Home Blog Page 138

Bài suy niệm của Hồng y Radcliffe: Thinh lặng và cầu nguyện để lắng nghe những câu hỏi phức tạp

Bài suy niệm của Hồng y Radcliffe: Thinh lặng và cầu nguyện để lắng nghe những câu hỏi phức tạp

Osservatoreromano.va, Lorena Leonardi, 2024-10-11

Trong phiên họp chiều thứ năm 10 tháng 10 tại Hội trường Phaolô VI, Hồng y Timothy Radcliffe phát biểu: “Nhiều người muốn Thượng Hội đồng đưa ra câu trả lời ngay lập tức – có hoặc không – về nhiều chủ đề khác nhau! Nhưng đây không phải là cách Giáo hội đi vào mầu nhiệm sâu xa của Tình yêu Thiên Chúa. Chắc chắn chúng ta không tránh được những câu hỏi rắc rối, nhưng chúng ta phải thinh lặng cầu nguyện và lắng nghe nhau để suy nghĩ về những câu hỏi này.”

Hồng y bắt đầu với câu chuyện Chúa chữa lành cho con gái của người phụ nữ thành Canaan: “Hôm nay chúng ta suy tư về các tiến trình qua đó Giáo hội được biến đổi, và về các con đường chúng ta phải đi, chúng ta bắt đầu với phép lạ chữa lành con gái của người phụ nữ thành Canaan. Khi Chúa Giêsu lui về miền Tia và Xiđôn, thì có người phụ nữ miền Canaan đi ra, bà kêu lên: ‘Xin Ngài dủ lòng thương tôi, con gái tôi bị quỷ ám khổ lắm!’ Nhưng Ngài không trả lời, các môn đệ đến gần xin Ngài chữa, Ngài nói: ‘Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen mà thôi. Bà quỳ gối xin Ngài: ‘Lạy Ngài, xin cứu giúp con!’ Ngài trả lời: ‘Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho cho chó con ăn.’ Bà thưa: ‘Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.’ Khi đó Chúa Giêsu trả lời: ‘Thưa bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.’ Từ giờ đó, con gái bà được khỏi.”

Hồng y Radcliffe suy niệm: “Thoạt nhìn, khi nghe Chúa Giêsu so sánh bà mẹ thành Canaan với con chó thì thật khó nghe, nhưng nhờ đức tin mãnh liệt của bà, bà đã cứu được con bà. Trọng tâm câu chuyện là sự im lặng của Chúa Giêsu, Ngài không nói với bà một lời nào. Trong im lặng này, không phải là sự từ chối nhưng đó là căn nguyên của mọi lời cầu nguyện: Ngài lắng nghe người phụ nữ và lắng nghe Chúa Cha. Tương tự như vậy, Giáo hội đào sâu mầu nhiệm Tình yêu Thiên Chúa bằng cách tập trung vào các câu hỏi sâu đậm mà chúng ta không có câu trả lời ngay lập tức.”

Tại Công đồng Giêrusalem: Làm thế nào người ngoại có thể được nhận vào Giáo hội? Tại công đồng Nicée: làm sao chúng ta có thể khẳng định Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là con người thật? Tại Công đồng Chalcédoine: làm sao Thiên Chúa thực sự có thể là một và Ba Ngôi?.

Hồng y Radcliffe nhận xét: “Sứ mệnh của chúng ta tại Thượng Hội đồng là sống với những câu hỏi phức tạp chứ không đi ra các câu hỏi này như các môn đệ. Những câu hỏi phức tạp ở đây là gì? Nếu người phụ nữ đến vì đứa con gái đang bệnh thì chắc chắn chúng ta phải đáp lại lời kêu gọi của tất cả những người cha, người mẹ trên thế giới có con của mình bị cuốn vào chiến tranh, bị mắc kẹt trong cảnh nghèo đói. Chúng ta không được bịt tai lại như các môn đệ thời đó”.

Và còn có những “câu hỏi sâu sắc” làm nền tảng cho nhiều cuộc thảo luận: “Làm thế nào đàn ông và đàn bà, được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, lại có thể bình đẳng nhưng lại khác nhau? Chúng ta không được né tránh vấn đề như các môn đệ, bằng cách phủ nhận sự bình đẳng hay khác biệt. Làm thế nào Giáo hội có thể là cộng đồng của những người đã được rửa tội, tất cả đều bình đẳng, nhưng lại là Thân thể của Chúa Kitô, với những vai trò và thứ bậc khác nhau?”.

Vì vậy, tại Thượng Hội đồng chúng ta đào sâu vào mầu nhiệm Tình yêu Thiên Chúa bằng cách sống với những câu hỏi này, cầu nguyện, lắng nghe nhau, ngày đêm suy nghĩ về những câu hỏi này để tìm câu trả lời.

Trở lại với người phụ nữ Canaan, ngài nhận xét: “Có vẻ ở một mức độ nào đó Chúa Giêsu đã xúc phạm khi so sánh hai mẹ con với những con chó. Tuy nhiên, Thánh Matêô trích đoạn Tin Mừng này từ Tin Mừng Thánh Máccô, trong đó người phụ nữ gốc Syro-Phoenician và những con vật này là những người bạn tốt nhất của dân chúng, những thành viên yêu quý của gia đình. Là tu sĩ Dòng Đa Minh, tôi hiểu – chúng tôi bị cho là “những chú chó của Chúa”, những chiếc gậy của Chúa!

Còn với người do thái, chó là loài vật ô uế không được phép vào nhà, nhưng Chúa Giêsu “cực kỳ sáng tạo, vượt qua giới hạn văn hóa của dân tộc, Ngài đã dùng hình ảnh người phụ nữ trong ngôi nhà có con chó giữ một vị trí đặc biệt để làm dụ ngôn, vì thế lời mời gọi là lắng nghe không phải để có câu trả lời nhưng để học hỏi: chúng ta mở trí tưởng tượng theo cách mới để trở thành nhà của Thiên Chúa, nơi có chỗ cho mọi người. Nếu không, như người Anh chúng tôi hay nói, chúng ta chỉ sắp xếp lại ghế ngồi trên tàu Titanic, con tàu đã trở thành biểu tượng bi thảm của những vụ đắm tàu”.

Như người phụ nữ Canaan, bà đã “bất chấp sự tiếp đón không niềm nở của các môn đệ, bà không bỏ cuộc, bà không bỏ đi”, lời kêu gọi của Hồng y Radcliffe gởi đến các thành viên Thượng Hội đồng là xin họ chọn “ở lại”: “Xin quý vị ở lại, dù khi hướng về Giáo hội quý vị thất vọng, dù Giáo hội của quý vị là gì đi nữa, xin quý vị ở lại. Xin quý vị cứ thắc mắc! Cùng nhau chúng ta sẽ khám phá ra ý Chúa.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Lòng mộ đạo bình dân mới

Lòng mộ đạo bình dân mới

esprit.presse.fr, Jean-Louis Schlegel, trên báo Esprit số tháng 9-2024

Ảnh Đức Mẹ Phép lạ

Lòng mộ đạo bình dân ngày nay không còn là lòng mộ đạo bình dân của ngày hôm qua vì lòng mộ đạo này đã được những người giàu có nhất và bảo thủ nhất của Công giáo Pháp ủng hộ.

Tôi có sai không? Từ nhiều năm nay, ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời 15 tháng 8 đã được tổ chức long trọng ở trong và ngoài Giáo hội. Trong Giáo Hội, bây giờ là ngày lễ lớn của Mẹ Maria. Không chỉ Cuộc hành hương quốc gia đến Lộ Đức mới cho thấy sức sống mãnh liệt: nhiều đền thờ địa phương gần như bị bỏ rơi ngày thường (các nhà thờ nhỏ ở nông thôn rất kính mến Đức Mẹ, tượng Đức Trinh Nữ được đặt ở khúc quanh các con đường…) bây giờ linh mục, phó tế, giáo dân tổ chức các cuộc rước, các ca đoàn thay phiên nhau hát thánh ca kính Đức Mẹ và lần hạt Mân Côi.

Các phương tiện truyền thông thế tục, quốc gia và khu vực, báo viết, truyền thanh truyền hình đều có các loạt bài, loạt phim về Đức Mẹ. Ngày 15 tháng 8, báo Paris Match của thương gia tỷ phú Vincent Bolloré đã dành nguyên trang bìa cho “Siêu sao Marie” với hình ảnh Đức Mẹ Phép lạ đội vương miện 12 ngôi sao và với lời viết khiêm tốn: “Maria từ Trái đất đến Thiên đàng. Cách thế giới tái khám phá Mẹ Chúa Kitô”, “Lời thề của Vua Louis XIII” năm 1643, thánh hiến nước Pháp cho Đức Maria, vì thế Đức Mẹ dường như lấy lại hào quang chưa từng có trong một chế độ Cộng hòa thế tục và một xã hội rất thế tục hóa, khi cuối tuần Lễ Đức Mẹ Lên Trời là ngày lễ nghỉ kéo dài.

Mạng xã hội cũng nhắc đến Đức Mẹ. Nhiều hình ảnh Đức Mẹ thường ít được biết đến (ít nhất là với tôi) đã được đăng trên mạng của tôi: các bức tranh và tác phẩm điêu khắc từ thời cổ điển hoặc gần đây hơn, phần lớn mang tính tượng hình thường rất đẹp, ngạc nhiên hơn là có bài viết, bài thơ, những lời cầu nguyện dâng lên Đức Mẹ của các nhà văn nhà thơ lấy cảm hứng từ “Đức Mẹ” hoặc họ sáng tác. Và dĩ nhiên chúng ta phải hứng chịu một số khó chịu của những người sử dụng Internet: những người theo đạo tin lành, họ nhớ lại cuộc Cải cách của họ đã bác bỏ việc “thờ Đức Mẹ”, hoặc những người theo chủ nghĩa thế tục không khoan nhượng, những người theo chủ nghĩa duy lý cố hữu nhấn mạnh đến sự vô lý của giáo điều Đức Mẹ Lên Trời, Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, cao điểm của sự chế nhạo là bức tranh biếm họa trên trang bìa của báo Charlie-Hebdo.

Sự trở lại của lòng mộ đạo bình dân là gì?

