Home Blog Page 168

Có tự phụ khi cho mình truyền tải được đức tin không?

Có tự phụ khi cho mình truyền tải được đức tin không?

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Truyền tải đức tin cho các thế hệ sau, đó là tựa đề chúng tôi chọn để minh họa cho những trang này. Tôi sẽ bắt đầu với lời khiêu khích. Chúa Giêsu đã nói: “Không ai đến với tôi nếu Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy” (Ga 6: 44). Việc đi theo Chúa Kitô – là cốt lõi của đức tin – xuất phát từ ý của Chúa Cha Hằng Hữu. Bà có thấy quá tự tin khi muốn truyền lại đức tin cho con không?

Chúng ta cần làm sáng tỏ cụm từ “truyền tải đức tin” một chút. Cam kết đầu tiên của chúng tôi không phải là truyền tải đức tin nhưng sống đức tin một cách nhất quán.

Trước hết chúng ta là như thế, là môn đệ biết lắng nghe. Chúng ta đi theo bước chân Chúa Kitô và trên hết chúng ta tìm cách sống hiệp thông với Ngài. Vì vậy, nếu chúng ta trung thành với Chúa Kitô, chúng ta sẽ là chứng nhân của Ngài và chúng ta sẽ tự phát truyền đức tin.

Chúa Giêsu hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16:15). Đức tin của chúng ta bắt nguồn từ cuộc gặp cá nhân với Chúa Giêsu, hôm nay và mỗi ngày chúng ta đều phải trả lời câu hỏi này. Và dù không bắt chước Thánh Phêrô trả lời: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!” (Mt 16:16) thì chúng ta cũng phải trả lời: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là Chúa. con yêu Chúa. con tạ ơn Chúa.”

Khi chúng ta sống đức tin trong đời sống hàng ngày, đơn giản là chúng ta cầu nguyện trong gia đình, chúng ta sẽ là “ánh sáng thế gian” (Mt 5:14), có nghĩa những gì Chúa ban cho chúng ta sẽ được thấy trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Và chúng ta sẽ là muối của đất. Vì thế sự hiểu biết mà Thiên Chúa ban cho chúng ta về chính Ngài và về tạo vật có hương vị trong cuộc sống hiện tại dù nó có như thế nào.

Là ánh sáng và muối cũng là hình ảnh minh họa cho vai trò làm cha mẹ: chúng ta cộng tác với Thiên Chúa, Đấng ban sự sống để chúng ta sinh con cái. Và, luôn cộng tác với Thiên Chúa để mang đến cho con cái đời sống hiệp thông với Ngài. Con cái chúng ta không thuộc về chúng ta, chúng thuộc về Thiên Chúa, Đấng giao phó chúng cho chúng ta để chúng ta có thể giúp chúng trưởng thành trong đời sống đức tin. Và điều đầu tiên con cái nhìn vào, ngay cả khi chúng còn rất nhỏ, đó là xem chúng ta có sống nhất quán với những gì chúng ta tin hay không. Và nếu con cái thấy có các mâu thuẫn nào đó, lập tức chúng sẽ nói với cha mẹ. Chắc chắn là không dễ để sống kiên định với đức tin. Nhưng bất cứ điều gì lâu dài và tốt đẹp đều đòi hỏi một cố gắng không ngừng, một cam kết liên tục. Không mệt mỏi, không chán nản, chúng ta phó thác vào Chúa, trong xác tín Ngài là Đấng toàn năng và ơn của Ngài luôn đi trước chúng ta.

Trong câu hỏi cha hỏi tôi, cha trích câu Thánh Gioan 6: 44: “Không ai đến với tôi nếu Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy.” Chúng ta cần lưu ý hai khía cạnh: sáng kiến của Chúa Cha: chính Chúa Cha mời gọi chúng ta. Và lời kêu gọi cảm nghiệm đức tin như một điều gì đó thu hút chúng ta.

Đức tin – một trong ba nhân đức đối thần – là ơn Chúa. Tin có nghĩa là hiểu được những gì Thiên Chúa biết về chính Ngài và về tạo vật, là đi vào nguồn gốc tình yêu của Ngài. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban ơn để chúng ta tin và ơn này này Ngài ban cho mọi người. Đặc biệt là nhiều người từ chối không dùng, không tận dụng ơn này, thậm chí còn không nhận ra ơn họ đã được ban.

Chúa kêu gọi chúng ta tin vào Ngài, kêu gọi chúng ta đến với đức tin, có nghĩa Thiên Chúa mang vào trí thông minh chúng ta viễn cảnh qua đó để chúng ta nhìn thấy mọi sự như Chúa nhìn thấy, như cách Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, Ngài kêu gọi chúng ta đến với đức tin, đến với đời sống hiệp thông cùng Ngài. Còn chúng ta, lời mời gọi này được cuốn hút, được đánh động bởi tình thương xót của Chúa Cha, biểu lộ trong cuộc đời và trong dung mạo Chúa Kitô.

Thánh Phaolô đã công khai thừa nhận điều này: “Chính tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm lấy” (Pl 3:12). Đức tin, dù là trí thông minh gắn bó với Thiên Chúa, Đấng mạc khải chính Ngài, hay là đức tin được sống bằng việc làm, luôn là một đáp trả của việc khám phá ra tình yêu của Chúa Kitô.

Nhiều cha mẹ xem việc truyền tải đức tin là chuyện không tưởng, là sứ mệnh không thể thực hiện được. Dĩ nhiên khi chúng ta nhìn vào thế giới chúng ta đang sống, một thế giới dường như đi ngược với cốt lõi Tin Mừng, chúng ta có lý do để nản lòng. Đặc biệt nếu chúng ta dựa vào chính sức của mình mà không trông cậy vào sự giúp đỡ của Chúa thì kết quả không phải lúc nào cũng như ý. Chúng ta không nên nản lòng trước những giới hạn và thất bại, chúng ta phải tiến về phía trước với niềm tin, trong Chúa mọi sự đều có thể được. Chúng ta xin Chúa Giêsu giúp đỡ. Chúng ta hiểu việc truyền tải đức tin là một việc làm siêu nhiên, đòi hỏi những phương tiện siêu nhiên. Thiên Chúa yêu thương mỗi chúng ta, Ngài biết chúng ta cần gì. Chúng ta cậy vào kho tàng này để đón nhận Chúa thể hiện qua Bí tích Thánh Thể.

