Home Blog Page 139

Ý nghĩa của việc Đức Phanxicô chọn các tân hồng y cho giáo hoàng tiếp theo  

Ý nghĩa của việc Đức Phanxicô chọn các tân hồng y cho giáo hoàng tiếp theo

Trong buổi Kinh Truyền Tin ngày 6 tháng 10 tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Phanxicô tuyên bố ngài sẽ phong 21 tân hồng y ngày 8 tháng 12-2024. (CNS/Vatican Media)

ncronline.org, Christopher White, 2024-10-06

Tân hồng y trẻ nhất 44 tuổi và lớn tuổi nhất 99 tuổi. Công nghị bất ngờ sẽ được tổ chức ngày 8 tháng 12, về nhiều mặt công nghị này cũng giống như chín công nghị trước trong suốt gần 12 năm triều của Đức Phanxicô: trao mũ đỏ hồng y cho các giám mục ở vùng ngoại vi, thay vì ở các thủ đô lớn trên thế giới.

Với buổi lễ sẽ tổ chức ngày 8 tháng 12 (9 ngày trước sinh nhật lần thứ 88 của ngài ngày 17-12), cho thấy Hồng y đoàn có nhiệm vụ bầu giáo hoàng tiếp theo sẽ là các hồng y do chính Đức Phanxicô chọn.

Nhưng tất cả tân hồng y này là ai và có ý nghĩa gì với giáo hoàng tiếp theo?

Những cái tên bất ngờ, những địa điểm và những nhân vật bị bỏ qua

Trong số 21 tân hồng y có 20 tân hồng y dưới 80 tuổi, vì thế các hồng y này có đủ điều kiện để bỏ phiếu trong mật nghị bầu giáo hoàng.

Tổng giám mục Angelo Acerbi, 99 tuổi, đã phục vụ ở Ngoại giao đoàn Vatican hơn 50 năm. Trong suốt sự nghiệp quốc tế của ngài, ngài đã bị bắt làm con tin ở Colombia, ngài giúp thương thuyết giữa Giáo hội và nhà nước Tây Ban Nha, ngài giúp xây lại hệ thống cấp bậc Công giáo của Hungary sau khi chế độ cộng sản  sụp đổ. Ngài sẽ không bỏ phiếu trong mật nghị kế tiếp và cũng có thể không còn sống để chứng kiến – nhưng đây là chiếc mũ biểu tượng Đức Phanxicô dành cho sự nghiệp phục vụ tận tụy và danh tiếng này.

Ở cực đối diện là tân hồng y Dòng Chúa Cứu Thế Mykola Bychok, Giám mục công giáo Hy Lạp Ukraine 44 tuổi, đứng đầu giáo phận Thánh Phêrô và Phaolô tại Melbourne, Úc. Với lựa chọn trao mũ đỏ cho nhân vật Công giáo Hy Lạp Ukraine, ngài bỏ qua Tổng giám mục Sviatoslav Shevchuk của Kyiv–Galicia, trước đây đã chỉ trích một số phát biểu của ngài về cuộc chiến ở Ukraine.

Việc phong hồng y cho Tổng giám mục Bychok mang lại cho Úc hồng y đầu tiên sau cái chết của Hồng y George Pell tháng 1 năm 2023. Theo cách điển hình của Đức Phanxicô, ngài bỏ qua các giáo phận chính là Sydney và Melbourne, các nhà lãnh đạo hiện tại của hai giáo phận này có nhiều liên hệ với cố Hồng y Pell, người thường xuyên chỉ trích Đức Phanxicô, họ không bao giờ nhận được vinh dự này. Điều đáng ngạc nhiên hơn là Đức Phanxicô không phong cho Tổng giám mục Dòng Salêdiêng Timothy Costelloe, hiện là chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Úc, người tham dự tích cực Thượng Hội đồng năm nay.

Các giáo phận truyền thống Los Angeles, Milan và Paris vẫn chưa có tân hồng y. Tổng giám mục người Serbia Ladislav Nemet (hiện là phó chủ tịch Hội đồng các Hội đồng Giám mục Châu Âu); Tổng giám mục Roberto Repole, thần học gia Ý 57 tuổi và là Tổng giám mục Turin; Đức ông George Jacob Koovakad phụ trách các chuyến tông du sẽ được phong hồng y, ngài phục vụ trong ngành ngoại giao Vatican từ năm 2006 và sẽ rất bất thường nếu ngài vẫn giữ chức vụ hiện tại sau khi được phong hồng y. Đức ông Koovakad 51 tuổi của Kerala, Ấn Độ được cho sẽ là người có triển vọng kế nhiệm Hồng y Oswald Gracias của Bombay, một cố vấn thân cận lâu năm của Đức Phanxicô, tháng 12 năm nay ngài sẽ 80 tuổi và như thế ngài sẽ không bỏ phiếu ở mật nghị tiếp theo.

Kỷ lục chọn hồng y trong các Dòng tu

Đức Phanxicô luôn chọn các tu sĩ Dòng vào Hồng y đoàn, nhưng lần này kỷ lục với 11 tân hồng y nhận mũ đỏ. Trong số 21 tân hồng y, 11 giám mục và linh mục của các dòng tu được phong hồng y.

Ba tân hồng y Dòng người Phanxicô (Tổng giám mục Luis Gerardo Cabrera Herrera của Guayaquil, Ecuador; Tổng giám mục Jaime Spengler của Porto Alegre, Brazil; và Giám mục Paskalis Bruno Syukur của Bogor, Indonesia); một tân hồng y Dòng Phanxicô Conventual, Tổng giám mục Dominique Joseph Mathieu sinh tại Bỉ, hiện đang làm việc ở thủ đô Iran, trước đây ngài làm việc ở Lebanon, đây là tín hiệu chính trị rõ ràng của Đức Phanxicô trong bối cảnh đe dọa của một cuộc chiến tranh toàn diện trong khu vực.

Hai nhà truyền giáo Ngôi Lời được phong hồng y là Tổng giám mục Tarcisio Isao Kikuchi của Tokyo, Nhật Bản (Giám đốc Caritas Internationalis, mạng lưới từ thiện toàn cầu của Giáo hội Công giáo) và Tổng giám mục Ladislav Nemet của Serbia.

Tu sĩ Fabio Baggio dòng Scalabri, người đứng đầu bộ phận di cư và tị nạn của Bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện cũng sẽ được phong hồng y. Tân hồng y Baggio có thể đi theo con đường cấp trên của ngài là Hồng y Dòng Tên Michael Czerny, 78 tuổi và sẽ thay thế ngài khi ngài nghỉ hưu bắt buộc ỏ tuổi 80.

Và cuối cùng là các tân hồng y Dòng Chúa Cứu Thế người Ukraine Bychok, hồng y Vincentian Vicente Bokalic Iglic của Santiago del Estero, Argentina và hai tu sĩ dòng Đaminh – Tổng giám mục Jean-Paul Vesco của Algiers, Algeria và Linh mục Timothy Radcliffe.

Việc lựa chọn linh mục Radcliffe là dấu hiệu rõ ràng hình ảnh của một người có cuộc sống trong Giáo hội công giáo. Ngài là thần học gia được đào tạo tại Đại học Oxford, cựu Bề trên Tỉnh Dòng Đa Minh, trước đây đã bị ngăn chặn khỏi một số công việc hàng đầu trong Giáo hội dưới thời Đức Gioan-Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI. Đức Phanxicô đã giao cho ngài giảng tĩnh tâm trong Thượng Hội đồng về tính đồng nghị. Ngài đã 79 tuổi và chỉ còn một năm nữa là hết quyền bầu mật nghị. Nhưng khi có chiếc mũ đỏ, ngài có thể tham dự vào các Đại hội đồng – các cuộc họp của tất cả các hồng y về hiện tình Giáo hội diễn ra trước cuộc bầu cử giáo hoàng tiếp theo – rõ ràng Đức Phanxicô muốn Linh mục Radcliffe hiện diện trong các cuộc thảo luận về tương lai Giáo hội.

Các nhân vật mới, các tính toán mới

Trong công nghị ngày 8 tháng 12, có 80% hồng y được Đức Phanxicô bổ nhiệm để bầu người kế nhiệm mình, tăng 7% so với công nghị trước đó năm 2023. Trong số các hồng y đủ điều kiện để bầu, có 112 hồng y do Đức Phanxicô phong, 23 hồng y do Đức Bênêđíctô XVI phong và 5 hồng y do Đức Gioan-Phaolô II phong.

Với 140 cử tri, con số này vượt quá giới hạn 120 của Đức Phaolô VI đặt ra năm 1975 và con số này sẽ không không giảm cho đến tháng 7 năm 2026. Cả Đức Gioan-Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI cũng đã vượt qua con số này tại nhiều thời điểm khác nhau trong triều của các ngài, năm 2001 Đức Gioan-Phaolô II có 135 hồng y cử tri.

Theo phân tích của Trung tâm nghiên cứu Pew, kể từ khi Đức Phanxicô làm giáo hoàng năm 2013, tỷ lệ các hồng y Châu Âu liên tục giảm và các đại diện của Châu Phi, Châu Á – Thái Bình Dương và Mỹ Latinh tiếp tục gia tăng.

Khi các tân hồng y họp tại Đền thờ Thánh Phêrô ngày 8 tháng 12 để Đức Phanxicô trao mũ và nhẫn, tân hồng y Acerbi 99 tuổi, người Giáo hoàng công bố tên đầu tiên và theo truyền thống ngài sẽ thay mặt các tân hồng y để phát biểu.

Khi chọn tân hồng y Acerbi, Đức Phanxicô muốn gởi một thông điệp khác: tuổi tác không giới hạn tầm ảnh hưởng của họ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tình bạn hồng y, tình huynh đệ phổ quát

Ba trục chiến lược của Đức Phanxicô trong việc chọn lựa hồng y

Chiến tranh Trung Đông: vượt lên hận thù

Chiến tranh Trung Đông: vượt lên hận thù
la-croix.com, Jean-Christophe Ploquin, 2024-10-06
Một năm sau vụ tấn công khủng bố ngày 7 tháng 10 năm 2023 do Hamas phát động, người Israel vẫn nhớ về thảm kịch, Quân đội tiếp tục cuộc chiến ở Dải Gaza và miền nam Lebanon. Đấu tranh với tức giận và tuyệt vọng, nhiều công dân khao khát hòa bình với người Palestine.
Ngày 7 tháng 10 năm 2023 là ngày mãi mãi in sâu trong ký ức của Israel. Ngày hôm đó, người dân và đất nước chịu những tổn thất nặng nề nhất trong các hoạt động vũ trang kể từ ngày thành lập đất nước năm 1948. Cuộc tấn công tàn khốc do Hamas thực hiện đã làm rung chuyển toàn xã hội, làm cảm nhận dễ bị tổn thương thêm sâu đậm. Một năm sau, người dân Israel và người Do Thái trên khắp thế giới cùng tưởng niệm. Một thời gian tưởng niệm mà tất cả những ai đã phải chịu nạn khủng bố, đặc biệt là ở Pháp, đều có thể hiểu và chia sẻ.
Thật không may, bạo lực vẫn chưa dừng lại. Trên thực tế Hamas đã bắt đầu một vòng xoáy mà dường như không ai có thể dừng lại. Để tiêu diệt kẻ thù, chính phủ Israel đã thực hiện một chiến lược quân sự tàn khốc tiếp tục tàn phá gần như toàn bộ Dải Gaza. Hôm nay họ tấn công miền nam Lebanon để tiêu diệt Hezbollah. Trong một năm, các cuộc tấn công của họ đã làm cho hàng chục ngàn thường dân bị thương vong. Logic chiến tranh kinh khủng này dường như sẵn sàng lan sang Iran. Vững tin vào sức mạnh quân đội và sự hỗ trợ quyết liệt của Mỹ sẽ mang lại ưu thế cho cuộc chiến, Thủ tướng Benjamin Netanyahu muốn phát huy lợi thế của ông.
Bị ám ảnh bởi vấn đề an ninh, dường như Israel không còn có thể nghĩ đến hòa bình. Điều này chắc chắn đúng với các nhà lãnh đạo và phần lớn người dân ở đây. Nhưng vẫn có những người tiếp tục cho rằng mạng sống của mỗi con người là quan trọng. Trong số những người thân của các nạn nhân vụ tấn công ngày 7 tháng 10, một số đang vận động để lệnh ngừng bắn có hiệu lực càng nhanh càng tốt. Họ khao khát một ngày nào đó, ở một chân trời xa xôi, người Palestine và người Israel sẽ có thể sống tự do bên nhau. Trong mắt họ, cả nỗi sợ hãi lẫn sự tức giận đều không thể giải quyết được. Và nước Pháp phải ủng hộ cam kết của họ.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tình bạn hồng y, tình huynh đệ phổ quát

Tình bạn hồng y, tình huynh đệ phổ quát

Khi Thượng Hội đồng tiếp tục họp tại Rôma, ngày chúa nhật 6 tháng 10, trong giờ Kinh Truyền Tin Đức Phanxicô công bố sẽ  bổ nhiệm 21 tân hồng y. Trong số đó, chúng tôi đặc biệt ghi nhận sự hiện diện của Linh mục Timothy Radcliffe và Tổng giám mục Jean-Paul Vesco.

Đức Phanxicô trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật 6 tháng 10-2024

lavie.fr, Aymeric Christensen, Giám đốc biên tập báo La Vie, 2024-10-08

Năm này qua năm khác, các công nghị đóng góp vào dự án của Đức Phanxicô cho Giáo hội. Trong các bổ nhiệm hồng y này, thật dễ dàng để thấy tầm nhìn của Đức Phanxicô về Giáo hội: giải tập trung, tính đồng nghị, ngoại vi… Hoặc thấy được đằng sau danh sách và các xu hướng một dự kiến chỉ định người kế vị vào thời điểm thích hợp.

Con đường gập ghềnh của Thượng Hội đồng: Đức Phanxicô muốn thay đổi Giáo hội như thế nào

Tứ 11 năm nay, tất cả đều đã thấy Đức Phanxicô đưa trọng tâm của ngài dần xa các trung tâm truyền thống để đến các vùng ngoại vi, ngài kiên nhẫn định hình lại Hồng y đoàn theo Giáo hội ngài mong ước. Nhưng trên hết có phải ngài đưa vùng ngoại vi về Rôma để Tin Mừng vang vọng ở đây qua các ngôn ngữ mới và với ngôn ngữ mới này, thông điệp sẽ không bị phai nhạt

Linh mục Timothy Radcliffe và Lukasz Popko: “Cùng đọc Kinh thánh với nhau giúp chúng tôi hiểu thêm Kinh Thánh”

Về tình bạn, đó vẫn là một câu hỏi với sự lựa chọn vui vẻ của Tổng giám mục Jean-Paul Vesco, giáo phận Algiers, hàng tuần ngài đã nuôi dưỡng sợi dây tình bạn không gián đoạn với chúng tôi, nguồn của một đối thoại tin cậy và hiệu quả. Điều này cho thấy niềm vui sống động và đặc biệt khi chúng ta thấy ngài hiến dâng cuộc đời cho Chúa Kitô ở Algeria, Giáo hội nhỏ bé của sa mạc, nghèo khổ và huynh đệ, được vinh danh qua lịch sử bị tổn thương và hiện nay đang bị trói buộc.

Danh sách các thành viên dự phiên họp Thượng Hội đồng lần thứ nhì

Khi trao mũ đỏ cho ngài, Đức Phanxicô tiếp tục đưa các bờ biển Địa Trung Hải lại gần nhau hơn, sau những bổ nhiệm trong những năm vừa qua với Hồng y Jean-Marc Aveline ở Marseille, Cristóbal López Romero ở Rabat (Morocco) và Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Latinh ở Giêrusalem.

Nhận ra tính nhân văn chung ở người khác

Qua nhân cách của Tổng giám mục Jean-Paul Vesco, người luôn can đảm nói lên tiếng nói lương tâm, quan tâm đến công bằng hơn là làm hài lòng – và Chúa biết ngài không những kết bạn ở Rôma mà còn ở những nơi khác… Vào thời điểm mà tình bạn rất khó sống trong sự thật, khi khả năng hòa giải giữa miền Nam và miền Tây dường như quá xa vời, như vậy làm sao chúng ta không thấy đây là dấu hiệu ủng hộ một tình huynh đệ kitô sâu sắc sao? Đó là một trong những thách thức lớn nhất của thế giới toàn cầu của những rạn nứt này: biết cách nhận ra ở người khác một nhân loại chung, điều mà sự khác biệt chỉ làm quý giá hơn, luôn quan tâm đến họ với sự quan tâm đặc biệt và tinh tế.

Tân hồng y Jean-Paul Vesco hoạt động cho tình huynh đệ sâu đậm ở Algeria

Bà Madeleine Delbrêl qua đời 60 năm trước đã từng nói: “Hãy yêu mọi người như yêu cả thế giới và yêu cả thế giới như yêu mọi người”. Cách tốt nhất để chúng ta nhớ “công giáo” có thể đồng nghĩa với “phổ quát” như thế nào.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Ba trục chiến lược của Đức Phanxicô trong việc chọn lựa hồng y

Ba trục chiến lược của Đức Phanxicô trong việc chọn lựa hồng y

lefigaro.fr, Jean-Marie Guénois, 2024-10-06

Tổng giám mục Jean-Paul Vesco, 62 tuổi, giáo phận Algiers từ năm 2021 (với Đức Phanxicô năm 2017), sẽ là hồng y ngày 8 tháng 12, ngài là Hồng y người Pháp duy nhất được phong lần này.

Với việc phong 20 tân hồng y ngày 8 tháng 12, Đức Phanxicô đảm bảo tính liên tục triều của ngài trong trường hợp có mật nghị.

Các hồng y đã già đi. Các giám mục được chính Giáo hoàng chọn vào Thượng viện của Giáo hội, Hồng y đoàn để bầu người kế vị ngài, nhưng khi đến tuổi 80, các hồng y không được vào Nhà nguyện Sixtine để bầu Giáo hoàng. Quy định số hồng y tối thiểu để bầu là 120 hồng y. Con số tối thiểu này phải duy trì thường xuyên nên phải phong thêm để bù đắp cho số hồng y lớn tuổi không được bầu. Ngày thứ bảy vừa qua, số hồng y này là 121. Ngày chúa nhật 6 tháng 10, Đức Phanxicô công bố tổ chức “công nghị” ngày 8 tháng 12, ngài sẽ trao nhẫn và mũ đỏ cho các hồng y, đánh dấu lòng trung thành đặc biệt của họ với Giáo hoàng và Giáo hội.

Không nhất thiết phải bổ nhiệm 21 tân hồng y vì đã đủ số 120 hồng y cử tri, nhưng đến cuối năm 2025, 15 hồng y sẽ quá 80 tuổi: Hồng y Schönborn, Sarah, Rylko, Canizares Llovera, Nichols. Và sang năm sẽ là năm rất bận rộn của Đức Phanxicô với việc tổ chức Năm Thánh tại Rôma, sẽ có hàng triệu người hành hương về Rôma tham dự hơn 91 sự kiện, nên sẽ có rất ít thời gian cho công nghị. Nếu không tính đến hồng y duy nhất trên 80 tuổi, cựu sứ thần người Ý Angelo Acerbi (99 tuổi) thì với 20 tân hồng y, chúng ta có thể xác nhận ba xu hướng chính trong chiến lược được Đức Phanxicô đưa ra cho người kế vị ngài.

Trong số các tân hồng y, có một số nhân cách nổi bật. Điểm chung của họ: họ là những nhà hoạt động cho một Giáo hội cởi mở, hòa nhập thiết thân của Đức Phanxicô. Chủ yếu Đức Phanxicô thường chọn các tu sĩ Dòng Tên hoặc những người hợp với ngài.

Vì thế, Tổng giám mục người Pháp Jean-Paul Vesco, Dòng Đa Minh, 62 tuổi, tổng giám mục Algiers từ năm 2021 được chọn. Ngài là cựu luật sư kinh doanh, đi tu năm 34 tuổi khi đã có bằng thạc sĩ ở Trường Cao đẳng Hành chánh HEC. Ngài là chuyên gia đối thoại với hồi giáo được đánh giá cao ở Algeria. Năm 2023, ngài nhập tịch Algeria với sắc lệnh của tổng thống Abdelmadjid Tebboune, nhưng ngài vẫn giữ quốc tịch Pháp. Năm 2015, ngài viết “lời cầu nguyện cho người ly hôn và tái hôn” và đã tạo tiếng vang lớn. Tại Algiers, ngài gây ngạc nhiên khi tuyên bố: “Chúng ta phải loại ý tưởng chúng ta phải truyền giáo”. Ngài chống lại mô hình “gia trưởng” và “lỗi thời” của Giáo hội hiện nay và chủ trương phụ nữ phải có một chỗ đứng trong Giáo hội.

Ưu tiên cho Châu Á

Nhân vật nổi tiếng khác của lần phong hồng y này là Linh mục Timothy Peter Joseph Radcliffe, 79 tuổi, thần học gia người Anh, cựu Bề trên Tỉnh Dòng Đa Minh. Ngài luôn ủng hộ hôn nhân cho người đồng giới, khoan dung với người đồng tính trong dân chúng cũng như trong hàng giáo sĩ. Việc bổ nhiệm Tổng Giám mục Lima ở Peru, Carlos Gustavo Castillo, cũng đáng chú ý, ngài tuyên bố liên kết với thần học Giải phóng.

Trục chiến lược thứ hai của Đức Phanxicô nhằm đảm bảo sự kế thừa phù hợp với triều của ngài là tốc độ hành động. Trong 11 năm qua, ngài có 10 công nghị trong khi Đức Gioan-Phaolô II chỉ có 9 công nghị trong 26 năm triều của ngài. Khách quan, Đức Phanxicô muốn có 2/3 số số cử tri mật nghị càng nhanh càng tốt con số cần thiết để bầu người kế vị ngài, cho đến nay ngài đã phong 80% số hồng y cử tri, vượt xa đa số 2/3.

Trục chiến lược cuối cùng là ưu tiên dành cho Châu Á và giảm bớt ảnh hưởng của Châu Âu. Kể từ năm 2013, ngài đã tăng gấp đôi số lượng hồng y Châu Á, từ 8% lên 16%, trong khi các hồng y Châu Âu từ 50% xuống còn 39%. Các Hồng y Bắc Mỹ đã mất một phần tư, chỉ còn 10%. Châu Phi tăng từ 10% lên 13% và  tỷ lệ đại diện của Châu Mỹ Latinh vẫn ổn định (17%).

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Lạm dụng tình dục: Bà Natalia Trouiller xem xét kỹ sự tiến bộ và những điểm mù của Giáo hội

Lạm dụng tình dục: Bà Natalia Trouiller xem xét kỹ sự tiến bộ và những điểm mù của Giáo hội

Ba năm sau khi công bố báo cáo của Ủy ban Độc lập về các vụ Lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp (Báo cáo Sauvé), bà Natalia Trouiller, tác giả, cựu giám đốc truyền thông của giáo phận Lyon đã thành nhân viên hỗ trợ nạn nhân, bà đưa ra quan điểm không khoan nhượng về việc quản lý bạo lực tình dục trong Giáo hội.

la-croix.com, Héloïse de Neuville, 2024-10-06

Bà Nathalie Trouiller, tác giả, cựu giám đốc truyền thông của giáo phận Lyon / Flavien Edenne –  La Croix

Xin bà cho biết về bà và bà khám phá chủ đề bạo lực tình dục trong Giáo hội như thế nào? 

Bà Natalia Trouiller: Tôi đã lập gia đình, là mẹ của ba đứa con, đó là công việc chính của tôi (Cười). Tôi là nhà báo của báo công giáo và tôi cũng là tác giả. Năm 2013, tôi được yêu cầu phụ trách truyền thông cho giáo phận Lyon và tôi đã làm việc hai năm rất tốt đẹp ở đây. Năm 2015, tôi bị bệnh và dần dần nghỉ việc. Năm sau, vấn đề bạo lực tình dục nổi lên ở giáo phận với các vụ lạm dụng ấu dâm của linh mục Preynat.

Tôi bị sốc nhưng chưa lập tức dự vào cuộc chiến. Thậm chí tôi còn bảo vệ Hồng y Barbarin, tôi thấy thật bất công khi ngài là biểu tượng của cái ác tuyệt đối, thậm chí còn vượt xa trường hợp của linh mục ấu dâm Bernard Preynat. Nhưng Báo cáo Ciase năm 2021 như một cú sét đánh từ trên cao. Khi đó tôi hiểu chúng tôi phải xắn tay áo. Trên Twitter, tôi bắt đầu nói về nỗi đau của các nạn nhân và dần dần tôi thu thập chứng từ của họ.

Hiện nay bà làm công việc gì với các nạn nhân bạo lực tình dục và thiêng liêng trong Giáo hội công giáo?

Tôi nhanh chóng hiểu, chỉ nghe thôi chưa đủ. Các nạn nhân không chỉ làm chứng về bạo lực mà còn về việc Giáo hội thiếu phản ứng thích đáng. Thật đáng sợ, vì nếu việc chạm trán với kẻ săn mồi có thể xảy ra ở bất cứ đâu trong Giáo hội, thì nạn nhân sẽ phải chịu thêm một loạt hình phạt nữa. Công lý theo giáo luật quan tâm đến sự cứu rỗi của linh mục hơn là của nạn nhân, các nạn nhân thường bị bỏ mặc trong sự thiếu hiểu biết và đôi khi còn bị loại trừ khỏi cộng đồng.

Công việc của tôi trước hết là vì tình bạn: tôi duy trì liên lạc, tôi nhận được tin tức dù nguồn lực dường như đã cạn kiệt. Sự hỗ trợ này là cần thiết để phá vỡ sự cô đơn của họ. Sau đó, tôi cố gắng đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng người. Tôi giúp họ định hướng trong các ngõ ngách của giáo luật, tòa án, luật sư, tâm lý gia… Cùng với đội ngũ giáo dân giúp, tôi cố gắng đưa ra các giải pháp phù hợp.

Kể từ khi báo cáo Sauvé được công bố năm 2021, bà thấy Giáo hội đã tiến bộ như thế nào?

Việc công bố báo cáo Sauvé là hết sức cần thiết để chúng ta hiểu lạm dụng trong Giáo hội là một hiện tượng mang tính hệ thống ở một quy mô rộng lớn. Nhưng ngày nay tôi thấy vấn đề ở chỗ, nhiều người dựa vào tầm nhìn hiệu quả của Báo cáo này, như thể vì nó đã diễn ra nên mọi thứ đang diễn ra trong giáo phận là tốt, không còn “lạm dụng nào” nữa. Nhưng lạm dụng luôn luôn có. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là chúng ta áp dụng quy trình nào để khi có lạm dụng, các vụ này sẽ được xử lý một cách chuyên nghiệp ngay lập tức để hành vi này không tiếp tục tác hại trên người khác và kẻ lạm dụng sẽ bị vô hiệu hóa.

Cụ thể, trong những năm gần đây, sau các vụ lạm dụng đã được biết, nhiều linh mục bị trừng phạt không bị sa thải khỏi hàng giáo sĩ, lại được đưa về những nơi họ có thể lạm dụng tiếp trên các nạn nhân khác. Làm thế nào để hành động?

Tôi không có tất cả các câu trả lời, nhưng tôi thấy có một ảo tưởng nguy hiểm chúng ta cương quyết phải đấu tranh: Tôi thường nghe tốt hơn nên để các linh mục lạm dụng tiếp tục công việc và Giáo hội giám sát. Nhưng hoàn toàn sai. Giáo hội không có phương tiện để giám sát kẻ xâm lược cũng như không chống lại kẻ thao túng. Các giám mục và linh mục không phải là cai ngục, họ không được đào tạo để làm việc này. Đó là trách nhiệm họ không thể gánh vác.

Thông thường, các linh mục này được đặt vào những vị trí ít bị lộ diện hơn một chút, ở đó, cộng đồng không biết, họ không được phép gặp phụ nữ hoặc trẻ em, cũng như không được hỗ trợ, nhưng cuối cùng điều này lại biến thành một vụ tái phạm. Giáo hội phải ý thức Giáo hội không có phương tiện cũng như kỹ năng để kiểm soát kẻ gây hấn hoặc kẻ thao túng. Nếu muốn các biện pháp trừng phạt có hiệu quả tối thiểu, Giáo hội không thể thoát khỏi cuộc tranh luận về việc công bố các hành động này. Sự minh bạch là đồng minh của việc tôn trọng các biện pháp trừng phạt do Giáo hội áp đặt và bảo vệ tín hữu.

Tương tự như vậy, trong những tháng gần đây, tin tức tiết lộ một số linh mục lạm dụng đã được giám mục bổ nhiệm bất chấp sự phản đối của hội đồng chủng viện. Đây có phải là một vấn đề phổ biến?

Tất nhiên. Chúng ta có các giám mục, và tôi hiểu họ, họ ở trong các giáo phận không thể đứng vững theo nghĩa đen của thuật ngữ này. Quá nhiều giáo họ, quá nhiều việc phải làm. Họ bị áp lực rất lớn để có linh mục. Vì vậy, họ thỏa hiệp với các linh mục này, đây là một vấn đề rất lớn. Thay vì chạy theo con số, tôi muốn chúng ta bắt đầu bằng một suy tư thần học về sa mạc mà Giáo hội đang trải qua.

Bà thấy có những tiến bộ nào trong cuộc chiến chống bạo lực tình dục trong Giáo hội không?

Tôi thấy có hai tiến bộ chính: việc thành lập tòa án hình sự giáo luật quốc gia (TPCN) và các Ủy ban bồi thường (CRR). Tòa án hình sự là một bước tiến quan trọng, giúp cho công việc của các giáo phận, một điều hoàn toàn cần thiết, họ được đào tạo để lo các vụ án và khi họ xét xử, họ làm tốt, nhưng vì thiếu phương tiện nên họ làm việc chậm.

Về Ủy ban bồi thường, họ làm việc rất tốt khi làm việc tự nguyện, khi không tự nguyện thì đó là một con đường gay go. Inirr – cơ quan bồi thường cho các nạn nhân vị thành niên của các linh mục giáo phận – đã thành công tốt. Họ đưa ra những quy trình thậm chí chưa có ở nơi nào khác, họ đặt nạn nhân vào trọng tâm. Tôi thán phục công việc của họ. Và nếu các Ủy ban khác làm theo cách làm của họ thì thật tốt đẹp.

Còn cách Giáo hội xử lý các trường hợp bạo lực tình dục và thiêng liêng với người lớn thì như thế nào?

Trong Giáo hội, có quan điểm cho rằng lạm dụng người lớn không thực sự là lạm dụng vì về cơ bản, người lớn có phương tiện để nói lên sự không đồng ý của họ, không giống như trẻ em. Điều này đúng, nhưng lại hoàn toàn bỏ qua các hình thức chế ngự tinh thần có hệ thống trước mỗi tấn công tình dục. Bạo lực tình dục thường là mắt xích cuối cùng trong chuỗi áp đặt quyền lực trên người khác. Một ý tưởng đã định sẵn: hậu quả của tấn công trên người lớn sẽ ít nghiêm trọng hơn. Nhưng đặt câu hỏi như vậy là bắt đầu từ việc nạn nhân cố gắng đánh giá tác hại của họ. Bây giờ chúng ta phải bắt đầu từ Chúa.

Nói chung, việc dùng Chúa để thao túng sự mật thiết thiêng liêng nhất của con người, dù họ là người lớn hay trẻ em, có nghiêm trọng không?

Câu trả lời của tôi là có, nó rất nghiêm trọng. Và hậu quả sẽ khác, dù người lớn nhưng khi chúng ta đặt niềm tin vào người của Chúa thì chúng ta cũng như trẻ con cần đến người mẹ. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng, chúng ta đầu hàng và chúng ta từ bỏ phần thiêng liêng nhất của chính mình. Và phần thiêng liêng nhất này bị ô uế, bị chà đạp. Như thế dù trẻ em hay người lớn, chuyện này thật kinh tởm. Sẽ có những hậu quả vô cùng tàn khốc. 

Theo bà, vấn đề chính mà Giáo hội phải tiến tới để trở nên đáng tin cậy trong việc điều trị và ngăn ngừa bạo lực tình dục là gì?

Giáo hội phải chuyển từ phản ứng sang chủ động. Chúng ta phải ngừng loại phản ứng đơn giản trước các vụ bê bối và công bố những thông cáo báo chí như: “Chúng tôi thất vọng khi biết linh mục…”. Hai tháng sau, chúng ta biết các cấp cao đã biết việc này, họ chờ vụ bê bối nổ ra trên báo chí để lên án.

Ngay khi một nạn nhân tiềm năng xuất hiện hoặc được biết đến, chúng ta nên tiến hành kêu gọi nhân chứng nhưng phải tôn trọng quy luật suy đoán vô tội. Điều quan trọng là phải bảo đảm hỗ trợ cụ thể cho các nạn nhân: tiếp xúc với các giám mục, thanh toán chi phí chăm sóc, chi phí pháp lý. Chính nhờ hành động chủ động và minh bạch mà Giáo hội mới có thể lấy lại được uy tín trong cuộc chiến chống lạm dụng.

Marta An Nguyễn dịch

Tân hồng y Jean-Paul Vesco hoạt động cho tình huynh đệ sâu đậm ở Algeria

Tân hồng y Jean-Paul Vesco hoạt động cho tình huynh đệ sâu đậm ở Algeria

Chúa nhật 6 tháng 10, Đức Phanxicô công bố danh sách 21 tân hồng y, trong đó có Tổng giám mục Jean-Paul Vesco, Tổng Giám mục Algiers, 62 tuổi. Ngài sinh ở Pháp nhưng từ những năm 2000 ngài sống ở Algeria, có quả tim và có quốc tịch Algeria.

la-croix.com, Ban biên tập La Croix, 2024-10-06

Tổng giám mục Algiers Jean-Paul Vesco. LUDOVIC MARIN / AFP

 

“Tôi nín thở, tôi không thể tưởng tượng được tin này trong một phần nghìn giây. Tôi cảm thấy sức nặng của niềm vinh dự to lớn và cảm thấy tôi không xứng đáng đáng được hưởng,” đó là những lời đầu tiên ngài nói với Vatican News.

Vì không có gì định trước cho người đầu đời là luật sư kinh doanh để rồi có ngày là một trong các cộng tác viên đầu tiên của Giáo hoàng. Ở tuổi ba mươi, ngài xúc động sau thánh lễ phong chức, năm 1996 ngài vào dòng Đa Minh, chịu chức năm 2001.

Tổng giám mục Jean-Paul Vesco: “Giáo hội công giáo Algeria sống trong hiệp thông tình huynh đệ với tất cả mọi người”

Năm 2002, ngài được cử đến Tlemcen để xây dựng lại Dòng Đa Minh, sáu năm sau vụ ám sátGmm Pierre Claverie, giáo phận Oran. Năm 2012, Đức Bênêđíctô XVI bổ nhiệm ngài làm giám mục Oran, ngài chọn phương châm “Tôi muốn sống và làm cho mọi người muốn sống”. Năm 2015, ngài biện hộ cho những người ly dị và tái hôn, minh họa cách tiếp cận mục vụ cởi mở của ngài, năm 2015 ngài nói với báo La Croix: “Tôi bị tổn thương vì kỷ luật của Giáo hội đối với những người ly dị và tái hôn, thật ra tôi đã phẫn nộ từ lâu vì bạo lực không cần thiết đã gây ra cho những người liên quan, không có một phân định nào cho hoàn cảnh cá nhân của họ.”

Hành động của ngài ở Algeria được đánh dấu qua việc ngài tổ chức phong chân phước cho 19 vị tử đạo của Algeria năm 2018. Nhập tịch Algeria vào năm 2023, ngài là hiện thân của cuộc đối thoại liên tôn tại một quốc gia gần như hoàn toàn theo đạo hồi. Tầm nhìn của ngài về tình huynh đệ là cái nhìn khẩn cấp, đặc trưng cho mục vụ của ngài: “Tình huynh đệ không thể bị quy định, nó phải được sống,” với một trong những công thức này ngài đã dùng để bài phát biểu trong các bài diễn văn của ngài.

Đức Giám mục Jean-Paul Vesco: “Con voi không thể đẻ con chuột”

Dự tính của ngài là vẫn ở lại Algeria

Hai năm trước ngài nói với báo La Croix: “Có lẽ tôi sẽ ở lại Algeria cho đến chết, giống các vị tiền nhiệm của tôi. hành niên vtnn như những người tiền nhiệm của tôi.” Trên Vatican News, vài giờ sau khi được bổ nhiệm làm hồng y, ngài đã xác nhận nguyện vọng này: “Tôi là mục tử của giáo hội này, tôi muốn là cầu nối, muốn trở thành tình huynh đệ, muốn trở thành mối liên kết với toàn thể nhân loại. Tôi nghĩ, làm hồng y tôi sẽ bị xa Algiers và Algeria nhưng ngược lại, tôi sẽ neo ở đó thêm một thời gian nữa.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các cuộc biểu tình ở Rôma đòi vị trí của phụ nữ trong Giáo hội

Các cuộc biểu tình ở Rôma đòi vị trí của phụ nữ trong Giáo hội

cath.ch, Ban biên tập, Raphael Zbinden, 2024-10-07

Phụ nữ Công giáo Hành động (CWC) dự định lên tiếng ở Rôma  © Hội Phụ nữ Công giáo Hành động

Thất vọng vì thiếu phối cảnh cho phụ nữ trong Giáo hội tại Thượng Hội đồng, một liên minh gồm các nhóm ủng hộ cải cách tuyên bố biểu tình ở Rôma. Các lời thoại kịch nghệ phải có trong bối cảnh “các nữ giám mục”.

Bà Regina Franken, chủ tịch Hội Phụ nữ Công giáo Châu Âu Hành động nói với trang tin KNA của Đức: “Tôi không thấy Vatican có mong muốn nghiêm túc giải quyết vấn đề chức vụ phụ nữ trong Giáo hội.” Được thành lập năm 2019, Hội Phụ nữ Công giáo Hành động là mạng lưới toàn cầu gồm các tổ chức và phong trào Công giáo hoạt động có mục đích công nhận phẩm giá đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong Giáo hội. Hội bao gồm Liên đoàn Phụ nữ Công giáo Thụy Sĩ (SKF).

Không có chỗ cho các nữ phó tế

Bà Franken tuyên bố: “Sự thất vọng giờ đây đã chuyển thành tức giận.” Động lực của các nhóm được thúc đẩy do thông tin gần đây của bộ Giáo lý Đức tin về Thượng Hội đồng ở Rôma, Hồng y bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin Víctor Manuel Fernández  thông báo cho biết Bộ đang chuẩn bị một tài liệu về vị trí của phụ nữ trong Giáo hội, ngài hứa hẹn có một “nghiên cứu sâu hơn” về những cách thức mà phụ nữ có thể hoạt động trong Giáo hội, một hướng đi đã được Đức Thánh Cha Phanxicô chỉ ra vào tháng 5 năm 2024.

Đã thảo luận về khả năng hội đủ điều kiện nhận chức tư tế của nam giới

Bà Regina Franken mô tả cách tiếp cận này là “chiến thuật trì hoãn và là kỹ thuật thao túng”, phụ nữ không còn sẵn sàng chấp nhận những chiến lược này nữa. Bà nhắc lại, nghiên cứu thần học liên quan đến khả năng phụ nữ có đủ điều kiện đảm nhận các chức năng khác nhau trong giáo hội đã được tiến hành hơn 60 năm nay, với những kết quả đáng thất vọng. Nhưng bà bảo đảm tổ chức của bà sẵn sàng làm việc với các nhà lãnh đạo Giáo hội, vấn đề bây giờ là liệu sự hợp tác này có còn khả thi hay không.

Trang web của Hội đồng Phụ nữ Công giáo thông báo hai sự kiện công cộng được lên kế hoạch ở Rôma ngày 12 tháng 10: một cuộc tụ họp bên ngoài hội trường Thượng Hội đồng buổi tối để phát các tấm bưu thiếp có nội dung “bình đẳng” cho các thành viên và một vở kịch vào buổi chiều mang tên “Vaticanelle” trong đó các nhân vật được mô tả là “nữ giám mục” và “nữ Giáo hoàng” sẽ thảo luận về khả năng hội đủ điều kiện của nam giới cho chức tư tế.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô cầu nguyện cho hòa bình thế giới tại đền thờ Đức Bà Cả

Đức Phanxicô cầu nguyện cho hòa bình thế giới tại đền thờ Đức Bà Cả

Chiều chúa nhật 6 tháng 10, Đức Phanxicô đến đền thờ Đức Bà Cả cầu nguyện cho hòa bình thế giới trước tượng Đức Mẹ bảo vệ người dân La-mã, Populi Romani. / Vatican MEDIA Divisione Foto

vaticannews.va, 2024-10-06

Dưới cái nhìn yêu thương của Đức Maria, Giáo hoàng Phanxicô cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Ngài lần chuỗi Mân Côi hiệp thông với tín hữu trên toàn thế giới để cầu nguyện cho hòa bình: “Xin Đức Mẹ cầu bàu cho thế giới chúng con đang bị chiến tranh đe dọa, để thế giới chúng con có thể bảo tồn sự sống và loại bỏ chiến tranh.” Hướng về Đức Mẹ, ngài dâng lên Mẹ lời cầu xin hy vọng cho thế giới đang bị bất công và chiến tranh tàn phá.

Như đã thông báo trong thánh lễ khai mạc phiên họp thứ nhì của Thượng Hội đồng lần thứ 16 ngày thứ tư 2 tháng 10 năm 2024, hôm nay ngài đến đền thờ Đức Bà Cả cầu nguyện: “Xin Mẹ cứu giúp chúng con trong thời điểm bị áp bức vì bất công, bị tàn phá vì chiến tranh, xin Mẹ lau nước mắt trên khuôn mặt đau khổ của những người đang khóc cho cái chết của người thân yêu.”

Sau khi lần tràng hạt, ngài xin những người có mặt trong thánh đường cầu nguyện. Trong số này có các thành viên đang tham dự Thượng Hội đồng, thành viên Giáo triều Rôma và Ngoại giao đoàn.

Cũng như năm ngoái, cũng giữa kỳ họp Thượng Hội đồng, Đức Phanxicô kêu gọi các cha mẹ, giáo dân trong giáo phận Rôma hiệp nhất trong lời cầu nguyện chung để cầu nguyện cho hòa bình trong một thế giới bị tàn phá bởi xung đột. Nhưng không như năm ngoái, khi chiến tranh vừa nổ ra ở Trung Đông, năm nay chiến tranh như ở trên bờ vực thẳm, bạo lực gia tăng, căng thẳng giữa Palestine, Israel, Iran và Lebanon. Trong giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật, ngài lặp lại lời kêu gọi ngừng bắn ngay lập tức “trên mọi mặt trận” và xin cộng đồng quốc tế “chấm dứt vòng xoáy trả thù”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Ngoài chức phó tế nữ: Thượng hội đồng còn và không còn những vấn đề nào?

Ngoài chức phó tế nữ: Thượng hội đồng còn và không còn những vấn đề nào?

 wherepeteris.com, Pedro Gabriel, 2024-10-05

Tại lễ khai mạc Phiên họp thứ nhì của Thượng Hội đồng ngày 2 tháng 10, giới truyền thông chú ý đến bài phát biểu của Hồng y Victor Fernández về khả năng phong chức phó tế cho phụ nữ.

Trọng tâm chú ý của dư luận là về chức phó tế nữ, nhưng trọng tâm của Thượng Hội đồng ở một hướng khác. Trong bài phát biểu, Hồng y Fernández nhận xét: “Có một câu hỏi về việc phụ nữ có thể đến với chức phó tế nữ không… Chúng ta biết lập trường công khai Đức Phanxicô, ngài không xem vấn đề này đã chín chắn.”

Hồng y nêu bật công việc của hai Ủy ban hiện có về chủ đề này và cho biết kết luận sẽ được đưa vào tài liệu cuối cùng. Hồng y lưu ý một số can thiệp “hiếm khi được lắng nghe” của Đức Phanxicô như Tông huấn Niềm vui Tin mừng, Tông huấn Querida Amazônia Tông huấn Antiquum Ministerium.

Những Tông huấn này nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chức thánh giáo dân, cảnh báo việc “giáo sĩ hóa phụ nữ” – một quan niệm cho rằng phụ nữ sẽ có địa vị và tham dự nhiều hơn vào Giáo hội khi họ được nhận vào Chức thánh. Như thế là xem chức linh mục thừa tác là “quyền lực và thống trị”, chứ không phải phục vụ theo tinh thần hướng đến sự thánh thiện của các chi thể của Chúa Kitô.

Hồng y Fernández lưu ý: “Vẫn còn cơ hội để nghiên cứu sâu hơn, nhưng trong tâm trí Đức Phanxicô còn có những chủ đề khác phải được đào sâu và giải quyết, nếu không chức phó tế sẽ là một hình thức an ủi cho một số phụ nữ, và các vấn đề về việc tham gia của phụ nữ trong Giáo hội sẽ bị bỏ qua.”

Trong buổi họp báo ngày 4 tháng 10, Giám mục Anthony Randazzo, thành viên Ủy ban Thông tin của Hội đồng Thượng hội đồng đã giải thích rõ : “Hiện nay, có một câu hỏi liên quan đến việc phong chức đã diễn ra liên tục trong nhiều năm, không chỉ với Thượng Hội đồng, Đức Phanxicô đã xin nghiên cứu vấn đề này nhiều lần và hiện tại có một nhóm nghiên cứu ngài thành lập để đưa vấn đề này ra khỏi cuộc thảo luận chung.”

Giám mục Randazzo giải thích, mục đích không phải để loại bỏ chủ đề khỏi trao đổi chung nhưng để nghiên cứu vấn đề này ở những nơi khác, nhưng không nên thực hiện với cái giá là phẩm giá của phụ nữ trong Giáo hội và trên thế giới: “Hiện tại, khi chúng ta nói về phụ nữ trong Giáo hội, chúng ta xem phụ nữ bị đối xử như công dân hạng hai, bị bỏ rơi trong Giáo hội và trên thế giới, điều này thật đáng xấu hổ, tất cả chỉ vì một nhóm thiểu số nhỏ với tiếng nói mạnh mẽ của phương Tây bị ám ảnh phải thúc đẩy vấn đề này.”

Không chỉ các phó tế nữ mà còn nhiều chủ đề gây tranh cãi khác như thảo luận các vấn đề LGBTQ cũng bị loại khỏi chương trình nghị sự thảo luận chính của cuộc họp.

Ngay từ năm 2023, trong Phiên họp đầu tiên của Thượng hội đồng, Đức Phanxicô đã xin các nhà báo chuyển hướng tập trung của họ khỏi các vấn đề gây tranh cãi, thay vào đó nhấn mạnh nhiệm vụ chính của Thượng Hội đồng là lắng nghe tiếng thúc giục của Chúa Thánh Thần.

Trong Thượng Hội đồng về Gia đình, sự hiệp thông được trao cho những người đã ly hôn, và Thượng Hội đồng bắt đầu với tinh thần này. Trong Thượng Hội đồng Amazon, dư luận, áp lực cho rằng các ông đã lập gia đình viri probati sẽ được phong chức và chúng ta làm việc dưới áp lực này. Bây giờ có những suy đoán: “Thượng Hội đồng sẽ làm gì?, có lẽ nên phong chức cho phụ nữ… Tôi không biết, đó là những điều họ nói bên ngoài.”

Đức Phanxicô thúc giục các nhà báo làm tốt và công bằng công việc của họ, để Giáo hội và những người thiện chí có thể hiểu trong Giáo hội, việc lắng nghe là: “Xin anh chị em truyền đạt điều này: nó rất quan trọng.”

Lắng nghe, Lòng thương xót và Đón nhận Chúa Thánh Thần

Trong bài phát biểu khai mạc Thượng Hội đồng, Đức Phanxicô đã xin các thành viên tham dự suy nghĩ về “cách trở thành một Giáo hội theo tinh thần công đồng, truyền giáo và thương xót”. Trước đó trong buổi canh thức sám hối ngày 1 tháng 10, ngài giải thích chúng ta không thể là “Giáo hội theo tinh thần công đồng nếu không có hòa giải”. Tội lỗi luôn làm tổn thương các mối quan hệ với Chúa và với người anh em: “Chỉ bằng cách chữa lành những mối quan hệ tan vỡ này, chúng ta mới có thể là Giáo hội theo tinh thần công đồng.”

Buổi canh thức bao gồm chứng từ của các nạn nhân chiến tranh, bất công xã hội và các lạm dụng của Giáo hội. Thay mặt giáo dân, bảy Hồng y đã xin được tha thứ cho những tội lỗi Giáo hội đã phạm phải: “Tôi xấu hổ xin được tha thứ vì tất cả những lần chúng tôi không công nhận anh chị em khi không xem các lời khuyên trong Phúc Âm như nguồn sống mới mẻ vĩnh cửu, nhồi nhét và biến những lời khuyên này thành đống đá dùng để ném vào người khác.”

Ngài cũng xin lỗi về những trường hợp dùng “những biện minh giáo lý để bảo vệ những hành vi vô nhân đạo hoặc khi Giáo hội không làm tròn vai trò là chứng nhân đáng tin cậy, không có được sự hội nhập văn hóa hợp pháp về chân lý của Chúa Giêsu Kitô,” Đấng gặp gỡ tất cả những ai trên con đường đi tìm Ngài.

Hồng y đã thêm tội “hành động thiếu sót đã cản trở và tiếp tục cản trở sự hiệp nhất đức tin kitô giáo và tình huynh đệ đích thực của toàn thể nhân loại”.

Ngày hôm sau, trong Thánh lễ khai mạc Thượng Hội đồng tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Phanxicô nhấn mạnh: “Thượng hội đồng không phải là một phiên họp Quốc hội nhưng là nơi lắng nghe trong sự hiệp thông.”

Để có được điều này, Thượng Hội đồng phải tiếp nhận tất cả các đóng góp được thu thập trong ba năm của tiến trình “với sự tôn trọng và chú ý, trong lời cầu nguyện… để cùng nhau phân định tiếng nói của Chúa đang nói với Giáo hội”.

Ngài giải thích: “Những ai kiêu ngạo tuyên bố họ độc quyền nghe tiếng gọi của Chúa, thì họ không thể nghe được. Chúng ta không có giải pháp cho những vấn đề chúng ta phải đối diện, nhưng Chúa thì có. Không có vấn đề đa số và thiểu số… điều quan trọng là hòa hợp, một hòa hợp chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể ban được. Ngài là hòa hợp và có khả năng tạo ra tiếng nói chung giữa các tiếng nói khác nhau. chúng ta đã thấy Ngài làm việc trong Lễ Hiện xuống.”

Vì thế chúng ta được yêu cầu cùng nhau làm việc theo bản giao hưởng, trong một sáng tác hợp nhất để tất cả chúng ta phục vụ trong lòng thương xót Chúa, phù hợp với các chức vụ, các đặc sủng khác nhau mà Giám mục có nhiệm vụ công nhận và thúc đẩy.

Tóm lại, Thượng Hội đồng là quá trình “cùng nhau hành trình, trong đó Giáo hội được Chúa Thánh Thần hướng dẫn sẽ đọc được các dấu chỉ của thời đại, liên tục đổi mới và hoàn thiện tính bí tích của mình”.

Có 10 nhóm nghiên cứu thần học trong Thượng Hội đồng, họ tập trung vào các chủ đề cụ thể như chăm sóc mục vụ cho giáo dân trong các hôn nhân đa thê ở Châu Phi, các thành viên được mời tham gia thảo luận về chủ đề này. Thượng hội đồng sẽ kết thúc ngày 27 tháng 10.

Pedro Gabriel, giáo dân, nhà văn, bác sĩ công giáo Bồ Đào Nha, chuyên gia về ung thư, hiện đang làm việc tại một bệnh viện công của Bồ Đào Nha.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

“Đúng, Giáo hội có vấn đề”

“Đúng, Giáo hội có vấn đề”

osservatoreromano.va, Marie-Lucile Kubacki, 2024-03-02

Phụ nữ, tình huynh đệ, sự khác biệt: phỏng vấn Tổng Giám mục Jean-Paul Vesco, giáo phận Algiers

Tổng Giám mục người Pháp-Alger Jean-Paul Vesco, 61 tuổi, giáo phận Alger, ngài đã suy nghĩ rất nhiều về khái niệm tình huynh đệ và tính khác biệt, một trong những thành quả qua kinh nghiệm của ngài ở Algeria và việc ngài thuộc dòng Đa Minh đã soi sáng suy nghĩ của ngài về phụ nữ.

Giáo hội Công giáo có vấn đề với phụ nữ không?

Giám mục Jean-Paul Vesco. Câu hỏi của bà hơi khiêu khích, nhưng đúng vậy, trong nhiều thế kỷ, Giáo hội có vấn đề với phụ nữ, giống như hai tôn giáo đơn thần khác (hồi giáo và do thái giáo) và có lẽ là hầu hết các tôn giáo. Đây không phải là lời bào chữa, nó sẽ rất tốt và chính đáng nếu nó đã khác đi ngay từ đầu! Với một vài trường hợp ngoại lệ đáng mừng gần đây, ngoài ra phụ nữ gần như vắng mặt trong việc quản trị và giảng lễ, nhưng họ lại có mặt ở mọi nơi khác. Họ là xương thịt của các giáo xứ, là linh hồn của các giáo hội tại gia, là chuyên gia dạy giáo lý.

Trong cách chúng ta giới thiệu, theo định nghĩa Giáo hội là vượt thời gian, một Giáo hội phụ hệ nằm ngoài dòng thời gian, ngoài thời trang, ngoài sự đào thải của thời gian. Tuy nhiên, nếu Giáo hội không có sự tham dự mạnh mẽ hơn của phụ nữ vào các vị trí trách nhiệm và tầm nhìn, Giáo hội chúng ta có nguy cơ là một Giáo hội lỗi thời, không phải phi thời gian nhưng lỗi thời, lỗi thời trong tổ chức của mình. Giáo hội công giáo là Giáo hội phổ quát, nếu Giáo hội không thuộc về thế giới thì Giáo hội đã được khắc ghi rõ ràng trên thế giới và không thể dựa vào logic tự quy chiếu trong mối quan hệ với thế giới. Câu hỏi về trách nhiệm của giáo dân, từ đó là câu hỏi trách nhiệm của phụ nữ trong các cuộc tham vấn trước Thượng Hội đồng đã rõ ràng. Cuộc chiến giữa các cậu bé giúp lễ quanh bàn thờ như đã thấy ở một số nơi, không còn xảy ra nữa. Trong các thánh bộ của Vatican, nơi phụ nữ bắt đầu đông hơn trước, họ đảm nhận các trách nhiệm cao hơn, những nơi đó bầu khí đã hoàn toàn khác. Chỉ cần một vài phụ nữ là giáo triều không còn là cộng đồng giáo sĩ vốn rất dễ bị kỳ thị.

Người ta thường nói bây giờ không thể triệu tập một công đồng ở cấp độ Giáo hội hoàn vũ do khó khăn vật chất khi tập hợp hơn 5.000 giám mục. Nhưng bây giờ không còn là vấn đề nữa. Hình ảnh Thượng Hội đồng ở Hội trường Phaolô VI với các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân nam nữ ngồi quanh các bàn đồng cấp cho thấy thời đã thay đổi, nhận thức Thượng Hội đồng không thể chỉ do các giám mục quyết định. Một cách nào đó, Thượng Hội đồng về tính đồng nghị rất tự nhiên đã làm cho triển vọng về một Công đồng Vatican III trở nên lỗi thời! Ngày nay ai có thể tưởng tượng tương lai của Giáo hội chỉ được Hội đồng Giám mục chỉ định?

Vị trí của phụ nữ trong việc quản lý giáo phận Algiers là gì?

Trong giáo phận của chúng tôi, tôi muốn có một nhóm nhỏ phụ nữ bên cạnh các hội đồng khác nhau, bao gồm các nhân vật lãnh đạo giáo phận: tổng đại diện, tổng thư ký, thủ quỹ, phó thủ quỹ, chịu trách nhiệm về diakonia và tôi, tạo thành một đội gồm bốn phụ nữ và hai nam giới. Hầu hết các quyết định, chúng tôi đều cùng nhau suy nghĩ. Nói chung, tôi sống trong môi trường chủ yếu là nữ và đó là niềm vui của tôi mỗi ngày! Nhưng điều này không có nghĩa là không có va chạm. Một ngày nọ, một phụ nữ nói với tôi: “Cuối cùng thì việc này tùy thuộc vào cha!” Đó là sự thật và đó cũng là vấn đề. Trong Giáo hội công giáo chúng ta, các giám mục đưa ra quyết định và thực hiện chúng. Mô hình chắc chắn có thể phát triển. Về mặt này, các mô hình quản trị đời sống tu trì có thể cho cảm hứng: nhiều quyết định được đưa ra trong các cuộc họp tổng tu nghị hoặc trong Hội đồng đã được bầu chọn, và những hạn chế về quyền ra quyết định của bề trên không làm mất đi quyền lực biểu tượng của họ. Theo tôi, có vẻ như trong hầu hết các trường hợp, điều này nói lên lòng tin tưởng nảy sinh từ sự hiểu biết nhau và theo đuổi một dự án chung, có nghĩa phần lớn các quyết định đều đã được đồng thuận rộng rãi khi nói đến những vấn đề chưa nhất trí. Dù sao, ý kiến của mỗi người và mọi người đều được lắng nghe và cân nhắc theo cách này hay cách khác trước các quyết định có ảnh hưởng đến họ. Tôi nghĩ đó là một kinh nghiệm mạnh mẽ cho tất cả mọi người, kể cả tôi!

Đằng sau vấn đề của phụ nữ là vấn đề chỗ đứng của giáo dân…

Tất nhiên! Trong giai đoạn cấp giáo phận, tại giáo phận Algiers, mong muốn của giáo dân trong nước là được tham gia vào đời sống của Giáo hội. Họ xem Giáo hội là Giáo hội của họ một cách đúng đắn vì đó là Giáo hội Algeria. Tuy nhiên, họ cảm thấy bị gạt ra ngoài lề để ủng hộ những thành viên thường trực như chúng tôi, cơ bản là tu sĩ và là người nước ngoài, những người kể từ khi đất nước độc lập đã chiếm đa số trong sinh hoạt Giáo hội. Trên thực tế, họ gần như vắng mặt trong các cơ quan ra quyết định. Chúng tôi đã nghe thấy lời kêu gọi này và đã nghiêm túc xem xét trong các ban kinh tế và các ban mục vụ khác của Hội đồng Giám mục. Trong Hội đồng Giám mục có ba linh mục, một nữ tu, một giáo sĩ và bốn giáo dân người Algeria trong đó có hai phụ nữ. Và đã làm bầu khí thay đổi hoàn toàn. Một lần nữa, chúng tôi thoát ra tình cảnh chỉ có chúng tôi với nhau. Nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng, các chuyện cũ phải cất giữ trong tủ. Chúng tôi phải học cách hiểu bản thân và đo lường vực thẳm của sự khó hiểu, đôi khi ngăn cách mà chúng tôi không nhận thức vì  không có nơi để trình bày. Giáo hội phải thành Giáo hội ít giáo sĩ hơn, đây là một thách thức với Giáo hội hoàn vũ ở mọi cấp độ và mọi nơi. Vấn đề này không phải là không có yêu sách về quyền lực, với tất cả những gì có thể làm khó chịu. Nhưng trách móc người khác vì họ muốn nắm quyền thường có nghĩa là mình muốn thực hiện quyền đó nhưng lại không ý thức được điều này. Đó là lý do vì sao tôi cảm thấy rất khó nghe khi các yêu cầu của phụ nữ trong Giáo hội bị bác bỏ với câu hỏi: “Tại sao họ lại muốn quyền lực?”

Trong một số xã hội, hoạt động của Giáo hội bị căng thẳng vì  những vấn đề này với lý tưởng dân chủ!

 Nguyên tắc tổ chức thứ bậc của Giáo hội bắt nguồn từ chế độ quân chủ… việc kế thừa cha truyền con nối phải được bảo tồn! Chính tổ chức của con người đã bảo đảm cho sự thống nhất gần như ngay từ đầu và nó đã chứng tỏ được mình. Trong mọi trường hợp, chúng ta là như vậy. Điều này không loại trừ các hoạt động và cơ quan dân chủ hơn bên trong, giống như các chế độ quân chủ hiện đại. Anh chị em của chúng ta trong các Giáo hội tin lành về bản chất có văn hóa dân chủ này, nghĩa là có tính đồng nghị, chắc chắn chúng ta sẽ học được rất nhiều từ họ trong phong trào lớn lao về tính đồng nghị theo kiểu công giáo do Đức Phanxicô khởi xướng. Động lực đồng nghị sẽ không dừng lại, nó sẽ mở rộng và lan rộng đến mọi cấp độ của Giáo hội mà không đặt câu hỏi về cơ cấu bí tích của nó. Bất kỳ bước lùi nào cũng sẽ thành lỗi thời hoàn toàn vì Giáo hội là công việc của tất cả những người đã được rửa tội. Niềm tin sâu sắc của tôi là trách nhiệm trong Giáo hội, trong đó các vấn đề về quyền lực bị bóp méo, trách nhiệm sẽ gia tăng cùng lúc với việc nó được chia sẻ. Chia sẻ trách nhiệm có nghĩa là tăng trách nhiệm này và Giáo hội chúng ta đang gặp tình trạng thiếu sót lớn trong việc đảm nhận trách nhiệm.

Cha nghĩ gì về chức phó tế nữ?

Cá nhân tôi, tôi hy vọng được như vậy! Theo tôi, dường như không thể lấy đi quyền của các tín hữu, và do đó cũng là của cả tôi, trong việc nữ giới tiếp nhận Lời Chúa. Không có một lý lẽ nào biện minh thuyết phục được tôi. Vì vậy, đúng, tôi muốn vấn đề chức phó tế nữ sẽ được đi tới hoặc ít nhất một bước nữa được thực hiện theo hướng trao quyền cho phụ nữ và những giáo dân được đào tạo để chú giải Lời Chúa trong thánh lễ ngày chủ nhật. Khác với thừa tác vụ linh mục, chức phó tế nữ có nguồn gốc từ truyền thống của Giáo hội và tôi thấy khó khăn khi gặp phản đối. Vấn đề mục vụ này cũng như vấn đề quản trị, chân trời sẽ mở rộng ra khi chúng ta tiến bước. Những gì ngày hôm qua tưởng như không thể, ngày mai sẽ thành dễ dàng. Ngày nay sự hiện diện độc quyền nam giới trong đoàn rước khi tiến lên bàn thờ là chuyện hiển nhiên. Nhưng liệu một ngày nào đó nó sẽ thành lỗi thời không? Chỉ riêng việc đặt câu hỏi đã mang lại sự thay đổi trong cách nhìn…

Có phải vấn đề xuất phát từ thực tế, ơn gọi của phụ nữ thường không được cho là tự thân nhưng liên quan đến ơn gọi của nam giới không?

Đúng vậy, theo truyền thống, ơn gọi của phụ nữ trong Giáo hội được cho là ơn gọi bổ sung. Điều này không còn đủ, ơn gọi này phải được nghĩ theo một dạng khác. Ơn gọi nữ giới tự nó có giá trị riêng của nó. Chiều kích khác biệt này có trong đời sống hôn nhân. Các nhiệm vụ được chia sẻ, cha mẹ đều làm việc, đều chăm sóc con cái… mỗi người hoàn thành công việc của mình theo giới tính, theo tính cách… Nhiệm vụ giống nhau nhưng cách thực hiện khác nhau và đúng cho tất cả mọi người. Làm sao chúng ta có thể nghĩ không có tiếng vang của sự tiến hóa xã hội trong Giáo hội theo cách thực thi các đặc sủng và mục vụ; truyền thống không phải là một xác chết nhưng là một thân thể sống, vừa bất động vừa luôn chuyển động.

Câu hỏi về sự khác biệt này là câu hỏi về tình huynh đệ. Thật vậy, tình huynh đệ vừa đòi hỏi, vừa làm cho sự khác biệt trở nên khả thi. Điều này không hoàn toàn đúng với tình phụ tử thiêng liêng. Tôi tin vào tình phụ tử thiêng liêng, là tu sĩ được Dòng Đa Minh đào tạo, tôi trải nghiệm được điều này. Nhưng tình phụ tử thiêng liêng này tôi nhận được từ người anh em của tôi, của một bản ngã khác tiến bộ hơn tôi rất nhiều trong đời sống tu trì cũng như trong sự thánh thiện. Nếu ngài không chết trước đó, tôi đã có thể là bề trên Tỉnh Dòng của ngài. Tôi gặp khó khăn với tình phụ tử thiêng liêng bị thể chế hóa như chúng ta có kinh nghiệm trong Giáo hội. Các vai trò này không bao giờ đảo ngược, giống như vai trò làm cha trong đời thực với các mối quan hệ tiếp tục phát triển giữa cha mẹ và con cái trong suốt cuộc đời. Sẽ có ngày con cái chăm sóc cha mẹ. Việc gia trưởng giữ quyền của mình cho đến chết lại là một chuyện khác. Theo nghĩa này, với tôi, tình phụ tử thiêng liêng bị thể chế hóa dường như giống mô hình gia trưởng hơn là tình cha cha con. Tình huynh đệ, giống như anh chị em thực sự, làm cho mọi hình thức quan hệ trở nên khả thi. Trong một thời gian, người chị lớn có thể đóng vai người mẹ cho em trai mình. Sẽ luôn còn lại một điều gì đó, nhưng mọi người sẽ trải nghiệm sự khác biệt cơ bản mà họ nhận được khi họ là con cùng một cha một mẹ. Cuộc sống sẽ làm phát triển mối quan hệ và có thể có khi làm đảo ngược mối quan hệ này.

Tôi tin sâu sắc Giáo hội chúng ta nên xem mình như một cộng đồng gồm các anh chị em. Đó là lời chứng cao nhất Giáo hội có thể đưa ra cho thế giới. Hơn cả tranh giành quyền lực, sự tái cân bằng cần thiết giữa giáo sĩ và giáo dân, giữa nam và nữ là vấn đề của sự khác biệt và tình huynh đệ. Nếu tôi thích được gọi là sư huynh hơn là cha hay Đức ông thì không phải vì khiêm tốn hay làm bộ làm tịch, nhưng chính vì khác biệt ở đây không phải là một lựa chọn, nhưng là điều hiển nhiên: Tôi cần các anh, các chị của tôi ở giáo phận của tôi, tôi cần anh em Đa Minh của tôi để tôi là của họ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tổng giám mục Vesco về các nữ phó tế: “Điều dường như không thể hôm nay sẽ trở thành điều tự nhiên ngày mai”

Bài mới nhất