Làm sao có thể giải thích sự say mê Đức Mẹ? Lâu dài hay phù du? Tiếng vang câm lặng của cảm xúc bị ngọn lửa Nhà thờ Đức Bà khơi dậy, như một gắn bó được khơi dậy vì sợ mất nó? Có lẽ, nhưng trên hết chúng ta phải đặt chiến thắng của Đức Maria vào diễn biến tổng thể của đạo Công giáo Pháp hiện nay. Ngày 10 tháng 8, báo Figaro cung cấp chìa khóa để hiểu khi họ đăng trang bìa về “sự trở lại vĩ đại của lòng đạo đức bình dân”. “Hàng chục ngàn người Pháp đi hành hương, cầu nguyện với các Thánh của ngày hôm qua và tin vào phép lạ… Ở thế kỷ 21, khi Lý trí ngự trị, các thực hành đức tin phổ biến trở nên phổ biến hơn bao giờ hết.” Ngay từ đầu, “các chúc phúc của biển làm sống lại ký ức của các thủy thủ mất tích”, “cuộc hành hương của những người đi xe đạp đến Nhà thờ Đức Bà Montligeon”, “Ơn toàn xá của người Breton”, “các buổi cầu nguyện tôn thờ”, “các chuỗi tràng hạt trên đường phố” đã là một phần của lòng mộ đạo bình dân. Chúng tôi nghĩ những người đương thời của chúng tôi đang tức giận với tôn giáo, chắc chắn đã lạc lối trong những biến chuyển của xã hội tiêu dùng… và giờ đây họ cho thấy một động lực tâm linh bất ngờ, cầu nguyện với Thánh Giuse, Thánh Rita, Thánh Antôn Pađua mọi nơi mọi lúc, cầu nguyện ở các đền thờ danh tiếng, Saint Foy ở Conques, Saint Roch ở các làng Balagne, Thánh Sara, Đức Mẹ da đen của biển được những người du mục tôn kính và còn rất nhiều nữa…

Thật ra tất cả những điều này đã tồn tại và có thể được nhìn thấy ngày nay. Tác giả bài báo đặc biệt lưu ý đến những tin giật gân và bất ngờ, khơi dậy sự chú ý của giới truyền thông. Chúng ta có thể trích dẫn nhiều biểu hiện khác, vô hình hoặc kín đáo hơn, được nhiều giáo xứ đăng, chúng ta kiểm tra bằng cách xem trang web của họ hoặc xem các tài liệu (tờ sinh hoạt giáo xứ ngày chúa nhật, các bản tin giáo xứ trên tường sau nhà thờ). Những lời mời và sáng kiến rất nhiều. Cái cũ và cái mới cọ xát nhau. Chúng tôi còn thấy các lời kêu gọi quyên góp cho Cứu tế Công giáo, Ủy ban Công giáo chống nạn đói và phát triển (CCFD), một số hoạt động xã hội và từ thiện khác, nhưng nội dung nghiêng về mộ đạo, cầu nguyện và tôn kính. Đặc biệt, giờ lần hạt Mân Côi, giờ chầu Bí tích Thánh Thể được lên lịch mỗi tuần. Các nhóm cầu nguyện mang dấu tích trực tiếp của Phong trào Canh tân Đặc sủng vẫn còn rất nhiều. Lời cầu nguyện với các Thánh bổn mạng vẫn còn, thắp nến cầu nguyện trong mùa thi. Ngoài ra còn có các cuộc họp dành riêng cho việc chữa lành trong các cộng đoàn, các giáo xứ.

Đức Mẹ Maria

Lòng tôn kính Đức Mẹ luôn có tính sáng tạo. Trong giáo phận nơi tôi đi nghỉ ở Breton, có cuộc đi bộ kéo dài sáu tuần với cỗ xe “Đức Mẹ Pháp”. Vì sao lại có sức mạnh này? Vì giáo dân tin Đức Mẹ “dọn dẹp” những nơi Mẹ đi qua… Một hành trình từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9 năm 2024, trên 7 con đường ở Pháp dưới sự che chở của 7 thánh lớn, 7 tuần trước khi đến Nhà thờ Đức Bà Paris… Rất nhiều thông báo mời gọi giáo dân đọc kinh Mân Côi ở quảng trường công cộng để cầu nguyện cho nước Pháp, cho người có tội trở lại, cho những xúc phạm đến Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria.

Trong các thánh đường được cung hiến, sự gắn bó với những lần Đức Mẹ hiện ra xa xưa và gần đây mạnh mẽ hơn bao giờ hết, cũng như niềm tin tưởng tuyệt đối – hay cả tin – vào những thị kiến và những phép lạ đi kèm. Rôma thường tỏ ra miễn cưỡng về các vấn đề này (trường hợp nổi tiếng nhất là Mễ Du), nhưng vô ích: nhu cầu về những khải tượng, phép lạ, những điều mặc khải là vô tận trong thế giới công giáo và mỗi hiện tượng phi thường đều có những người theo dõi, những người thường không khoan nhượng (bằng những hậu quả rất vật chất), đến mức gần đây (tháng 5 năm 2024), vì không thể kiềm chế được sự lạm phát của điều phi thường (siêu nhiên) trong cuộc sống hàng ngày, Bộ Giáo lý Đức tin đã ban hành “các hướng dẫn và tiêu chuẩn rõ ràng” để đánh giá các lần Đức Mẹ hiện ra và các sự kiện siêu nhiên khác.

Trong khi các thánh được gọi là các thánh “bình dân” duy trì hào quang của họ ít nhất trong thời gian diễn ra các lễ hội hàng năm và trong khu vực của họ, chúng tôi nhận thấy có những ‘thánh’ mới khơi dậy lòng kính mến nhiệt tình: đặc biệt là Chân phước Carlo Acutis, thiếu niên người Ý qua đời vì bệnh bạch cầu năm 2006 khi 15 tuổi, được phong chân phước năm 2020. Chân phước Carlo là tông đồ nhiệt thành của Bí tích Thánh Thể và là người có lòng kính mến Đức Mẹ, “người phụ nữ duy nhất trong đời Carlo Acutis”. Việc phong thánh cho Chân phước Carlo năm 2025 (sau khi Giáo hội công nhận phép lạ cần thiết để phong thánh) chắc chắn sẽ là cơ hội để tổ chức các lễ kỷ niệm long trọng, ngay cả ở Pháp, nơi cuộc đời, thánh tích và “các phép lạ Thánh Thể” của Carlo Acutis đã được triển lãm ở nhiều nơi.

“Mộ đạo” là gì? Và thế nào là “phổ biến”?

Chúng ta có nên kết luận từ những thực hành cũ và mới này là “sự trở lại lớn lao của lòng mộ đạo bình dân” không? Chắc chắn phần lớn lòng đạo đức là của những giáo dân ngoan đạo, cả khi các giám mục và linh mục vui vẻ tham gia sự kiện này để khuyến khích các sáng kiến giúp họ về vật chất và tinh thần. Chúng ta cũng có thể hiểu vì sao báo Le Figaro-Magazine hoan nghênh “sự trở lại vĩ đại” này, trái ngược với suy nghĩ cho rằng “những người đương thời của chúng ta đang tức giận tôn giáo”. Rốt cuộc thì tôi cũng có thể vui mừng vì điều này, nhưng “sự trở lại” thực sự ở đây là gì?

Trước tiên, chúng ta hãy xua tan một quan niệm sai lầm: không hề “chọc giận” những người đương thời với tôn giáo, không làm họ lạc lối một cách dứt khoát “trong những khúc quanh của xã hội tiêu dùng”, xã hội ngày nay rất thuận lợi cho việc giữ đạo, tôn giáo có một hình ảnh đem lại niềm vui, mê hoặc, bí ẩn trong sự phẳng lặng thường ngày của cuộc sống, phần nào tối ưu hóa cho cuộc sống ngày ngày xám xịt và lặp đi lặp lại. Chưa kể đến khía cạnh cổ xưa, tình yêu với ren cũ (theo nghĩa truyền thống) mà chúng ta biết đẹp hơn rất nhiều so với sự thô tục của thời đại suy đồi này.

“Thế tục hóa”, chúng ta quên quá nhiều, ở Pháp là một xa cách với Kitô giáo, với các Giáo hội lịch sử lâu đời, với luật pháp, với thờ phượng và văn hóa của họ. Nó không loại bỏ sự quyến rũ của tôn giáo nói chung, khía cạnh đáng khao khát, hấp dẫn (và không chỉ đáng lo ngại) của thiêng liêng và bí ẩn, của thế giới hữu hình và thế giới vô hình. Theo nghĩa này, sự suy thoái của kitô giáo không dẫn đến sự trống rỗng, mà là sự tràn ngập niềm tin và đa dạng của các thực hành tâm linh, mang một cống hiến toàn cầu hóa trong thời gian và không gian về tôn giáo không chính thức. Chúng ta không còn ở ngoài lề trong cuộc chiến trực diện giữa lý trí phê phán và khoa học (được khởi ngộ) và việc duy trì đức tin vào Chúa. Những biểu hiện của lòng đạo đức bình dân thường được hoan nghênh mà không gặp khó khăn với sự thờ ơ nói chung hoặc với sự hiếu kỳ nhân từ, nó chỉ là mục tiêu tiêu cực của các phương tiện truyền thông hoặc các cá nhân đấu tranh cho chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa thế tục phản giáo sĩ hoặc khoa học gắn liền với ánh sáng của Lý trí.

Một lòng mộ đạo phổ biến mới?

 Đối với những biểu hiện quay trở lại của lòng mộ đạo công giáo điển hình, trước tiên chúng ta phải lưu ý trào lưu (hoặc làn sóng) mộ đạo chỉ liên quan đến một số lượng người có giới hạn. Ngoại trừ một số sự kiện lớn thường niên (như Cuộc hành hương quốc gia hoặc các cuộc hành hương trong khu vực đến các thánh địa truyền thống), chúng ta không thể nói có sự vội vã.  Sự “trở lại” của lòng kính mến Đức Mẹ, những kính mến khác đặc trưng của truyền thống công giáo như kính mến Bí tích Thánh Thể hoặc xin các Thánh bảo trợ chỉ nơi một số ít giáo dân công giáo (khoảng 2% ngày nay), hầu hết họ là người lớn tuổi hòa nhập xã hội, trong gia đình hoặc trong giáo xứ, theo đạo công giáo, lần hạt Mân côi, chầu Bí tích Thánh Thể, rước kiệu trong một số ngày lễ. Họ là những người giữ truyền thống, một số ít ở tuổi trung niên, có gia đình, có con cái tham dự vào sinh hoạt giáo xứ, các thanh thiếu niên (hiếm hoi) “có động lực” như các Hướng đạo sinh Châu Âu. Vì thế cái gọi là lòng mộ đạo “bình dân” chỉ quy tụ những “người công giáo tốt”, các thành viên và những người giữ đạo, những người đại diện cho hình ảnh của đạo công giáo ngày nay.

Điều này khác với các hoạt động và sáng kiến khác về “lòng mộ đạo bình dân” được chia sẻ dễ dàng với những người đại diện cho mọi tầng lớp. Họ được hưởng lợi từ sự quan tâm của giới truyền thông như nghi thức ban phép lành hàng năm cho xe máy ở nhiều nơi trên nước Pháp. Nhưng các phép lành nói chung, dù có vượt ra ngoài phạm vi của Giáo hội công giáo hay không, thì hiện đang gia tăng: các phép lành cho những địa điểm thiêng liêng và thế tục mới, cho đủ loại đồ vật (cặp sách vào đầu năm học), thú vật nuôi trong nhà… Các giám mục và linh mục sẵn sàng ban phép lành cho những sự kiện này – ngoại trừ chúc phúc cho các cặp đồng tính nam dù Vatican đã cam kết cho phép…: đây là những tiếng kêu sợ hãi!

Chúng ta cũng có thể đề cập đến cuộc hành hương đi Compostela rất phổ biến, được hồi sinh từ ba, bốn mươi năm nay: một cuộc “đi bộ” không còn dành riêng cho những người kính mến Thánh Giacôbê, bây giờ nơi này mang lợi ích với bầu khí sinh thái. Chúng ta còn thấy sự kiện “phổ biến” vượt xa ngoài đạo công giáo như Lễ hội Limousin Ostensions tôn vinh các vị thánh bảo trợ địa phương bảy năm một lần. “Ostensions” là những cuộc rước có nội dung văn hóa dân gian được các Hội mang hình nộm các thánh trên đường phố của các thị trấn và làng mạc ở Limousin. Lễ hội, được Unesco công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại, thu hút khoảng một trăm ngàn người tham dự. Lễ hội đồng thời là văn hóa, tôn giáo, thế tục, thương mại và tiêu dùng. Tuy nhiên, theo nhật báo địa phương Le Populaire du Centre ấn bản năm 2023 lưu ý, nếu “năm nay, những chiếc Limousin lại huy động được dân chúng ở Limoges, thì trọng tâm được đặt vào việc thờ phượng và người dân không cảm thấy lo lắng.” Có thể có một điểm tranh luận đằng sau nhận xét của nhà báo nhưng gợi ý khá rõ ràng việc nhấn mạnh vào bản sắc tôn giáo của các biểu tượng chắc chắn sẽ cô lập Giáo hội, tuy nhiên họ muốn tham gia đầy đủ vào “các biểu tượng” của các di tích vốn là “chứng từ của một thế kỷ- đức tin cũ” từ lâu đã thu hút một số lượng lớn người không theo đạo.