Vũ trụ có nguồn gốc từ Bí tích Thánh Thể, khởi đầu là ý định, điểm cuối là thành tựu trong thời gian viên mãn. Như Đức Phanxicô đã nói trong Thông điệp Laudato si’: “Chúa ở đỉnh cao của mầu nhiệm Nhập Thể kết nối thân tình với chúng ta qua mảnh vật chất. Không phải từ trên cao, nhưng từ bên trong, để chúng ta có thể gặp Ngài trong thế giới chúng ta. Trong Bí tích Thánh Thể, sự viên mãn đã có được.” Ngay từ đầu, con người đã hiệp nhất và được dẫn đến Bí tích Thánh Thể. Tội lỗi đã làm gián đoạn nhưng không phá vỡ chương trình Thánh Thể của Thiên Chúa. Trong khắp vũ trụ, trật tự và hòa hợp đều lấy Bí tích Thánh Thể làm điểm hội tụ. Các chiều kích mang tính vũ trụ, chúng ta không thể hiểu hết sự phong phú và đa dạng phi thường của vũ trụ nếu chúng ta trừu tượng hóa Bí tích Thánh Thể. Mọi gia đình sống và được Bí tích Thánh Thể nuôi dưỡng đều đón nhận Chúa Giêsu một cách tượng trưng và mời Ngài sống trong nhà của mình. Với gia đình này, Bí tích Thánh Thể sẽ trở thành con đường dẫn tới thiên đàng.

Bí tích Thánh Thể mặc khải và hoàn thiện các lý do sống. Đó là mầu nhiệm đức tin, nhưng đó cũng là lý do của đức tin, môi trường tốt đẹp của đức tin, chủ đề thiết yếu của đức tin, sự tổng hợp của đức tin, đức cậy và đức mến. Có vẻ lạ lùng, nhưng Bí tích Thánh Thể không có một vị trí cụ thể, vì nếu có, Bí tích Thánh Thể luôn có một phần nào đó sẽ hạn chế chính mình. Nếu Bí tích Thánh Thể có một vị trí đã được chỉ định, có nghĩa Bí tích Thánh Thể có một không gian cụ thể, trong một vật chứa cụ thể. Bí tích Thánh Thể không có một vị trí cụ thể vì đó là Sự sống, do đó vị trí của Bí tích Thánh Thể là ở khắp nơi, đó là tổng thể; nói chung, Bí tích Thánh Thể tìm nơi để khai triển trong toàn bộ thực tế và chức năng của mình. Tổng thể này là sự hiện hữu tự nó, là bản chất của nó, cái mà chúng ta có thể khám phá và nắm bắt, và trong bí ẩn này, nó vẫn hiện diện. Trong tất cả những điều này, Bí tích Thánh Thể thể hiện quyền tối cao, chứ không thống trị. Môi trường sống tự nhiên của Bí tích Thánh Thể là Sự sống. Những công trình vật chất liên quan đến nó? Ở đây chúng ta muốn nói gì khi nói lao động vật chất? Tất cả các cơ cấu có liên quan đến, đặc biệt là những nơi thường đặt Bí tích Thánh Thể như nhà thờ và nhà nguyện.

Trong kẽ hở giữa con người và nơi chốn, chúng ta thấy mối liên hệ thú vị giữa vật chất và hình thức. Ở đây gần như chúng ta quay về với trực giác của triết gia cổ đại Aristote. Chúa Giêsu đã muốn như vậy. Bánh mì và rượu từ cây nho là cần thiết. Chương trình của Thiên Chúa từ khi sáng tạo đã rõ ràng: Bí tích Thánh Thể đã có sẵn trong tâm trí Thiên Chúa. Vào thuở ban đầu, khi Ngài tạo dựng nên yếu tố cấu thành lúa mì và cây nho, Ngài đã nghĩ đến Bí tích Thánh Thể. Chúng ta có thể khẳng định Bí tích Thánh Thể là nguồn gốc vũ trụ, trước hết là một ý định, sau đó là một thành tựu. Tôi có thể đang nói những điều vượt quá khả năng của tôi. Hàng trăm ngàn ngôi sao xoay trên bầu trời, những cơn bão vũ trụ làm đảo lộn vũ trụ, những lỗ đen khơi dậy tò mò và tạo ra biết bao mong chờ, tất cả những điều này cho thấy kế hoạch và chương trình của Chúa đã có trong tầm mắt Thánh Thể.

Đó là bí ẩn được ẩn giấu trong nhiều thế kỷ! Nhà thờ, nhà tạm, bình thánh giống như tiếng nói ẩn giấu của vũ trụ, được lắng nghe và phải được giải thích theo nghĩa chính xác này: những công trình vật chất có trong mọi điều thiêng liêng nhất và huyền bí nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng. Chúng hiện diện trước chúng ta như những viên gạch, viên đá cẩm thạch vàng bạc, trong những sáng tạo đơn giản, trong nghệ thuật, nhưng trên thực tế, chúng là vũ trụ, liên quan đến mọi bí mật của vũ trụ và gợi lại công trình của Thiên Chúa trong mục đích mang lại cho chúng ta Bí tích Thánh Thể, trọng tâm của mọi sự và dành cho tất cả mọi người. Với thực tế quý báu như vậy, Giáo hội, từ giáo hoàng đến người tín hữu kitô phải luôn hân hoan và nhiệt tình, tập trung mọi nỗ lực truyền giáo vào Bí tích Thánh Thể và nhắc đến Bí tích Thánh Thể trong mọi hoàn cảnh. Đó phải là ý tưởng cố định cho Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể là trọng tâm của thời gian. Thời gian trôi qua xung quanh Bí tích Thánh Thể, thời gian được đặt tên và được chúc phúc nhờ Bí tích Thánh Thể.

Điều đó có nghĩa là gì? Người tín hữu kitô đã được rước lễ lần đầu và tiếp tục rước lễ được kêu gọi quyết định, với tất cả khả năng suy nghĩ và ý chí của họ, để họ dâng hiến cuộc sống của họ trọn vẹn dưới dấu hiệu Bí tích Thánh Thể, họ có hiến mình cho Thánh Thể hay không. Bí tích Thánh Thể phải trở thành điểm quy chiếu cho những suy nghĩ, lời nói, hành động của chúng ta, là đơn vị đo lường trong mối quan hệ của chúng ta với phần còn lại của thế giới. Đó là cách duy nhất để sự tồn tại của chúng ta được thay đổi triệt để, giúp chúng ta tiến tới mục tiêu đích thực là thiên đàng. Phải có sự đồng lòng trong gia đình để đặt Bí tích Thánh Thể vào trọng tâm mọi sự. Khi thực hiện được lựa chọn này, dù không là số đông nhưng họ sẽ có ảnh hưởng đến cộng đồng giáo xứ. Và mọi thứ thể hiện và diễn ra trong gia đình đều tỏa sáng một cách đặc biệt. Nếu giáo xứ muốn hoạt động và làm cho mình thành trung tâm thiêng liêng, giáo xứ phải thành công trong việc quy tụ các gia đình Thánh Thể, những người sẽ là men, làm dậy men toàn bộ thánh lễ và cả cuộc sống. Như vậy, các giáo xứ sẽ càng ngày càng trở thành trung tâm sinh động thu hút. Các thánh lễ, các bài giảng, các buổi xưng tội, các nhóm khác nhau sẽ hít thở một bầu khí mới, đời sống cộng đoàn sẽ được củng cố như Thánh Phaolô nói trong Sách Công vụ Tông đồ: họ là một trái tim và một linh hồn.

Marta An Nguyễn dịch

Vị trí Lời Chúa trong đời sống hàng ngày của Chân phước Carlo Acutis

Vị trí Lời Chúa trong đời sống hàng ngày của Chân phước Carlo Acutis

Trích sách của linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano, thân sinh Chân phước Carlo Acutis. “Trao truyền đức tin theo cách của Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis   (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator).

