ kinh nghiệm trong các tình huống này. Có những trường hợp ít gây thiệt mạng nhưng lại bị hội chứng Covid kéo dài. Nhiều người bị suy giảm miễn dịch, họ không còn sức và cho rằng con người xã hội trở nên vô cảm tập thể trước lợi ích của người khác, đặc biệt với những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội.

Đại dịch lần cuối của thế giới là dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, chủ yếu không ảnh hưởng đến người già nhưng với người trẻ. Hàng chục triệu người trên thế giới đã chết trong điều mà quyển sách “Đại thức tỉnh” của Đại học Oxford xuất bản đã cho biết có thể đây là thảm họa chết người nhất trong lịch sử loài người. Nhiều người đã chết là những người tạo ra ý thức hiện đại – Gustav Klimt và Egon Schiele ở Áo, Max Weber ở Đức, Guillaume Apollinaire ở Pháp. Trong tuyển tập này, một loạt nhà sử học đưa ra các quan điểm tập trung vào những gì đã xảy ra sau đó, nhưng câu hỏi cơ bản họ đặt ra là sự kỳ lạ của chứng mất trí nhớ của chúng ta: Với quy mô của những gì đã xảy ra, tại sao lại có quá ít ký ức tập thể về nó?

Câu trả lời một phần là do đại dịch cúm Tây Ban Nha đã đan xen chặt chẽ với sự kết thúc của Chiến tranh thế giới thứ nhất, khiến nó lây lan nhanh hơn (tàn khốc nhất là trên các tàu chở quân nhân về nhà), một tai họa bị chôn vùi dưới một tai họa khác. Văn hóa tưởng nhớ Thế chiến và các quân nhân tử trận, từng chiếm tin tức hành đầu một thời gian đã át đi tiếng kêu của những người đã chết một cách khủng khiếp vì bệnh cúm. Các sử gia cho rằng chúng ta chỉ có chỗ cho một chuyện ở một thời điểm, và trong cuộc cạnh tranh giành không gian tưởng niệm – đôi khi là theo nghĩa đen – một cuộc xung đột quân sự giữa các quốc gia được ưu tiên về mặt chính trị hơn là xung đột y tế giữa vi trùng và loài người. Tuy nhiên, ý tưởng về chủ nghĩa anh hùng vẫn dính chặt vào câu chuyện chiến tranh vì nó không dính vào câu chuyện lây nhiễm.

Hình / Suerynn Lee

Chúng ta thấy điều này trong quyển tiểu thuyết “Giã từ vũ khí” viết về Thế chiến thứ nhất của văn hào Mỹ Ernest Hemingway, câu chuyện người lính bị thương Frederic và tình yêu của ông với cô y tá Catherine. Dù được đề cập thoáng qua trong tuyển tập Oxford, nhưng câu chuyện thực tế về mối liên hệ giữa chiến tranh và bệnh cúm của Hemingway rất phức tạp và có nhiều chi tiết. Sau khi đến châu Âu làm tài xế xe cứu thương, ông nhận tin gia đình ở ngoại ô Chicago bị cúm nặng. Người chị yêu quý của ông đang bị bệnh viết: “Bố vừa gọi chị vào văn phòng bố, ông nhìn vào cổ họng chị và nói chị bị cúm. Ôi trời, chị bị đau nhức rồi, chị phải đi ngủ thôi. Vậy chúc ngủ ngon nhưng em có thể nói với tất cả người Áo và người Đức rằng chị mong được may mắn và khi chị khỏi bệnh chị sẽ biết tin tức của họ.”

Quá trình tạo nên tất cả các tượng đài về cuộc chiến cũng làm sách và thơ về cuộc chiến. Hemingway đã viết rất dài về bệnh cúm, nhấn mạnh đến sự ô nhục của nó: “Cái chết tự nhiên duy nhất mà tôi thấy, ngoài việc mất máu, đó là cái chết do bệnh cúm Tây Ban Nha gây ra. Chúng ta chìm trong chất nhầy, nghẹt thở và làm sao để biết bệnh nhân đã chết: cuối cùng bệnh nhân ị đầy giường.” Trong “Giã từ vũ khí”, Frederic trở lại cuộc chiến và người y tá đưa cho anh huy chương Thánh Antôn để cất. Ngoài đời, nhà văn Hemingway đã tặng cho cô y tá huân chương Thánh Antôn khi cô dũng cảm đi giúp bệnh nhân bị cúm. Qua những chi tiết như vậy, nhà văn trả thù cuộc đời. Một lần nữa, trong văn học cũng như ở các đài tưởng niệm công cộng, có sự đảo ngược hình ảnh giữa chiến tranh và sự lây lan.

Có lẽ một sự thật lớn hơn dịch bệnh, như một xúc phạm với cơ quan con người, luôn bị gạt ra phía sau nhanh nhất khi chúng ta muốn tìm một nhân vật để đặt trước chúng. Điều gì đó tương tự đang xảy ra với lịch sử của đại dịch Covid, mà văn học thương xót xem câu chuyện y tế là thứ yếu so với một số câu chuyện khác, một câu chuyện có quan điểm đạo đức rõ ràng hơn. Giống như Hemingway với cô y tá, chúng tôi tìm cách làm cho những gì đã xảy ra ít liên quan đến mầm bệnh và nhiễm trùng nhưng tập trung nhiều hơn vào đam mê và mê đắm – trong trường hợp này là đam mê chính trị và đảng phái. Những người cánh hữu đã nhanh chóng chỉ trích cơ sở y tế vì đã đi xa các quy định nghiêm ngặt cho sức khỏe cộng đồng, như cuộc tuần hành của George Floyd đã làm (Các cuộc biểu tình ngoài trời ít nhất cũng có tiếng vang cho cơ sở y tế). Tuy nhiên, những cuộc trao đổi như vậy vẫn diễn ra theo mọi hướng – như những lời hùng biện điên cuồng của chủ nghĩa tự do đi kèm với việc phản đối tiêm chủng. Chúng ta tìm một nhân vật quan trọng nào đó để đặt lên nền tảng ác độc không có động cơ.

Và làm sao chúng ta có thể không tìm những ý nghĩa xã hội lớn hơn? Điều gì sẽ xảy ra nếu đại dịch, thay vì đẩy chúng ta sang một bên và làm chúng ta không thể nhận ra chính mình trong một thời gian ngắn, nhưng cho chúng ta thấy chúng ta thực sự là ai? Trong quyển sách xuất sắc 2020: Một thành phố, Bảy con người và Năm của mọi thứ thay đổi (One City, Seven People, and the Year Everything Changed, Eric Klinenberg, nxb. Knopf) chúng ta được xem cả những sự cố vi mô – những cảnh được báo cáo liên hệ sát với cuộc sống của người dân New York đang đấu tranh trong năm bệnh dịch – và vĩ mô-nhận xét: các chương bao quát, đa văn hóa đánh giá các lực lượng xã hội rộng hơn. Trong số những người chúng tôi gặp có một hiệu trưởng trường tiểu học và một chủ quán bar ở Đảo Staten, họ tiêu biểu cho trải nghiệm địa phương về đại dịch; chúng ta nghe họ nói về lịch sử, đánh giá y tế phức tạp và hậu quả văn hóa của những chuyện như mang khẩu trang và cách ly.

Quyển sách có phạm vi rộng, trong những giới hạn nhất định; Manhattan ở phía bắc phố Tàu không được chứng kiến. (Khi liên minh dân chủ-tự do ngày càng trở nên quan trọng với các cử tri có trình độ học vấn cao, nó trở nên miễn cưỡng đưa quá nhiều về cuộc sống của họ vào biên niên sử, có lẽ để cảnh giác với thực tế chính giới tinh hoa có học thức mới là người kiểm soát biên niên sử) chúng ta gặp nhiều người đưa ra những nghiên cứu điển hình đầy thuyết phục vì những trải nghiệm của họ rất mâu thuẫn. Bà Sophia Zayas, một nhà tổ chức cộng đồng ở Bronx, người làm việc “như người lính ở tiền tuyến” vẫn phản đối việc tiêm vắc-xin, một quyết định làm cho bà và gia đình bị đau khổ nặng nề khi cả bà và bà ngoại đều mắc bệnh. Tác giả Klinenberg sắp xếp sự kết hợp đáng ngạc nhiên giữa các động cơ với cảm nhận tinh tế về cách mà trí tuệ dân gian của cộng đồng – liệu vắc xin có đáng tin cậy không? – xung đột với khả năng nhạy cảm về dịch vụ đã được đào tạo của bà. Xuyên suốt, sự kết hợp giữa nhân chứng cận cảnh và xã hội học có góc nhìn rộng của tác giả Klinenberg thu hút sự chú ý của người đọc và nhắc nhở người đọc về sự nhấn mạnh của Howard S. Becker, rằng xã hội học tốt nhất trước hết luôn là đưa ra một tầm nhìn bao quát. Khi chúng ta dễ dàng chuyển từ bức tranh lớn sang bức tranh nhỏ, chúng ta học được từ cả hai. Để chắc chắn, Klinenberg áp dụng cách tiếp cận tuyển chọn một bộ phim dành cho cả nhóm người ở độ tuổi bốn mươi: chúng tôi cảm thấy mình trong mọi hạng người ở New York và tất cả đều có thể chuyển đổi. Chủ quán bar Staten Island, người khăng khăng muốn mở lại tiệm sớm nhất, bất chấp các quy định cấm, vì thế ông trở thành nhà vô địch theo chủ nghĩa Trump so với những người theo chủ nghĩa tự do địa phương, được đối xử một cách thông cảm, như một anh hùng thuộc tầng lớp lao động bối rối bị những người thuộc tầng lớp tinh hoa vô cảm phản bội, quy tắc cứng rắn cản trở công việc làm ăn của họ. Tuy nhiên, khi nhìn lại quá khứ, dù lệnh cấm các nhà hàng là quá đáng, thì không ai có thể biết được điều đó vào thời điểm đó. Một phần của việc trở thành một công dân tốt là chấp nhận những hạn chế đối với quyền tự do của chính mình vì lợi ích của người khác. Chúng ta làm như đã làm với việc tuân thủ giới hạn tốc độ và thắt dây an toàn vì chúng ta thấy đây là những quy tắc có lợi cho tất cả mọi người.

Hình ảnh của Klinenberg về bối cảnh đại dịch là việc Mỹ đã xử lý kém khủng hoảng cho thấy sự ích kỷ về cơ cấu của đất nước: văn hóa chính trị và thói quen thể chế của chúng ta nói với mọi người chúng ta đang tự lo liệu. Tác giả viết, các quốc gia khác “đã có những lo lắng chung khi đại dịch bắt đầu. Việc đóng cửa của họ rất rộng rãi. Các cuộc tụ họp xã hội của họ bị hạn chế. Biên giới của họ bị phong tỏa. Văn phòng của họ đóng cửa. Tuy nhiên, không có xã hội nào gia tăng kỷ lục về số vụ giết người. Không ai chứng kiến gia tăng số tai nạn xe hơi chết người. Và tất nhiên, cũng không có doanh số bán súng nào tăng vọt.”

Hình / Suerynn Lee

Vì vậy, một cách khác tác giả muốn nói với chúng ta: “Chúng ta cần khám nghiệm tử thi xã hội… để xác định các điều kiện cơ bản và những cú sốc cấp tính đã hình thành nên những mô hình này.” Đại dịch đã phơi bày những đứt gãy địa chất trong xã hội Mỹ, hiện đang đe dọa chia cắt trái đất và nhấn chìm chúng ta vào bên trong.”

Bất cứ ai đồng cảm với những lo ngại của tác giả Klinenberg – những người nhận ra tội phạm gia tăng đã làm biến dạng chính trị như thế nào, hoặc những ai ghét văn hóa súng ống đã làm biến dạng cuộc sống của người Mỹ – trước hết sẽ phải đồng ý với những lệnh này. Và thực sự, vào năm 2020, nhiều người trong chúng ta có xu hướng xem những xã hội có mức độ tin cậy cao – không cần phải nhìn xa hơn biên giới phía bắc – là những hình mẫu vượt trội trong việc xử lý đại dịch. Ngay cả nhà văn bảo thủ David Frum cũng đã viết một cách đầy ngưỡng mộ về tính hiệu quả và sự siêng năng của chính quyền Canada quê hương ông – ông sinh ra ở Toronto – đã theo dõi các mối liên hệ và theo dõi rủi ro ở Canada, trái ngược với mô hình vô chính phủ của Mỹ.

Chưa hết, trong suốt năm 2020, tiểu bang Québec nơi áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt đã có tỷ lệ tử vong gần với Florida, Georgia hoặc Michigan. Mặc dù tỷ lệ tử vong nói chung ở Canada thấp hơn so với Mỹ, nhưng lịch sử xã hội về những đợt đóng cửa không mấy vui vẻ và khả năng phản kháng lệnh đóng cửa cũng tương tự – đường đi của đại dịch không chỉ được ghi lại trong dữ liệu y tế. Đoàn xe của một tài xế xe tải ở Ottawa đã mang đến làn sóng cuồng loạn chống vắc-xin vào bầu khí chính trị thường ôn hòa ở Canada. Fox News có thể đã đóng góp từ phía nam, nhưng không thể tránh khỏi vòng xoáy ảo tưởng do đại dịch gây ra.

Thật vậy, khảo sát hành tinh trong những năm đại dịch là để xem các xã hội với những cách sắp xếp cuộc sống công dân khác nhau về cơ bản có thể dẫn đến những hậu quả tương đương như thế nào. Nước Anh, với Dịch vụ Y tế Quốc gia hoạt động yếu kém nhưng có tỷ lệ trường hợp bệnh và tử vong tương tự như ở Hoa Kỳ, với hệ thống y tế tự do kinh doanh của nước Mỹ; cũng giống nhau về việc đóng cửa và cũng có những cuộc khủng hoảng chính trị tương tự do sự đạo đức giả của các cơ quan giám sát y tế. Sự phẫn nộ về lệnh phong tỏa của nước Anh bảo thủ cũng tương tự với sự phẫn nộ về quy định mang khẩu trang ở các tiểu bang của Mỹ. Thụy Điển, một tiền đồn của chủ nghĩa tự do không thể tin được nhờ lịch sử dân chủ xã hội của nó, là quốc gia ít hạn chế nhất ở Tây Âu. Nhưng tỷ lệ tử vong vượt mức vì nhiều lý do đã không cho thấy Thụy Điển ở tình trạng tệ hơn các nước láng giềng. Chỉ số duy nhất cho thấy kết quả tốt là về mặt địa lý: đó là các đảo New Zealand hay Singapore. Đối với hầu hết thế giới, vi-rút đã đi theo con đường của nó, biến đổi một cách khéo léo, với trí thông minh bắt chước kỳ lạ của vi sinh vật. Và vì vậy đức hạnh thường không được khen thưởng; một nghiên cứu của Lancet năm ngoái cho thấy tỷ lệ tử vong do Covid ở Florida được điều chỉnh theo độ tuổi so với tỷ lệ ở California. Căn bệnh rộng lớn hơn của người Mỹ mà tác giả Klinenberg vô cùng tiếc nuối – những cái chết do súng, do giao thông, do bạo lực nói chung – đã cố định trước khi căn bệnh cụ thể của Covid phát sinh và chỉ bị nó làm chậm lại hoặc tăng tốc một chút. Nếu có thì đại dịch dường như đóng vai trò như một lực cản với nền chính trị dân túy, giúp chấm dứt cả chính phủ Trump và Boris Johnson. Cuối cùng, mầm bệnh là một tác nhân không có tác nhân – một con bọ cố gắng tạo ra nhiều con bọ hơn, bất chấp động cơ hay đạo đức.

Một kiến giải cuối cùng có thể được đưa ra là sự tồn tại của con người vốn dĩ đã điên rồ – nghĩa là hỗn loạn và không dễ giải thích bằng một quy luật duy nhất. Một đại dịch ảnh hưởng đến hàng tỷ người sẽ có hàng tỷ tác động cụ thể và chúng sẽ được nhóm thành nhiều nhóm khác nhau; ngay cả một hiện tượng bên lề cũng sẽ liên quan đến một số lượng lớn người. Chính giữa những con số như vậy mà chúng ta chuyển sang tiểu thuyết và thơ ca để mô tả trải nghiệm của chúng. Điều làm cho quyển tiểu thuyết Dịch hạch (La peste của nhà văn Camus) trở nên đáng nhớ – và làm cho nó nổi tiếng trong thời đại dịch, dù trên thực tế nó là câu chuyện ngụ ngôn về Sự chiếm đóng của Đức ở Pháp – ở chỗ trong trận dịch hạch này, con người rất đặc biệt. Thật là một sai lầm khi nói đại dịch chụp X-quang tâm hồn họ. Những gì xảy ra trong “Dịch hạch” hầu hết đều xảy ra ngẫu nhiên: người mạnh chết, người yếu đương đầu, người bình thường trở nên đặc biệt.

Để theo đuổi kiểu mô tả cụ thể về đại dịch, bây giờ chúng ta có quyển “Mười bốn ngày” (Fourteen days, nxb. Harper), một quyển tiểu thuyết được các tác giả lừng lẫy cùng viết – Dave Eggers, John Grisham, Erica Jong, Celeste Ng, Ishmael Reed và Meg Wolitzer – tất cả đều ẩn danh trong cách kể chuyện được liên kết. Chỉ một nháy mắt với những người kể chuyện Florentine của Boccaccio, lấp đầy thời gian của họ bằng những câu chuyện khi trận dịch hạch hoành hành, những người kể chuyện hiện đại làm công việc của họ trên mái của một tòa nhà có vẻ tồi tàn. Lower East Side, nơi họ gặp nhau vào buổi tối để chia sẻ những câu chuyện và kỷ niệm.

Mỗi người kể chuyện được xác định bằng một dấu hiệu duy nhất – Eurovision, Quý bà đeo nhẫn – và những câu chuyện mà người nói kết thúc đi chệch chủ đề một cách điên cuồng, với đạo đức trong câu chuyện của họ và bản thân đại dịch gần như vô hình. Một chiếc tạp dề được may trong lớp học kinh tế gia đình ở ngoại ô trở thành chủ đề của một câu chuyện. Một người kể chuyện khác kể lại chuyến đi của một nhà thẩm định nghệ thuật đến vùng nông thôn và một tiết lộ đầy vết sẹo về những nhà sưu tập giàu có ông đã đến thăm: họ giữ nắp quan tài của đứa con trai đã chết như vật lưu niệm cho nỗi đau của họ. (“Trong mỗi bữa ăn, nó luôn ở đó, ẩn giấu, hiện diện. Nó là đồ vật duy nhất trong nhà thực sự là của họ.”) Một diễn viên hài có sở thích lỗi thời và những trò đùa tình dục lỗi thời đột nhiên xuất hiện, nói về hành động của mình rồi biến mất. Những người khác thắc mắc liệu anh có nhảy xuống mái nhà không. Nhưng chẳng ai háo hức xem.

Việc lảng tránh chủ đề trung tâm, chuyển sang ẩn ý trên văn bản, sự may mắn khi “không có tin tức” – tất cả những điều này đều đúng với thời điểm đó. Trải nghiệm mang tính biểu tượng phủ lên tất cả các loại trải nghiệm khác. Tại một thời điểm trong quyển sách của Klinenberg, chúng ta có một chương, được viết với sự tế nhị thận trọng, về các cuộc chiến khẩu trang, đưa ra quan điểm, dù giá trị y tế của việc mang khẩu trang vẫn chưa được quyết định, nhưng việc thực hành này nhanh chóng chuyển thành một cuộc chiến của các biểu tượng: mang khẩu trang có nghĩa là một điều gì đó trái ngược; không mang khẩu trang có nghĩa là một điều khác, đúng đắn.

Tuy nhiên, người ta tự hỏi liệu cấp độ giao tiếp mang tính biểu tượng có phải chính xác là nơi con người gặp nhau để tranh cãi về sự thật hay không. Nói một cái gì đó là một biểu tượng không làm mất đi ý nghĩa hợp lý của nó. Chữ Vạn là một biểu tượng, dấu hiệu hòa bình là một biểu tượng. Những gì chúng tượng trưng vẫn đáng để tranh luận. Những người mang khẩu trang và những người không chỉ đơn giản là thành viên của các thị tộc khác nhau: những người mang khẩu trang đang làm một cử chỉ hướng tới sự đoàn kết xã hội và báo hiệu sự miễn cưỡng lây nhiễm cho hàng xóm của họ; những người không khẳng định tính ích kỷ là một nguyên tắc ứng xử. Vào thời điểm đó, chúng ta có thể không biết chắc chắn chiếc khẩu trang sẽ làm gì, nhưng chắc chắn đó là việc báo hiệu cho cộng đồng tốt hơn bản thân.

Năm 2020 có thay đổi mọi thứ không? Có lẽ những năm đánh dấu kỷ nguyên lớn lao đó chính là cái bẫy du lịch. Nhìn lại lịch sử, năm 2001 có thể là năm đáng chú ý đầu tiên vì cuối cùng, có nhiều gia đình ở Mỹ có quyền truy cập Internet hơn là không có. Một cuộc tấn công khủng bố đến rồi đi, gây đau buồn và sau đó được tưởng nhớ, nhưng các cuộc tấn công khủng bố lớn sẽ xảy ra ở mọi thế hệ hoặc lâu hơn. Mặt khác, cuộc sống trực tuyến là một đặc điểm lâu dài của thời đại chúng ta. Một số ít người đề xuất rằng điều khôn ngoan nhất nên làm sau ngày 11/9 là than khóc và bước tiếp đã bị chỉ trích gay gắt, nhưng họ có thể là những người hướng dẫn tốt hơn là những người khăng khăng rằng một thời đại mới của quân sự và phản quân sự đã đến, và rằng một thời đại mới đã đến, cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu phải được giải phóng. Không có gì liên quan đến một ngày ngoại trừ việc sống nó, một nhà thơ vĩ đại đã viết, và có thể không có gì liên quan đến một năm lịch sử ngoại trừ việc ghi nhớ nó.

Tất nhiên, đây là loại quan điểm mà nếu xét theo mục đích logic của nó, có thể hủy bỏ ý nghĩa của bất kỳ sự kiện nào. Chiến tranh thế giới thứ nhất có yêu cầu chúng ta phải cập nhật niềm tin và giá trị của mình vì cuộc sống bình thường vẫn tiếp diễn sau đó không? Đúng là chúng ta nên do dự khi nhảy vào một thế giới quan mới quá sớm vì một sự kiện ngoại lệ đầy kịch tính; cũng đúng cho việc cập nhật niềm tin của chúng ta về bản chất của thế giới là điều mà khoa học thường xuyên yêu cầu chúng ta.

Chúng ta được biết sau vụ 11/9, điều trớ trêu đã chết nhưng điều trớ trêu lớn nhất trong vài thập kỷ qua là dự án vắc xin có tên Chiến dịch Warp Speed, có thể là điều tử tế duy nhất mà Trump từng làm, hoặc ít nhất là ông không ngăn cản việc thực hiện, cũng là điều duy nhất gây bất lợi cho ông với chính cơ sở của ông. (Câu chuyện năm 2020 có thể có nhiều tiếng nói và những điểm đối lập hợp lại, nhưng cách giải thích của nó sau khi có vắc-xin lại cho thấy một giai điệu đơn giản, quen thuộc. Khoa học cứu sống con người.)

Có vẻ như chúng ta không thể không đặt một hình tượng con người trước nền tảng của bản chất khó giải thích và những bệnh truyền nhiễm của nó – và thường thì hình tượng đó nhắm vào chúng ta để buộc tội. Chúng ta tự nhủ mình đã làm điều này qua một số thất bại về niềm tin, hành vi hoặc nguyên tắc đạo đức. Tuy nhiên, một thảm họa xảy ra tương tự như vậy với rất nhiều người dường như là một trường hợp khó khăn cho việc đạo đức hóa quá mức, vì cốt lõi của nó là điều luôn thoát khỏi đạo đức hóa, đó là cái chết của chính chúng ta. Khi các nghi lễ của đại dịch lắng xuống, chúng ta có thể nhận ra một số nghi lễ này, như việc đánh chuông và chảo cho những người lao động lúc 7 giờ tối, tự chúng là tốt, không phải vì chúng ngăn bất cứ điều gì khác xảy ra hoặc bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn hại. Năm 1939 tác giả W. H. Auden đã nhấn mạnh khi ông viết cho một ứng viên khác cho một năm mang tính kỷ nguyên đã nhấn mạnh, chúng ta phải yêu thương nhau hoặc chết – nhưng sau đó ông rút lại lời nói này, thừa nhận tất cả chúng ta đều sẽ chết dù chúng ta có làm gì đi chăng nữa. Nhưng ông quyết định, dù sao chúng ta cũng nên yêu thương nhau, hoặc cố gắng, năm này qua năm khác, không thể không đặt hình ảnh con người trước nền tảng thiên nhiên không thể giải thích được và sự lây lan của nó – hầu hết hình ảnh đó thường chỉ tay, buộc tội vào chúng ta. Bạn đã làm điều này, chúng ta khẳng định với chính mình, thông qua sự thất bại nào đó về niềm tin, hành vi hoặc nguyên lý đạo đức. Tuy nhiên, một thảm họa xảy ra tương tự với rất nhiều thảm họa dường như là một trường hợp khó khăn vì quá xem trọng đạo đức, vì cốt lõi của nó là một thứ luôn thoát khỏi việc đạo đức hóa, và đó là tỷ lệ tử vong của chính chúng ta. Khi các nghi lễ của đại dịch lùi xa, chúng ta có thể nhận ra một số nghi lễ này như việc đánh chuông và chảo cho người lao động lúc 7 giờ tối, bản thân là tốt chứ không phải vì chúng khiến bất cứ điều gì khác xảy ra hoặc bảo vệ chúng ta khỏi bị tổn hại. Năm 1939 tác giả W. H. Auden đã nhấn mạnh khi ông viết cho một ứng cử viên khác cho một năm mang tính kỷ nguyên đã nhấn mạnh, chúng ta phải yêu thương nhau hoặc chết – nhưng sau đó ông rút lại lời nói này, thừa nhận tất cả chúng ta đều sẽ chết dù chúng ta có làm gì đi chăng nữa. Nhưng ông quyết định, dù sao chúng ta cũng nên yêu thương nhau, hoặc cố gắng yêu thương nhau năm này sang năm khác.

Catherine Trần Xuân Thủy dịch

Giám đốc công ty, kỹ sư, tài xế… Sau 40 tuổi họ làm linh mục

Giám đốc công ty, kỹ sư, tài xế… Sau 40 tuổi họ làm linh mục

Trong số 105 linh mục chịu chức năm nay ở Pháp, có một số lớn tuổi hơn tuổi trung bình của chủng sinh, họ là những người đã có nghề nghiệp ngoài đời lâu năm, đã mang đến cho Giáo hội Pháp một khuôn mặt độc đáo.

la-croix.com, Marie-Liévine Michalik, 2024-06-28

Lễ chịu chức tại nhà thờ Saint-Sulpice, Paris, tháng 6 năm 2023. Maeve Destombes / Hans Lucas qua AFP

Bên ngoài, môi trường chính trị đang làm xáo động nước Pháp, nhưng trong bầu khí an lành của thành phố Antibes, ngày chúa nhật 16 tháng 6 các chủng sinh nằm trên nền đá lạnh của nhà thờ để khấn làm chịu chức.

Chủng sinh Sébastien Frisina nằm trên tảng đá lạnh của nhà thờ để chịu chức cho giáo phận Nice, mẹ và người em song sinh đều không có đạo, họ không bao giờ nghĩ có ngày có người trong gia đình họ là linh mục, lại ở tuổi 49!

Tân linh mục được chúng tôi gọi thân mật là “Seb”, là một trong 105 linh mục chịu chức năm nay tại Pháp, là một trong những người được gọi là có ơn gọi muộn. Tuổi trung bình của các chủng sinh là 28, các tân linh mục này là những người vào chủng viện sau khi đã hành nghề lâu năm ngoài đời.

Một đời sống nghề nghiệp đã lâu năm

Gia đình linh mục Frisina khiêm tốn, anh lớn lên ngoài Giáo hội công giáo. Bị hội chứng Gilles de la Tourette, Frisina phải bỏ học ở cấp hai. Anh học nghề sửa ống nước với thân phụ. Trong giai đoạn tuổi trẻ gian nan này, nhà thờ đã cuốn hút anh: “Từ khi còn nhỏ tôi đã đến nhà thờ, cha mẹ tôi không biết.” Một ngày nọ, ở một tiệm bán ảnh tượng, anh gặp một nữ tu thánh hiến, sơ là người đầu tiên nói cho anh nghe về Thiên Chúa.

Sébastien Frisina là tài xế cho thị trưởng Antibes và “gặp” Đức Mẹ trong một lần đi kiệu. Anh tâm sự: “Chính Mẹ đã dẫn tôi đến với Chúa Giêsu.” Kể từ đó, anh đi thường xuyên đi hành hương Đức Mẹ Antibes. Năm 20 tuổi, anh xin rửa tội và đi lễ một mình. Trong 22 năm, anh “sống hết tốc lực”, anh làm việc cật lực, có vài mối tình, một trong các mối tình này kéo dài vài năm. Nhưng ước muốn đến gần Thiên Chúa ngày càng mạnh: “Tôi không dám nghĩ tới, tôi không nghĩ mình có trình độ.” Cho đến ngày cha xứ hỏi anh: “Và nếu anh làm linh mục thì sao?”

Anh Louis Kloeckner, 40 tuổi, mỉm cười khi nói chuyện với chúng tôi về Chúa. Chịu chức ngày 22 tháng 6 cho cộng đoàn Thánh Martinô, anh bỏ lại máy tính, bảng Excel và nhân viên của anh. Anh có công ty và điều hành công việc của mình, tận hưởng thú vui của đời sống Paris. Anh tâm sự: “Tôi muốn bằng mọi giá, tôi không phụ thuộc vào ai.” Xuất thân từ một gia đình đông con có truyền thống công giáo, khi là thiếu niên, anh rời bỏ đức tin. Sau những nghiên cứu xuất sắc, anh thành lập công ty quần áo may sẵn, phát triển và tận hưởng cuộc sống xã hội bận rộn.

Tuy nhiên, anh vẫn khao khát, anh cho biết: “Tôi đã cầu nguyện rất nhiều và xin Chúa cho tôi biết Ngài muốn tôi làm gì cho đời tôi.” Qua một đêm suy nghĩ, anh quyết định gần với Tin Mừng. Anh đi lễ lại và làm quen với ý tưởng mình sẽ là linh mục. 33 tuổi anh vào chủng viện và là người lớn tuổi nhất lớp.

Hy sinh sự độc lập của mình

Các chủng sinh lớn tuổi này phải từ bỏ một phần sự độc lập của mình để vâng lời bề trên, tham gia vào các nhóm mà họ không chọn và nghe các bài giảng. Với anh Sébastien, việc trở lại đi học để làm linh mục thật khó khăn: “Tôi tự ti khủng khiếp, tôi không có bằng tú tài, tôi không thể học triết học và thần học.” Nhưng anh kiên trì và qua năm tháng, được các giáo viên khuyến khích, anh đã tự khẳng định mình.

Anh Arsène cũng trải qua những giai đoạn khó khăn không kém. Xuất thân từ Burkina Faso, vào chủng viện Orléans khi đã 45 tuổi, chịu chức ngày 23 tháng 6 cho giáo phận Clermont khi đã 52 tuổi. Là công nhân của một công ty khoan thủy lực, năm 30 tuổi anh biết mình có ơn gọi: “Tôi rất vui, tôi đã nói chuyện về Chúa với các đồng nghiệp và tôi khao khát học thần học.” Anh quá già, cánh cửa chủng viện đã đóng ở quê hương anh và sau đó, Pháp là quê hương thứ hai của anh, ở đây anh nhận ra ơn gọi cống hiến đời mình cho Thiên Chúa. Anh từ bỏ cuộc sống cũ, căn hộ của anh… và tìm được một chỗ trong chủng viện với người em út.

“Một cơ hội cho Giáo hội”

Những năm đầu đau khổ của anh Louis Kloeckner, anh nhớ lại: “Trên hết, có một khoảng cách lớn về tuổi tác và kinh nghiệm, một khoảng cách trong sự trưởng thành. Lúc đó tôi không nhận ra việc này lại khó đến như vậy. Nhưng tôi đã tìm được điều tôi mong muốn: học từ những người trẻ tuổi hơn.”

Đức tính khiêm nhường được được giám mục Jean-Marc Micas, chủ tịch Hội đồng các thừa tác viên và giáo dân của Giáo hội Pháp giải thích: “Thật khó khi sống trong cộng đồng và phải báo cáo với cấp trên các việc mình làm. Nhưng họ có một kinh nghiệm tốt đẹp mà sau này họ tìm thấy ở các giáo xứ.”

Anh Kloeckner hy vọng những năm tháng làm giám đốc kinh doanh giúp cho cuộc sống hàng ngày của một linh mục: “Tôi đã học rất nhiều ở ngoài đời, quản lý, kế toán tài chính, diễn thuyết trước công chúng…” Anh Frisina cũng áp dụng kinh nghiệm kinh doanh để đối đầu với các căng thẳng trong chủng viện. Các chủng sinh gọi tôi là “ông ngoại”, họ bầu tôi làm đại diện để chuyển những lời kêu ca lên cấp trên.”

Giám mục Jean-Marc Micas nhận xét, các đặc điểm của những người đã có đời sống nghề nghiệp và tình cảm phát triển song song với tình trạng ngược lại của các sinh viên trẻ vừa tốt nghiệp trung học đã vào chủng viện: “Các chủng sinh trẻ này xuất thân từ các gia đình công giáo dấn thân, có đời sống thiêng liêng được phát triển từ nhỏ, còn những người lớn tuổi hơn, họ đã có đời sống cá nhân và tinh thần gập ghềnh hơn.” Nhiều người trải qua những giây phút nghi ngờ, giông bão, đức tin của họ bị thử thách qua những thất bại và thất vọng. Một số đã đính hôn, đã có những chia tay trong đời sống yêu đương, bạn bè, gia đình, nghề nghiệp. Giám mục Micas tin rằng: “Sự trưởng thành này là một cơ hội cho Giáo hội. Phải xem lại việc đào tạo họ, vì nó không hoàn toàn phù hợp với nhu cầu cụ thể của họ.”

Các số liệu chủng sinh Pháp

Năm 2024, Giáo hội Pháp có 105 tân linh mục sẽ được chịu chức vào cuối tháng 6. Năm ngoái có 88 linh mục. Độ tuổi trung bình của 429 chủng sinh là 28 tuổi. Hơn một phần tư trong số họ dưới 24 tuổi.

Các chủng sinh từ 35 tuổi trở lên chiếm khoảng 8%.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Căng thẳng ở Vatican về việc dùng tác phẩm của linh mục Rupnik bị tố cáo lạm dụng tình dục

Căng thẳng ở Vatican về việc dùng tác phẩm của linh mục Rupnik bị tố cáo lạm dụng tình dục

Hồng y Sean O’Malley, chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng Bảo vệ Trẻ vị thành niên kêu gọi Giáo triều Rôma nên “thận trọng” vì các nhóm truyền thông Vatican thường dùng các tác phẩm của linh mục-nghệ sĩ Slovenia Marko Rupnik để đăng các bài viết, linh mục là mục tiêu của hàng chục đơn khiếu nại của các phụ nữ cáo buộc linh mục hiếp dâm. Tháng 6 năm 2023, linh mục Marko Rupnik bị loại khỏi Dòng Tên.

la-croix.com, Hélọse de Neuville, 2024-06-28

Một bức tranh khảm của Marko Rupnik tại Vương cung thánh đường Fatima, Bồ Đào Nha. Egon Bưmsch / BROKER/MAXPPP

Hồng y Sean O’Malley, chủ tịch Ủy ban Giáo hoàng Bảo vệ Trẻ vị thành niên tuyên bố: “Chúng ta phải tránh đưa ra thông điệp, rằng Tòa Thánh không biết gì về nỗi đau tâm lý của nhiều nạn nhân đã phải chịu đựng” liên quan đến việc cơ quan truyền thông Vatican, đặc biệt là Bộ Truyền thông thường dùng các tác phẩm của cựu linh mục Marko Rupnik để minh họa các bài trực tuyến.

Trong những tháng gần đây, trang “Vatican News” chính thức của Bộ truyền thông đã dùng các tác phẩm của linh mục Rupnik để minh họa các bài đăng trên mạng về các ngày lễ lớn, các thánh lớn bất chấp yêu cầu của một số phụ nữ nạn nhân của linh mục Marko Rupnik, họ công khai bày tỏ nỗi đau mỗi khi nhìn Vatican quảng bá những bức tranh hình này.

Quan điểm này của hồng y O’Malley mâu thuẫn trực tiếp với tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Truyền thông Paolo Ruffini, vài ngày trước đó, trong chuyến đi Atlanta ông đã tuyên bố: “Quý vị có nghĩ nếu tôi rút lại tác phẩm nghệ thuật trên trang web, như thế có làm cho tôi gần gũi với nạn nhân hơn hay không, tôi nghĩ quý vị đã sai”, ông trả lời câu hỏi của nhà báo về tác động trên các nạn nhân khi Vatican News đăng các bức tranh này.

Lạm dụng tình dục: Vatican bảo vệ việc duy trì các bức tranh khảm của linh mục Marko Rupnik

Vương cung thánh đường Lộ Đức, nhà nguyện giáo hoàng ở Vatican…

Linh mục Marko Rupnik, 68 tuổi, nổi tiếng quốc tế với xưởng vẽ Aletti, đã vẽ mặt tiền cho thánh đường Lộ Đức, nhà nguyện của giáo hoàng ở Vatican, vương cung thánh đường Fatima ở Bồ Đào Nha – ông là mục tiêu của hàng chục đơn cáo buộc của các phụ nữ nạn nhân, kể cả các nữ tu đã cáo buộc ông cưỡng hiếp, sờ soạng, khống chế khi xưng tội, ông biện minh dùng khiêu dâm-thần bí để chữa trị. Năm 2020, ông bị dứt phép thông công một thời gian ngắn vì “tha tội cho đồng phạm” (tha tội cho một phụ nữ ông đã tấn công trong khi giải tội năm 2015).

Năm 2022, Vatican đã viện dẫn thời hiệu để khép lại vụ án, không điều tra theo giáo luật. Năm 2023, Đức Phanxicô chú ý đến các hành xử của Ủy ban Giáo hoàng Bảo vệ Trẻ vị thành niên với Marko Rupnik, ngài cho rằng các biện pháp trừng phạt nhẹ không tương ứng với mức độ nghiêm trọng của các lời cáo buộc đã nhận. Sau nhiều tháng chờ đợi, tháng 10 vừa qua, Vatican yêu cầu Bộ Giáo lý đức tin xem lại sự việc, quyết định dỡ bỏ thời hiệu để mở phiên tòa.

Bạo lực tình dục: tác dụng của sự chi phối vẫn còn là điểm mù của Vatican

“Cần tế nhị khi giải quyết”

Chính trong bối cảnh lời kêu gọi của hồng y O’Malley khi ngài gởi đến các cơ quan Giáo triều Rôma để nói lên hy vọng giai đoạn điều tra cuối cùng có thể dẫn đến một phiên tòa: “Sự thận trọng mục vụ sẽ không cho phép trưng bày các tác phẩm, như một cách ngầm hiểu miễn tội, bào chữa ngầm cho tội ác của kẻ bị cáo buộc là thủ phạm bạo lực tình dục.”

Trường hợp các vụ Vanier, Rupnik, Ribes… Có nên phân biệt tác phẩm với nghệ sĩ không?

Hồng y O’Mllaey nhắc lại: “Đức Phanxicô kêu gọi chúng ta tế nhị và có tình liên đới với các nạn nhân của mọi hình thức lạm dụng. Tôi xin quý vị ghi nhớ điều này khi lựa chọn những hình ảnh đi kèm với việc đăng các thông điệp, bài viết và suy tư qua các kênh truyền thông khác nhau.” Lời kêu gọi như một cách để chỉnh lại Bộ Truyền thông Vatican, cách đây vài ngày, bộ trưởng Truyền thông Paolo Ruffini cho rằng việc hủy các tác phẩm của linh mục bị cáo buộc trong nhiều vụ hãm hiếp không phải là một “phản ứng mang tinh thần kitô giáo”.

Một cách rộng hơn, tương lai của các tác phẩm của Rupnik, trên toàn thế giới hiện là trọng tâm của mọi tranh luận. Ngày thứ sáu 28 tháng 6, thông qua luật sư Laura Sgro, năm phụ nữ cáo buộc Marko Rupnik tấn công tình dục đã yêu cầu Giáo hội công giáo dỡ bỏ các tác phẩm của linh mục Rupnik được trang hoàng ở nhiều nơi thờ phượng khác nhau trên thế giới. Thủ đô Ý có khoảng 43 nhà thờ hoặc nhà nguyện được trang trí bằng các tác phẩm của linh mục Rupnik và trung tâm Aletti của ông, xưởng vẽ dưới sự bảo trợ của giáo phận Rôma chiếm 1/5 trong số 231 tác phẩm của ông trên khắp thế giới. Đền thánh Lộ Đức sẽ sớm đưa ra quyết định của họ về việc trang trí đền thánh Đức Mẹ Mân Côi.

Nếu các nguyên đơn cho rằng: “Vấn đề tách rời cuộc đời của tác giả và tác phẩm phức tạp, vì phải biện minh các nạn nhân chịu tổn thương không thể khắc phục khi họ nhìn các tác phẩm này. Trong đơn kiện, họ cho biết trong quá trình sáng tác đã có ít nhất một phụ nữ bị tấn công tình dục, một số phụ nữ khác cho biết họ bị tấn công khi làm mẫu cho linh mục.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các giám mục Bỉ bị kết án vì từ chối chức phó tế cho một phụ nữ  

Các giám mục Bỉ bị kết án vì từ chối chức phó tế cho một phụ nữ

Tổng giám mục Luc Terlinden, giáo phận Mechelen-Brussels, Bỉ bị kết tội phân biệt đối xử | © Armelle Delmelle/Wikimedia/CC BY-SA 4.0

cath.ch, Raphael Zbinden, 2024-06-28

Ngày 25 tháng 6, Tòa án dân sự Mechelen, Bỉ, tuyên bố Giám mục Jozef De Kesel, cựu tổng giám mục Mechelen-Brussels, và Giám mục đương nhiệm Luc Terlinden phạm tội phân biệt đối xử. Cả hai từ chối không cho phép bà Veer Dusauchoit ở Flemish Brabant có cơ hội được đào tạo làm phó tế.

Tháng 4 năm 2024, bà nạp đơn kiện Giáo hội vì đã từ chối không cho bà học khóa đào tạo phó tế. Ngày 14 tháng 5, tòa án quận Mechelen đã xét vụ này.

Bà Dusauchoit hoạt động trong giáo xứ Đức Bà Herent đã gởi đơn xin học làm phó tế. Giáo hội Bỉ trả lời hiện chức phó tế không dành cho phụ nữ nên đơn không được cứu xét. Bà cho rằng quyết định này vi phạm nguyên tắc bình đẳng giới tính và pháp luật.

Chức phó tế nữ: Đức Phanxicô đã nói không, bây giờ chúng ta phải làm gì?

Một lựa chọn được thảo luận tại Thượng Hội đồng

Bà cho biết: “Vì hệ thống phân cấp trong Giáo hội công giáo chỉ dành riêng cho nam giới nên phụ nữ bị loại trừ khỏi các chức vụ trong Giáo hội. Với nhiều người, đây là sự chối bỏ ơn gọi của họ một cách bất công và đau đớn.”

Vì thế công lý Bỉ đã phán quyết có lợi cho bà và khép hai giám mục tội phân biệt đối xử. Họ phải bồi thường cho bà 1.500 âu kim. Tổng giám mục Mechelen-Brussels chưa có quyết định kháng cáo.

Việc mở chức phó tế nữ sẽ được thảo luận tại Thượng hội đồng tiếp theo vào tháng 10 năm nay. Đức Phanxicô đã nhiều lần tỏ ra cởi mở với khả năng này nhưng gần đây trong một phỏng vấn ngài cho biết phụ nữ không bao giờ được phong chức phó tế.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chức phó tế nữ: thất vọng và thắc mắc sau câu trả lời “không” của Đức Phanxicô

Lời cầu nguyện xin ơn qua lời cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis

Lời cầu nguyện xin ơn qua lời cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis

aleteia.org, Ban biên tập, 2024-06-24

Thi thể của Chân phước Carlo Acutis tại Thánh đường Spoliation, Nhà thờ Đức Bà Cả ở Assisi.

Sau khi công nhận phép lạ thứ hai, Chân phước Carlo Acutis sẽ được phong thánh.

Việc công nhận phép lạ thứ hai nhờ Chân phước Carlo Acutis cầu bàu vào cuối tháng 5 năm 2024 đã mở đường cho việc phong thánh. Trong một “công nghị thông thường”, ngày 1 tháng 7 Đức Phanxicô sẽ công bố ngày phong thánh cho Chân phước Carlo Acutis. Chân phước Carlo Acutis qua đời năm 2006 khi 15 tuổi vì bệnh bạch cầu, từ đó đã có không biết bao nhiêu người được ơn qua lời cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis.

Lời cầu nguyện xin được cầu bàu

Lạy Chúa là Cha của chúng con,

chúng con tạ ơn Chúa đã cho chúng con Chân phước Carlo Acutis, gương sống của giới trẻ,

và thông điệp yêu thương dành cho mọi người.

Chúa đã làm cho Chân phước Carlo Acutis yêu Chúa, kính mến Bí tích Thánh Thể vì đó là con đường dẫn đến Thiên Đàng.

Chúa đã làm cho Chân phước Carlo Acutis biết đến Đức Mẹ và qua Kinh Mân Côi, Chân phước Carlo ca ngợi sự dịu dàng của Đức Mẹ.

Xin Chúa nhậm lời cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis cho chúng con.

Đặc biệt xin Chúa đoái thương người nghèo, người được Chúa yêu thương và giúp đỡ.

Nhờ lời cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis, xin Chúa ban cho con ơn…

Xin Chúa làm cho niềm vui của chúng con được nên trọn: Chân phước Carlo Acutis được vào hàng ngũ các Thánh của Giáo hội hoàn vũ, để niềm vui của Giáo hội một lần nữa tỏa sáng cho chúng con qua vinh quang danh Chúa.

Amen

Imprimatur + Domenico Sorrentino, Giám mục Assisi.

Tiếp theo là đọc Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và Sáng Danh Chúa Cha.

Chân phước Carlo Acutis cho chúng ta thấy Chúa vui tươi và mỉm cười

Chân phước Carlo Acutis cho chúng ta thấy Chúa vui tươi và mỉm cười

Trong quyển sách tiểu sử “Carlo Acutis”, tác giả Bébédicte Delelis chia sẻ tình cảm của bà dành cho Chân phước Carlo Acutis, được phong chân phước ngày 10 tháng 10 năm 2020: “ Carlo Acutis dạy chúng ta chỉ có Chúa Giêsu mới mang lại cho chúng ta sự thánh thiện.”

famillechretienne.fr, Amina Mehannek, 2022-10-15

Các thánh và nhân chứng là những người tốt nhất trên thế giới

Vì sao bà viết về chân phước trẻ Carlo Acutis?

Bébédicte Delelis. Carlo có cuộc sống giản dị của một thiếu niên Ý đầu thế kỷ 21, sống trong một gia đình yêu thương, không gặp khó khăn đặc biệt nào vì thế  tôi không bị Carlo thu hút ngay lập tức. Tôi thắc mắc không biết Carlo sẽ nói gì với những người đang gặp khó khăn, với các bạn trẻ đang đau khổ hoặc những người đang lạc lối. Sau khi tìm hiểu Carlo nhiều hơn, Carlo làm tôi xúc động vì tính dịu dàng và thông cảm sâu đậm của Carlo. Carlo không đau khổ nhưng luôn thông cảm nỗi đau của người khác. Tôi không nghĩ Carlo phạm nhiều tội, nhưng Carlo luôn thú nhận mình háu ăn. Nhưng trên hết, Carlo yêu mến Bí tích Thánh Thể một cách sâu đậm.

Và một ngày nọ, một bà mẹ có hai cô con gái bị điếc mời tôi đi ăn trưa. Một trong hai người con là Eglantine, cô nghe nói về Carlo trong nhóm hướng đạo của cô. Với đôi mắt đẹp, cô nhìn tôi và hỏi tôi có thể viết một quyển sách về Carlo Acutis không. Cũng ngày hôm đó, sau khi đi ăn trưa về, nhà xuất bản Emmanuel Jeunesse gọi điện thoại cho tôi, tôi vô cùng ngạc nhiên khi họ đề nghị tôi viết một quyển sách về chân phước trẻ này. Như thể Chúa Giêsu muốn làm hài lòng Eglantine và Carlo Acutis. Tôi không mấy xúc cảm trước chân phước trẻ này, nhưng Eglantine nắm tay tôi.

Những giai thoại nào đáng nhớ trong cuộc đời của Carlo?

Tôi xúc động về giai thoại các con cá heo, tôi thấy tình yêu của Chúa Giêsu mãnh liệt đến như thế nào. Trong chuyến đi chơi thuyền với ông ngoại, Carlo muốn nhìn cá heo và cầu nguyện xin Chúa cho em thấy cá heo. Carlo ngạc nhiên khi thấy không phải chỉ một con cá heo mà cả một đàn cá bơi lội trước thuyền. Một giai thoại cũng cảm động là khi Carlo thấy nhiều người đứng sắp hàng xem phim, và với tiếng khóc của một em bé, Carlo hỏi vì sao những người này không sắp hàng trước nhà tạm.

“Tôi ghen tị với Carlo Acutis, đó là thật”

Carlo Acutis có thể có tác động nào trên giới trẻ?

Carlo dùng Internet để làm cho Bí tích Thánh Thể được mọi người biết đến và kính thờ. Carlo không rơi vào các chuyện có hại, đặc biệt với các trang web khiêu dâm. Trong thời gian cách ly vì đại dịch, giới trẻ xem rất nhiều những trang web này. Nhưng khi kiểm máy tính của Carlo để tiến hành án phong chân phước, người ta thấy Carlo chưa bao giờ xem các trang web khiêu dâm. Carlo khuyên chúng ta tử tế khi giao tiếp trên mạng vì mạng tạo những khó khăn cho giới trẻ. Carlo giống như người tông đồ nhỏ cố gắng giúp đỡ chúng ta. Carlo muốn cầm tay chúng ta, giải thoát chúng ta khỏi các cơn nghiện hay những tổn thương liên quan đến vấn đề này, để chúng ta đón nhận lòng thương xót vô biên của Chúa. Tôi xúc động khi thấy vị thánh nhỏ này đi trên con đường thẳng và không bị lạc. Nhờ sức mạnh của tuổi trẻ, nhờ tính thân thiện của Carlo, chúng ta dám nắm tay Carlo để cùng đi với Carlo trên con đường mà Chúa Giêsu chưa đặt chân tới.

17 câu chuyện về Carlo Acutis

Carlo hướng dẫn cho chúng ta điều gì về sự thánh thiện và cho chúng ta thấy khuôn mặt nào của Thiên Chúa?

Carlo dạy chúng ta chỉ có Chúa Giêsu mới ban sự thánh thiện. Thiên Chúa là Đấng thánh duy nhất và tất cả các thánh đều nhờ đến sự thánh thiện của Chúa. Carlo cho thấy không có tuổi để nên thánh, tất cả đều được gọi để nên thánh, nhưng đáp lại lời gọi này rất gay go. Điều làm cho chúng ta nên thánh là luôn ở bên Chúa Giêsu và đặt Ngài vào trọng tâm cuộc sống chúng ta. Carlo vui vẻ và hòa đồng, cho chúng ta thấy Thiên Chúa không nhàm chán, nhưng vui vẻ và tươi cười. Carlo khuyên chúng ta dám gắn bó với Chúa Kitô và thực hiện điều này. Trong y phục giày thể thao và quần jean, Carlo ít làm chúng ta sợ hơn là Thánh Giăng Đắc với thanh gươm của ngài!

Marta An Nguyễn dịch

Các bài về chân phước Carlo Acutis trên trang Phanxicô

Carlo Acutis, vị thánh được người Brazil yêu thích

Carlo Acutis, vị thánh được người Brazil yêu thích

fr.aleteia.org, 2013-10-23

Carlo Acutis là người Ý, nhưng nước Brazil có một lòng kính mến Chân phước Carlo Acutis đặc biệt. Có nhiều lý do để giải thích tình yêu này của người dân Brazil.

Brazil và Carlo Acutis có một mối duyên đặc biệt. Tuy nước Ý và Brazil cách nhau vạn dặm nhưng với thời buổi Internet thì khoảng cách này không thành vấn đề, một video của một phụ nữ trẻ Brazil có ảnh hưởng đăng trên Tik Tok đã thu hút không dưới một triệu người xem. Cô đăng một đoạn video quay cảnh cô đến đền thánh Assisi xem thi thể không bị hư hỏng Chân phước Carlo Acutis. Video này thu hút sáu triệu lượt xem và có lượng khán giả cao nhất!

Phép lạ ở Brazil

Nhưng có lẽ Carlo đã chọn Brazil nhiều hơn là Brazil chọn Carlo! Vì một em bé Brazil đã được chữa lành chứng dị tật tuyến tụy ngày 12 tháng 10 năm 2010, sau khi xin Chân phước Carlo cầu bàu. Năm 2019, phép lạ đã được Vatican công nhận, vì thế Carlo Acutis được phong chân phước ngày 12 tháng 10 năm 2020. Kể từ đó, nhiều bằng chứng liên quan đến lời cầu bàu của Chân phước Carlo đã được gởi về Vatican trong đó có một số lượng lớn từ Brazil. Theo linh mục Brazil Fábio Vieira, tác giả quyển sách về Carlo Acutis, cha đã chứng kiến Chân phước Carlo lớn lên cùng gia đình ở Ý, cha cho biết: “Ở Brazil có nhiều lời chứng và báo cáo về các phép lạ xảy ra. Khi tôi ở đó, chúng tôi nhận được thư từ khắp nơi trên thế giới gởi về. Người Brazil giàu tình cảm và thích nói về những gì mình cảm nhận nên đã gởi rất nhiều thư và e-mail về Vatican.”

Một trùng hợp khác tuy không liên quan nhưng có thể giải thích cho khuynh hướng gắn kết chặt chẽ giữa Carlo và người Brazil: Carlo được phong chân phước ngày 12 tháng 10, ngày lễ Đức Mẹ Aparecida, thánh bổn mạng của người Brazil. Linh mục Vieira nói: “Tôi nghĩ đây không phải là ngẫu nhiên, vì Carlo rất kính mến Đức Mẹ.”

Marta An Nguyễn dịch

Mẹ của chân phước Carlo Acutis: “Con trai tôi là dấu hiệu hy vọng cho người trẻ”

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (5)

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (5)

Trần Thị Phương Trà, lớp 7A

 Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào!

Chương trình Đọc, Viết bài, Noi gương Chân phước Carlo. Loạt bài các em ở Pleiku và Nghệ An viết cảm nhận khi tìm hiểu cuộc đời của chân phước Carlo Acutis.

Các em được nữ tu Maria Hưởng Dòng Thánh Phaolô ở Pleiku giới thiệu cuộc đời của chân phước Carlo Acutis và khuyến khích các em đọc và viết cảm nhận về những gì các em đã học được từ chân phước Carlo Acutis.

Trần Thị Phương Trà, lớp 7A

Con tên Trần Thị Phương Trà, lớp 7A, trường Trung học Cơ sở Thượng Tân Lộc 2, quê của con ở xóm Đại Lộc, xã Thượng Tân Lộc, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Con rất vui khi được tham gia vào chương trình tìm hiểu và đọc sách về chân phước Carlo Acutis, chương trình giúp con mở mang được tri thức và tâm hồn để noi gương chân phước Carlo Acutis, giúp con sống trọn niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa.

Con xin cám ơn ân nhân đã tạo điều kiện để con tham dự chương trình này. Con hứa sẽ chăm chỉ đọc sách mỗi ngày vì đọc sách giúp con mở rộng kiến thức, biết thêm từ ngữ và cảm nhận được đây là kho tàng của các kinh nghiệm sống để con có thể bước vào đời, giúp gia đình và những người chung quanh con.

Con xin tạ ơn Chúa

Dẫu biết đời con chẳng đáng gì

Nhưng con tin tưởng Chúa từ bi

Chúa Trời chấp tội đâu ai rỗi

Nhân thế ăn năn vững bước đi

Quá khứ hoang đàng xin giã biệt

Giờ đây tín thác Chúa vân vi

Con xin đáp lại Tình Yêu Chúa

Dẫu biết tình con chẳng đáng chi.

Nghĩ đến bài thơ này, con luôn nghĩ đến tình yêu Chúa dành cho con. Chân phước Carlo là người biết cảm thông, biết chia sẻ, biết giúp đỡ, biết sống theo thánh ý Chúa. Tuy cuộc đời ngắn ngủi nhưng Carlo đã nói: “Tôi chết trong hạnh phúc vì tôi đã không lãng phí thì giờ vào những chuyện không đẹp ý Chúa”, con phải noi gương chân phước Carlo để không lãng phí thì giờ vào những chuyện vô ích. Vui vẻ và gần gũi với mọi người nhất là những người yếu đuối, Carlo phá hàng rào giai cấp của xã hội. Phục vụ người nghèo và không phán xét ai. Mong muốn của Carlo là trung thực với con người mình, không khuất phục trước những ý tưởng thời thượng. Carlo nói: “Tất cả chúng ta đều sinh ra là bản gốc nhưng nhiều người trong chúng ta lại chết đi như bản sao”, câu này giúp con trau dồi bản thân để không chạy theo thời thượng.

Vì thế từ chính cuộc đời của chân phước Carlo, con nhận ra: “Trong cuộc sống, cho đi, cảm thông và chia sẻ, có như thế con mới xứng đáng là con của Chúa và biết dùng khả năng Chúa ban để góp phần làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp, giống như nguồn nước tưới cho vườn hoa được xinh tươi, ngập tràn màu sắc.”

Như thế con phải trung thực với con, sống tốt, biết thông cảm, biết an ủi, biết gần gũi với người khác, biết phục vụ Giáo hội. Không nản chí trước các thử thách.

Sống và noi gương chân phước Carlo Acutis từng giây phút để cuộc sống mang lại ý nghĩa, để đáp lại ơn Chúa theo khả năng của con.

Trần Thị Phương Trà

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (3)

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (3)

Nguyễn Thị Huệ, lớp 6

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào!

Chương trình Đọc, Viết bài, Noi gương Chân phước Carlo. Loạt bài các em ở Pleiku và Nghệ An viết cảm nhận khi tìm hiểu cuộc đời của chân phước Carlo Acutis.

Các em được nữ tu Maria Hưởng Dòng Thánh Phaolô ở Pleiku giới thiệu cuộc đời của chân phước Carlo Acutis và khuyến khích các em đọc và viết cảm nhận về những gì các em đã học được từ chân phước Carlo Acutis.

Nguyễn Thị Huệ, lớp 6

Con tên là Nguyễn Thị Huệ, con học lớp 6 trung học, lớp 3 Giáo lý căn bản. Con rất vui được tham gia chương trình đọc sách này. Con xin cám ơn ban tổ chức đã mở chương trình Đọc sách Viết bài để con đến với sách vở thường xuyên hơn. Mở đầu chương trình năm nay con được đọc và tìm hiểu về chân phước Carlo Acutis.

Chân phước Carlo Acutis sinh tại Anh ngày 3 tháng 5 năm 1991 và tháng 9 gia đình dọn về thành phố Milan nước Ý. Từ lúc sinh ra đến khi qua đời, Carlo chỉ sống trên trần gian vỏn vẹn 15 năm. Carlo Acutis qua đời ngày 12 tháng 10 năm 2006 vì bệnh bạch hầu cấp tính, được phong chân phước ngày 10 tháng 10 năm 2020. Nhưng trong 15 năm ngắn ngủi, Carlo đã làm nhiều việc tốt đẹp cho gia đình, cho người nghèo, cho Giáo hội. Sau khi Carlo qua đời, cả thế giới biết nhiều về chân phước Carlo, có hàng ngàn trang web và không biết bao nhiêu bài viết về chân phước Carlo.

Chân phước Carlo đã sưu tầm và làm triển lãm các Phép lạ Thánh Thể. Khi tìm hiểu về Carlo con ấn tượng trước lòng kính mến Chúa của anh. Carlo lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày, rước lễ lần đầu lúc 7 tuổi, đi lễ mỗi ngày, giúp người nghèo, người vô gia cư, các bạn mồ côi, các bạn có cha mẹ ly dị. Ai cũng nghĩ cha mẹ của chân phước Carlo là người mộ đạo nhưng ông Andrea Acutis và bà Antonia Salzano chỉ đến nhà thờ ba lần trong đời: ngày rửa tội, ngày thêm sức và ngày kết hôn. Nhưng nhờ Carlo Acutis, bà đã trở lại với Chúa Giêsu, không chỉ bà mà còn có những người khác đã trở lại với Chúa Giêsu nhờ Carlo hoán cải.

Con xúc động với câu nói của chân phước Carlo: “Tôi hạnh phúc vì tôi đã sống không một giây phút nào lãng phí vào những việc không đẹp lòng Chúa.” Đây là câu con phải học ở chân phước Carlo, con đã lãng phí quá nhiều thì giờ vào những chuyện vô ích, Carlo hạnh phúc vì đã sống không một giây phút nào làm mất lòng Chúa.

Con còn phải học ở chân phước Carlo nhiều chuyện, ở lòng kính mến Đức Mẹ: “Đức Trinh Nữ Maria là người phụ nữ của lòng tôi!”, ở sự phó thác vào Chúa những khi đau đớn bệnh hoạn, dâng các đau đớn của mình cho Chúa để cầu nguyện cho Giáo hội, cho giáo hoàng, đã trả lời bác sĩ khi bác sĩ hỏi Carlo có đau không, vì bác sĩ biết căn bệnh này đau khủng khiếp: “Có những người còn đau hơn con.” Khi biết mình sắp chết, Carlo an ủi mẹ: “Mẹ sẽ có con lại” và sau khi Carlo qua đời được bốn năm, ngày 12 tháng 10 năm 2010, bà đã sinh đôi hai em Francesca và Michele.

Con quyết tâm noi gương chân phước Carlo:

– Hòa hợp đức tin với công nghệ. Can đảm đứng vững trong đức tin.

– Quyết tâm nên thánh trong đời sống thường ngày.

– Kính mến bí tích Thánh Thể.

– Có lòng bác ái và trắc ẩn. Luôn quan tâm đến những người chung quanh, bạn bè, các bạn bị bắt nạt vì khuyết tật, bị bỏ bên lề.

– Sốt sắng đi lễ, đọc kinh, rước lễ, xưng tội. Mỗi khi phạm tội, con cảm thấy khó chịu, muốn xưng tội nhưng lại biện minh cho tội của mình và không đi xưng tội. Chân phước Carlo làm gương cho con, con sẽ sửa chữa lỗi này của con.

– Can đảm đối diện với đau khổ.

– Con cũng đã làm mất lòng Chúa, con noi gương chân phước Carlo để làm những việc đẹp lòng Chúa, làm những việc nhỏ hàng ngày ở nhà; ở trường không quay cóp, tuy nhỏ nhưng con cần cố gắng.

Chân phước Carlo giúp con có đức tin mạnh. Con quý mến chân phước Carlo Acutis, con xin chân phước Carlo giúp con nhận ra những thiếu sót của con để con sống đẹp lòng Chúa hơn.

Nguyễn Thị Huệ, lớp 6

Thiên tài máy tính, tông đồ trên mạng, chân phước Carlo Acutis sắp được phong thánh

Thiên tài máy tính, tông đồ trên mạng, chân phước Carlo Acutis sắp được phong thánh

laselectiondujour.com, Louis Daufresne, 2024-06-26

Vào cuối tháng 5, Vatican công bố phép lạ thứ nhì nhờ cầu bàu với Chân phước Carlo Acutis (1991-2006), thiếu niên người Ý chết vì bệnh bạch cầu khi mới 15 tuổi. Phép lạ này mở đường cho việc phong thánh đang ở giai đoạn cuối. Chân phước Carlo Acutis, người đam mê Chúa là hình ảnh hiện đại của sự thánh thiện trong đời sống bình thường dễ đến gần, làm mới cho đạo công giáo.

Không áo chùng, không áo nâu dòng Phanxicô, chỉ chiếc áo ấm có mũ trùm đầu: Carlo Acutis thoải mái với đức tin thời của mình. Khác với hình ảnh người tu sĩ dòng Xuân Bích dễ thương hiền lành nhưng lỗi thời, Carlo không ở trong nhóm truyền giáo cổ điển hay bảo thủ truyền thống. Carlo không có rào cản, Carlo là thần đồng thoải mái trên Internet!

Carlo sinh ở London ngày 3 tháng 5 năm 1991 trong một gia đình giàu có nhưng không giữ đạo. Gia đình bà nội bà ngoại của Carlo là gia đình quý tộc Ý. Là con một nhưng trước khi qua đời Carlo nói với mẹ, mẹ sẽ làm mẹ lại. Bà Antonia Salzano sinh hai em Michele và Francesca khi bà 43 tuổi. Carlo qua đời ngày 12 tháng 10 năm 2006 tại Monza, gần Milan.

Bí mật của con trai tôi, chân phước Carlo Acutis

Một chuyện khác thường: sau 10 năm, thi thể của Carlo ở tình trạng “không tách rời” chứ không phải “nguyên vẹn”. Năm 2019, khi khai quật để tuyên chân phước, các chuyên gia chỉ thấy những dấu hiệu phân hủy rất nhỏ, được xem là dấu hiệu thánh thiện của Chân phước Carlo. Tính toàn vẹn có nghĩa thi thể qua quá trình phân hủy bình thường nhưng tất cả các cơ quan vẫn được bảo tồn. Khuôn mặt của Chân phước Carlo được chỉnh lại một phần nhưng mang nét hiện thực đến khó tin. Thi thể được đặt trong hòm bằng kính ở thánh đường Thánh Phanxicô Assisi nơi Carlo mong muốn được an nghỉ tại đây. Khi qua đời, Carlo cân nặng 70 kilô, cao 1,82 m). Carlo từng viết Carlo sẽ chết khi cân nặng 70 kilô. Thi thể Carlo trong bộ y phục quần jean, giày thể thao, khuôn mặt trẻ thơ với mái tóc xoăn đen tuyền.

Điều đáng kinh ngạc ở Chân phước Carlo là lòng đạo đức và mức độ trưởng thành rất sớm. Bà Bénédicte Delelis viết trong quyển tiểu sử Carlo Acutis nhân chứng vô hình, cô bảo mẫu Beata người Ba Lan, là người đầu tiên nói về Chúa cho Carlo biết, cô đẩy xe đưa Carlo đến cầu nguyện với Đức Mẹ. Từ năm lên bốn, Carlo đã xin đi thăm các đền thánh. Lên 7, Carlo rước lễ lần đầu, từ đó Carlo đi lễ mỗi ngày. Lên 9, “thiên tài máy tính” làm những trang web đầu tiên! Lúc 11 tuổi, Carlo tổ chức triển lãm ảo 136 phép lạ Thánh Thể được Giáo hội công nhận. Công việc này ở trong tâm trí Carlo cho đến khi Carlo qua đời. Mẹ Carlo nhấn mạnh: “Điều kinh ngạc, với chiếc máy tính tương đối lỗi thời, Carlo đã giao tiếp với hàng ngàn người trên khắp các châu lục. Bây giờ triển lãm này là đa ngôn ngữ.”

Carlo kết hợp đạo công giáo với kỹ thuật. “Không phải tôi, mà là Chúa” là phương châm của Carlo. Khi dùng Internet, Carlo không bao giờ vượt quá thời gian ấn định. Tính tự giác kỷ luật của Carlo thật đáng nể, ngược với thói quen của các bạn trẻ. Carlo đi lễ và chầu Thánh Thể mỗi ngày, xưng tội thường xuyên, công việc này không làm Carlo nghiêm trang, Carlo luôn vui vẻ. Carlo rất yêu chó, hai chú chó Teddy và Pippy thường theo Carlo đi cầu nguyện.

Carlo không sống thu mình, Carlo bảo vệ những học sinh bị bắt nạt, giúp các bạn học kém, dùng tiền túi mua túi ngủ cho người vô gia cư, đi thăm người già. Carlo có sức thu hút tập hợp những người trẻ thuộc mọi nguồn gốc chung quanh Carlo để cầu nguyện và đọc Kinh Thánh. Carlo nói với các bạn: “Tất cả khi sinh ra đều là bản gốc nhưng có nhiều người chết đi như bản sao, đừng để điều này xảy ra với bạn!”

Năm 2019, câu nói này đã được Đức Phanxicô đưa vào trong một văn bản dài gửi đến người trẻ, cảnh báo họ chống lại mạng internet bị tin tức giả làm ô nhiễm, bị những lợi ích kinh tế khổng lồ tác động.

Năm 2006, khi biết mình sẽ sớm qua đời trước căn bệnh quá hiểm nghèo, Carlo xin dâng đau đớn của mình để cầu nguyện cho giáo hoàng và Giáo hội. Mùa hè năm 2018, Carlo được tuyên bố là “bậc đáng kính”. Phép lạ đầu tiên được Vatican công nhận năm 2020 đã mở đường cho việc phong chân phước, bước cuối cùng trước khi được phong thánh. Một việc hiếm hoi trên đời: ông bà Andrea và Antonia, cha mẹ của Carlo dự lễ phong thánh cho con trai mình.

Phép lạ đầu tiên năm 2013 khi em bé người Brazil mắc chứng bệnh hiếm hoi: rối loạn tiêu hóa và dị tật tuyến tụy được cứu sống mà không phải mổ sau khi gia đình cầu nguyện xin Carlo chuyển cầu. Phép lạ thứ hai là câu chuyện của Valeria, sinh viên 21 tuổi người Costa Rica bị thương nặng khi té xe đạp ở Florence ngày 2 tháng 7 năm 2022. Tình trạng của cô lúc đó rất tuyệt vọng. Ngày 8 tháng 7, bà Liliana mẹ của cô đến cầu nguyện trước mộ của Carlo ở Assisi, bà để lại lá thư xin chữa lành cho con gái. Phép lạ đã xảy ra trong ngày, Valeria tự thở và hồi phục sau vài tuần.

Không phải là người tử đạo bị tra tấn hay bị bỏ tù, không phải là nhà truyền giáo đi đến tận cùng trái đất, Carlo Acutis làm cho đức tin có thể đến được với các thế hệ trẻ trong xã hội bị suy yếu vì cái tôi, vì mãnh lực của đồng tiền.

Marta An Nguyễn dịch

Chúng tôi xin giới thiệu với quý độc giả loạt bài: Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào của các bạn trẻ Việt Nam viết về Chân phước Carlo Acutis.

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (1)

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (2)

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (3)

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (4)

Tôi không thể nào nói tôi yêu Carlo như thế nào! (5)

Bài mới nhất