Việc đánh thức lại văn hóa dân gian mang một chiều hướng khác: chiều hướng của một văn hóa Breton được tái khẳng định, sau khi quá trình hiện đại hóa được các phong trào thanh niên Công giáo Tiến hành thúc đẩy đã giảm đi một cách mạnh mẽ, nếu không muốn nói đã bị loại bỏ, với quan điểm về một Kitô giáo quan tâm đến việc đánh dấu sự cam kết đạo đức và xã hội nhân danh Tin Mừng hơn là những giữ nghi lễ của một truyền thống “lỗi thời”.

Rõ ràng là chúng ta còn xa bất kỳ mục tiêu cải cách nào và không có gì đáng ngạc nhiên, khi Thượng Hội đồng về tính đồng nghị do Đức Phanxicô phát động cũng nhằm đưa Giáo hội thoát khỏi cuộc khủng hoảng rất nghiêm trọng mà Giáo hội đã lâm vào (và luôn luôn chìm đắm) trong các tội phạm trẻ em và lạm dụng tình dục. Thượng hội đồng không quan tâm nhiều đến tầng lớp thấp kém của giáo dân hay linh mục, bị bỏ qua một cách thuần túy và đơn giản. Về điểm này, “lòng mộ đạo bình dân” mới kết hợp với đạo công giáo bình dân cũ: tôn giáo khái niệm, tôn giáo của các thần học gia và học giả, tôn giáo của các thông điệp của Giáo hoàng, các văn bản Huấn quyền và nỗ lực “nghĩ về đức tin” kitô giáo không phải là “việc của họ”, và những cuộc cải cách của Giáo hội cũng vậy. Những cuộc tranh luận về đức tin đơn giản cũng như những thực hành dân gian và phổ biến là việc của các giáo sĩ, họ xin “Bí tích cứu rỗi”. Ở đây, chúng ta chỉ biết cầu nguyện, lần chuỗi Mân Côi, chầu, đi kiệu, làm phép, hành hương, thắp nến…

Các tỷ phú giải cứu

Ngoại trừ việc “lòng mộ đạo bình dân” ngày nay không còn là “đạo công giáo bình dân” của ngày hôm qua, thường ở bên lề giáo xứ hoặc giữ đạo “theo mùa”, dùng các nghi thức và sự trợ giúp “hữu ích”. Bằng chứng nghịch lý của việc này là các tỷ phú giàu có và bảo thủ nhất trong đạo công giáo ở Pháp ủng hộ lòng mộ đạo bình dân mới này. Chắc chắn sự xuất hiện tự phát trên nền tảng của một xã hội trong thời kỳ thuận lợi của một thể chế Giáo hội suy yếu và suy thoái, nhưng khi nhìn Thượng Hội đồng đang tranh cãi về những cải cách mà lòng đạo đức bình dân không được sử dụng, chúng ta dần dần thấy hoặc học được mức độ phổ biến này, lòng đạo đức cũng được hưởng lợi ít nhiều từ những phương tiện huyền bí, vật chất và tinh thần để bảo đảm cho sự phát triển và biểu hiện của nó. Trong trường hợp này, sự hỗ trợ sẽ không vô tư hoặc trung lập, vì nó đến từ các tỷ phú công giáo như ông Vincent Bolloré và Pierre-Édouard Stérin, những người ngoan đạo theo chủ nghĩa truyền thống, những người cung cấp tài chính cho các công trình và sự kiện công giáo, một số được Chính phủ, Hội đồng Giám mục tổ chức hoặc bảo trợ. Và họ có thể không phải là những người duy nhất…

Vì thế chúng ta được biết Holy Games, nhóm hoạt hình Công giáo được thành lập để hỗ trợ Thế vận hội Olympic đã được Quỹ Công ích của ông Pierre-Édouard Stérin tài trợ. Cũng vậy với các “các khoản bảo trợ mới” giúp giáo dục ngoại khóa cho các trẻ em trong giáo xứ. Tháng 5 năm 2024, Quỹ Stérin cũng tài trợ cho “Đêm của những người có ảnh hưởng kitô giáo” được tổ chức trong khuôn viên của Hội đồng Giám mục Pháp, một sáng kiến của tu sĩ Dòng Đa Minh Paul-Adrien d’Hardemare, nhà hoạt động “youtuber”, cũng được ông Pierre-Édouard Stérin hỗ trợ. Còn ông Vincent Bolloré tổ chức các cuộc rước kiệu Đức Mẹ để cứu nước Pháp qua hiệp hội Maria Nadarét. Chính những mối liên hệ trực tiếp, cởi mở và mang tính chiến đấu của họ với phe cực hữu chính trị, đặc biệt là của ông Éric Zemmour, cũng như với Cuộc mít tinh toàn quốc của bà Marine Le Pen đã đặt vấn đề. Như ông Pierre-Louis Choquet viết: “Một số giáo dân giàu có nhờ nắm vững các quy tắc của chủ nghĩa tư bản tài chính và nhờ tài sản của họ, để tái định vị Giáo hội trong một khu vực phản hiện đại và ủng hộ doanh nghiệp. Nếu hôm nay, họ đầu tư vào truyền thông, tài trợ cho các công tác xã hội, gây ảnh hưởng đến việc chăm sóc mục vụ và thậm chí ghi dấu ấn trong lĩnh vực chính trị bằng cách “tiếp thêm sinh lực cho quyền lực”, họ sẽ ngăn cản điều gì khi tiền của Giáo hội giảm đi không còn gì – để tài trợ cho các chủng viện và cho ghế thần học Công giáo?”

Liệu những tỷ phú này có thành công trong việc tái tạo lại nước Pháp Thiên chúa giáo, “trưởng nữ của Giáo hội” theo tiêu chuẩn mà họ mơ ước không? Không có gì bảo đảm, nhưng nỗi sợ hãi khi nhìn thấy sự xuất hiện của một đạo công giáo mà không có cải cách (khi đạo đang rơi vào một cuộc khủng hoảng rất sâu sắc), với ít tư tưởng tự do và nhiều lòng mộ đạo bình dân được tài trợ, không may là không hoài công.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tổng thống Zelensky tìm sự giúp đỡ của Vatican để giải thoát con tin Ukraine ở Nga

Tổng thống Zelensky tìm sự giúp đỡ của Vatican để giải thoát con tin Ukraine ở Nga

Cuộc gặp ngày thứ sáu 11 tháng 10 là cuộc gặp thứ tư giữa Tổng thống Volodymyr Zelensky và Đức Phanxicô | © Truyền thông Vatican

cath.ch, I.Media, 2024-10-11

Sáng thứ sáu 11 tháng 10, Đức Phanxicô tiếp Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky. Đây là lần thứ tư Đức Phanxicô gặp Tổng thống Zelensky, quan hệ có vẻ xa cách kể từ khi Nga phát động cuộc tấn công vào Ukraine ngày 24 tháng 2 năm 2022.

Tổng thống Zelensky đến Vatican lúc 9:35 sáng với 30 xe hộ tống và một trực thăng ở vị trí tĩnh trên bầu trời Rôma để đảm bảo an ninh. Buổi tiếp kiến dài 35 phút.

Ông Matteo Bruni, Giám đốc Văn phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết Đức Phanxicô đã nói về hòa bình và quan tâm của ngài với những em bé đã mất nụ cười trong chiến tranh. Ngoài các văn bản về hòa bình, ngài tặng Tổng thống Ukraine một tác phẩm bằng đồng có tựa đề “Hòa bình là một bông hoa mong manh”.

Tổng thống Zelensky mặc quân phục truyền thống với tư cách là người đứng đầu quân đội của một quốc gia đang có chiến tranh, ông tặng Đức Phanxicô bức tranh “Vụ thảm sát Boutcha”. Tác phẩm này liên quan đến vụ thảm sát 637 thường dân do quân đội Nga gây ra tháng 3 năm 2022 tại thị trấn nằm phía tây bắc Kiev.

Bức tranh “Vụ thảm sát Boutcha” là bức tranh ghi lại 637 nạn nhân bị quân đội Nga tàn sát trong thời gian họ chiếm đóng thành phố | DR

Trên tài khoản Twitter, Tổng thống Ukraine giải thích: “Vấn đề người dân bị giam cầm của chúng tôi được về nhà là vấn đề trọng tâm của tôi khi tôi nói chuyện với Đức Phanxicô. Chúng tôi trông cậy vào sự giúp đỡ của Tòa thánh để người dân bị Nga bắt làm tù binh được về nhà. Vấn đề này quá đau đớn cho người dân Ukraine.”

Lo ngại cho tự do tôn giáo ở Ukraine

Sau đó, tổng thống Zelensky nói chuyện với hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin, ngài đã đi Ukraine mùa hè vừa qua. Trong một thông cáo báo chí ngắn gọn, Hồng y cho biết buổi gặp ngày 11 tháng 10 nói về “tình trạng chiến tranh và tình hình nhân đạo ở Ukraine, các cách thức có thể chấm dứt để có một hòa bình công bằng và ổn định cho đất nước. Một số câu hỏi liên quan đến đời sống tôn giáo cũng đã được đề cập đến. Đề cập này có thể liên quan đến luật cấm Giáo hội Chính thống liên kết với Tòa Thượng phụ Moscow, một thái độ bị Tòa thánh cho là xâm phạm đến tự do tôn giáo.

Tổng thống Zelensky nói chuyện với hồng y Quốc vụ khanh Pietro Parolin

Trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật 25 tháng 8, Đức Phanxicô lên tiếng: “Xin đừng trực tiếp hoặc gián tiếp bãi bỏ bất kỳ Giáo hội Kitô giáo nào! Chúng ta không chạm vào các Giáo hội!”, vài ngày sau cuộc bỏ phiếu của Quốc hội Ukraine về một đạo luật bắt buộc các giáo xứ của Giáo hội Chính thống còn liên kết với Thượng phụ Matxcơva phải tìm một liên kết khác trong vòng chín tháng.

Mối quan hệ tương phản giữa Ukraine và Tòa Thánh

Cuộc gặp ngày 11 tháng 10 năm 2024 là cuộc gặp thứ tư giữa Tổng thống Volodymyr Zelensky và Giáo hoàng Phanxicô. Được bầu năm 2019, Tổng thống Ukraina  đã đi Vatican lần đầu ngày 8 tháng 2 năm 2020, ngay trước thời điểm bị cách ly vì Covid-19.

Sau khi tạm ngừng đi gần một năm sau cuộc tấn công của Nga ngày 24 tháng 2 năm 2022, Tổng thống Zelensky đã được Đức Phanxicô tiếp ngày 13 tháng 5 năm 2023, trong buổi tiếp kiến này, hai nhà lãnh đạo đồng ý về “sự cần thiết phải tiếp tục những nỗ lực nhân đạo để giúp đỡ người dân”.

Được chương trình truyền hình Ý RAI phỏng vấn tối hôm đó, Tổng thống Ukraine bác bỏ ý tưởng hòa giải của Tòa Thánh, nhấn mạnh kế hoạch hòa bình phải đến từ chính người Ukraine.

Cuộc gặp cuối cùng của tổng thống Zelensky và Đức Phanxicô là ngày 14 tháng 6 vừa qua tại Bari, bên lề hội nghị thượng đỉnh G7 do Thủ tướng Ý Giorgia Meloni tổ chức. Cuộc gặp chỉ kéo dài vài phút. Sau đó Tổng thống cám ơn Đức Phanxicô về “lời cầu nguyện cho hòa bình ở Ukraine và cam kết nhân đạo của ngài với người dân của mình”.

Mối quan hệ giữa Ukraine và Tòa Thánh qua nhiều giai đoạn khủng hoảng và tranh cãi, do đường lối muốn mở con đường liên lạc với Nga. Từ năm 2023, cuộc hòa giải được Hồng y Matteo Zuppi đảm nhiệm, ngài đã đi Kiev, Matxcơva, Washington và Bắc Kinh để giúp giải phóng con tin và tù nhân, được chính phủ Ukraine đánh giá cao.