Đức tin được sinh ra từ những gì chúng ta nghe; đó là lời Chúa Kitô. Vì thế tôi xin đặt câu hỏi: liệu chúng ta có nghe lời Chúa Kitô không? Dĩ nhiên chúng ta nghe! Một câu trong thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma nói: “Tiếng các ngài đã dội khắp hoàn cầu.” (Rm 10:17-18).

Đức tin nảy sinh từ điều chúng ta nghe (“fides ex Auditu”): đức tin được truyền từ người này sang người khác qua việc lắng nghe Lời Chúa. Ngay lập tức Thánh Phaolô đề cập đến việc rao giảng. Nhưng trước khi nói về việc rao giảng, tôi muốn hỏi bà Antonia, lời Chúa có vai trò gì trong đời của Carlo.

Từ khi còn nhỏ, Carlo đã thích đọc Kinh Thánh minh họa dành cho trẻ em. Lớn hơn một chút, mỗi ngày Carlo suy gẫm một đoạn Thánh Kinh, dù dài hay ngắn. Để ghi nhớ, thỉnh thoảng Carlo chép ra giấy. Vì thế Kinh Thánh là ánh sáng, là kim chỉ nam trong ngày, là nguồn gốc suy gẫm liên tục của Carlo. Carlo biết những gì Giáo hội dạy, cụ thể là Thiên Chúa nói với chúng ta qua Truyền thống và qua Kinh Thánh. Tôi nhớ một trong những đoạn tuyệt vời của tông huấn Dei Verbum về mạc khải thiêng liêng của Công đồng Vatican II: “Vì thế, Truyền thống tông đồ và Sách thánh của cả hai Giao ước giống như tấm gương, trong đó Giáo hội trong cuộc hành trình trần thế chiêm ngắm Thiên Chúa để từ đó Giáo hội nhận mọi sự cho đến khi gặp được Chúa.”

Marta An Nguyễn dịch

Michele và Francesca, hai em sinh đôi của Chân phước Carlo Acutis

Michele và Francesca, hai em sinh đôi của Chân phước Carlo Acutis

Bà Antonia Salzano, mẹ của Chân phước Carlo cho biết: “Trong giấc mơ, chính Carlo đã báo cho tôi biết tôi sẽ sinh con.” Hai em Michele và Francesca sinh năm 2010, 4 năm sau khi Carlo qua đời.

ilsussidiario.net, Lorenzo Drigo, 2024-06-08

Từ khi bà Antonia Salzano sinh Carlo, cuộc đời của bà đã thay đổi hoàn toàn. Carlo là con một trong 15 năm sống ở trần thế, qua đời năm 2006, bốn năm sau bà sinh hai em Michele và Francesca. Các con còn nhỏ bà tránh cho các con bị truyền thông chú ý. Các em chỉ mới 14 tuổi, nhưng các em có nét giống anh Carlo về mặt thiêng liêng.

Án phong thánh của Carlo Acutis được mở ra 18 năm sau khi Carlo qua đời vì bệnh bạch cầu khi 15 tuổi. Án được mở ra nhờ phép lạ của em người Brazil mắc bệnh tuyến tụy hình khuyên được chữa lành một cách kỳ lạ sau khi cha mẹ cầu bàu với Chân phước Carlo. Tổng cộng có 3 phép lạ chữa lành được các bác sĩ xác định đã ở giai đoạn cuối. Nếu kể thêm Carlo báo cho mẹ “mẹ sẽ sinh con ở tuổi 44!” thì có 4 phép lạ!

Câu chuyện này được bà Antonia Salzano, mẹ của Carlo kể trong các buổi phỏng vấn: “Trên giường bệnh, Carlo nói với tôi, mẹ sẽ làm mẹ lại.” Đó là năm 2010, 4 năm sau khi Carlo qua đời, bà mang thai hai em song sinh Michele và Francesca. Carlo hứa với bà “khi con qua đời, con sẽ cho mẹ nhiều dấu hiệu và Carlo giữ lời hứa!”

Chúng ta không biết gì nhiều về hai em Michele và Francesca, nhưng bà Antonia nói với chúng tôi, hai em theo gương anh Carlo của các em: Đi lễ, chầu Thánh Thể mỗi ngày nếu có thể. Điểm khác biệt duy nhất giữa Carlo và các em: Carlo kính mến Đức Mẹ hết lòng. Các em chọn Thánh Bernadette và Tổng lãnh thiên thần Michael.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chúa và nước Mỹ

Chúa và nước Mỹ

Hình minh họa: Nữ thần Tự do

Làm sao chúng ta có thể xác định Chúa đã cứu ông Donald Trump trong vụ ông bị tấn công không thành như một số chính trị gia và cả một số mục sư tin lành nói?

croix.com, Arnaud Alibert, Tổng biên tập báo La Croix, 2024-07-19

Chúng ta sẽ không bao giờ ngừng nói về vị trí của Chúa trong trong sự xây dựng và đời sống nước Mỹ. Vào thời điểm nước Mỹ được khám phá, theo một cách nào đó, trong bối cảnh mọi người đều ngạc nhiên, lục địa này có thể bị cho là tách biệt khỏi Liên minh Thần thánh, là tiền sảnh của địa ngục. Nhưng ngược lại, các chứng nhân như Bartholomew de las Casas của Dòng Đa Minh lại thấy nước Mỹ như một dạng thiên đàng được gìn giữ một cách lạ kỳ. Hai thế kỷ sau, người theo đạo tin lành bị trục xuất khỏi châu Âu hiểu đây là vùng đất nguyên khai được Chúa ban để thành lập Vương quốc Chúa Kitô. Và thế là ý này được lan truyền: “Chúa phù hộ nước Mỹ”. Nhưng với người châu Âu của thế kỷ 21, câu chuyện này chỉ là câu chuyện huyền thoại, không thực tế. Chúa không ban cho nước Mỹ nhiều ơn hơn các nước khác. Trái đất là một, nhân loại là một, tình yêu của Thiên Chúa là một. Thần học và linh đạo kitô giáo hội tụ một cách rõ ràng khi nói chính sự hiệp nhất là ý Chúa muốn.

Vậy thì làm thế nào chúng ta có thể khẳng định Chúa cứu ông Donald Trump trong cuộc tấn công thất bại vừa qua như một số chính trị gia và một số mục sư tin lành nói? Điều này dường như càng trở nên rắc rối hơn vì tuy trượt mục tiêu nhưng lại trúng một người cha và ông này chết tại chỗ. Như thế Chúa muốn cái chết của người đàn ông vô danh này hơn cái chết của một người vì dân, giàu có hơn, quyền lực hơn và có một định mệnh đặc biệt?

Quan điểm này khó đứng vững vì như Thánh Phaolô đã nói, Chúa Kitô phá mọi rào cản giữa con người để làm cho mọi người được bình đẳng. Hơn nữa, những người Pharisêu chống đối Ngài đã nói: “Cứ sự thật Ngài dạy đường lối của Thiên Chúa. Ngài chẳng vị nể ai vì Ngài không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta.” (Mt 22:16).

Tuy nhiên, ý tưởng Chúa lo cho số phận con người xuyên suốt Kinh Thánh. Kinh Thánh không phải không chấp nhận ý tưởng về việc ưa thích, hay nói một cách khôn ngoan hơn, về sự thiên vị đặc biệt đối với Thiên Chúa, miễn là chúng ta xác định rõ điều này: ưu tiên của Chúa khi can thiệp là để bù đắp cho yếu đuối của con người; Tình yêu Thiên Chúa được thể hiện nơi sâu thẳm sức mạnh của con người. Như người mẹ “yêu” đứa con yếu đuối nhất của mình hay như người chăn cừu liều mạng đi tìm những con cừu lạc, dễ dàng làm mồi cho thú rừng. Kinh Thánh nói Israel được chúc phúc vì Israel là dân tộc nhỏ bé nhất. Cũng vậy, Mẹ Maria “có phúc hơn mọi người nữ” là người được Thiên Chúa ưu tiên vì, theo quan điểm loài người, Mẹ không có cách nào trở thành người sinh ra Chúa Kitô. Rõ ràng, hình ảnh quyền lực mà ông Trump và những người giao tiếp của ông tự tạo ra hoàn toàn trái ngược với hình ảnh này.

Sẽ không đúng về mặt thần học hay nghĩ rằng sức mạnh thần thánh đến để củng cố cho sức mạnh của ứng cử viên Đảng Cộng hòa, bảo đảm để thắng cuộc bầu cử tháng 11 sắp tới và biến nước Mỹ thành quốc gia còn vĩ đại hơn, mạnh mẽ hơn. Một lần nữa, bài diễn văn này về nước Mỹ để lại danh sách sự thật cho những huyền thoại. Buồn cười không? Không! Nguy hiểm trong thời điểm giao động này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Kính màu xinh đẹp dành cho Chân phước Carlo Acutis

Kính màu xinh đẹp dành cho Chân phước Carlo Acutis

fr.zenit.org, Ban biên tập, 2024-07-19

Hội đồng mục vụ giáo xứ Anh Saint-Aldhelm, Malmesbury có sáng kiến đưa hình ảnh Carlo vào một trong hai cửa kính chưa trang trí của nhà thờ © Aleteia

Nhà thờ St Aldhelm ở Malmesbury là giáo xứ ở Anh đầu tiên có cửa sổ kính màu dành riêng cho Chân phước Carlo Acutis, “vị thánh của thiên niên kỷ”.

Ngày 19 tháng 7 năm 2022, một cửa sổ kính màu được lắp tại Nhà thờ St. Aldhelm, Malmesbury, Anh. Tác phẩm với hình ảnh Carlo hiện đại: đồng hồ, điện thoại di động tạo nét cân bằng hoàn hảo giữa hiện đại và lòng đạo đức.

Dù đời sống ngắn ngủi nhưng Carlo có lòng kính mến sâu đậm với Bí tích Thánh Thể và tràng hạt Mân Côi. Đức tin và cuộc đời dâng hiến của Carlo là tấm gương cho hàng ngàn bạn trẻ. Dù chưa được phong thánh, nhưng Chân phước Carlo đã được tôn kính trong các nhà thờ.

Hội đồng mục vụ giáo xứ Saint-Aldhelm có sáng kiến trang trí cửa sổ kính màu trong hy vọng thu hút giới trẻ. Sau khi được giấy phép cần thiết, năm 2022 cửa kính màu được lắp đúng lúc Đức Phanxicô chấp nhận phép lạ thứ hai được cho là của Carlo để mở đường phong thánh. Thông báo này đã thu hút nhiều du khách tìm hiểu lịch sử nhà thờ và đến thăm nhà thờ.

Nghệ sĩ Michael Vincent làm kính màu với hình ảnh Carlo Acutis hiện đại như đồng hồ và điện thoại di động, phản ánh sự cân bằng hoàn hảo giữa tính hiện đại và lòng mộ đạo của Carlo. Kể từ khi được lắp đặt, cửa sổ kính màu đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông và khách hành hương.

Ảnh hưởng của Carlo được thấy qua các phép lạ gần đây. Tháng 4, một bé gái sáu tuổi mắc hội chứng Guillain-Barré làm cơ thể em bị liệt, em đã có những dấu hiệu phục hồi đầu tiên sau khi giáo xứ sốt sắng cầu nguyện với Carlo. Sự kiện này đã củng cố lòng tin của cộng đồng vào sức mạnh lời cầu nguyện và cầu bàu với Carlo Acutis.

Nhà thờ Saint-Aldhelm là trung tâm suy gẫm và đào tạo tâm linh cho giới trẻ và gia đình. Nhà thờ dự định đặt bàn quỳ trước cửa sổ kính màu để giáo dân quỳ cầu nguyện và làm phòng hội thảo cho giới trẻ, cần thiết để giáo dục giới trẻ, tiếp tục truyền bá di sản của Carlo Acutis.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

 

Ơn toàn xá nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Lớn tuổi

Ơn toàn xá nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Lớn tuổi

Đức Phanxicô chào đón hai người lớn tuổi trong buổi tiếp kiến chung. Ảnh: Truyền thông Vatican

Nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Lớn tuổi ngày 28 tháng 7-2024, Tòa Ân giải Tối cao ban Ơn toàn xá cho ông bà, người lớn tuổi và giáo dân dự thánh lễ Đức Phanxicô cử hành hoặc các nơi khác trên thế giới trong tinh thần sám hối và bác ái.

Ngày 18 tháng 7, Tòa Ân giải Tối cao ra sắc lệnh ban Ơn toàn xá theo yêu cầu của Hồng y Kevin Joseph Farrell, Tổng Trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống cho những ai tham dự thánh lễ chúa nhật thứ tư của tháng 7 hàng năm, năm nay là ngày 28 tháng 7.

Theo Sắc lệnh, ơn toàn xá được ban theo các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý giáo hoàng) cho ông bà, người lớn tuổi và tín hữu tham dự thánh lễ trọng thể Đức Phanxicô sẽ cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô hoặc các nhà thờ khác trên thế giới. Ơn toàn xá ban cho giáo dân đi thăm viếng người lớn tuổi, người bệnh, người khuyết tật, người bị bỏ rơi, cho những người, vì lý do nghiêm trọng, không thể ra khỏi nhà, nhưng hiệp nhất thiêng liêng với các cử hành của Ngày Thế giới Ông bà và Người Lớn tuổi, dâng lên Chúa nỗi đau trong cuộc sống của họ qua các phương tiện phương tiện truyền thông xã hội.

Ơn toàn xá cũng được xem là lời cầu bàu dành các linh hồn trong luyện ngục. Sắc lệnh cũng xin các linh mục quảng đại cử hành bí tích Hòa giải để mọi người đón nhận ơn Chúa.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các tiết lộ về Abbé Pierre: “Xung năng tình dục của hàng giáo sĩ công giáo dường như là chuyện hiển nhiên”

Các tiết lộ về Abbé Pierre: “Xung năng tình dục của hàng giáo sĩ công giáo dường như là chuyện hiển nhiên”

lemonde.fr, Ban biên tập, 2024-07-20

Bốn nhà nghiên cứu của nhóm nghiên cứu lịch sử xã hội trong Ủy ban Độc lập về Lạm dụng Tình dục trong Giáo hội (Ciase), do nhà sử học Philippe Portier đứng đầu đã viết trên báo Le Monde các yếu tố mới buộc tội Abbé Pierre.

Ông Philippe Portier, nhà khoa học chính trị, giám đốc nghiên cứu tại Ecole Pratique des Hautes Études;

Ông Paul Airau, nhà sử học, giáo sư CPGE;

Ông Thomas Boullu, nhà sử học pháp lý, giảng viên Đại học Strasbourg;

Bà Anne Lancien, nhà khoa học chính trị, nhà nghiên cứu tại Đài quan sát tôn giáo quốc tế.

Báo cáo của Hiệp hội Ê-mau Quốc tế và Hiệp hội Ê-mau Pháp về các vụ tấn công tình dục của Abbé Pierre đã không làm cho các cựu thành viên của nhóm nghiên cứu lịch sử xã hội của Ủy ban Ciase ngạc nhiên. Trong quá trình điều tra (2019-2021) họ đã có thông tin xác nhận Henri Grouès – Abbé Pierre có những hành vi vi phạm văn minh và luân lý thông thường, vi phạm luật hình sự và giáo luật.

Kho lưu trữ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia của Giáo hội Pháp có các tài liệu từ những năm 1950-1960 về xung năng tình dục của Abbé Pierre, đã được bà Axelle Brodiez-Dolino trình bày trong quyển sách Hiệp hội Ê-mau và Abbé Pierre (Emmaus et l’abbé Pierre, Press of Sciences Po, 2009) ). Góc độ của những bạo lực buộc chúng ta đọc dữ liệu và một số tình tiết trong cuộc đời của Abbé Pierre dưới một khía cạnh khác. Từ năm 1954-1955, thông tin đã đến tai các giám mục về các hành động này.

Lợi dụng tình trạng sức khỏe của Abbé Pierre, các giám mục hiểu vấn đề, họ đã áp dụng các phương pháp điều trị y tế cho ông, sau đó là điều trị tâm thần ở Thụy Sĩ (1957-1958). Các linh mục lệch lạc thường được tổ chức Secours sacerdotal của Pháp chăm sóc, vì vậy việc đi Thụy Sĩ chữa cho thấy vấn đề nghiêm trọng đến như thế nào. Chữa trị ở Béni Abbès (1961) tuân theo phương pháp được Giáo hội áp dụng cho các linh mục lệch lạc và những kẻ tấn công tình dục.

Trong số khoảng 1.200 lời khai được nhóm nghiên cứu xử lý, có ba lời khai liên quan đến Abbé Pierre. Theo lời kể đầu tiên, vào khoảng năm 1980, Abbé Pierre đã túm lấy ngực một phụ nữ làm việc ở Hiệp hội Ê-mau và tựa đầu lên vai cô. Khoảng 15 năm sau, ông làm lại.

Theo lời khai thứ hai, vào tháng 2 năm 1981, sau một hội thảo ở Namur (Bỉ), một phụ nữ lên nhận lời khen của Abbé Pierre. Khi cô đọc lời khen, ông lao vào cô, ôm lấy ngực cô, dùng lưỡi hôn miệng cô và bỏ chạy.

Theo lời khai thứ ba, vào năm 1989-1990, một phụ nữ có hoàn cảnh cá nhân khó khăn đến tu viện Saint-Wandrille (Seine-Maritime) xin Abbé Pierre giúp đỡ. Ông giúp cô vật chất, sau đó lợi dụng cô: quan hệ tình dục, thủ dâm trước mặt cô, tán tỉnh, đánh đập, đề nghị làm tình tay ba với một phụ nữ khác.

Các thông tin trùng khớp

Ba lời chứng này đều nhất quán. Các nạn nhân cho danh tính và chi tiết để liên lạc, họ không có bàn tính với nhau trước. Thông tin này phù với những gì đã nói về các tấn công tình dục của Abbé Pierre (cưỡng bức, tập trung vào ngực). Tuy nhiên cần được xác minh chính xác.

Lời khai đầu tiên của Ciase rất có thể tương ứng với lời khai B của báo cáo Ê-mau nhưng có khác biệt về năm: khoảng năm 1980 trong lời khai của Ciase, 1977-1980 trong báo cáo. Phần còn lại giống nhau. Lời khai thứ hai của Ciase cho rằng vụ tấn công xảy ra vào năm 1981, mặc dù rất có thể là năm 1984, ngày Abbé Pierre tổ chức hội thảo ở Namur. Những khác biệt này không có khả năng làm giảm độ tin cậy những gì được báo cáo – sai sót trong việc xác định đời sống cá nhân là phổ biến.

Cuối cùng, xung năng tình dục của Abbé Pierre dẫn đến hành vi gây hấn tái diễn dường như không thể nhầm lẫn được. Dữ liệu lưu trữ và lời chứng rất nhiều và nhất quán. Xung năng này chưa bao giờ thực sự dừng lại. Abbé Pierre cũng xác nhận, nếu cần thiết thì sự lệch lạc tình dục trong giới giáo sĩ công giáo rất đồng đều trên mọi khuynh hướng, tiến bộ hay không khoan nhượng.

Bí mật đã được chia sẻ

Nếu Abbé Pierre có khả năng và biết xây dựng tính cách, trang bị cho mình một chức vụ và phát triển sức thu hút thì đó cũng nhờ ông đã đáp ứng được mong chờ, làm cho ông tăng tiếp xúc với phụ nữ cả trẻ lẫn lớn tuổi. Ông tấn công khi có dịp và ngẫu nhiên, như hồ sơ của Giáo hội cho thấy. Chúng ta chỉ biết một trường hợp bị khống chế.

Sức thu hút này bảo vệ ông, vì những người biết sự việc không thể hoặc không sẵn sàng chất vấn ông công khai – nạn nhân của ông thường chết điếng, những người khác bị thể chế khống chế. Trên thực tế, các giám mục biết thông tin và những người có trách nhiệm trong Hiệp hội Ê-mau che lấp sự việc. Việc che giấu tạo một bí mật chung, gây bất lợi cho nạn nhân, họ không được xem trọng. Logic quen thuộc của việc bảo vệ thể chế: đặt vấn đề cho những gì cho phép và được phép làm.

Các giám mục của những năm 1950 đã không chấp nhận một trừng phạt theo giáo luật nào, họ điều tra xem liệu thông tin đó có được truyền đi hay biết đến sau năm 1961 hay không. Lời chứng của Ciase đã làm cho một người trong chúng tôi đặt câu hỏi về giáo phận Grenoble, nơi Abbé Pierre ở dưới quyền. Ông thừa nhận có dữ liệu nhưng không thông báo. Các nhà lãnh đạo Hiệp hội Ê-mau bằng lòng với việc cảnh báo một cách không chính thức và rõ ràng: đã có các phụ nữ làm việc cho Hiệp hội Ê-mau.

Vì vậy, ngoài việc được các phương tiện truyền thông đưa tin, trường hợp của Abbé Pierre khá bình thường xét theo quan điểm lịch sử. Tuy nhiên, vụ này có điểm tích cực là tóm tắt nhiều đặc điểm của việc tấn công tình dục của các giáo sĩ công giáo kể từ những năm 1950.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Ông Alejandro lành bệnh ung thư nhờ cầu bàu với Chân phước Carlo Acutis

Ông Alejandro lành bệnh ung thư nhờ cầu bàu với Chân phước Carlo Acutis

Ông Alejandro cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis và được lành bệnh bệnh ung thư, ông nói: “Hôm nay tôi gặp người đồng hành với gia đình tôi trong thuận lợi cũng như trong gian nan.”

es.churchpop.com, Harumi Suzuki, 2024-07-18

Ông Alejandro bên thánh tích của Chân phước Carlo Acutis / Mộ Chân phước Carlo Acutis. Hình ảnh: Maria Chermida, Instagram.

Ông Alejandro bị bệnh ung thư phổi, gia đình ông xin Chân phước Carlo Acutis cầu bàu, 3 tháng sau, ông đến thăm vị thánh tương lai để tạ ơn vì được lành bệnh.

Sau ca mổ thành công, bà María Hermida de Espinosa, vợ của ông, chia sẻ trên Instagram gia đình đã đến tạ ơn Chân phước Carlo ở Assisi. Người con của ông nói: “Hôm nay chúng tôi gặp người đồng hành với gia đình chúng tôi trong thuận lợi cũng như trong gian nan. Vị thánh đầu tiên chúng tôi cầu bàu và chúng tôi được nhận lời. Không có lời nào để giải thích, chúng tôi chỉ biết mọi chuyện xảy ra theo cách của Chúa.”

Bà María cho biết, từ thiên đàng, Chân phước Carlo Acutis đã đồng hành với gia đình bà như thế nào: “Con trai đầu lòng của chúng tôi đã cầu nguyện bên thánh tích, sau đó nó cầu nguyện với chồng tôi, sáng hôm sau thức dậy, chồng tôi thấy chỉ số viêm xuống một cách lạ lùng, các bác sĩ không giải thích được, họ thử máu lại và kết quả thấp. Kết quả này sẽ giúp rất nhiều cho việc phẫu thuật cắt bỏ khối u phổi. Chân phước Carlo Acutis đã đồng hành với các con tôi, chúng tôi sống trong ân sủng Chúa.”

Trong video, bà chiếu hình ảnh và video trong suốt thời gian ông Alejandro trị bệnh cho đến khi ông đến viếng mộ Chân phước Carlo Acutis để tạ ơn. Bà nói: “Nhờ lời cầu bàu, nhờ các bí tích, nhờ lời cầu nguyện của nhiều người, nhờ tình yêu vô điều kiện của gia đình, của các người bạn thánh thiện và nhờ tinh thần vững mạnh của chồng tôi, anh đã về nhà khỏe mạnh.”

“Chứng từ lớn lao của cuộc sống. Chúa luôn yêu thương chúng con và đức tin của chúng con luôn được đền bù.”

Câu chuyện đức tin của gia đình ông Alejandro đã gây xôn xao và lan truyền với hơn 40 ngàn lượt thích, nhiều người để lại tin nhắn ủng hộ.

Bà nói: “Chúng ta đặt đức tin vào Chúa, Đấng luôn nói với chúng ta: ‘Với Ta không gì là không thể’, xin Chúa ban cho chúng con thêm đức tin và hy vọng. Tạ ơn Chúa đã cho chúng con Carlo. Con biết Chúa rất yêu Carlo và lắng nghe lời cầu bàu của Carlo.”

Gia đình María và Alejandro, một gia đình hạnh phúc có 5 người con, họ có một sứ mệnh quan trọng: “Hãy lắng nghe những gì Thánh Carlo Acutis nhắn với chúng ta.”

Marta An Nguyễn dịch

Trường hợp Abbé Pierre: “Vì sao các linh mục không tôn trọng khiết tịnh vẫn làm linh mục?”

Trường hợp Abbé Pierre: “Vì sao các linh mục không tôn trọng khiết tịnh vẫn làm linh mục?”

la-croix.com, Isabelle Chartier-Siben, 2024-07-20

Bà Isabelle Chartier-Siben, bác sĩ và nhà nghiên cứu nạn nhân, chủ tịch hiệp hội “C’est à dire”, một hiệp hội giúp đỡ các nạn nhân bị lạm dụng, đặc biệt các nạn nhân trong Giáo hội. Dựa trên trường hợp của 6 nạn nhân buộc tội Abbé Pierre tấn công tình dục, bà đặt câu hỏi về thái độ của các linh mục không tôn trọng các lời khấn của họ.

Một tác phẩm nghệ thuật đường phố vẽ Abbé Pierre. Người đồng sáng lập Hiệp hội Ê-mau bị một số phụ nữ buộc tội tấn công tình dục. Teresa Suarez / EPA/MAXPPP

Những tiết lộ gần đây về Abbé Pierre, đưa chúng ta vào một thế giới kỳ lạ. Một số người nói: “Cuối cùng nạn nhân cũng có thể lên tiếng”. Một số khác: “Một lần nữa người ta muốn phá hủy Giáo hội” và vẫn còn những người nói: “Ở đâu có con người, ở đó có nhân tính; Giáo hội không phải là một xã hội trong sạch.”

Các nạn nhân đã dũng cảm như thế nào để đứng lên tố cáo Abbé Pierre bị buộc tội tấn công tình dục

Điều mà nhiều người biết, vì chính Abbé Pierre thú nhận: ông có quan hệ tình dục. Điều chúng ta khám phá ngày nay là ngoài những quan hệ tình dục đồng thuận, ông còn có những hành vi tình dục không có sự đồng ý.

Về quan hệ tình dục đồng thuận, tất cả chúng ta đều biết các linh mục không tôn trọng luật độc thân khiết tịnh, họ sống hai mặt. Nếu so sánh với các cặp vợ chồng, chúng ta có thể nói các linh mục này “phá khế ước” hoặc ngoại tình. Họ không tôn trọng lời khấn của họ. Ngày nay với thời đại của một số người nghĩ và tuyên bố: “Thân xác tôi thuộc về tôi và tôi có thể làm gì tôi muốn” thì chúng ta sẽ không bị sốc trước vấn đề này.

Sống trong ánh sáng trọn vẹn

Nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ: “Vì sao họ không sống trong ánh sáng trọn vẹn, dường như đó là lựa chọn thứ hai của cuộc sống, sống như một cặp vợ chồng hoặc nửa vợ chồng”? Vì sao các linh mục đã tự do lựa chọn đời sống thánh hiến độc thân trước mặt Thiên Chúa và trước mặt con người lại không chính thức rời bỏ tình trạng này khi không còn phù hợp với họ nữa? Đây vừa là điều ảnh hưởng đến lương tâm cá nhân họ, vừa là sự hiểu biết chính thống của người tín hữu. Vậy thì dân Chúa bị lừa dối.

Abbé Pierre bị buộc tội tấn công tình dục, nỗi đau của Giáo hội Pháp

Khi đó họ tự hỏi: tiếp tục làm linh mục và sống một cách ẩn dật hay lừa dối, cái nào có lợi hơn? Tôi nhớ một linh mục, từng phạm tội tấn công tình dục phụ nữ và phải nhận án phạt theo giáo luật, đã trả lời khi biết bản án: “Nhưng dân Chúa sẽ mất mát rất nhiều, vì tôi sẽ không đồng hành với họ được nữa…”’ Vậy vấn đề có phải là họ kiêu hãnh quá mức, họ tin rằng mình được trao quyền lực và sức mạnh siêu nhiên, cho phép họ “đôi khi trượt dốc không?”

Mất một số lợi thế

Hoặc đối với các linh mục, nỗi sợ mất một số lợi thế mà chúng ta gọi là lợi thế thứ yếu của việc làm linh mục: được công nhận, được tôn trọng… Một số nạn nhân của các linh mục nói: “Chỉ trích họ là chỉ trích Chúa.” Nhưng với linh mục, có lẽ nỗi sợ của họ là sợ chỉ có công việc và những điều rất bình thường: sợ tìm việc làm, lo lắng trước cuộc sống hàng ngày của người cha, sợ phải dậy sớm đi làm, sợ thức khuya với con làm mất ngủ, sợ không thành công trong đời sống vợ chồng, sợ thất nghiệp, khuyết tật, ly hôn, v.v.

Báo cáo của Hiệp hội Ê-mau cho biết, phụ nữ có nguy cơ khi gần gũi với Abbé Pierre. Vấn đề này làm cho họ bối rối: vì sao họ đã nghi ngờ nhưng lại không lên tiếng sớm hơn?

Abbé Pierre được tôn lên như thần thánh nhưng ông chỉ là con người

Abbé Pierre là anh hùng trong thời kháng chiến, là chính trị gia được công nhận vì các cống hiến to lớn của ông với người nghèo, theo tôi chúng ta nhầm lẫn con người với hành động của họ. Một người có thể tốt, hoặc tốt hôm nay nhưng ngày mai lại thối nát. Tiếc thay, những hành động anh hùng sẽ không ngăn chặn được những hành động xấu xa. Cũng như những hành động khủng khiếp không ngăn họ thành thánh một ngày nào đó.

Nhốt mình trong cái ác

Nhưng điều này không do những người trần thế bình thường như chúng ta quyết định cho tương lai của một người, chúng ta không thể nhốt họ vào điều tốt cũng như vào điều xấu. Chúng ta phải khách quan và bảo vệ những người yếu đuối nhất.

Tình trạng này cũng đặt ra vấn đề về vị trí của giáo dân. Có phải chúng ta không dám làm lu mờ hình ảnh Abbé Pierre vì tinh thần anh hùng của ông trong chiến tranh hay vì người nghèo hay vì ông là linh mục? Với tôi, có vẻ như chúng ta muốn công việc của ông tiếp tục tồn tại. Công việc của ông sẽ không tồn tại nếu ông là một giáo dân bình thường sao? Ông phải là linh mục để có được sự công nhận cần thiết, để được lắng nghe? Giáo dân nhạy cảm hơn với người thần thánh xuống thế?

Các tiết lộ về Abbé Pierre: “Xung năng tình dục của hàng giáo sĩ công giáo dường như là chuyện hiển nhiên”

Giữ khiết tịnh

Khi nói chuyện với các chủng sinh, tôi thường khuyên họ: “Nếu các em cảm thấy không muốn sống khiết tịnh suốt đời thì đừng vào đây, nếu một ngày nào đó cám dỗ, ham muốn và xung động lấn át thì các em hãy đơn giản đổi con đường.”

Thay đổi con đường, về với đời sống thế tục không có nghĩa là mất đức tin; trái lại, việc thay đổi con đường giúp chúng ta duy trì sự hiệp nhất con người mình, tôn trọng con người thật của chính mình và tôn trọng ơn của Chúa trong thời điểm hiện tại.

Ngược lại, tách mình ra khỏi việc loan báo Tin Mừng, sống phản bội với lời khấn của mình, phạm tội nhẹ hoặc tội nặng là đi vào con đường dối trá, không còn nhận biết Chúa Kitô là đường, là sự thật và là sự sống.

Tôn trọng phụ nữ

Nếu đúng là có sự khác biệt đáng kể giữa mối quan hệ tình dục đồng thuận và hành vi tình dục cưỡng bức, thì sự thật vẫn phải là tôn trọng phụ nữ, tôn trọng người đàn ông, “không có hành động lén lút trong một tối”, nhưng chia sẻ cuộc sống với họ một cách trọn vẹn.

Vì thế câu hỏi làm tôi đau khổ: vì sao những người đàn ông này, những người biết họ không tôn trọng cam kết khiết tịnh, họ vẫn ở lại làm linh mục, vì sao họ không xin rời hàng ngũ giáo sĩ để sống cuộc sống vợ chồng hoặc để được giúp đỡ nếu họ không thể kiểm soát được thôi thúc tình dục của họ? Giáo hội chắc chắn sẽ thành nghèo đi về con số, nhưng sẽ trưởng thành rất nhiều, trong khiêm nhường và phục vụ mọi người.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Những phản ánh chưa đúng lúc về vụ Abbé Pierre

Những phản ánh chưa đúng lúc về vụ Abbé Pierre

Những phản ánh chưa đúng lúc về vụ Abbé Pierre

Abbé Pierre ở Esteville năm 1991.

fr.aleteia.org, Paul Airiau, 2024-07-19

Cựu thành viên của Ủy ban Độc lập về các vụ Lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp (Ciase), sử gia Paul Airiau xác nhận các cáo buộc tấn công tình dục chống Abbé Pierre và sự im lặng đồng tình của những người đã không thực thi quyền lực của họ trên ông. Ông nói, khi nói đến những điều ghê tởm của con người, người công giáo không nên ngạc nhiên, nhưng nên biết công lý đến từ sự thật.

Kinh hoàng và run rẩy. Địa ngục và thối rữa. Abbé Pierre. Đúng, Abbé Pierre! Ông cũng là một con heo dâm ô. Một tên lưu manh. Một kẻ tấn công. Tôi sẽ không nói tôi ngạc nhiên. KHÔNG. Vì tôi biết. Không phải tự nhiên mà tôi là thành viên nhóm nghiên cứu lịch sử xã hội của Ủy ban Độc lập về Lạm dụng trong Giáo hội Pháp (2019-2021). Tôi đã học. Tôi đã biết.

Một trong những đồng nghiệp của tôi đã lục tìm các tài liệu lưu khố của những năm 50 và đầu những năm 60 của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia của Giáo hội Pháp liên quan đến Abbé Pierre, tên thật là Henri Grouès. Một số giám mục rất lo lắng về các báo cáo liên quan đến Abbé Pierre trong quan hệ với phụ nữ. Họ muốn kiểm soát ông, họ đưa ông đi điều trị ở Thụy Sĩ, trong tuyệt vọng họ gởi ông đến sa mạc Sahara. Rõ ràng là không có kết quả.

Các lời chứng nhất quán

Về phần tôi, tôi đọc. Trong số khoảng 1.200 lời khai bằng văn bản mà Ủy ban Ciase nhận được, có ba biên bản liên quan đến Abbé Pierre. Một ghi các sự kiện năm 1980, một ghi các sự kiện tháng 2 năm 1981 và một từ năm 1989-1990. Hai trường hợp cưỡng bức tình dục (hung bạo túm ngực), trường hợp thứ ba khống chế tình dục, thỏa mãn dục vọng bốc đồng của ông. Ba chứng từ mạch lạc, được xác minh qua các tài liệu lưu trữ và thông tin đã có. Người ta đặt vấn đề ngày tháng các sự việc, cho rằng sự việc xảy ra năm 1981 nhưng rất có thể đã xảy ra năm 1984. Điều này không làm mất giá trị nội dung: ai không phạm lỗi về ngày tháng với các sự kiện trong cuộc đời, ngay cả khi nó liên quan đến sự kiện quan trọng. Chúng ta phải luôn cảnh giác với trí nhớ, ngay cả khi mình nghĩ mình nhớ đúng.

Vì vậy, sự việc dường như không thể vô hiệu, một linh mục gặp khó khăn khi kiểm soát xung năng bốc đồng, trở thành kẻ tái phạm tội tình dục. Và cho đến cuối đời. Vậy chúng ta có nên ngạc nhiên không? Có những xung năng, những cấu trúc tâm lý hay những biện minh thần học-tâm linh không bao giờ mất đi và hóa đá với tuổi. Trong những trường hợp khác, có những sự kiện bất ngờ chận đứng sự nghiệp lâu dài của kẻ tấn công. Nhưng đây không phải là trường hợp của Abbé Pierre.

Trong tất cả các “lãnh vực” và không có hình phạt

Henri Grouès sẽ không bao giờ được phong thánh, chúng ta nhìn tiểu sử ông với một con mắt khác, chúng ta sẽ không đọc sách của ông nữa. Chúng ta phẫn nộ. Chúng ta tiên đoán, chúng ta  than van, chúng ta tranh luận, chúng ta gật đầu hiểu biết, chúng ta khóc, chúng ta suy sụp. Chúng ta để qua một bên thực tế hiển nhiên các chọn lựa thần học, tâm linh và giáo hội học ít quan trọng: những kẻ bị ám ảnh, những kẻ dò dẫm, những kẻ sờ soạng, những kẻ hiếp dâm đều có mặt ở mọi nơi, mọi khuynh hướng của giới giáo sĩ. Bên mặt, bên trái, ở giữa, khắp nơi. Về sự lệch lạc tình dục, không có đồi trụy hay không bị tổn hại bởi nguyên tắc hay tiên nghiệm. Không phải ai cũng chết, nhưng tất cả có thể bị tác động.

Không ai có đủ can đảm để công khai nói nhà vua ở truồng. Rằng nhà vua đang huy động đám đông, đúng, vì một mục đích cao cả, và điều đó là cần thiết, nhưng nhà vua có một vấn đề lớn.

Chúng ta không biết, không ai có thể kiểm soát Abbé Pierre kể từ đầu những năm 1950, không ai thực sự cố gắng tạo cho mình phương tiện để làm việc này, rằng bề trên của ông không bao giờ dùng hình phạt giáo luật, rằng những người chịu trách nhiệm Hiệp hội Ê-mau không bao giờ quyết định làm như vậy. Cố gắng vô hiệu hóa ông, để không ai có đủ can đảm công khai nói nhà vua đang ở truồng. Rằng nhà vua đang huy động đám đông, đúng, vì một mục đích cao cả, và điều đó là cần thiết, nhưng nhà vua có một vấn đề lớn.

Có quá nhiều lợi ích bị đe dọa: làm thế nào lại có thể làm hoen ố biểu tượng bác ái công giáo ở thế giới đang bị tục hóa, làm thế nào làm suy yếu sự tiếp nối một ảnh hưởng như vậy, làm thế nào lại cố tình phá hủy những gì ông đã góp phần xây dựng? Làm sao chúng ta có thể chạm vào nhân cách của nhân vật được người Pháp yêu mến. Ông đã làm cho người Pháp cảm thấy lòng bác ái, tình huynh đệ, tình đoàn kết không phải là những lời nói suông, vì Nhà nước đã không thực sự làm những gì người dân mong muốn? Không có gì mới dưới ánh sáng mặt trời. Chúng ta sẽ coi thường việc này.

Nơi tội lỗi tràn ngập

May mắn thay, có thời sự chính trị và các tin tức khác làm chúng ta giải trí, đánh lạc hướng chúng ta về những chuyện này. Đường lối của Thiên Chúa thật khó hiểu… Nhưng người công giáo chúng ta sẽ nói đây là “sốc”, “cả ông ấy nữa sao!” Đúng, cả ông ấy nữa! Cũng như mọi người!

Nơi người công giáo chỉ có một Thánh duy nhất, đó là Chúa đã chiến thắng sự dữ, vì điều tốt chúng ta không làm, chúng ta lại đi làm điều xấu, quyền năng của Chúa bộc lộ trong những yếu đuối, nơi tội lỗi lại tràn ngập ơn Chúa. Dường như trong đạo công giáo, chúng ta hiểu con người không minh bạch với chính mình, được cứu nhưng lại là kẻ có tội, cần thời gian để hòa hợp cuộc sống của mình với đức tin. Có vẻ như trong đạo công giáo và cũng nhờ Freud, chúng ta biết điều này nói lên nội tâm chúng ta, cho đến khi nó nhận chìm bản ngã và siêu ngã của chúng ta. Dường như không có điều gì tiết lộ liên quan đến tấn công tình dục làm cho người công giáo phải ngạc nhiên.

Khôn ngoan của nhà sử học

Trừ khi chúng ta quên những gì đạo công giáo tin. Trừ khi chúng ta không còn tin vào đạo nữa. Trừ khi chúng ta không tin vào điều đó. Khi đó sẽ không có an ủi nào có thể có được. Nếu thực sự chúng ta cần được an ủi. Thế là đủ để làm nên lịch sử. Điều đã có, rồi ra sẽ có, chuyện đã làm, rồi lại sẽ làm ra, không có gì mới dưới ánh sáng mặt trời (Gv 1, 9). Nó vẫn còn đó. Đó là khôn ngoan cổ xưa. Đó là khôn ngoan của sử gia. Và tôi không nói như thế là không công chính. Tôi nói đây là sự nhẹ nhõm – một chút. Điều này làm tương đối hóa mọi chuyện, làm vấn đề bớt nóng bỏng. Nó đã như thế rồi.

Và đó là cần thiết nếu chúng ta hy vọng vào công lý.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất