Thần học gia Marie-Jo Thiel: “Bắt buộc cải cách kỷ luật độc thân”

136

Thần học gia Marie-Jo Thiel: “Bắt buộc cải cách kỷ luật độc thân”

Đức Phanxicô và Giáo sư Marie-Jo Thiel

Thần học gia, giáo sư Marie-Jo Thiel nghĩ rằng, những người đương thời đã hiểu lầm và đã làm cho nhiều linh mục không hài lòng, chế độ độc thân bắt buộc không còn được khuyến khích và phải được cải cách gấp trong một Giáo hội đang bị suy yếu gấp đôi do cuộc khủng hoảng lạm dụng và sự suy giảm ơn gọi linh mục.

cath.ch, Ban biên tập, 2024-09-27

Việc buộc các linh mục phải sống độc thân có phải là một dấu hiệu trong một xã hội ngày càng thế tục hóa và một Giáo hội đang gặp khủng hoảng không? Trong tác phẩm Đặt vấn đề về luật độc thân bắt buộc của các linh mục (Le célibat obligatoire des prêtres en question, nxb. Desclée de Brouwer) sẽ xuất bản ngày 2 tháng 10, thần học gia người Pháp Marie-Jo Thiel nghiên cứu ý nghĩa của kỷ luật này dưới ánh sáng lịch sử, xã hội học, thần học, Kinh thánh và linh đạo. Bà mong có một tự do lựa chọn trong một Giáo hội đặc sủng và mục vụ. Độc thân là một đặc sủng không phải ai cũng có được. Vì vậy bà đặt câu hỏi “có nên duy trì luật này cho chức tư tế không?”

Ngày nay nhiều linh mục gặp khó khăn trong việc giữ đời sống độc thân. Xin giáo sư cho biết yếu tố xã hội và cá nhân nào đã thúc đẩy họ vi phạm?

Giáo sư Marie-Jo Thiel: Sự non nớt cá nhân hoặc lý tưởng hóa quá mức có thể dẫn đến vi phạm. Những yếu tố này không nhất thiết thấy rõ ở chủng viện, vì khi đó họ ở trong một môi trường được bảo vệ và được nâng đỡ. Thế tục hóa thường làm thất vọng: họ mơ Tin Mừng tác động mạnh trên giáo dân nhưng họ chẳng thấy.

Nhiều linh mục đã đi qua những chặng đường dài và họ kiệt sức, đặc biệt khi họ sống một mình, họ gặp khó khăn với chính họ, họ không được đào tạo đủ về đạo đức tính dục để điều chỉnh các xung năng của mình. Tất cả diễn ra trong một xã hội xem trọng quyền tự chủ của cá nhân và không hiểu nghĩa vụ sống độc thân. Nhiều yếu tố dần dần xuất hiện, đôi khi tạo thuận lợi cho những hành vi vi phạm, đôi khi muốn tìm an ủi nơi người thân, đàn ông hay đàn bà, vì đồng tính rất phổ biến trong môi trường giáo sĩ.

“Việc thế tục hóa thường làm thất vọng: họ mơ Tin Mừng tác động mạnh trên giáo dân nhưng họ chẳng thấy.”

Độc thân, một cơ hội để sống đồng tính của mình?

Đúng vậy, trong một thời gian dài, đời sống độc thân có thể là nơi ẩn náu cho việc sống đồng tính với điều kiện “ở trong tủ” để không bị lộ công khai. Nhưng hiện nay việc thừa nhận xu hướng tính dục mà chúng ta không lựa chọn, đặc biệt là qua hôn nhân của tất cả mọi người đã làm thay đổi tình hình. Trong tương lai, như nhà xã hội học Josselin Tricou nêu ra, những người đồng tính có thể không còn “cần” chức linh mục để che giấu!

Qua nhiều thế kỷ, tiêu chuẩn đã trở thành cứng nhắc hơn, với một số giai đoạn quan trọng mà bà viết trong chương đầu tiên: các giai đoạn chính của quá trình cứng nhắc này là gì và đã áp dụng được những gì?

Trong mười thế kỷ đầu tiên của Giáo hội, các linh mục ngày càng được kêu gọi sống độc thân với giai đoạn đầu tiên ở thế kỷ thứ ba và thứ tư liên quan đến nghi lễ thanh khiết. Vào thời Trung cổ, việc quay về với các luật của Leviticus, thông đồng giữa các nhân vật Giáo hội và các nhà vua chính trị, các câu hỏi về thẩm quyền và quyền lực, sự coi thường khá phổ biến và các yếu tố khác đã dẫn đến cuộc cải cách Gregorian thế kỷ 11. Giáo hoàng Gregory VII, người mang tên cuộc cải cách này đã áp đặt quy tắc độc thân linh mục cho toàn thể Giáo hội La Mã.

Nhưng ít người mạo hiểm: không phải vì bất tuân, mà vì từ chối mô hình quân chủ được huấn quyền áp dụng. Trên thực tế, cuộc cải cách Gregorian đề xuất một mô hình Giáo hội thuộc loại quân chủ chuyên quyền, nhấn mạnh đến quyền lực và thánh thiêng. Vào thời điểm đó, các linh mục không chấp nhận điều này vì họ sống chủ yếu ở nông thôn, nơi quy định phải có gia đình, vì thế phải lập gia đình, sinh con để có người nối dõi và để truyền lại di sản.

“Chúng ta phải làm rõ: không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa đời sống độc thân và lạm dụng, chỉ có những mối liên hệ gián tiếp.”

Do đó, Công đồng Trent thế kỷ 16 đã áp đặt luật độc thân liên kết với việc thành lập các chủng viện để đào tạo linh mục. Để chống lại cuộc Cải cách, Bí tích Thánh Thể đã chiếm một vị trí đáng kể, được hiểu như một hy sinh của các linh mục để phục vụ những người thánh thiêng, những người được dành cho chức vụ này. Tất cả để củng cố tính ưu việt của tinh thần so với thế tục,  sự hạ thấp của thế tục… và như thế là mở cánh cửa cho lạm dụng. Chúng ta phải làm rõ: không có mối liên hệ trực tiếp nào giữa đời sống độc thân và lạm dụng, chỉ có những mối liên hệ gián tiếp.”

Theo từ nguyên, khiết tịnh là khoảng cách quan hệ công bằng giữa con người với nhau | © Maurice Page

Để hiểu kỷ luật độc thân được dần dần áp đặt như thế nào, chúng ta phải quay trở lại với các cộng đoàn của Thánh Phaolô, với đặc điểm là mở ra và kết thúc. Chuyển động kép này đến từ đâu và diễn ra vì lý do gì?

Chúa Giêsu độc thân, nhưng Ngài không yêu cầu các môn đệ của Ngài phải độc thân. Thánh Phêrô lập gia đình. Thánh Phaolô có lẽ chưa, nhưng bối cảnh rất phức tạp. Đơn giản, các thư của Ngài mà chúng ta gọi là “tiền Phaolô” mô tả một cộng đồng có người nam người nữ đã được rửa tội, họ sống theo những thực hành và thái độ của Chúa Giêsu, những mục vụ tương tự, kể cả được hiểu là những người lãnh đạo các giáo hội địa phương. Họ không được truyền chức, nhưng Giáo hội trẻ được cấu trúc bằng việc nhìn nhận các đặc sủng khác nhau.

Tuy nhiên, kể từ sau Thánh Phaolô, các bức thư của cộng đồng của Thánh Phaolô gợi có ảnh hưởng ngày càng tăng trong bối cảnh xã hội và triết học, làm giảm bớt địa vị của phụ nữ. Thêm vào đó là ảnh hưởng của các linh mục do thái đã gia nhập Giáo hội nguyên thủy sau khi Đền thờ Giêrusalem bị phá hủy đã đánh dấu rất nhiều bởi những vấn đề về sự trong sạch mà Chúa Giêsu đã giải quyết (bằng cách chữa lành người phong cùi, chữa cho một phụ nữ bị hoại huyết, v.v.). Sự trinh khiết ngày càng có vị trí cao hơn trong Giáo hội, cũng như đời sống đan viện là “bản sao” để các linh mục bước theo. Điều này gắn liền với sự hiểu biết về thánh thiêng vốn ngăn cách linh mục và giáo dân và làm cho phải xa bàn thờ.

Tất cả những điểm này làm rối rắm và càng ngày càng rối rắm. Phải “sửa lại” một số trục trặc theo từng giai đoạn. Thường thường đó là loại thuốc cao dán lấy từ bối cảnh văn hóa chứ không phải từ việc đọc Tin Mừng vì thế các rối loạn chức năng mới mang tính hệ thống.

“Sự tiết dục có nghĩa là không quan hệ tình dục và độc thân có nghĩa là không kết hôn. Sự nhầm lẫn của họ đã tác hại sâu sắc.”

 Độc thân, nếu không có quan hệ tình dục, không phải là khiết tịnh. Khiết tịnh là gì?

Theo từ nguyên của nó, khiết tịnh đề cập đến một khoảng cách quan hệ công bằng giữa con người với nhau. Tiết dục có nghĩa là không quan hệ tình dục và độc thân có nghĩa là không kết hôn. Sự nhầm lẫn này có hại sâu sắc cho cả giáo dân và thể chế. chúng ta có thể độc thân nhưng không tiết dục và chúng ta có thể và khiết tịnh!

Giáo sư Marie-Jo Thiel | DR

Cuộc khủng hoảng mà Giáo hội công giáo phải đối diện có phải là một yếu tố gây bất ổn khác?

Việc phi kitô giáo, cuộc khủng hoảng lạm dụng, việc thiếu đối thoại giữa các linh mục và giám mục của họ, sự cô độc thường xuyên của các linh mục không muốn sống đời sống cộng đồng vì muốn độc lập, tất cả đều có thể thành bất ổn khi xã hội ngày càng phát triển rất nhanh chóng. Công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, các cuộc khủng hoảng chính trị, xã hội và môi trường đang mang đến sự thay đổi mô hình và đặt ra câu hỏi về tương lai: nó sẽ như thế nào? Chức linh mục có phải là một lựa chọn đúng đắn không?

Giáo sư đề nghị xem lại thừa tác vụ thụ phong dưới ánh sáng chức linh mục chung của những người đã được rửa tội…

Chức linh mục chung của những người đã được rửa tội có quá ít  trong Giáo hội nên chúng ta không thể rút ra được những các hệ quả cần thiết, đặc biệt là với cơ cấu tổ chức giáo hội. Có mối liên hệ nào giữa chức tư tế chung và chức tư tế không? Đó là điểm thiết yếu mà Vatican II đã không có cơ hội đào sâu hơn do một nhóm bảo thủ phản kháng quyết liệt.

“Bước đầu tiên hướng tới một Giáo hội đặc sủng là phong chức cho các ông đã lập gia đình, viri probati, nhưng điều này sẽ chưa đủ”.

Một đề nghị khác: suy nghĩ về đời sống độc thân như một đặc sủng…

Thánh Phaolô đưa ra các đặc sủng để cấu trúc Giáo hội. Tại sao không nghiêm túc khám phá điểm này liên quan đến giáo hội học? Điều này sẽ góp phần xây dựng một Giáo hội đặc sủng và thừa tác: không phải một phong trào đặc sủng độc quyền các đặc sủng, mà là một Giáo hội đồng nghị thực sự và đích thực, có khả năng đối thoại, thừa nhận tất cả các đặc sủng cần thiết, không cần có sự ưu việt của một số người đã được rửa tội. Chiều thẳng đứng duy nhất chỉ có thể là của Chúa Ba Ngôi. Bước đầu tiên hướng tới một Giáo hội đặc sủng là phong chức cho các ông đã lập gia đình, viri probati, nhưng điều này sẽ chưa đủ.

Tuy nhiên theo giáo sư viết, cuộc khủng hoảng đang làm rung chuyển Giáo hội là một kairos, thời điểm thuận lợi để có thể có một cuộc đổi mới sâu sắc về thể chế. Trong cái gì?

Chúng ta có thể đón nhận thời điểm này như một kairos thực sự, nghĩa là một thời điểm thuận lợi, vì trong lịch sử Giáo hội chưa bao giờ có một giải phóng lời nói như vậy. Tuy nhiên, kể từ nay điều này lại càng mang tính quyết định hơn với các linh mục, giáo dân, nữ tu và tu sĩ, họ được đào tạo tốt hơn. Dân Chúa biết đánh giá và phân định nhiều hơn, nhờ đó góp phần vào việc tiếp nhận Kinh thánh và thực hiện Kinh thánh.

Cuộc sống độc thân bắt buộc là một kỷ luật, không phải là một giáo điều: vì thế có thể cải cách được. Giáo hội Công giáo cũng có các linh mục kết hôn…

Độc thân là một đặc sủng không phải ai cũng có được. Càng tốt nếu người nào được gọi để sống độc thân. Nhưng nếu không được, thì việc ép buộc quá mạnh hay “nhốt” họ trong đó có phải là vô nhân đạo không? Với những khó khăn trong việc tôn trọng luật độc thân, việc cải cách kỷ luật này là một điều thực sự cấp bách.

Giáo sư Marie-Jo Thiel, chuyên gia về lạm dụng trong Giáo hội

Sinh năm 1957 tại Moselle, bà là bác sĩ và giáo sư danh dự về thần học luân lý tại Đại học Strasbourg. Năm 2005, bà thành lập Trung tâm Giáo dục và Nghiên cứu Đạo đức Châu Âu và điều hành Trung tâm này cho đến năm 2022. Năm 2017, bà là thành viên của Học viện Giáo hoàng về Sự sống. Năm 2022, bà được vinh danh là tiến sĩ danh dự của Đại học Fribourg vì tất cả công việc của bà, đặc biệt là về vấn đề lạm dụng tình dục trong bối cảnh Giáo hội bà đã làm việc trong hơn 25 năm.

Đặt vấn đề về luật độc thân bắt buộc của các linh mục (Le célibat obligatoire des prêtres en question, nxb. Desclée de Brouwer)

Marta An Nguyễn dịch