Sau khi trao trả mười tù nhân – trong đó có hai linh mục công giáo – tháng 6 vừa qua, tổng thống Zelensky đã cám ơn Vatican trong vai trò trung gian này.

Một hồng y Ukraine

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, ngày 6 tháng 10, Đức Phanxicô phong Giám mục Mykola Bychok giáo phận Melbourne của người Ukraine (Úc) làm hồng y, nhưng không phong Giám mục Sviatoslav Shevchuk đứng đầu Giáo hội công giáo hy lạp. Lựa chọn này được giải thích là do Đức Phanxicô không muốn đụng chạm trực tiếp với Matxcơva, nhưng cũng do lo ngại về sự cân bằng nội bộ với người công giáo la-tinh ở Ukraine, một nhóm thiểu số so với người công giáo hy lạp.

Hợp tác với Ý

Chuyến đi của tổng thống Zelensky đến Rôma cũng nhằm mục đích tăng cường hợp tác với chính phủ Ý. Tổng thống được Thủ tướng Giorgia Meloni tiếp tối thứ năm 10 tháng 10. Trong một tuyên bố đăng trên tài khoản Twitter, Tổng thống giải thích ông muốn “củng cố vị thế và quan hệ của Ukraine với các đối tác thân cận nhất, đảm bảo các điều kiện cần thiết và bầu khí công bằng cho một hoạt động ngoại giao trung thực”.

Đề cập đến sự hỗ trợ của chính phủ Meloni về mặt quân sự và kinh tế, tổng thống Zelensky hoan nghênh việc tổ chức hội nghị tiếp theo về phục hồi Ukraine sẽ được tổ chức tại Ý vào năm 2025, sẽ có 77 quốc gia và gần 500 công ty tham dự. Tổng thống Ukraine phát biểu: “Thật quý giá khi chúng tôi có những người bạn đáng tin cậy như vậy”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Marie-Jo Thiel: “Không thể viện dẫn Kinh thánh cũng như truyền thống Giáo hội để buộc các linh mục phải sống độc thân”

Marie-Jo Thiel: “Không thể viện dẫn Kinh thánh cũng như truyền thống Giáo hội để buộc các linh mục phải sống độc thân”

Một chủ đề tranh luận không ngừng, đời sống độc thân của các linh mục kết tinh những hiểu lầm. Theo thần học gia Marie-Jo Thiel, bà đã viết một quyển sách về vấn đề này, luật không còn tính bắt buộc nhưng là tùy chọn. Có nguy cơ mất đi điều gì làm nên sự độc đáo của Giáo hội la-tinh không?

lavie.fr, Sixtine Chartier, 2024-10-09

Thần học gia Marie-Jo Thiel / Hình ảnh – JEAN MARMEISSE

Trong một thế giới tục hóa, việc linh mục độc thân tạo khó hiểu và hiểu lầm. Thậm chí còn hơn thế nữa vì các vụ bạo lực tình dục trong Giáo hội đã ngập tràn trên tin tức. Gần đây vụ Abbé Pierre đã làm mọi người ghê tởm. Trong Giáo hội, vấn đề này thường được giáo dân đặt lên bàn thảo luận, đặc biệt khi Đức Phanxicô loại nó ra khỏi các cuộc thảo luận của Thượng Hội đồng.

Là bác sĩ và là thần học gia, bà Marie-Jo Thiel viết quyển sách Ân sủng và Trọng lực (La Grâce et la Pesanteur, nxb. Desclée de Brouwer). Bà nghiên cứu nền tảng và những biện minh cho kỷ luật tình dục được các giáo sĩ từ thời Trung cổ áp dụng. Bằng ngôn ngữ uyên bác nhưng dễ tiếp cận, bà kêu gọi một tiến hóa, đi ngược lại truyền thống của Giáo hội. Bà giải thích trên báo La Vie.

Quần chúng nghĩ có mối liên hệ trực tiếp giữa đời sống độc thân của các linh mục và bạo lực tình dục của một số linh mục, như vụ Abbé Pierre gần đây. Như thế là hiểu lầm sao?

Thần học gia, bà Marie-Jo Thiel: Đúng, rõ ràng như vậy. Ủy ban Độc lập về các vụ Lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp (Ủy ban Ciase) giải thích rõ ràng, đời sống độc thân không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến lạm dụng, nhưng là một phần trong cái nhìn nào đó về linh mục có thể tạo điều kiện cho lạm dụng sinh sôi. Sống như vợ chồng không bao giờ ngăn được tội bạo lực. Dù vậy, hiểu lầm vẫn tiếp diễn. Nhưng tôi nghĩ chính Giáo hội góp phần duy trì khi nhầm lẫn giữa độc thân, tiết dục và khiết tịnh.

Trong thực tế, đức khiết tịnh liên quan đến tất cả mọi người dù bậc sống của họ là gì. Thần học gia Xavier Theuvenot đã nói rõ ràng: castus (khiết tịnh) ngược với incastus (loạn luân). Loạn luân là không được hợp nhất, là phải cắt đứt. Tiết dục là kiêng quan hệ tình dục. Độc thân là không kết hôn. Vì thế chúng ta có thể sống độc thân mà không cần phải khiết tịnh và tiết dục.

Đức Phanxicô: “Abbé Pierre là tội phạm khủng khiếp”

Trong quyển sách của bà, bà nghĩ Giáo hội phải về với nghĩa vụ độc thân của các linh mục. Hành trình cá nhân của bà về chủ đề này là gì?

Tôi được giáo dục trong môi trường công giáo với ý tưởng bất kỳ đời sống thánh hiến nào cũng là một ân sủng đặc biệt, đến mức đôi khi tôi quên hôn nhân cũng là một ân sủng. Sau đó, tôi phát hiện các vụ tai tiếng tuyệt đối về những người thánh hiến hoặc các linh mục phạm tội lạm dụng. Điều này làm tôi tự đặt câu hỏi: đời sống độc thân có liên quan gì đến nó không? Dần dần, tôi nhận ra có nhiều yếu tố góp phần tạo những hành vi lạm dụng này, nhưng cũng có nhiều yếu tố góp phần vào việc che giấu. Chúng ta phải rất rõ ràng: đời sống độc thân không liên quan trực tiếp đến việc lạm dụng. Nhưng đó là một trong những yếu tố có thể phối hợp với những yếu tố khác để góp phần tạo bạo lực trên trẻ vị thành niên hoặc với những người dễ bị tổn thương.

Làm sao đời sống độc thân phù hợp với cơ chế mục nát này?

Nền văn hóa giáo sĩ đặt linh mục lên trên giáo dân với sự bất cân xứng có thể là dốc trơn trượt dẫn đến nguy cơ bạo lực tình dục. Văn hóa này được ủng hộ bởi luật buộc sống độc thân, đặt họ lên bệ thờ trong quan hệ với giáo dân, được sự hỗ tương của họ, đôi khi cảm giác ưu việt làm cho giáo dân bị ấu trĩ hóa. Thêm vào đó họ có quá nhiều quyền lực, thường xuyên làm họ bị suy yếu, họ phân biệt đối xử với phụ nữ, và khó công nhận tính dễ bị tổn thương của chính mình… tất cả những yếu tố này phối hợp với nhau góp phần tạo nên chiều hướng “có hệ thống” được báo cáo Ciase nói rõ.

Theo Ủy ban Sauvé, tình dục vẫn là một chủ đề cấm kỵ trong Giáo hội

Nhưng bậc sống độc thân được một số linh mục đón nhận nồng nhiệt.

Đó là ơn được Thiên Chúa ban! Vì thế tựa đề của tác phẩm đảo ngược tựa đề quyển sách của triết gia Simone Weil: ân sủng, theo nghĩa ơn của Chúa đi trước sự nặng nề của xác thịt và thế gian, Thiên Chúa kêu gọi thời gian và ngược thời gian. Nhưng như Thánh Tôma Aquinô đã nói, ân sủng bao hàm bản chất. Điều này có nghĩa là nó phải mang lấy tính xác thịt, phải nhập thể để sinh hoa trái. Do đó, nó không thể tách rời khỏi trọng lực hấp dẫn chống lại nó, nhưng còn để kích thích nó. Sức hấp dẫn có thể được nâng lên nhờ tác động của ân sủng. Nếu ai được Thiên Chúa kêu gọi sống độc thân, tạ ơn Chúa! Nhưng tùy thuộc từng người. Ân sủng của Thiên Chúa luôn nảy mầm một cách độc đáo trong tâm hồn mỗi con người.

Ngoài vấn đề lạm dụng, bà xem lại các nền tảng của đời sống độc thân của các linh mục. Bà cho rằng ngày nay chúng không còn hoàn toàn có giá trị nữa. Vì sao?

Quyển sách của tôi không nói về đời sống độc thân của các linh mục, nhưng về nghĩa vụ sống độc thân. Vấn đề này không phải là giáo điều nhưng là kỷ luật. Vì thế yêu cầu về đời sống độc thân không phải là bất biến. Và việc xem lại nó có còn hợp lý hay không là hợp pháp. Bây giờ sau khi xem xét chi tiết, sau khi nhận định, tôi đi đến kết luận độc thân là một lựa chọn khả thi của một số người, nhưng việc trở thành linh mục không bắt buộc phải độc thân.

Truyền thống Giáo Hội từ những cộng đồng kitô giáo đầu tiên như thế nào?

Theo tôi, cả Kinh thánh lẫn truyền thống Giáo hội đều không thể được viện dẫn để buộc các linh mục phải sống độc thân. Chúa Giêsu đã cư xử một cách cực kỳ cởi mở với những người nam nữ ở thời đại của Ngài. Ngài tương đối hóa mạnh mẽ mọi liên quan đến việc thánh hóa tôn giáo: với Ngài, trái tim con người là trên hết chứ không phải ngày Sabát. Thánh Phaolô là một trong những người đầu tiên hiểu, ngài tổ chức các cộng đồng kitô giáo đầu tiên vào khoảng 20 năm sau khi Chúa Giêsu qua đời, dựa trên sự bình đẳng trong phép rửa tội.

Nữ thần học gia Marie-Jo Thiel được vinh danh vì công việc chống lạm dụng trong Giáo hội

Sau khi Thánh Phaolô qua đời, một lần nữa giá trị của phụ nữ bị giảm sút, càng ngày họ càng bị loại trừ, xa bàn thờ, phụ nữ bị cho là ô uế… Vào khoảng năm 200, đồng trinh được cho là cao hơn hôn nhân, hôn nhân bị cho là không đủ tư cách. Văn hóa tu viện ngày càng phát triển, văn hóa này được dùng để làm gương mẫu cho việc ưu tiên đời sống độc thân của các giáo sĩ. Và vào giữa thế kỷ thứ 3, những người cố gắng duy trì sự tiết dục, khiết tịnh và độc thân được cho là cao hơn giáo dân. Việc họ làm chủ được tình dục là dấu hiệu cho thấy sự làm chủ là cần thiết cho việc quản trị Giáo hội.

Bà nghĩ chúng ta có nên quay về mô hình ban đầu của Thánh Phaolô để tách rời bậc sống độc thân khỏi quyền lực giáo hội không?

Bằng cách duy trì tình trạng độc thân bắt buộc với các linh mục, chúng ta duy trì sự khóa chặt quyền lực-tình dục-giới tính, vốn là nguồn gốc của quyền lực giáo sĩ trong Giáo hội. Khi Thánh Phaolô xây dựng cộng đồng đầu tiên của ngài dựa trên sự bình đẳng trong phép rửa tội và sự đa dạng của các đặc sủng. Điều này làm giảm các mối quan hệ bất đối xứng giữa giáo sĩ và giáo dân và mở ra sự hợp tác. Công đồng Vatican II đã cố gắng trình bày điều này trong Hiến chế Tín lý về Hội thánh Lumen Gentium, nhưng đã không theo được trực giác của mình, vì cần phải tìm ra những thỏa hiệp giữa người cấp tiến và người bảo thủ.

Chủ đề này không nằm trong chương trình nghị sự của Thượng Hội đồng, phiên họp thứ hai đã khai mạc tại Rôma ngày 1 tháng 10 với các giám mục (và một số giáo dân) từ khắp nơi trên thế giới. Bà có tiếc không?

Tình trạng các mục vụ và vấn đề về đặc sủng vẫn còn trong chương trình, vì thế vấn đề truyền chức cho các ông đã lập gia đình không bị loại trừ hoàn toàn. Nhưng trên thực tế, Giáo hội chỉ có thể tự cải cách bằng cách suy ngẫm về cách đọc Kinh thánh mới liên quan đến các mục vụ và đoàn sủng. Chúng ta nên tách biệt đặc sủng độc thân khỏi đặc sủng chức linh mục.

Con đường gập ghềnh của Thượng Hội đồng: Đức Phanxicô muốn thay đổi Giáo hội như thế nào

Việc những người đương thời không còn hiểu việc sống độc thân bắt buộc là một trong những cánh cửa dẫn đến việc xin có một  thay đổi kỷ luật. Có phải sự lệch thời này là một cách tiên tri tốt không?

Tôi không nói ngược lại. Cuộc sống độc thân có tính chất lật đổ chủ nghĩa tiêu dùng trong thế giới chúng ta. Đó là dấu hiệu của lời kêu gọi theo sự tận căn của Phúc Âm. Tôi cho rằng đời sống độc thân có thể là trọng tâm của quan điểm này. Nhưng chúng ta không được đưa lý tưởng linh mục đi quá xa bằng cách đòi hỏi việc này với những người không có khuynh hướng này. 

Hình ảnh linh mục hiến dâng đời mình cho Tin Mừng gắn liền với đời sống độc thân. Chúng ta có mạo hiểm thay đổi khi tách chức linh mục với đời sống độc thân không?

Nếu bà hỏi các linh mục đã kết hôn trong Giáo hội công giáo la-mã – vì có một số trong Giáo hội phương Đông, các ông góa bụa hoặc mục sư của các Giáo hội khác chuyển sang Giáo hội công giáo -, cuối cùng chúng ta nhận thấy cuộc sống gia đình không có vấn đề gì. Những người bình thường sẽ nói với chúng ta điều này giúp linh mục hiểu họ hơn. Và chức linh mục có thể cùng tồn tại với một nghề, miễn là nó không quá xâm phạm, nghề nghiệp là một sinh kế.

Nhật ký Thượng Hội đồng: Lời kêu gọi hoán cải của Thượng hội đồng

Hôn nhân có miễn được tình trạng mệt mỏi hay cô đơn không?

Chúng ta cũng đừng lý tưởng hóa hôn nhân! Giống như cuộc sống độc thân, hôn nhân không phải là dòng sông dài yên tĩnh. Nhưng cả hai đều là những con đường để đi. Và việc linh mục buổi tối có thể chia sẻ niềm vui với người bạn đời có thể giúp họ bớt căng thẳng.

Bà đề xuất một giải pháp là truyền chức cho các ông đã lập gia đình (viri probati) giống như các Giáo hội Đông phương, hiện nay trong các Giáo hội này, các linh mục chưa lập gia đình được xem trọng hơn các linh mục đã kết hôn. Độc thân luôn là một yếu tố của thứ bậc.

Đối với mô hình Đông phương, tôi thích mô hình đoàn sủng quay trở lại sự bình đẳng trong bí tích rửa tội. Đời sống độc thân là một trong những cánh cổng khả thi để phi giáo sĩ hóa Giáo hội, nhưng nó không phải là cánh cổng duy nhất. Chúng ta đừng quên chúng ta ở trong một hệ thống nơi tất cả các yếu tố hoạt động tương tác nhau. Khi bạn kéo một sợi chỉ, toàn bộ quả bóng sẽ ở phía sau: mục vụ, phụ nữ, chăm sóc mục vụ và cả vấn đề đọc Kinh thánh, luôn được đọc theo căn tính của người đọc.

Bà là thần học gia nhưng cũng là bác sĩ. Kỹ năng bác sĩ mang lại cho bà điều gì?

Quá trình đào tạo y khoa cho tôi những hiểu biết về hoạt động của cơ thể và tâm lý. Nó luôn ẩn sâu trong cách nhận thức của tôi, ngay cả khi nó không xuất hiện đầu tiên. Điều này rất cần thiết vì chúng ta có thể nhanh chóng suy luận một cách trừu tượng. Ngoài y học, khoa học nhân văn còn góp phần vào hoạt động của cơ thể con người. Chúng rất cần thiết để hiểu con người một cách tổng thể. Bởi vì chính con người phức tạp này là lời của Chúa Kitô: “Hãy theo Ta!”

Ân sủng và Trọng lực, Marie-Jo Thiel, nhà xuất bản Desclée de Brouwer.

Marta An Nguyễn dịch

Một bài học từ Thượng Hội đồng: tìm lại cảm giác chờ đợi

Một bài học từ Thượng Hội đồng: tìm lại cảm giác chờ đợi

Osservatoreromano.va, Alessandro Gisotti, 2024-10-10

Đèn Giáng sinh đã có ở một số ban-công và các cửa kiếng nhà hàng ở Rôma. Mùa hè sắp hết nhưng vẫn có những người chờ một mùa nghỉ mới, giảm thời gian chờ đợi giữa những kỳ nghỉ tiếp nhau. không quan trọng thời gian này là bao nhiêu ngày trên lịch. Thêm nữa, như chúng ta đã thấy từ nhiều năm qua, chúng ta chưa kịp mua bán Giáng sinh thì đã thấy quả trứng Phục sinh đầu tiên xuất hiện. Nhưng vì sao chúng ta lại thích sống trong bối cảnh mà các bảng hiệu và đồ vật – từ ánh đèn đến các sản phẩm, thực phẩm trong cửa hàng – luôn nhắc đến một dịp để ăn mừng? Có lẽ vì chúng ta không còn muốn chờ đợi nữa, nhất là chúng ta không muốn chờ đợi những điều mình quan tâm, chúng ta không còn nhận ra giá trị của thời gian trôi qua, điều này làm những gì chúng ta mong muốn có càng trở nên đáng khao khát hơn. Bây giờ chúng ta muốn mọi thứ có ngay lập tức. Và sau khi mọi thứ này kết thúc, được tiêu thụ quá nhanh, chúng ta tiếp tục nhìn “mọi thứ” khác, những thứ cũng sẽ biến mất nhanh chóng.

Trong vài thập kỷ nay, chúng ta đã là một phần của một xã hội trong đó tốc độ là khía cạnh áp đặt và ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Và điều này đã đạt đến mức khác thường ở một số nơi trên thế giới. Chúng ta chế tạo xe hơi nhanh hơn, tàu cao tốc nhanh nhất. Chúng ta chế tạo các  máy tính ngày càng nhanh nhất. Và cả thức ăn cũng phải nhanh! Câu tục ngữ cổ đã nói: “Rôma không được xây dựng trong một ngày: “ Nhưng bây giờ chính xác đó là điều chúng ta mong muốn: “Rôma trong một ngày”. Trong cái máy ly tâm này, mong chờ dư thừa đều bị loại bỏ không thương tiếc, mọi gián đoạn bị cho là vô ích, nhưng chúng ta đã đánh mất quá nhiều thứ đã cùng đi, cùng tra vấn con người trong hàng ngàn năm, điều này chẳng có gì ngạc nhiên vì nó là nguồn cảm hứng cho nhiều kiệt tác vĩ đại nhất của nhân loại: sự chờ đợi. Niềm tin tưởng chờ đợi điển hình là hình ảnh người nông dân gieo hạt trong Tin Mừng. Ông không biết hạt giống ông gieo có sinh hoa trái không, nhưng ông vẫn tiếp tục chăm sóc đất đai, không nản lòng chờ mùa thu hoạch đến.

Ngay cả Giáo hội, xuyên qua lịch sử và đồng hành với giáo dân ở mọi thời đại, cũng có thể có nguy cơ hấp thụ tinh thần thời đại không cho phép dừng lại, chứ không hẳn chỉ chờ đợi. Cuối cùng, ngay cả trong Giáo hội – trong các giáo xứ cũng như trong mọi thực tại lớn, nhỏ của Giáo hội – chúng ta mong muốn mọi việc được giải quyết nhanh chóng. Đây là phản ứng đầu tiên (rất con người) được phát động mỗi khi có vấn đề phát sinh. Đức Phanxicô nhiều lần cảnh báo chúng ta về nguy cơ vội vàng này – rất khác với vội vàng của Tin Mừng – muốn thuyết phục chúng ta rằng không gian vượt trội hơn thời gian chứ không ngược lại.

Một nơi đào tạo cho mong chờ này, để làm quen với thời gian của người nông dân gieo hạt mà không thể gặt hái được thành quả ngay lập tức, chắc chắn là Thượng Hội đồng về tính đồng nghị. Những gì đang diễn ra ở Vatican những ngày này thực sự là giai đoạn cuối cùng (nhưng đồng thời là một tái khởi đầu) của một hành trình dài kéo dài ba năm. Một tiến trình, theo lệnh của Đức Phanxicô, không tìm kiếm những câu trả lời sẵn sàng và dứt khoát, nhưng thay vào đó là những câu hỏi cởi mở và chia sẻ để bắt đầu cuộc thảo luận. Một so sánh không đứng yên, nhưng đang chuyển động – thực tế là có tính đồng nghị – có sự chăm chỉ của Người Samaritanô nhân hậu và kiên nhẫn của Người gieo hạt nhân lành, hai mô hình cần noi theo để xây dựng một Giáo hội ngày càng có khả năng loan báo Tin Mừng.

Marta An Nguyễn dịch

Chức phó tế nữ và các linh mục đã kết hôn đang được thảo luận ở Thượng Hội đồng

Chức phó tế nữ và các linh mục đã kết hôn đang được thảo luận ở Thượng Hội đồng

cath.ch, I.Media, 2024-10-10

Geert de Cubber là phó tế vĩnh viễn duy nhất của Thượng Hội đồng | © Truyền thông Vatican

Ngày thứ tư 9 tháng 10, trong một họp báo, Phó tế vĩnh viễn người Bỉ Geert De Cubber, phó tế duy nhất tham dự Thượng Hội đồng cho biết, trong số nhiều chủ đề được nêu ra tại Thượng Hội đồng hiện nay ở Rôma, chức phó tế nữ và khả năng phong chức linh mục cho các phó tế đã kết hôn đang được thảo luận.

Bộ Giáo lý Đức tin được Đức Phanxicô ủy nhiệm nghiên cứu việc phụ nữ tham gia Giáo hội cho biết, các thành viên của Thượng hội đồng đã thảo luận vấn đề này, Phó tế Geert De Cubber trả lời báo chí: “Đây là một vấn đề tế nhị vì lẽ ra chúng tôi không được nói về chức phó tế nữ trong Thượng Hội đồng nhưng chủ đề này đã được nêu ra. Đó là lẽ tự nhiên dù chúng ta không đưa ra quyết định.” Sứ vụ đặc biệt của chức phó tế đòi hỏi phải thụ phong và dành riêng cho nam giới là một trong những chủ đề Đức Phanxicô giao cho một trong 10 ủy ban chuyên gia, các ủy ban này sẽ đệ trình công việc của họ vào tháng 6 năm 2025.

Phó tế “rất khác với linh mục”

Phó tế De Cubber người Bỉ đã lập gia đình và là cha của ba người con, cho biết điều quan trọng là phải hiểu bản chất của phó tế. Phó tế nhấn mạnh: “Phó tế rất khác với linh mục. Đó là phục vụ Giáo hội và con người, một loại mục vụ khác.” Khi được hỏi về giả thuyết cho phép phụ nữ làm phó tế ở một số nơi trên thế giới, phó tế Cubber cho biết đó là vấn đề tiến tới một cách chung “có tính đồng bộ” để “không để mất ai trên con đường”.

Chủ đề này chưa được nhất trí trong Thượng Hội đồng. Trong cuộc họp báo ngày 7 tháng 10 Giám mục Anthony Randazzo của giáo phận Broken Bay Úc cho biết: “Rất tiếc phụ nữ thường bị bỏ qua trong Giáo hội. Một thiểu số nhỏ có tiếng nói ở phương Tây đã ngăn cản việc này.”

Công việc của nhóm 5

Vào tháng 2 năm 2024, chủ đề chức phó tế nữ là một trong những chủ đề được Đức Phanxicô giao cho nhóm số 5 dưới sự chỉ đạo của bộ Giáo lý Đức tin. Trong một thông báo về tiến độ công việc trước phiên họp Thượng Hội đồng ngày 2 tháng 10, hồng y bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin Víctor Manuel Fernández khẳng định chủ đề này vẫn phải được xem xét và giải quyết và có thể thực hiện được cho một số phụ nữ.

Theo bộ Giáo lý Đức tin “không có chỗ cho một quyết định thuận lợi của Huấn quyền về việc phụ nữ tiếp cận chức phó tế được hiểu như một cấp độ của bí tích Dòng”, theo ngài, vấn đề chưa chín muồi nhưng nhóm làm việc cho rằng “công việc chuyên sâu” là khả thi.

Ngày 9 tháng 10, hồng y Fernández cho biết các nhóm làm việc đã bắt đầu “giai đoạn tham vấn” mở cho cả các phụ nữ không phải là cố vấn của thánh bộ. Ngài cho biết tất cả các thành viên và các thần học gia của Thượng Hội đồng gởi những đóng góp của họ cho Bộ trong những tháng tới.

Ngày 18 tháng 10, hai nhân viên của Bộ sẽ có mặt để nhận những suy tư về chủ đề này. Các chuyên gia của 10 nhóm sẽ làm việc ngày hôm đó.

Truyền chức cho phó tế đã lập gia đình làm linh mục?

Một cái nhìn khác về sự phát triển của chức phó tế được đề cập trong cuộc họp báo ngày thứ ba 8 tháng 10. Tân hồng y Jaime Spengler của Porto Alegre ở Brazil cho biết việc truyền chức linh mục cho các ông đã lập gia đình ở vùng Amazon đang rất cần ở những vùng lãnh thổ rộng lớn. Một câu hỏi đã thu hút sự chú ý trong Thượng Hội đồng về Amazon năm 2019.

Giám mục Spengler cho biết, đã cân nhắc hết sức thận trọng khả năng truyền chức linh mục cho các ông đã lập gia đình và đã là phó tế vĩnh viễn: “Theo thực tế những gì tôi thấy, vì thực tế thì khác, tôi nghĩ chúng ta không thể khái quát hóa từ kinh nghiệm của chức phó tế vĩnh viễn, trong tương lai không xa, liệu chúng ta sẽ thấy những phó tế này sẽ làm linh mục cho một cộng đồng cụ thể hay không,” theo ngài, vấn đề này cần được “đào sâu” hơn và đòi hỏi “lòng can đảm và khả năng cởi mở của trái tim”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các tu sĩ Dòng tu có tầm quan trọng trong Hồng y đoàn

Các tu sĩ Dòng tu có tầm quan trọng trong Hồng y đoàn

acistampa.com, Marco Mancini, 2024-10-10

Các Hồng y bên ngoài Hội trường Phaolô VI  | Daniel Ibanez CNA

Trong số 21 hồng y sẽ được phong ngày 8 tháng 12 trong công nghị lần thứ 10 của Đức Phanxicô, 11 tân hồng y (một trên hai) là các tu sĩ các Dòng.

Vì chính ngài là tu sĩ Dòng Tên nên không có gì đáng ngạc nhiên , trong các công nghị của ngài, luôn có sự hiện diện của các tu sĩ Dòng trong Hồng y đoàn. 

11 tân hồng y thuộc các Dòng

4 tân hồng y Dòng Phanxicô: 3 tu sĩ Dòng Tiểu đệ và 1 ở tu viện; 2 tu sĩ Dòng Lời Chúa, thường được gọi là Verbiti; 2 tu sĩ Dòng Đa Minh; 1 tu sĩ Dòng Tu hội Truyền giáo, 1 tu sĩ Dòng các Nhà truyền giáo San Carlo và 1 tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế.

Kỷ lục chọn hồng y trong các Dòng tu

Đức Phanxicô luôn chọn các tu sĩ Dòng vào Hồng y đoàn, nhưng lần này kỷ lục với 11 tân hồng y nhận mũ đỏ. Trong số 21 tân hồng y, 11 giám mục và linh mục của các dòng tu được phong hồng y.

Ba tân hồng y Dòng người Phanxicô (Tổng giám mục Luis Gerardo Cabrera Herrera của Guayaquil, Ecuador; Tổng giám mục Jaime Spengler của Porto Alegre, Brazil; và Giám mục Paskalis Bruno Syukur của Bogor, Indonesia); một tân hồng y Dòng Phanxicô Conventual, Tổng giám mục Dominique Joseph Mathieu sinh tại Bỉ, hiện đang làm việc ở thủ đô Iran, trước đây ngài làm việc ở Lebanon, đây là tín hiệu chính trị rõ ràng của Đức Phanxicô trong bối cảnh đe dọa của một cuộc chiến tranh toàn diện trong khu vực.

Hai nhà truyền giáo Ngôi Lời được phong hồng y là Tổng giám mục Tarcisio Isao Kikuchi của Tokyo, Nhật Bản (Giám đốc Caritas Internationalis, mạng lưới từ thiện toàn cầu của Giáo hội Công giáo) và Tổng giám mục Ladislav Nemet của Serbia.

Tu sĩ Fabio Baggio dòng Scalabri, người đứng đầu bộ phận di cư và tị nạn của Bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện cũng sẽ được phong hồng y. Tân hồng y Baggio có thể đi theo con đường cấp trên của ngài là Hồng y Dòng Tên Michael Czerny, 78 tuổi và sẽ thay thế ngài khi ngài nghỉ hưu bắt buộc ỏ tuổi 80.

Và cuối cùng là các tân hồng y Dòng Chúa Cứu Thế người Ukraine Bychok, hồng y Vincentian Vicente Bokalic Iglic của Santiago del Estero, Argentina và hai tu sĩ dòng Đaminh – Tổng giám mục Jean-Paul Vesco của Algiers, Algeria và Linh mục Timothy Radcliffe.

Việc lựa chọn linh mục Radcliffe là dấu hiệu rõ ràng hình ảnh của một người có cuộc sống trong Giáo hội công giáo. Ngài là thần học gia được đào tạo tại Đại học Oxford, cựu Bề trên Tỉnh Dòng Đa Minh, trước đây đã bị ngăn chặn khỏi một số công việc hàng đầu trong Giáo hội dưới thời Đức Gioan-Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI. Đức Phanxicô đã giao cho ngài giảng tĩnh tâm trong Thượng Hội đồng về tính đồng nghị. Ngài đã 79 tuổi và chỉ còn một năm nữa là hết quyền bầu mật nghị. Nhưng khi có chiếc mũ đỏ, ngài có thể tham dự vào các Đại hội đồng – các cuộc họp của tất cả các hồng y về hiện tình Giáo hội diễn ra trước cuộc bầu cử giáo hoàng tiếp theo – rõ ràng Đức Phanxicô muốn Linh mục Radcliffe hiện diện trong các cuộc thảo luận về tương lai Giáo hội.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Ba trục chiến lược của Đức Phanxicô trong việc chọn lựa hồng y

Ý nghĩa của việc Đức Phanxicô chọn các tân hồng y cho giáo hoàng tiếp theo

Các vấn đề nóng bỏng bên lề Thượng Hội đồng

Các vấn đề nóng bỏng bên lề Thượng Hội đồng

famillechretienne.fr, I.Media, Camille Dalma, 2024-10-08

Chức phó tế nữ, hồ sơ các giám mục, những câu hỏi gây nhiều tranh luận… Bắt đầu phiên họp thứ nhì của Thượng Hội đồng, mười nhóm chuyên gia do Đức Phanxicô thành lập trình bày tiến trình công việc của họ. Một dự án trong một dự án nhằm giải quyết các vấn đề nhạy cảm trong Giáo hội.

Cho đến ngày thứ sáu 18 tháng 10, 368 thành viên của phiên họp Thượng Hội đồng lần thứ nhì sẽ luân phiên gặp nhau trong 36 nhóm ngôn ngữ nhỏ – được gọi là “nhóm nhỏ” – mọi người có thể tự do phát biểu trong một thời gian hạn chế. Tài liệu cuối cùng sẽ được bỏ phiếu ngày thứ bảy 26 tháng 10.

Kể từ ngày 2 tháng 10, phiên họp thứ nhì của Thượng Hội đồng được bắt đầu năm 2021 nhằm mục đích làm cho Giáo hội có tính tham gia nhiều hơn và ít giáo sĩ hơn. Tinh thần của Thượng Hội đồng sẽ được áp dụng sau khi công bố Tài liệu cuối cùng, dự kiến ngày 26 tháng 10. Trong những tháng gần đây, Đức Phanxicô đã thành lập 10 nhóm làm việc và hai Ủy ban để nghiên cứu một số vấn đề được đưa ra trong phiên họp đầu tiên tháng 10 năm 2023. Nhóm 9 đang thành lập một cơ quan về phương pháp đồng nghị để phân định giáo huấn của Giáo hội về những vấn đề được gọi là “gây tranh cãi”. Nhóm cho biết các vấn đề này liên quan đến các vấn đề xã hội cũng như môi trường, tình dục hoặc bảo vệ sự sống. Không đi sâu vào chi tiết về những chủ đề nhạy cảm này, mười thành viên được Đức Phanxicô chọn đã yêu cầu có một “mô hình mới” để làm cho chân lý giáo lý và kinh nghiệm mục vụ ngang hàng nhau. Họ khẳng định: “Chỉ có sự căng thẳng hỗ tương, quan trọng và hiệu quả, giữa giáo lý và thực hành, mới thể hiện Truyền thống sống động, chống lại cám dỗ của những tuyên bố xơ cứng vô ích.”

Tiến trình bổ nhiệm giám mục

Các vấn đề tế nhị khác cũng được các nhóm khác nhau làm việc, nhóm 7 tập trung vào tiến trình bổ nhiệm các giám mục, vai trò chủ tịch nhóm được giao cho Giám mục Félix Genn, giáo phận Essen, Đức. Nhóm xin các thành viên của Hội đồng linh mục và mục vụ viết “hồ sơ” về giám mục. Ủy ban giáo luật khuyến nghị đưa vào luật Giáo hội nghĩa vụ khi thành lập các hội đồng giám mục, mục vụ và giáo xứ, phải bao gồm đa số giáo dân và có sự hiện diện đầy đủ của phụ nữ, giới trẻ và người nghèo, để có sự hiện diện của những người đã trải qua “các tình huống cá nhân và hôn nhân phức tạp”. Ủy ban gồm nhiều chuyên gia giáo luật dự tính trong các cuộc họp, giám mục hoặc linh mục giáo xứ có thể áp đặt quan điểm của họ khi điều này là cần thiết một cách hợp lý.

Nhóm 5 nghiên cứu khả năng thành lập các mục vụ mới dành cho phụ nữ. Không giống như các cơ quan khác, chủ yếu bao gồm những người tham gia Thượng Hội đồng, cơ quan này được Đức Phanxicô đặc biệt giao cho Bộ Giáo lý Đức tin và cho Bộ trưởng Hồng y Victor Manuel Fernandez. Câu hỏi gai góc về chức phó tế nữ, được cho là chưa đủ “chín muồi” đã bị loại trừ, nhưng không dứt khoát. Đức Phanxicô cho điều cấp bách hơn là phải nghĩ đến việc “mở rộng chiều kích mục vụ của Giáo hội” –  đề xuất những sứ mệnh mới cho giáo dân công giáo chưa được thụ phong. Theo quan điểm này, thánh bộ nghiên cứu hồ sơ những nhân vật kitô giáo vĩ đại, các thánh lớn, những người đã “thực thi quyền lực và thẩm quyền có giá trị và hiệu quả lớn lao” như thánh Jeanne d’Arc, Hildegard de Bingen, Madeleine Delbrêl hay Dorothy Day.

Hai lý thuyết đối lập

Tiến trình công việc của các nhóm và Ủy ban này đã được trình bày tại buổi khai mạc Thượng Hội đồng. Thành quả công việc của họ sẽ được trình cho Đức Phanxicô vào tháng 6 năm 2025. Đã có hai lý thuyết đối lập nhau về các nhóm này. Lý thuyết đầu tiên cho rằng đó là cách Đức Phanxicô loại bỏ một số chủ đề tế nhị khỏi các cuộc tranh luận trong Thượng Hội đồng tháng 10, nhằm hạn chế sự thái quá hoặc thất vọng khi kết thúc. Tuy nhiên, các nhà quan sát khác có ý kiến ngược lại, công việc của các nhóm này “không xa lạ với phương pháp đồng nghị và đặc biệt là phong cách đồng nghị”. Trong quá trình này, các thành viên đã bỏ phiếu để có thể chất vấn các trưởng nhóm, một cách để họ giữ quyền kiểm soát các vấn đề tế nhị được giải quyết ở đó và đảm bảo chúng sẽ không bị chôn vùi.

Đức Phanxicô duy trì chiều kích giám mục của Thượng Hội đồng

Trong bài giới thiệu, Đức Phanxicô cho biết: “Sự hiện diện các thành viên không phải là giám mục trong Thượng Hội đồng Giám mục không làm suy giảm chiều kích “giám mục” của Thượng Hội đồng. Ngài đảm bảo sự hiện diện của họ là dấu hiệu cho thấy giám mục “chỉ có thể phục vụ trong dân Chúa và với dân Chúa”. Tuy nhiên, ngài thừa nhận Thượng Hội đồng nhắm đến việc tìm ra những hình thức mới để thực thi chức vụ giám mục và phải được xác định đúng lúc, luôn tôn trọng kho tàng đức tin và Truyền thống sống động của Giáo hội.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Linh mục Dòng Tên Greg Boyle, người thì thầm vào tai các tay anh chị băng đảng ở Los Angeles

Linh mục Dòng Tên Greg Boyle, người thì thầm vào tai các tay anh chị băng đảng ở Los Angeles

Chứng kiến bạo lực băng đảng trong những năm 1990 ở Los Angeles, Linh mục Greg Boyle đã thành lập Homeboy Industries, một chương trình tái hòa nhập chưa từng có và đã trở thành mô hình quốc gia. Linh mục đã phải đấu tranh để áp dụng phương pháp phục hồi này, cha đã bị cảnh sát chỉ trích từ lâu.

la-croix.com, Noémie Taylor-Rosner, 2024-10-08

Linh mục Dòng Tên Greg Boyle, người sáng lập Homeboy Industries ngày 13 tháng 3 năm 2022 tại Los Angeles, California. Amanda Edwards/Getty

Mùi bắp nướng thơm phức tỏa ra từ quán cà phê Homeboy Industries ở Los Angeles, nơi các cựu tù nhân đang bận rộn bên lò bếp. Cách đó vài mét, trong một căn phòng khác của trung tâm chuyên giúp tái hòa nhập, khoảng hai mươi các cựu băng đảng cũ với đầu lâu và cánh tay đầy hình xăm đang trò chuyện trong khi chờ giờ hẹn: họ đến để xóa hình xâm của một quá khứ tội phạm.

Linh mục tại quán cà phê Homeboy Industries

Đằng sau cửa sổ văn phòng, với cặp kính tròn nhỏ và bộ râu trắng dày, người sáng lập nơi này mỉm cười quan sát tổ ong vo ve, cha ghi nhận: “Có một nguồn năng lượng đặc biệt với Homeboy. Mọi người đều chú ý khi họ bước vào.” Trên tường văn phòng là bức tranh đầy màu sắc Đức Mẹ Guadalupe bên cạnh chân dung của nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Mexico César Chávez và hàng trăm bức ảnh của những tay anh chị ăn năn từng làm việc cho Homeboy Industries.

Được thành lập cách đây hơn ba mươi năm, tổ chức này đã góp phần tái hòa nhập hơn 120.000 “Angelenos”. Mỗi năm các doanh nghiệp của linh mục – tiệm bánh, nhà cung cấp thực phẩm, xưởng in lụa và tái chế thiết bị điện tử – tuyển dụng hàng trăm cựu thành viên băng đảng. Homeboy cũng cung cấp nhiều dịch vụ miễn phí: xóa hình xăm, đào tạo, dịch vụ pháp lý hoặc các buổi trị liệu với bác sĩ tâm lý.

Hơn 200 ngôi mộ

Linh mục Boyle cho biết: “Khi chúng tôi triển khai dự án vào năm 88, chưa có chương trình tái hòa nhập nào. Phản ứng với các băng đảng chủ yếu là đàn áp. Hiện nay chúng tôi đã thành một mô hình mẫu: chúng tôi có 300 chương trình ở Hoa Kỳ và khoảng 50 chương trình khác ở nước ngoài.”

Linh mục Boyle là người gốc Ai-len, hành trình phiêu lưu của cha bắt đầu năm 1986: năm đó, vị linh mục 32 tuổi được bổ nhiệm đến Nhà thờ Truyền giáo Dolores ở Boyle Heights, giáo xứ nghèo nhất ở Los Angeles. Khu phố Latino đang qua cơn đại dịch bạo lực liên quan đến sự gia tăng của các băng đảng. Linh mục nhớ lại: “Có những vụ nổ súng vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Có lần tôi đã chôn tám đứa trẻ trong ba tuần. Thật đau đớn,” cha đã làm tang lễ cho 200 đám tang do bạo lực băng đảng gây ra.

Khi đó linh mục Boyle cố gắng nói chuyện với các người trẻ trong khu vực. Nhưng địa vị linh mục không giúp cha có được tự do trong các băng nhóm, cha phải chiếm được lòng tin của họ. Sau đó cha đi xe đạp trên các đường phố của Boyle Heights: “Tôi cố gắng học tên từng người. Tôi phải kiên trì rất nhiều để thuộc tên.”

Hai năm sau, các cố gắng của cha được đền đáp: cha phát động chương trình hỗ trợ việc làm trong nhà thờ, chương trình này rất thành công với những người trẻ của các băng đảng. Sau đó, năm 1992 cha chuyển một nhà kho bỏ hoang thành tiệm bánh, khai sinh Homeboy Bakery. Khẩu hiệu của cha: “Không có gì giống như việc ngăn chặn một viên đạn.”

Bị đe dọa giết chết

Một chương trình chưa từng có vào thời điểm đó, phương pháp phục hồi chức năng của cha đã làm dấy lên nghi ngờ. Sự hiện diện của các tay anh chị chung quanh nhà thờ làm một số giáo dân lo lắng. Cảnh sát Los Angeles xem thái độ của cha là ngây thơ, thậm chí nguy hiểm. Họ buộc tội cha không thực hiện nghĩa vụ công dân khi từ chối cung cấp thông tin cho họ. Cha làm chứng: “Trong mười năm, chúng tôi đã nhận được những lời đe dọa bỏ bom, dọa giết và thư thù hận nặc danh.”

Bất chấp áp lực, cha trung thành với các nguyên tắc của mình dựa trên linh đạo Thánh I-Nhã: “Tìm Chúa trong mọi sự và đặc biệt là bên lề xã hội”. Sự giảm sút các băng đảng ở Los Angeles và Homeboy tạo công ăn việc làm cuối cùng đã thuyết phục được những người bất đắc dĩ nhất. Cha còn duy trì tình bạn với một cựu cảnh sát trưởng quận.

Tháng 5 năm 2024, cha nhận được Huân chương Tự do, huân chương dân sự cao quý nhất ở Mỹ của Tổng thống Joe Biden. Khi nhắc tới giải thưởng danh giá này, cha khiêm tốn né tránh: “Điều làm tôi hài lòng nhất là phản ứng của các nhân viên Homeboy. Họ đến để xem buổi phát sóng sự kiện tại cơ sở chúng tôi. Sau buổi lễ, họ đều nói với tôi một điều giống nhau: ‘Nhìn cha, chúng tôi có cảm giác tấm huy chương này cũng có chút gì đó của chúng tôi’ .”

 

Kim chỉ nam của cha: Suy niệm, phương thuốc cho các xin giúp đỡ quá mức

Linh mục cho biết: “Suốt ngày, có rất nhiều người đến và đi qua văn phòng của tôi. Đôi khi tôi nói chuyện riêng với hơn trăm người mỗi ngày, họ muốn nói chuyện với tôi về vấn đề cá nhân, về những lo lắng cho sức khỏe… Để thực sự có thể tiếp tục hiện diện trong những gì tôi làm và nơi người khác, tôi suy niệm liên tục trong cuộc sống hàng ngày của tôi. Đó không chỉ là việc tôi làm một lần vào buổi sáng, trong vài phút, nhưng là thói quen của tôi suốt ngày, một hơi thở giúp tôi tập trung vì ở đây, ai cũng muốn có một chút gì đó của tôi.”

Marta An Nguyễn dịch

Thần học gia Marie-Jo Thiel: “Bắt buộc cải cách kỷ luật độc thân”

Thần học gia Marie-Jo Thiel: “Bắt buộc cải cách kỷ luật độc thân”

Đức Phanxicô và Giáo sư Marie-Jo Thiel

Thần học gia, giáo sư Marie-Jo Thiel nghĩ rằng, những người đương thời đã hiểu lầm và đã làm cho nhiều linh mục không hài lòng, chế độ độc thân bắt buộc không còn được khuyến khích và phải được cải cách gấp trong một Giáo hội đang bị suy yếu gấp đôi do cuộc khủng hoảng lạm dụng và sự suy giảm ơn gọi linh mục.

cath.ch, Ban biên tập, 2024-09-27

Việc buộc các linh mục phải sống độc thân có phải là một dấu hiệu trong một xã hội ngày càng thế tục hóa và một Giáo hội đang gặp khủng hoảng không? Trong tác phẩm Đặt vấn đề về luật độc thân bắt buộc của các linh mục (Le célibat obligatoire des prêtres en question, nxb. Desclée de Brouwer) sẽ xuất bản ngày 2 tháng 10, thần học gia người Pháp Marie-Jo Thiel nghiên cứu ý nghĩa của kỷ luật này dưới ánh sáng lịch sử, xã hội học, thần học, Kinh thánh và linh đạo. Bà mong có một tự do lựa chọn trong một Giáo hội đặc sủng và mục vụ. Độc thân là một đặc sủng không phải ai cũng có được. Vì vậy bà đặt câu hỏi “có nên duy trì luật này cho chức tư tế không?”

Ngày nay nhiều linh mục gặp khó khăn trong việc giữ đời sống độc thân. Xin giáo sư cho biết yếu tố xã hội và cá nhân nào đã thúc đẩy họ vi phạm?

Giáo sư Marie-Jo Thiel: Sự non nớt cá nhân hoặc lý tưởng hóa quá mức có thể dẫn đến vi phạm. Những yếu tố này không nhất thiết thấy rõ ở chủng viện, vì khi đó họ ở trong một môi trường được bảo vệ và được nâng đỡ. Thế tục hóa thường làm thất vọng: họ mơ Tin Mừng tác động mạnh trên giáo dân nhưng họ chẳng thấy.

Nhiều linh mục đã đi qua những chặng đường dài và họ kiệt sức, đặc biệt khi họ sống một mình, họ gặp khó khăn với chính họ, họ không được đào tạo đủ về đạo đức tính dục để điều chỉnh các xung năng của mình. Tất cả diễn ra trong một xã hội xem trọng quyền tự chủ của cá nhân và không hiểu nghĩa vụ sống độc thân. Nhiều yếu tố dần dần xuất hiện, đôi khi tạo thuận lợi cho những hành vi vi phạm, đôi khi muốn tìm an ủi nơi người thân, đàn ông hay đàn bà, vì đồng tính rất phổ biến trong môi trường giáo sĩ.

“Việc thế tục hóa thường làm thất vọng: họ mơ Tin Mừng tác động mạnh trên giáo dân nhưng họ chẳng thấy.”

Độc thân, một cơ hội để sống đồng tính của mình?

Đúng vậy, trong một thời gian dài, đời sống độc thân có thể là nơi ẩn náu cho việc sống đồng tính với điều kiện “ở trong tủ” để không bị lộ công khai. Nhưng hiện nay việc thừa nhận xu hướng tính dục mà chúng ta không lựa chọn, đặc biệt là qua hôn nhân của tất cả mọi người đã làm thay đổi tình hình. Trong tương lai, như nhà xã hội học Josselin Tricou nêu ra, những người đồng tính có thể không còn “cần” chức linh mục để che giấu!

Qua nhiều thế kỷ, tiêu chuẩn đã trở thành cứng nhắc hơn, với một số giai đoạn quan trọng mà bà viết trong chương đầu tiên: các giai đoạn chính của quá trình cứng nhắc này là gì và đã áp dụng được những gì?

Trong mười thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, các linh mục ngày càng được kêu gọi sống độc thân với giai đoạn đầu tiên ở thế kỷ thứ ba và thứ tư liên quan đến nghi lễ thanh khiết. Vào thời Trung cổ, việc quay về với các luật của Leviticus, thông đồng giữa các nhân vật Giáo hội và các nhà vua chính trị, các câu hỏi về thẩm quyền và quyền lực, sự coi thường khá phổ biến và các yếu tố khác đã dẫn đến cuộc cải cách Gregorian thế kỷ 11. Giáo hoàng Gregory VII, người mang tên cuộc cải cách này đã áp đặt quy tắc độc thân linh mục cho toàn thể Giáo hội La Mã.

Nhưng ít người mạo hiểm: không phải vì bất tuân, mà vì từ chối mô hình quân chủ được huấn quyền áp dụng. Trên thực tế, cuộc cải cách Gregorian đề xuất một mô hình Giáo hội thuộc loại quân chủ chuyên quyền, nhấn mạnh đến quyền lực và thánh thiêng. Vào thời điểm đó, các linh mục không chấp nhận điều này vì họ sống chủ yếu ở nông thôn, nơi quy định phải có gia đình, vì thế phải lập gia đình, sinh con để có người nối dõi và để truyền lại di sản.

“Chúng ta phải làm rõ: không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa đời sống độc thân và lạm dụng, chỉ có những mối liên hệ gián tiếp.”

Do đó, Công đồng Trent thế kỷ 16 đã áp đặt luật độc thân liên kết với việc thành lập các chủng viện để đào tạo linh mục. Để chống lại cuộc Cải cách, Bí tích Thánh Thể đã chiếm một vị trí đáng kể, được hiểu như một hy sinh của các linh mục để phục vụ những người thánh thiêng, những người được dành cho chức vụ này. Tất cả để củng cố tính ưu việt của tinh thần so với thế tục,  sự hạ thấp của thế tục… và như thế là mở cánh cửa cho lạm dụng. Chúng ta phải làm rõ: không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa đời sống độc thân và lạm dụng, chỉ có những mối liên hệ gián tiếp.”

Theo từ nguyên, khiết tịnh là khoảng cách quan hệ công bằng giữa con người với nhau | © Maurice Page

Để hiểu kỷ luật độc thân được dần dần áp đặt như thế nào, chúng ta phải quay trở lại với các cộng đoàn của Thánh Phaolô, với đặc điểm là mở ra và kết thúc. Chuyển động kép này đến từ đâu và diễn ra vì lý do gì?

Chúa Giêsu độc thân, nhưng Ngài không yêu cầu các môn đệ của Ngài phải độc thân. Thánh Phêrô lập gia đình. Thánh Phaolô có lẽ chưa, nhưng bối cảnh rất phức tạp. Đơn giản, các thư của Ngài mà chúng ta gọi là “tiền Phaolô” mô tả một cộng đồng có người nam người nữ đã được rửa tội, họ sống theo những thực hành và thái độ của Chúa Giêsu, những mục vụ tương tự, kể cả được hiểu là những người lãnh đạo các giáo hội địa phương. Họ không được truyền chức, nhưng Giáo hội trẻ được cấu trúc bằng việc nhìn nhận các đặc sủng khác nhau.

Tuy nhiên, kể từ sau Thánh Phaolô, các bức thư của cộng đồng của Thánh Phaolô gợi có ảnh hưởng ngày càng tăng trong bối cảnh xã hội và triết học, làm giảm bớt địa vị của phụ nữ. Thêm vào đó là ảnh hưởng của các linh mục do thái đã gia nhập Giáo hội nguyên thủy sau khi Đền thờ Giêrusalem bị phá hủy đã đánh dấu rất nhiều bởi những vấn đề về sự trong sạch mà Chúa Giêsu đã giải quyết (bằng cách chữa lành người phong cùi, chữa cho một phụ nữ bị hoại huyết, v.v.). Sự trinh khiết ngày càng có vị trí cao hơn trong Giáo hội, cũng như đời sống đan viện là “bản sao” để các linh mục bước theo. Điều này gắn liền với sự hiểu biết về thánh thiêng vốn ngăn cách linh mục và giáo dân và làm cho phải xa bàn thờ.

Tất cả những điểm này làm rối rắm và càng ngày càng rối rắm. Phải “sửa lại” một số trục trặc theo từng giai đoạn. Thường thường đó là loại thuốc cao dán lấy từ bối cảnh văn hóa chứ không phải từ việc đọc Tin Mừng vì thế các rối loạn chức năng mới mang tính hệ thống.

“Sự tiết dục có nghĩa là không quan hệ tình dục và độc thân có nghĩa là không kết hôn. Sự nhầm lẫn của họ đã tác hại sâu sắc.”

 Độc thân, nếu không có quan hệ tình dục, không phải là khiết tịnh. Khiết tịnh là gì?

Theo từ nguyên của nó, khiết tịnh đề cập đến một khoảng cách quan hệ công bằng giữa con người với nhau. Tiết dục có nghĩa là không quan hệ tình dục và độc thân có nghĩa là không kết hôn. Sự nhầm lẫn này có hại sâu sắc cho cả giáo dân và thể chế. chúng ta có thể độc thân nhưng không tiết dục và chúng ta có thể và khiết tịnh!

Giáo sư Marie-Jo Thiel | DR

Cuộc khủng hoảng mà Giáo hội công giáo phải đối diện có phải là một yếu tố gây bất ổn khác?

Việc phi kitô giáo, cuộc khủng hoảng lạm dụng, việc thiếu đối thoại giữa các linh mục và giám mục của họ, sự cô độc thường xuyên của các linh mục không muốn sống đời sống cộng đồng vì muốn độc lập, tất cả đều có thể thành bất ổn khi xã hội ngày càng phát triển rất nhanh chóng. Công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, các cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội và môi trường đang mang đến sự thay đổi mô hình và đặt ra câu hỏi về tương lai: nó sẽ như thế nào? Chức linh mục có phải là một lựa chọn đúng đắn không?

Giáo sư đề nghị xem lại thừa tác vụ thụ phong dưới ánh sáng chức linh mục chung của những người đã được rửa tội…

Chức linh mục chung của những người đã được rửa tội có quá ít  trong Giáo hội nên chúng ta không thể rút ra được những các hệ quả cần thiết, đặc biệt là với cơ cấu tổ chức giáo hội. Có mối liên hệ nào giữa chức tư tế chung và chức tư tế không? Đó là điểm thiết yếu mà Vatican II đã không có cơ hội đào sâu hơn do một nhóm bảo thủ phản kháng quyết liệt.

“Bước đầu tiên hướng tới một Giáo hội đặc sủng là phong chức cho các ông đã lập gia đình, viri probati, nhưng điều này sẽ chưa đủ”.

Một đề nghị khác: suy nghĩ về đời sống độc thân như một đặc sủng…

Thánh Phaolô đưa ra các đặc sủng để cấu trúc Giáo hội. Tại sao không nghiêm túc khám phá điểm này liên quan đến giáo hội học? Điều này sẽ góp phần xây dựng một Giáo hội đặc sủng và thừa tác: không phải một phong trào đặc sủng độc quyền các đặc sủng, mà là một Giáo hội đồng nghị thực sự và đích thực, có khả năng đối thoại, thừa nhận tất cả các đặc sủng cần thiết, không cần có sự ưu việt của một số người đã được rửa tội. Chiều thẳng đứng duy nhất chỉ có thể là của Chúa Ba Ngôi. Bước đầu tiên hướng tới một Giáo hội đặc sủng là phong chức cho các ông đã lập gia đình, viri probati, nhưng điều này sẽ chưa đủ.

Tuy nhiên theo giáo sư viết, cuộc khủng hoảng đang làm rung chuyển Giáo hội là một kairos, thời điểm thuận lợi để có thể có một cuộc đổi mới sâu sắc về thể chế. Trong cái gì?

Chúng ta có thể đón nhận thời điểm này như một kairos thực sự, nghĩa là một thời điểm thuận lợi, vì trong lịch sử Giáo hội chưa bao giờ có một giải phóng lời nói như vậy. Tuy nhiên, kể từ nay điều này lại càng mang tính quyết định hơn với các linh mục, giáo dân, nữ tu và tu sĩ, họ được đào tạo tốt hơn. Dân Chúa biết đánh giá và phân định nhiều hơn, nhờ đó góp phần vào việc tiếp nhận Kinh thánh và thực hiện Kinh thánh.

Cuộc sống độc thân bắt buộc là một kỷ luật, không phải là một giáo điều: vì thế có thể cải cách được. Giáo hội Công giáo cũng có các linh mục kết hôn…

Độc thân là một đặc sủng không phải ai cũng có được. Càng tốt nếu người nào được gọi để sống độc thân. Nhưng nếu không được, thì việc ép buộc quá mạnh hay “nhốt” họ trong đó có phải là vô nhân đạo không? Với những khó khăn trong việc tôn trọng luật độc thân, việc cải cách kỷ luật này là một điều thực sự cấp bách.

Giáo sư Marie-Jo Thiel, chuyên gia về lạm dụng trong Giáo hội

Sinh năm 1957 tại Moselle, bà là bác sĩ và giáo sư danh dự về thần học luân lý tại Đại học Strasbourg. Năm 2005, bà thành lập Trung tâm Giáo dục và Nghiên cứu Đạo đức Châu Âu và điều hành Trung tâm này cho đến năm 2022. Năm 2017, bà là thành viên của Học viện Giáo hoàng về Sự sống. Năm 2022, bà được vinh danh là tiến sĩ danh dự của Đại học Fribourg vì tất cả công việc của bà, đặc biệt là về vấn đề lạm dụng tình dục trong bối cảnh Giáo hội bà đã làm việc trong hơn 25 năm.

Đặt vấn đề về luật độc thân bắt buộc của các linh mục (Le célibat obligatoire des prêtres en question, nxb. Desclée de Brouwer)

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất