Home Blog Page 134

Khi bố hoặc mẹ có mặt tại Thượng Hội đồng

Khi bố hoặc mẹ có mặt tại Thượng Hội đồng

cath.ch, Maurice Page, 2024-10-24

Ông bà Viktor, Maria Sabov và ba người con | DR

Một diễn biến mới mới tại Thượng Hội đồng, 26% trong số 368 thành viên bỏ phiếu của Thượng Hội đồng không phải là giám mục. Trong số 96 thành viên giáo dân, có một số là cha mẹ, một số có con còn nhỏ. Tạp chí National Catholic Register của Mỹ cho biết, không những họ phải thu xếp lịch trình làm việc bận rộn, nhưng họ còn phải thu xếp việc nhà để tham dự.

Bà Kelly Paget, một trong mười thành viên đến từ Châu Đại Dương, bà là chưởng ấn của giáo phận Broken Bay, phía bắc Sydney, Úc với chín múi giờ cách biệt Vatican. May mắn, giờ giải lao uống cà phê ở Thượng Hội đồng trùng với giờ ba con trai của bà – 13, 10 và 6 tuổi – đi ngủ nên bà có thể chào các con trước khi chúng đi ngủ: “Tôi liên lạc với gia đình qua video, cầu nguyện buổi tối với chồng và các con trai, chúc họ ngủ ngon.” 

Vợ của linh mục

Cách đây vài ngày, bà Maria Sabov, 37 tuổi nhận điện thoại bất ngờ của Pavlo, đứa con trai 9 tuổi khi bà đang dự cuộc họp quan trọng. Pavlo cần bà giúp làm bài. Bà nhanh chóng giúp con bằng tiếng mẹ đẻ Ukraine trước khi quay lại làm việc. Bà nói: “Các bạn ở Thượng Hội đồng nói đùa, trách nhiệm làm cha mẹ không bao giờ ngưng, dù đang họp ở Thượng Hội đồng!” Bà là vợ của linh mục công giáo Hy lạp Viktor ở Mukachevo, Ukraine. Bà có ba người con 15, 13 và 9 tuổi.

Ông José Manuel De Urquidi, 40 tuổi cũng tận dụng giờ giải lao để nói chuyện với ba đứa con 10, 7 và 4 tuổi ở Dallas, Texas. Các con trên đường đi học, còn ông, ông chuẩn bị đi ngủ ở Rôma.

Hàng ngày, ông nói chuyện với vợ trước khi rời phòng họp lúc 7 giờ 40 tối. Họ nói chuyện với nhau về việc nhà và cùng quyết định với nhau.

Phó tế người Bỉ Geert De Cubber, 50 tuổi cho biết: “Tôi không có mặt ở nhà ngày sinh nhật đứa con thứ hai, tôi có ba con trai, 22, 21 và 19 tuổi. Chúng tôi nói chuyện lâu qua điện thoại, những chuyện bình thường của cha con.” 

Phân định trong gia đình

Các cha mẹ dự Thượng Hội đồng hiểu việc xa nhà cả tháng trời là điều khó khăn, nhưng họ hiểu chuyện gì sẽ xảy đến khi họ chấp nhận đi.

Tất cả đều giải thích, họ cần phân định để xem chuyến đi Rôma dự Thượng Hội đồng có ý nghĩa gì với họ và với gia đình.

Phó tế Geert de Cubber giải thích: “Chúng tôi đã tổ chức một ‘thượng hội đồng gia đình’ với vợ và ba con trai. Tất cả đều khuyến khích tôi đi, nếu có một người không đồng ý, tôi sẽ không có mặt ở Rôma lúc này.”

Còn với bà Maria Sabov ở Ukraine thì quyết định khó khăn hơn vì cuộc chiến với Nga. Ngoài vai trò là vợ của linh mục, bà còn giữ vai trò thiết yếu trong cộng đồng giáo xứ. Sau khi thảo luận với chồng con, tất cả đều đồng ý Thượng Hội đồng là cơ hội quan trọng để bà đại diện cho đất nước: “Đó là trách nhiệm, sứ mệnh quan trọng và vinh dự với tôi.”

Bà Kelly Paget cho biết: “Chính Chris, người chồng đã khuyến khích bà tham dự Thượng Hội đồng. Anh nói, tôi phải có mặt ở đây và anh sẽ làm mọi cách để tôi đi. Tôi nhớ chồng con, nhưng cha mẹ tôi, cha mẹ chồng giúp gia đình tôi rất nhiều. Tôi rất vui vì các con được chăm sóc đầy đủ và không thiếu tình thương.”

Các cha mẹ đến dự Thượng Hội đồng đều tin họ có điều gì đó đặc biệt để đóng góp và rất biết ơn khi được tham gia. Đây là trường hợp của bà Kelly Paget, mẹ của một người con bị chứng tự kỷ: “Tôi cố gắng hết mình để chia sẻ với hy vọng tôi có thể giúp ích cho nhiều người khác, những người mong muốn được đón nhận trong cộng đồng giáo xứ của họ.”

Phó tế De Cubber lưu ý: “Làm cha mẹ là phải biết cùng nhau phân định. Một gia đình là một cộng đồng đức tin nhỏ, một thượng hội đồng nhỏ.”

Bà Maria Sabov vinh dự được chia sẻ quan điểm của mình với tư cách là tín hữu công giáo Đông phương, bà cho biết “quan trọng là hỗ trợ các giá trị gia đình trong cộng đồng Giáo hội”.

Sinh nhật với Đức Phanxicô

Còn với ông Jose De Urquidi, việc tham gia dự Thượng Hội đồng đã giúp cho Inés, con gái lớn 10 tuổi của ông có kỷ niệm không bao giờ quên: bữa tiệc sinh nhật với Đức Phanxicô. Vợ chồng ông đi Rôma nhân dịp sinh nhật con 10 tuổi. Họ bước vào Hội trường Phaolô VI và cả hội trường hát bài “Chúc mừng sinh nhật”. Đức Phanxicô mừng sinh nhật Inés với bánh truyền thống Argentina, ngài nói với Inés: “Cám ơn con đã cho Thượng Hội đồng mượn bố con!”

Marta An Nguyễn dịch

Chân phước Carlo Acutis và Huyền ẩn

Chân phước Carlo Acutis Huyền ẩn

“Chúng ta tất cả sinh ra đều là bản gốc, nhưng nhiều người chết đi như bản sao.” Carlo Acutis

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles. Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator Marta An Nguyễn dịch

Lời này cho thấy Carlo tự tin vào cuộc sống. Nếu nhìn từ bên ngoài thì thật khó hiểu, nhưng với Tin Mừng thì chúng ta cảm thấy mình như đang dự một buổi họp mặt rất vui ở bãi biển, thấy mình là người được ưu tiên dự vào sự thật. Các bạn trẻ quá can đảm, họ không sợ đối diện với huyền ẩn. Chúng tôi tin vào bản gốc. Và theo một cách độc đáo, chúng tôi đứng về phía chống mọi tiêu chuẩn hóa, chống các hệ tư tưởng, chống lại

thị trường, là những tâm hồn thẳng thắn, chúng tôi tin chắc một ngày nào đó chúng tôi sẽ hiểu được tính độc đáo của những gì Tin Mừng mang lại. Chỉ cần nhìn nụ cười của chúng tôi và dự vào các cuộc gặp của chúng tôi là quý vị hiểu.

Không ai nghĩ đến Ngày Thế Giới Trẻ đã có ảnh hưởng lớn đến như thế nào với những ngày cầu nguyện cho ơn gọi, những ngày thảo luận các đề tài hấp dẫn. Ai cũng biết việc đi tìm sự độc đáo của chúng tôi đang bị suy yếu. Đây không phải là lỗi của ai, có cả một hệ thống tin và cần chúng tôi và chúng tôi muốn trở thành một phần của điều gì đó. Không có hệ thống nào thừa nhận tính độc đáo thực sự. Nó sẽ nổ tung. Và để tuân theo sự độc đáo của riêng mình, chúng ta cần kiên nhẫn và can đảm. Phải mất thời gian. Chúng ta phải học.

Thật bình thường để không nhận ra việc ăn mặc quá xưa cổ, mình sẽ như con cừu. Ở tuổi 15, việc phá vỡ quy tắc là điều bình thường, vì – và đây cũng là một nghịch lý – mọi người đều làm như vậy! Đứng về phía bên này hay bên kia chỉ là một cách để được công nhận, để tồn tại. Đó là chuyện bình thường, Carlo, vì ở tuổi 15, nếu không tin vào chuyện này, nếu không nổi bật lên một chút thì Carlo chỉ là ông già trong thể xác của người trẻ. Ngày hôm nay, những gì còn lại của tất cả những điều này là gì? Với những người khiêm tốn, vui vẻ chấp nhận hành động của mình chỉ là bản sao, kiểu copy-paste thì sẽ ra sao? Với những người còn biết thương mình, còn cười ngày này qua ngày kia nối tiếp nhau và giống nhau, thì chúng ta còn câu nói tuyệt vời này của Carlo để an ủi, câu nói mang một sự thật vĩ đại.

Tất cả chúng ta đều là “bản gốc” vì chúng ta có cùng một nguồn gốc. Đây là con đường mới, con đường giải phóng, nhưng phải đi ra khỏi trọng tâm. Một cách thảm hại, tôi không được cố gắng để là “bản gốc” bằng mọi giá. Tôi thực sự trở thành chính tôi nếu mỗi ngày tôi cố gắng đến gần hơn, tiếp xúc với nguồn gốc của tôi. Đỉnh cao của nghịch lý: tất cả chúng ta đều là những đứa trẻ có cùng một nguồn gốc. Nói cách khác, chúng ta càng trở nên nguyên bản thì chúng ta càng cảm thấy mình là một phần của cùng một cuộc sống. “Thiên Chúa phán: Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất…” (St 1:26).

Chúng ta sinh ra như những bản sao. Mỗi cuộc đời là mỗi khác, nhưng nó thường giống bản sao của những câu chuyện giống nhau: chúng ta sinh ra, chúng ta yêu nhau, chúng ta có con cái, chúng ta bệnh và chúng ta chết. Liên tục như vậy. Tuy nhiên, mỗi cử chỉ yêu thương mới là một phần của câu chuyện trong đó mỗi người chúng ta được mời gọi tiến về Nguồn cội. Chúng ta đến từ đâu? Chúng ta đang đi đâu? Tôi sống, và bằng cách sống, tôi trả lời các câu hỏi này, và khi tìm cách trả lời, tôi khám phá tôi là đứa con của Nguồn gốc, theo hình ảnh và theo sự giống nhau với Nguồn gốc. Đặc biệt là khi tôi yêu.

Khi đó tôi không còn yêu cái gọi là độc đáo của tôi nữa, tôi chìm đắm trong sự chiêm ngưỡng đầy biết ơn về Nguồn gốc của vạn vật. “Mọi thứ” này rất sâu sắc và tôi nhận ra tính nguyên bản của mỗi sinh vật, tính nguyên bản này thường thoát khỏi chúng ta. Nguồn gốc này gọi chúng ta bằng tên, yêu thương chúng ta.

Không thể chết như những bản sao, chính vì cái chết chính là thời điểm làm chúng ta khác biệt nhất. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người chết, quá nhiều. Tôi đã ở đó trong những ngày cuối cùng của họ, tôi thấy cuộc sống thay đổi trong hơi thở cuối cùng, và mỗi cái chết là duy nhất, mỗi người trải nghiệm nó trong nỗi cô đơn huyền bí, nhìn về một chân trời vô hình trước mắt những người ở lại. Nếu việc sinh con giống nhau, như hàng triệu trẻ em sinh ra, nhưng không đúng với cái chết. Chính cái chết đã giải thoát chúng ta khỏi sự nghi ngờ rằng mình chẳng là gì khác ngoài những bản sao. Có lẽ vì đó là điểm nhìn thấy Cội nguồn, gần nhất, là điểm nhìn thấy rõ nhất với những người ở lại.

Carlo có sức hấp dẫn này của Nguồn gốc. Ở tuổi 15, khi chúng ta tràn đầy sức sống, tự tin, táo bạo để đấu tranh, để trở nên khác biệt với mọi người, chúng ta ghét làm bản sao. Khi lớn lên, cuộc sống trôi qua với những nghi thức không ngừng nghỉ và có rất ít thì giờ để nghỉ ngơi. Với nhiều người, cuộc sống thường nhàm chán, thiếu quan điểm, chỉ để lại cảm giác “đã thấy”.

Chúng ta cố gắng thoát khỏi thói quen, với hàng ngàn thủ thuật nguyên bản. Chúng ta không thể nói ra, và ở tuổi 15 chúng ta cũng không thể biết được, nhưng đến một lúc nào đó, chúng ta nhận ra cuộc đời chỉ là một bản sao lớn. Khi còn nhỏ, tôi đã học được bài học sau. Tôi ở Milan và thấy những tấm quảng cáo trên tường về buổi biểu diễn xiếc mùa đông, một điều mới lạ không thể chấp nhận được trong năm. Nhưng lúc đó đã là mùa xuân và những tấm áp phích đã bị xé bỏ. Rạp xiếc đã đi đến các thành phố khác. Tôi nhớ trái tim tôi thắt lại và ràn rụa nước mắt khi nghĩ tất cả những chuyện thiết yếu này đã bị thời gian xóa nhòa. Như tấm quảng cáo bị gió cuốn đang nhạo cười. Mọi thứ đều trôi qua, như rạp xiếc này và rạp xiếc tiếp theo. Đó luôn là nghi thức tương tự được lặp đi lặp lại với một nhiệt tình quá mức.

Sau đó, trái tim chúng ta chùng xuống và chúng ta còn bực mình với kiểu tuyên truyền: tôi không độc đáo hơn ai và sẽ chẳng còn gì sau khi tôi từ giã trái đất này. Chúng ta cảm thấy bị phản bội. Người ta bảo tôi là nguyên bản, nhưng tôi cũng chết như mọi người. Tôi chỉ là vật thu hút cho gánh xiệc, chỉ tốt cho buổi diễn năm nay thôi. Rồi chúng ta bắt đầu tách mình ra, nỗi buồn vơi dần, chúng ta mỉm cười… với tâm hồn nhẹ nhàng, chúng ta tự nhủ, nếu một buổi sáng nào đó mình không thức dậy, chẳng ai để ý và trái đất vẫn tiếp tục quay.

Tôi nhớ cái chết của một người bạn thân. Tôi nhớ tất cả mọi thứ, đặc biệt là bản chất không ngượng ngùng, đã quyết định sinh ra vào buổi sáng hôm đó, khi ánh sáng ban ngày chưa ló dạng. Tôi nhớ tiếng chim sơn ca hót trong những ngày tang lễ, và ngày hôm sau mọi chuyện như chẳng có gì xảy ra. Với tôi đó là sự bất công đen tối nhất. Tại sao cuộc sống lại dám tiếp tục? Chúng ta chỉ cần dừng lại trước khi hoàn toàn vỡ mộng. Ngay trước đó. Đây là bí mật của hạnh phúc. Chúng ta không còn cảm thấy mình là nguyên bản, nhưng chúng ta tránh chìm vào chủ nghĩa hư vô. Chúng ta không phải là nguyên bản nhưng chúng ta đang sống, ở đây và bây giờ, chỉ có chúng ta chứ không ai khác, và trái tim chúng ta bắt đầu mỉm cười.

Bổn phận của chúng ta không phải là sống như nguyên bản, bổn phận của chúng ta là sống một cái chết không bao giờ có thể sao chụp được. Đây là cách chúng ta tiến từng ngày tới cái chết của chính mình, với tò mò, để cuối cùng nhìn thấy Nguồn gốc. Đó chính là điều mang lại ý nghĩa cho nó. Trở về cội nguồn, trở về nhà và cuối cùng chết như nguyên bản. Và gởi mọi thứ trở lại Nguồn gốc. Thế giới là nguyên bản bởi vì nó có nguồn gốc từ một nguồn gốc duy nhất, thường thể hiện dưới những hình thức mà cuộc sống lựa chọn. Tôi chỉ tò mò về Nguồn gốc này, Nguồn gốc đã làm cho tôi luôn hoài niệm. Carlo không phải là một bản sao vì cách sống hay đúng hơn là cái chết của Carlo mỗi ngày đưa Carlo đến gần hơn với Nguồn gốc.

Marta An Nguyễn dịch

Các thần học gia làm việc như thế nào để khai triển tài liệu cuối cùng của Thượng Hội đồng

Các thần học gia làm việc như thế nào để khai triển tài liệu cuối cùng của Thượng Hội đồng

79 thần học gia tham dự các cuộc tranh luận trong phiên họp thứ hai của Thượng Hội đồng về tính đồng nghị sẽ kết thúc ngày 27 tháng 10 tại Rôma. Các chuyên gia có trách nhiệm đặc biệt: viết tóm tắt các cuộc thảo luận cho đến tài liệu cuối cùng.

la-croix.com, Mikael Corre, đặc phái viên thường trực tại Rôma, 2024-10-22

Phiên họp Thượng Hội đồng với sự hiện diện của Đức Phanxicô ngày 21 tháng 10 năm 2024. Andrew Medichini / AP

Ở Rôma, ngoài công việc chính thức tại Hội trường Phaolô VI rộng lớn gần Đền thờ Thánh Phêrô, còn có bốn diễn đàn thần học-mục vụ được tổ chức tại Viện Augustinianum và Trụ sở Dòng Tên tại Rôma ngày 9 và 16 tháng 10.

Rất được theo dõi, các hội nghị này tập trung vào việc chia sẻ trách nhiệm trong Giáo hội, thẩm quyền của giám mục, mối liên kết giữa các Giáo hội địa phương và Vatican… Một thành viên tham dự cho biết: “Đây là thời điểm cần làm sáng tỏ, tôi vui mừng vì cuối cùng thần học có chỗ đứng trong Thượng Hội đồng.”

Theo thần học gia Birgit Weilwe, “mọi thứ đang chuyển động” với phụ nữ ở Thượng Hội đồng

Trong Công đồng Vatican II, các giám mục đã được các các Hồng y Henri de Lubac và Joseph Ratzinger làm cố vấn thần học. Còn với Thượng Hội đồng này thì sao?

Rõ ràng là quy mô khác nhau – Công đồng quy tụ hơn 2.000 giám mục trong khi Thượng Hội đồng chỉ có khoảng 340 giám mục trong đó có 79 chuyên gia thần học từ khắp nơi trên thế giới về họp. Để tránh làm gián đoạn công việc đang diễn ra, năm thần học gia đồng ý nói chuyện với báo La Croix, họ xin được giấu tên.

Thu thập, phân loại, biên soạn, công bố

Các chuyên gia đã viết “tài liệu làm việc” dài 60 trang, làm cơ sở cho các cuộc thảo luận của Thượng Hội đồng. Kể từ đầu tháng 10, họ có mặt hàng ngày để làm sáng rõ công việc của 36 nhóm làm việc.

Con đường gập ghềnh của Thượng Hội đồng: Đức Phanxicô muốn thay đổi Giáo hội như thế nào

Chẳng hạn, ngày 15 tháng 10, bàn nói tiếng Anh đã xin chuyên gia người Úc Ormond Rush giải thích rõ hơn về Sensus fidei (cảm thức đức tin). Một nguồn tin nội bộ cho biết: “Trên thực tế, các chuyên gia hiếm khi được mời đến bàn thảo luận.” Các thành viên có thời gian rất hạn chế, họ chỉ có 3 phút để nói.

Cũng vậy với Phiên họp toàn thể. Trong một bài phát biểu rất đáng chú ý ngày 17 tháng 10, chuyên gia người Canada Gilles Routhier đã bảo vệ quyền tự lập lớn hơn cho các hội đồng giám mục, phải phù hợp với bộ giáo luật hiện hành. Nhưng sau mười lăm ngày tranh luận, đó là một trong những bài phát biểu đầu tiên của một thần học gia tại Thượng Hội đồng.

Phụ nữ ngày càng mất kiên nhẫn tại Thượng hội đồng… và ở bên ngoài

Giống như năm ngoái, một số chuyên gia, giáo sư từ các trường đại học danh tiếng cho biết họ “thất vọng” và cảm thấy bị bó buộc trong “công việc rất lệ thuộc”: thu thập, phân loại, sắp xếp, tải các báo cáo trao đổi lên đám mây (“máy chủ từ xa”). Theo phương pháp luận của Thượng Hội đồng, vai trò của thần học gia là “sắp xếp, phân tích và tổng hợp tất cả các tài liệu (gồm cả những bài can thiệp tự do), trên cơ sở Kinh thánh và Truyền thống tích cực của Giáo hội”.

Tóm lại, các thành viên Thượng Hội đồng nói, các thần học gia viết. Nhưng các thần học gia có vai trò gì trong công việc này?

Vẫn còn hơi mờ. Ngày 9 tháng 10, một ủy ban giám sát đã được bầu, ngày 18 tháng 10, Hồng y Jean-Marc Aveline giáo phận Marseille và thành viên của ủy ban giải thích: “Mục đích là đảm bảo có ít khoảng cách nhất có thể, dù luôn có khoảng cách giữa văn bản được đề xuất và các cuộc thảo luận.” Phiên bản đầu tiên của tài liệu cuối cùng sẽ được gởi đến Thượng Hội đồng ngày thứ hai 21 tháng 10 và sẽ được sửa đổi cho đến cuối tuần. Một chuyên gia quen thuộc với các Thượng Hội đồng nhận xét: “Nhưng nếu toàn bộ văn bản không tương ứng với bầu khí chung của các cuộc tranh luận, thì sẽ rất căng thẳng.”

Các thần học gia thấy mình ở đầu ngọn sóng. Một mặt, họ được yêu cầu phải báo cáo trung thực các cuộc tranh luận. Ngày 16 tháng 10, linh mục thần học gia Dario Vitali, điều phối viên các chuyên gia giải thích: “Họ phải công nhận sự đồng thuận đang trưởng thành trong Thượng Hội đồng để văn bản có thể phát triển một cách mạch lạc”. Nhưng mặt khác, công việc của họ cũng là làm sáng tỏ và phát triển các trực giác được thể hiện, bằng cách tái cấu trúc chúng, để thực hiện mong muốn lớn lao nhưng vẫn còn hơi mơ hồ về tính đồng nghị này.

Các thách thức rất quan trọng. Một chuyên gia cho rằng Thượng Hội đồng này được xem là một cố gắng thành công nhất cho đến nay nhằm chống lại nạn lạm dụng trong Giáo hội, cả về tình dục lẫn quyền hành. Trong các diễn đàn thần học ngày 9 và 16 tháng 10, các giám mục có mặt được khuyến khích thay đổi thái độ, “trở thành anh em”, chia sẻ trách nhiệm, không giấu giếm bất cứ điều gì.

Thần học mới được trình bày ở đây nhằm mục đích chú ý hơn đến bối cảnh, đến sự cân bằng quyền lực… Với thần học mới này, Giáo hội không còn tưởng tượng ra những nguyên nhân ngoại sinh dẫn đến cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đã trải qua, phổ biến các ý tưởng của Tháng Năm 68  (cấm không được cấm), các lệch lạc cá nhân. Nhưng ngược lại, bây giờ Thượng Hội đồng đặt câu hỏi sâu sắc về chính tổ chức của chính mình. Để phân cấp? Thượng Hội đồng có thời hạn đến ngày 27 tháng 10 để cho biết họ muốn đi bao xa.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Giám mục Paskalis Bruno Syukur, Indonesia từ chối tước vị Hồng y tại công nghị ngày 8 tháng 12

Giám mục Paskalis Bruno Syukur, Indonesia từ chối tước vị Hồng y tại công nghị ngày 8 tháng 12

la-croix.com, Paul Carpenter, 2024-10-23

Giám mục Paskalis Bruno Syukur, Dòng Phanxicô, giáo phận Bogor, Indonesia

Trong công nghị ngày 8 tháng 12, Đức Phanxicô chỉ phong 20 tân hồng y chứ không 21 như dự trù. Ngày thứ ba 22 tháng 10, Vatican thông báo Đức Phanxicô đã chấp nhận lời xin không phong hồng y của Giám mục Paskalis Bruno Syukur.

Giám mục Syukur giải thích quyết định của ngài: “Tôi muốn phát triển hơn nữa trong đời sống linh mục để phục vụ Giáo hội và dân Chúa.”

Giám mục Paskalis Bruno Syukur, 62 tuổi, sinh ở Ranggu, trên đảo Flores, ngài chịu chức năm 1991. Năm 2001, ngài là giám tỉnh Tỉnh dòng Indonesia trước khi trở thành là bề trên khu vực Châu Á-Châu Đại Dương trong dòng của ngài năm 2009. Tháng 11 năm 2013, Đức Phanxicô bổ nhiệm ngài làm giám mục giáo phận Bogor. Với tư cách là tổng thư ký Hội đồng Giám mục Indonesia, ngài tổ chức chuyến đi Indonesia của Đức Phanxicô từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 9 tới Indonesia, đất nước có rất ít tín hữu công giáo.

Sự việc hiếm có nhưng không phải là không có tiền lệ

Dù trường hợp này cực kỳ hiếm nhưng đây không phải là lần đầu một giám mục từ chối nhận tước vị hồng y. Ngày 16 tháng 6 năm 2022, Giám mục danh dự Luc Van Looy của giáo phận Ghent, đã xin Đức Phanxicô không bổ nhiệm ngài làm hồng y vì đã có các chỉ trích trong việc quản lý “những lạm dụng trong mối quan hệ mục vụ” khi ngài đứng đầu giáo phận, Đức Phanxicô đã chấp nhận yêu cầu, nhưng lúc đó ngài đã 80 tuổi, ngài không còn là cử tri trong trường hợp có mật nghị, không giống trường hợp của Giám mục Syukur, nếu không từ bỏ chức hồng y thì ngài sẽ có thể tham dự vào mật nghị bầu giáo hoàng tiếp theo.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Dilexit nos: “Đức Phanxicô muốn tóm tắt tinh thần triều của ngài qua Thông điệp Thánh Tâm”

Dilexit nos: “Đức Phanxicô muốn tóm tắt tinh thần triều của ngài qua Thông điệp Thánh Tâm”

Ngày thứ năm 24 tháng 10, Vatican sẽ công bố Thông điệp Thánh Tâm, Linh mục Etienne Kern, giám đốc vương cung thánh đường Paray-le-Monial, thánh đường tôn kính Thánh Tâm trả lời phỏng vấn về lịch sử và tính hiện đại của thánh đường.

la-croix.com, Paul Carpenter, 2024-10-23

Đức Phanxicô sẽ công bố thông điệp về Thánh Tâm, việc tôn kính Thánh Tâm bao gồm những gì?

Cha Etienne Kern: Việc tôn kính Thánh Tâm là dâng hiến cho Thánh Tâm Chúa Giêsu theo đúng nghĩa đen. Đó là việc suy gẫm trái tim bằng xương bằng thịt của Chúa, biểu tượng nhập thể nhưng cũng là biểu tượng của tình yêu cho nhân loại.

Lòng tôn kính này đến từ đâu?

Đầu tiên từ chính Kinh Thánh. Đoạn Phúc âm Thánh Gioan 19:34 – “Một người lính lấy lưỡi đòng đâm vào sườn Ngài, lập tức máu và nước chảy ra” – tiếp theo là đoạn: “Họ sẽ nhìn Đấng họ đã đâm thâu.” Theo nghĩa này, các Tổ phụ Sa mạc, thần học gia đầu tiên đã suy gẫm về mầu nhiệm này, xem Trái Tim Chúa Kitô là “nguồn nước hằng sống”.

Vào thời Trung cổ, nhiều nhà văn thần bí, đặc biệt là Thánh Bênađô Clairvaux phát triển lòng tôn kính này, vào thế kỷ 17 có Thánh Jean Eudes. Cho đến nay, công việc tôn kính này gần như chỉ dành riêng cho những người có đạo.

Vì sao và làm thế nào lòng sùng kính này lại trở nên phổ biến?

Việc tôn kính Thánh Tâm được phổ biến nhờ Thánh Marguerite-Marie Alacoque, nữ tu Dòng Thăm Viếng, ngài kể lại hai trải nghiệm thần bí năm 1673 và 1675 tại Paray-le-Monial, Chúa Kitô hiện ra để xin nữ tu phát huy lòng tôn kính Thánh Tâm Ngài. Và nữ tu đã để cả đời để làm công việc này với sự trợ giúp của cha Claude La Colombière, người hướng dẫn thiêng liêng của nữ tu.

Vào thế kỷ 18, các dòng tu tiếp tục lòng tôn kính, đặc biệt Dòng Tên và Dòng Đức Mẹ Đi Viếng. Năm 1720, thành phố Marseille là thành phố đầu tiên được dâng hiến cho Thánh Tâm để xin được cứu khỏi bệnh dịch hạch.

Năm 1856, Lễ Thánh Tâm được Đức Piô IX thiết lập cho toàn Giáo hội, các cuộc hành hương đến Paray-le-Monial ngày càng thường xuyên và quy mô.

Theo thời gian sự tôn kính này được phát triển như thế nào?

Vào đầu thế kỷ 20, trong một thông điệp năm 1956, Đức Piô XII đã nêu lên tình trạng đời sống thiêng liêng bị suy thoái. Trong những năm 1970, lòng kính mến Thánh Tâm đã trở lại, đặc biệt nhờ thánh đường Paray-le-Monial. Năm 1986, Thánh Gioan Phaolô II đã đến đây, đó là giai đoạn lịch sử quan trọng của thánh đường. Ngày nay, sự tôn kính dần dần quay trở lại, một nảy mầm chậm rãi mà theo tôi nhờ ba lý do: việc tái khám phá trái tim Chúa Giêsu, cảm nghiệm Paray-le-Monial và việc nhìn trái tim Chúa Giêsu nơi người khác.

Cha phản ứng thế nào trước việc công bố thông điệp mới này về Thánh Tâm?

Một niềm vui lớn lao. Chúng tôi chỉ mong đợi một tông huấn, nhưng dường như Đức Phanxicô muốn tóm tắt tinh thần triều của ngài với thông điệp tập trung vào Thánh Tâm. Chúng tôi dự kiến sẽ có nhiều người hành hương đến Paray-le-Monial hơn và chúng tôi chuẩn bị để chào đón họ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chân phước Carlo Acutis và tội

Chân phước Carlo Acutis và tội

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles. Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator. Marta An Nguyễn dịch

“Điều duy nhất chúng ta thực sự nên sợ là sợ tội.” Carlo Acutis

Sợ tội, vì cuộc sống ở trong tay chúng ta và chúng ta chịu mọi gánh nặng và trách nhiệm về cuộc sống. Chúng ta nên sợ tội, vì mỗi ngày là một ngày duy nhất và mỗi hành động của chúng ta, ngay cả những hành động có vẻ tầm thường nhất, đều có thể quyết định số phận chúng ta. Hãy sợ tội vì nó ẩn nấp trong mọi bóng tối, mọi cám dỗ, mọi khoảng cách giữa cuộc sống chúng ta đang sống và cuộc sống chúng ta mơ ước, giữa những gì chúng ta làm và những gì chúng ta muốn làm. Sợ tội và xây một cái vỏ, tránh xa, giữ mình trong sạch, trốn tránh những tạp chất cản đường, làm chúng ta vấp ngã, hủy diệt chúng ta, một công trình của Thiên Chúa. Sợ tội là điều bình thường. Ở tuổi 15, nếu chúng ta lớn lên với một trái tim tràn đầy lý tưởng, chúng ta phải từ bỏ tội, tránh xa đe dọa này, tránh xa vết nhơ nguyên thủy này. 15 tuổi thì bình thường.

Và rồi chúng ta nhận ra – nếu không nhận ra thì thật không may – rằng việc định nghĩa tội không còn quá rõ ràng nữa, rằng liệt kê những gì là tốt hay xấu chỉ có mục đích trấn an những người chưa quen đặt câu hỏi. Rồi chúng ta nhận ra cuộc sống được tạo nên từ hàng ngàn sắc thái tùy theo độ nghiêng của mặt trời. Mới đầu, chúng ta chống cự và chúng ta tiếp tục sợ tội, giống như chúng ta sợ người lính của quân đội đối phương mà từ xa chúng ta đã nhận ra qua bộ quân phục của họ. Rồi chúng ta bắt đầu hiểu cuộc sống rất phức tạp, và mỗi lần chúng ta phải xác định lại ranh giới giữa thiện và ác, cũng cùng một hành động của những người khác nhau, ở những thời khác nhau có thể làm quan điểm của chúng ta thay đổi hoàn toàn.

Và rồi một ngày chúng ta nhận ra bộ đồng phục chúng ta mặc cũng không khác gì bộ đồng phục của kẻ thù chúng ta… Và chúng ta sợ tội, chúng ta che giấu. Sợ tội… Tất nhiên là có sợ tội, nhưng một ngày nào đó chúng ta nhận ra, giữ khoảng cách với tội có thể rất nguy hiểm, vì khi chúng ta muốn trút bỏ nỗi sợ mắc sai lầm, chúng ta đẩy mọi người ra xa. Và như thế cũng là một tội. Giống như ngày hôm đó, khi chúng ta xem tội là một chọn lựa đạo đức, chúng ta mất tin tưởng vào đứa bé Carlo, Carlo đã chịu nỗi cô đơn và sự thiếu hiểu biết khủng khiếp, kể cả với cha mẹ. Ngày hôm đó, khi nghĩ đến việc giúp Carlo nhận ra lỗi của mình, chúng ta đã phạm một tội duy nhất mà đến hôm nay chúng ta vẫn còn xấu hổ: mất đi một người anh em. Sợ mất người anh em, và kể từ ngày đó, chúng ta gọi đó là một tội.

Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh.13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. (Ga 17:12-13).

Có phải không ai sẽ bị hư mất, hay chỉ người nào phải chịu số phận diệt vong? Không thể nói được. Điều chúng ta biết là nỗi đau của tình bạn bị phản bội trở thành dịp để Chúa Giêsu lấy lại niềm tin của chúng ta. Chúng ta phải dựa vào niềm hy vọng của Kinh thánh. Ngay cả Chúa Giêsu cũng mất bạn bè, nhưng Ngài đặt hy vọng vào việc ứng nghiệm lời Kinh Thánh, lớn lao hơn nỗi thống khổ của con người. Chắc chắn là sợ tội, nhưng tội thực sự là tội không tin vào lòng trắc ẩn thiêng liêng.

Sợ tội… Đó là cách chúng ta bị suy sụp. Vì chúng ta nhận ra, tội làm chúng ta sợ, ngăn chúng ta không tiếp xúc với người khác, vì chúng ta là nô lệ của một hành động có vẻ hoàn hảo và tốt đẹp, nhưng chúng ta mất đi khả năng dấn thân vào cuộc sống. Chắc chắn chúng ta trong sạch, nhưng cuộc sống trôi qua mà không có chúng ta… Vì sợ tội sao? Và khi chúng ta đọc câu chuyện của người Nadarét, người biết điều thiện điều ác, nhưng người này biết những “người cứng lòng” có thể còn có nhiều tội hơn cô gái điếm. Tội đạo đức giả nơi những người cho mình trong sạch! Tội, khi sợ những người phạm tội, sợ phải chịu sự phán xét gay gắt của giáo dân, đến nỗi Chúa Giêsu luôn dặn chúng ta đừng sợ, vì tình yêu mạnh hơn tội. Đừng sợ bị hiểu lầm nếu chúng ta yêu bằng cả con người mình. Nhưng không có nghĩa là mọi thứ phải đặt ở mức độ ngang nhau, vì mọi thứ đều đáng yêu. Và tội thực sự là không còn hy vọng, không còn nhìn vào cuộc sống, xem con người qua lỗi lầm của họ.

Sợ tội là khi không biết tên, không biết câu chuyện của người bị người tốt lành cho là “kẻ có tội”, người mà các nhà đạo đức định tên họ theo các sai lầm của họ. Tội là hạ giá trị của người phạm tội theo lỗi lầm của họ. Tội là đánh giá họ theo tâm hồn hẹp hòi của chúng ta. Khi Chúa Giêsu chạm vào da thịt người phong hủi, Ngài không sợ tội. Ngài sợ mình không phải là mình: đó mới thực sự là tội, tội xa cuộc sống, tội sợ bị dơ khi tiếp xúc với người khác, với bản chất con người. Sợ tội, khi tội thực sự là tội sợ không mang gánh nặng của sự loại trừ. Chúa Giêsu chạm vào người phong cùi và phải vào sa mạc ẩn náu vì đã chạm vào người phong cùi, Một cách nào đó, Ngài cũng đã là người phong cùi. Tội là một kết án không thể kháng cáo, là “đưa con chiên vào sa mạc” để chuộc tội nhưng lại không có sự thật, không hoán cải. Sợ tội, trên hết là sợ không cảm thấy cần được tha thứ.

Marta An Nguyễn dịch

Hồng y Timothy Radcliffe: soạn thảo văn kiện cuối cùng của Thượng hội đồng

Hồng y Timothy Radcliffe: soạn thảo văn kiện cuối cùng của Thượng hội đồng

vaticannews.va, 2024-10-21

Suy gẫm về quá trình soạn thảo văn kiện cuối cùng của Thượng hội đồng, Hồng y Timothy Radcliffe xin các nghị phụ nghị mẫu “phát biểu tự do như những đứa con tự do của Chúa”

 Bài suy niệm của Linh mục Timothy Radcliffe, O.P.

Thứ hai 21 tháng 10-2024

Chúng ta sắp bắt tay vào nhiệm vụ cuối cùng, nghiên cứu văn kiện cuối cùng, sửa đổi, bỏ phiếu cho văn kiện đó. Hôm nay, chúng ta chuẩn bị để thực hiện trách nhiệm nặng nề này. Chúng ta sẽ làm như thế nào?

Với sự tự do! Thánh Phaolô đã viết tín hữu Galát: “Vì tự do, Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta.” (5.1). Sứ mệnh của chúng ta là rao giảng và hiện thân cho tự do này. Tự do là vòng xoắn kép DNA kitô giáo. Trước hết, đó là quyền tự do nói lên điều mình tin và lắng nghe nhưng không sợ những gì người khác nói trong tôn trọng lẫn nhau. Đó là quyền tự do của con cái Chúa để can đảm mạnh dạn nói (Sách Công vụ 4.29), như các tông đồ đã mạnh dạn tuyên bố tin mừng về Chúa sống lại tại Giêrusalem. Nhờ quyền tự do này, mỗi chúng ta có thể nói “Tôi”. Chúng ta không được im lặng.

Quyền tự do này bắt nguồn từ một quyền tự do sâu sắc hơn, quyền tự do nội tâm của trái tim khi chúng ta khám phá ra những quyết định được đưa ra. Chúng ta có thể thất vọng với các quyết định của Thượng Hội đồng. Một số người trong chúng ta sẽ xem những quyết định này là thiếu sáng suốt, thậm chí sai lầm. Nhưng chúng ta có quyền tự do của những người tin rằng, như Thánh Phaolô đã viết cho tín hữu thành Rôma: “Thiên Chúa làm mọi sự vì lợi ích của những người yêu mến Ngài” (Rm 8.28) và cuối cùng, chúng ta có thể bình an vì ‘không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa’ dù chúng ta bất tài, dù chúng ta sai lầm”. Chỉ như thế, chúng ta mới có được tự do đầu tiên, tự do để chúng ta có thể nói “tôi”, với tự do lớn hơn làm chúng ta “thuộc về Giáo hội và nói ‘chúng tôi’”.

“Ân sủng hoàn thiện bản chất chứ không hủy bản chất”

Như Thánh Tôma Aquinô đã dạy, “ân sủng hoàn thiện bản chất chứ không hủy diệt bản chất”. Vì vậy việc tin vào Chúa Thánh Thần không miễn cho chúng ta việc dùng trí óc mình để đi tìm sự thật. Ngược lại, sẽ là một xúc phạm đến Chúa Thánh Thần nếu chúng ta không suy nghĩ về các quyết định và không bỏ phiếu. Hồng y trích dẫn Thánh Thôma More, trong tác phẩm “Người đàn ông cho mọi mùa” đã xin con gái Meg của ngài tôn vinh khả năng suy nghĩ Chúa đã ban cho chúng ta: “Meg, con nghe đây, Chúa đã tạo ra các thiên thần để chúng ta thấy sự huy hoàng của Ngài, như Ngài tạo dựng các con vật vì sự ngây thơ của chúng, thực vật vì sự đơn giản của chúng. Nhưng Ngài tạo dựng con người để phục vụ Ngài bằng tinh thần (trí tuệ) trong sự vướng mắc tinh thần của con người.

Kinh nghiệm của thần học gia Yves Congar

Ngay cả Hồng y thần học gia Công đồng Yves Congar, vào giữa những năm 1950 đã bị “Rôma bắt im lặng” và không cho giảng dạy, “giữa cuộc khủng hoảng này, đã viết trong nhật ký của ngài, phản ứng duy nhất với cuộc đàn áp này là để “nói sự thật.” Với sự thận trọng, không có những vụ tai tiếng khiêu khích và không cần thiết. Nhưng phải duy trì – và ngày càng phải là – nhân chứng đích thực và thuần khiết cho những gì là sự thật. Hồng y Radcliffe nói thêm: “Chúng ta không được sợ bất đồng, vì Chúa Thánh Thần đang hoạt động trên đó.”

Chúa quan phòng làm việc

Do đó, chúng ta có quyền tự do “nghĩ, nói và nghe mà không sợ. Nhưng cũng chẳng là gì nếu chúng ta không có được tự do của người tin “Thiên Chúa làm mọi sự vì lợi ích của những ai yêu mến Ngài”. Vì thế chúng ta có thể yên tâm trước bất kỳ kết quả nào, vì “sự quan phòng của Chúa rất nhân từ, âm thầm hành động ngay cả khi mọi thứ dường như không ổn”. Hồng y tiếp tục nhấn mạnh rằng “quan phòng đã được đan xen vào lịch sử cứu rỗi của chúng ta ngay từ đầu,” khi “ông Adong bà Evà sa ngã, nhờ ân sủng Chúa, ‘felix culpa’ dẫn đến nhập thể và cái chết của Chúa trên thập giá dẫn đến sự chiến thắng của Chúa Kitô trên cái chết”.

Vì vậy, “ngay cả khi chúng ta thất vọng về kết quả của Thượng Hội đồng, thì sự quan phòng của Thiên Chúa vẫn hoạt động trong Thượng Hội đồng dẫn chúng ta đến Vương quốc theo những cách mà chỉ có Thiên Chúa mới biết. Ý Chúa vì lợi ích của chúng ta không thể bị thất vọng.” Hơn nữa, “đó chỉ là một  thượng hội đồng. Sẽ có những thượng hội đồng khác. Chúng ta không thể làm tất cả nhưng chỉ cố gắng làm bước tiếp theo”. Như Thánh Têrêxa Avila đã dạy: “Chính chúng ta là người bắt đầu công việc, những người đi sau tiếp tục bước đầu này. làm sao chúng ta biết”.

Henri de Lubac: “Đừng xem mình là chuẩn mực nhập thể của chính thống”

Hồng y Dòng Tên Henri de Lubac cũng đã chịu “bách hại trước Công đồng” và giữa nỗi đau khổ này, ngài đã viết Bài Suy niệm về Giáo hội, “một bài thánh ca tình yêu” an ủi những người bị bách hại: “Không mất kiên nhẫn, cố gắng duy trì hòa bình, và về phần mình, cố gắng nhiều để thực hiện điều khó khăn: giữ tâm trí cao hơn những ý tưởng của chính mình.” Ngài trau dồi “loại tự do này để chúng ta vượt qua những gì nhấn chúng ta xuống một cách tàn nhẫn nhất…”. Ngài tránh “sự tự đủ khủng khiếp có thể làm cho mình là chuẩn mực nhập thể của chính thống, vì sẽ đặt trên hết “mối liên kết bất khả phân ly của hòa bình công giáo” (trích Thánh Cyprian)…”.

Là con cái tự do của Chúa, hãy nói “tôi” cùng lúc với “chúng tôi”

Vì vậy, “nếu chúng ta chỉ có quyền tự do tranh luận quan điểm của mình, chúng ta sẽ bị thói kiêu ngạo cám dỗ và cuối cùng chúng ta sẽ đánh trống hệ tư tưởng, bên tả hay bên hữu”. Mặt khác, “nếu chúng ta chỉ có tự do của những người tin vào Chúa quan phòng nhưng chúng ta không dám tranh luận với những xác tín của mình, thì chúng ta sẽ vô trách nhiệm và chúng ta sẽ không bao giờ trưởng thành”. Hồng y Radcliffe kết luận: “Sự tự do của Thiên Chúa tác động ở trung tâm sự tự do của chúng ta, sôi sục trong chúng ta. Nó càng thực sự đến từ Thiên Chúa thì nó càng thực sự là của chúng ta. Và với tư cách là con cái tự do của Thiên Chúa, chúng ta có thể nói ‘tôi’ và đồng thời ‘chúng tôi’”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Phụ nữ ngày càng mất kiên nhẫn tại Thượng hội đồng… và ở bên ngoài

Phụ nữ ngày càng mất kiên nhẫn tại Thượng hội đồng… và ở bên ngoài

cath.ch, Lucienne Bittar, 2024-10-21

Thượng Hội đồng phiên họp ngày 15 tháng 10-2024 / Vatican News

Cách thức giải quyết vấn đề phụ nữ trong Giáo hội tại Thượng Hội đồng tạo nhiều bất bình. Ngày 18 tháng 10 đánh dấu cao điểm của vấn đề này với một cuộc họp bị cho là rất thất vọng vì không có khả năng tranh luận. Cùng ngày hôm đó, tại Rôma đã có một sự kiện đáng ngạc nhiên đã xảy ra: phong chức trái phép cho phụ nữ.

Vai trò của phụ nữ trong Giáo hội công giáo không phải là chủ đề chính thức của Thượng Hội đồng về tính đồng nghị nhưng vấn đề này đã được đưa trở lại bàn thảo luận sau những câu hỏi của các thành viên trong hội đồng. Các cuộc gặp với các chuyên gia của mười nhóm nghiên cứu do Đức Phanxicô thành lập để giải quyết các vấn đề ‘tế nhị’ cuối cùng đã được ban lãnh đạo Thượng Hội đồng cho phép hai tuần trước, sau khi có nhiều thành viên xin có cơ hội thảo luận về những vấn đề gây tranh cãi này.

Hồng y Víctor Manuel Fernández làm các nghị mẫu Thượng Hội đồng thất vọng

Ngày 2 tháng 10 năm 2024, Bộ Giáo lý Đức tin ra thông báo cho biết một tài liệu huấn quyền về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội đang được chuẩn bị. Sau đó, một cuộc họp đã được tổ chức vào ngày 18 tháng 10, giữa khoảng một trăm người tham gia Thượng Hội đồng và hai chuyên gia từ nhóm nghiên cứu về phụ nữ. Nhưng theo những người có mặt, cuộc họp đã diễn ra không tốt đẹp, họ phẫn nộ vì bất kỳ cuộc thảo luận nào cũng đều không thể thực hiện được. Họ chỉ được mời can thiệp bằng lời nói hoặc bằng văn bản.

Sự vắng mặt của hồng y Bộ trưởng Victor Fernandez, tổng trưởng không được chấp nhận, các thành viên cho rằng đây là “một chuyện không tốt, một thất vọng nặng nề”. Nhưng ngày 9 tháng 10, Hồng y Fernandez đã cho biết ngài không dự cuộc họp được. Sau khi bị chỉ trích, ngài lấy làm tiếc vì có “hiểu lầm”, ngài không thể dự kịp thời được. Ngài cho biết ngài sẽ dự cuộc họ dự kiến ngày 24 tháng 10 giữa nhóm nghiên cứu về vấn đề phụ nữ và các thành viên Hội đồng.

Bị tổn thương vì Hồng y không dự cuộc họp, các nghị mẫu đã trực tiếp nói chuyện với Đức Phanxicô. Họ được ngài tiếp ngày hôm sau trong một buổi tiếp kiến đặc biệt, họ bày tỏ mối quan tâm của họ với Ngài.

Sáu phụ nữ chịu chức ở Rôma

Bên lề các phiên họp chính thức của Thượng Hội đồng, một cuộc biểu tình đã được ‘Hiệp hội nữ linh mục công giáo la-mã quốc tế’ tổ chức trên một chiếc sà lan trên sông Tiber, gồm sáu phụ nữ đến từ Pháp, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ đã được ba nữ giám mục bị vạ tuyệt thông truyền chức phó tế và linh mục một cách bất hợp pháp. Trong số này có nữ Giám mục Bridget Mary Meehan, đến từ Hoa Kỳ, thụ phong linh mục tại Pittsburgh năm 2006 và trở thành giám mục năm 2009, và nữ Giám mục Gisela Forster, 78 tuổi, được các giám mục Đức truyền chức linh mục, sau đó bị vạ tuyệt thông, cùng với sáu phụ nữ khác chịu chức năm 2002 trong một buổi lễ được tổ chức trên sông Danube.

Theo báo Nederlands Dagblad, hiện nay có 19 Giám mục công giáo bất hợp pháp và khoảng 300 linh mục trên 14 quốc gia. Họ thuộc hai tổ chức “nữ linh mục công giáo la-mã”. Giáo luật không quy định việc truyền chức cho phụ nữ và tự động dứt phép thông công bất cứ ai tham dự vào một hành động mang tính biểu tượng như vậy.

Truyền chức linh mục nữ năm 2006, Pittsburgh, Hoa Kỳ | © ảnh chụp màn hình Youtube/Bridget Mary Meehan #womenpriestsnow

Bà Bridget Mary Meehan nói: “Đúng, Giáo hội đã rút phép thông công chúng tôi nhưng không có nghĩa chúng tôi không còn là người công giáo la-mã nữa. Vì phép rửa tội không thể bị hủy bỏ. Đơn giản là bạn không còn được nhận Bí tích Thánh Thể và các bí tích khác. Nhưng tôi làm theo lương tâm của tôi, và nếu tôi đi lễ ở một giáo xứ, tôi sẽ được rước lễ.” Báo Nederlands Dagblad cho biết nghi thức phụng vụ áp dụng cho lễ phong chức cho phụ nữ ngày 18 tháng 10 “giống như phụng vụ chính thức của công giáo”. Bà Bridget Mary Meehan giải thích: “Sự khác biệt duy nhất là chúng tôi không tuyên thệ vâng phục giám mục.”

Près du Vatican, une ordination clandestine de femmes prêtresGiuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Con đường gập ghềnh của Thượng Hội đồng: Đức Phanxicô muốn thay đổi Giáo hội như thế nào

Mẹ của ký giả James Foley, con tin Mỹ bị Nhà nước hồi giáo IS giết: “Tin Mừng mời gọi chúng ta vượt lên hận thù”

Mẹ của ký giả James Foley, con tin Mỹ bị Nhà nước hồi giáo IS giết: “Tin Mừng mời gọi chúng ta vượt lên hận thù”

Phỏng vấn Bà Diane Foley Chủ tịch Hội James W. Foley của những con tin

Bà Diane Foley mất người con trai, phóng viên người Mỹ James Foley bị Tổ chức hồi giáo cực đoan Daesh chặt đầu tháng 8 năm 2014 ở Idlib, Syria. Kể từ đó, bà thành lập Cơ quan hoạt động thay mặt cho các con tin và viết một tác phẩm cảm động về nỗi đau của bà trong tình trạng nước Mỹ đang bị rạn nứt bởi chiến dịch bầu cử tổng thống.

la-croix.com, Marie Boëton, 2024-10-18

Ngày 19 tháng 8 năm 2014, một ngày sau khi Daesh thông báo về vụ ám sát con trai bà, bà đã tuyên bố trước ống kính: “Chúng tôi cầu nguyện để cái chết của con trai chúng tôi có thể đoàn kết đất nước chúng ta. Con trai tôi không bao giờ muốn chúng ta oán giận. Chúng ta cầu nguyện để có sức mạnh để yêu thương.” Vào đúng thời điểm này, bà tìm đâu ra sức mạnh để nói những lời này?

Bà Diane Foley: Đêm hôm trước, tôi khóc suốt đêm. Sáng hôm sau tôi lấy hết can đảm, xin Chúa đi cùng với chúng tôi: chồng tôi và tôi ra trước nhà. Chúng tôi không nghĩ đến việc nhắc lại chuyện đáng tiếc đã xảy ra, chúng tôi phải rút từ đó điều gì tốt đẹp nhất cho tất cả. Đó là điều con trai chúng tôi mong muốn. Đó cũng là nhiệm vụ của chúng tôi, chúng tôi phải bảo vệ các con tin còn sống.

Các người chiến đấu cho Daesh đã công bố ai là người tiếp theo trong danh sách… Jim (biệt danh của James Foley) đã hy sinh mạng sống trong mong muốn thế giới thấy nỗi đau của người dân Syria và cho chúng ta thấy lòng trắc ẩn để hành động. Điều duy nhất chồng tôi và tôi làm lúc đó là giảm tình trạng đang căng thẳng ở làng quê chúng tôi. Nước Mỹ rơi vào tình trạng hỗn loạn… Sau cái chết của James, mạng xã hội gào thét đòi trả thù, một số còn kêu gọi đội biệt kích ra tay. Nhưng trên hết chúng tôi muốn xoa dịu mọi chuyện.

Trong thông điệp này, bà kêu gọi mọi người tiếp tục đoàn kết trong thời kỳ thử thách. Mười năm sau thì sao, nước Mỹ có chia rẽ hơn lúc đó không?

Rõ ràng là có vì nhiều lý do. Kể từ đó, cuộc tranh luận dân chủ đã bị tổn hại, đặc biệt trên mạng xã hội. Đó là những tiếng nói độc hại, chúng ta chỉ gặp những người có cùng suy nghĩ với chúng ta. Kết quả là chúng ta vẫn ở trong vòng an toàn của mình, rõ ràng, điều này làm tê liệt cuộc tranh luận. Hơn nữa, trong những năm gần đây, nước Mỹ đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ các ý tưởng cực hữu và phong trào theo chủ nghĩa thượng đẳng của người da trắng.

Thêm vào tất cả những điều này là nhiệm kỳ của Tổng thống Trump đã làm cho đất nước phân cực hơn. Ông chỉ làm người dân chia rẽ, trong khi chúng ta cần phải ngừng nhấn mạnh vào sự khác biệt để tôn vinh vào sự đa dạng của chúng ta! Nhưng tôi vẫn lạc quan, dù thành thật mà nói, bi quan sẽ dễ hơn nhiều! (Cười.)

Đức Phanxicô ngạc nhiên về đức tin của thân sinh ký giả James Foley

Điều gì làm cho bà hành động bất chấp mọi thứ?

Tôi vẫn lạc quan vì tôi tin ở mức độ cá nhân, người Mỹ vẫn có khả năng trao đổi quan điểm vượt lên những khác biệt của họ. Chẳng hạn, xét về mặt chính trị, tôi là người đối lập hoàn toàn với các bạn hàng xóm của tôi, nhưng tôi yêu họ. Chúng tôi trao đổi không khó khăn, chỉ cần sắp xếp mọi thứ.

Sắp xếp mọi thứ là gì?

Giữa những giá trị của họ – nhưng không phải của tôi – và con người của họ. Họ là những người rất quảng đại, nhiệt tình và chu đáo. Họ không chỉ nói về xác quyết của họ, dù sao đi nữa, tôi không đóng khung họ trong đó.

Bà có phân biệt một bên là căn tính, một bên là các ý kiến không?

Có, chúng ta có thể nói như thế. Để tiếp tục với ví dụ này, các bạn hàng xóm của tôi còn hơn cả ý kiến của họ. Tôi tin tưởng vào việc đặt mình vào vị trí của người khác. Điều này là cần thiết. Hãy bắt tất cả những người chê bai các nhà lãnh đạo của chúng ta. Đôi khi họ làm điều này một cách cực kỳ độc ác, thậm chí còn đưa ra những thuyết âm mưu điên rồ!

Tôi không nghĩ như vậy, tôi cố gắng đặt tôi vào vị trí của một người Mỹ rất nghèo, một bà mẹ đơn thân chật vật mưu sinh, tôi nghĩ khi họ thấy một số dân biểu nào đó lợi dụng chức vụ vì mục đích cá nhân – và không may lại có những chuyện này – chúng ta hiểu họ đã có một hình ảnh rất xấu về các nhà lãnh đạo chúng ta. Dù tôi không muốn ở trong tình trạng cay đắng và oán giận này, nhưng có thể hiểu một số người ở trong tình trạng này. Tôi không chia sẻ kết luận của họ nhưng ít nhất tôi có chìa khóa để hiểu. Đặt mình vào vị trí người khác là điều cần thiết.

Lời nhắn cuối cùng của ký giả James Foley

Bà là người ủng hộ đối thoại vô điều kiện, bà còn gặp ông Alexanda Kotey trong tù, một trong những người hành quyết con trai bà. Tháng 10 năm 2021 bà nói chuyện với ông trước khi ông  bị tuyên án tù chung thân. Để làm gì?

Tôi muốn cố gắng hiểu làm thế nào họ lại làm một hành động kinh tởm như vậy. Bắt một người vô tội, tra tấn, giết chết… sao lại có thể làm được? Tôi hy vọng, khi gặp Alexanda Kotey, tôi sẽ hiểu rõ hơn quỹ đạo này, các giai đoạn cực đoan hóa, v.v. Trong tư cách bà mẹ, tôi muốn nói với Kotey, con trai tôi là một người đặc biệt như thế nào. James là phóng viên phi thường, James đi khắp hiện trường để nhìn thực tế dưới mọi góc độ.

James luôn nói với tôi: “Mẹ biết không, sự thật rất phức tạp.” Điều đó rất đúng… Trong sâu thẳm, trong chính cách tiếp cận của mình, Jim là người đối lập hoàn toàn với những kẻ tra tấn anh. Các chiến binh Daesh tin rằng họ có sự thật. Và họ tin chắc chỉ có một sự thật.

Trong thời gian bị bắt ký giả Mỹ James Foley lần chuỗi

Bà có thể xem kẻ tra tấn này là quỷ dữ và từ chối bất kỳ cuộc đối thoại nào. Làm thế nào để chúng ta vượt lên hận thù?

Câu hỏi lớn quá! Nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy mình phải cố gắng. Cho người khác xuống thành quái vật, không… Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc đó. Không. Tôi may mắn có được tấm lòng  thương xót. Nhiều. Tôi là người có đức tin sâu sắc, và việc vượt lên hận thù là thách đố Tin Mừng mời gọi tôi thực hiện. Tôi lặp lại với chính tôi mỗi ngày: “Lạy Chúa, xin cho con là khí cụ hòa bình.” Tôi cũng nói với Kotey như vậy.

Ông đã phản ứng thế nào trước lòng trắc ẩn của bà?

Ông nói ông rất đau buồn trước đau khổ chúng tôi đã phải chịu vì ông. Ông kể với tôi, có lúc tôi làm ông nhớ đến mẹ ông. Khi tôi đi, ông bắt tay tôi dù điều này ngược với nguyên tắc của đạo hồi. Tôi chắc chắn có một cái gì đã phát triển trong tâm hồn ông.

James Foley, nạn nhân của những người man rợ

Bà vừa nói bà có khuynh hướng lạc quan hơn… dù bi quan thì dễ  hơn. Cái gì làm lạc quan thành khó khăn?

Nó đòi hỏi hơn vì phải có nhiều cố gắng hơn. Bi quan tự nuôi sống nó, trong khi lạc quan đòi hỏi phải làm việc vì lợi ích chung, hành động theo quy mô của nó… Lạc quan có nghĩa là không ngừng tự hỏi bản thân: làm cách nào tôi có thể sửa chữa mọi thứ?

Vậy bà vẫn lạc quan trong những tuần lễ này, khi nước Mỹ sống trong tình trạng chờ đợi?

Dĩ nhiên sẽ không có gì dễ dàng, nhưng tất cả chúng ta đều có vai trò. Tôi từ chối tuyệt vọng.

Marta An Nguyễn dịch

Nhà báo James Foley bị nhóm bị Tổ chức giữa cực đoan giết năm 2014. Cùng với nhà văn Colum McCann, bà Diane Foley, mẹ của nhà báo viết quyển sách Người Mẹ Mỹ (American Mother) kể phiên tòa và cuộc gặp gỡ của bà với một trong những kẻ khủng bố đã giết con bà. Ed Alcock / © Ed Alcock/MYOP

Người thanh niên giàu có, có phải là tôi?

Người thanh niên giàu có, có phải là tôi?

fr.aleteia.org, Stéphanie de Lachadenède, 2024-10-12

Để mua Nước Trời, Chúa Giêsu xin người thanh niên giàu có “bán hết của cải của anh”. Ngài xin anh đặt an toàn, thoải mái, thì giờ, danh tiếng và của cải của mình lên bàn cân… Và nếu người thanh niên trẻ này là tôi?

Khi chúng ta đọc đoạn này, chúng ta không thể không buồn cho anh. Thật buồn khi thấy anh bỏ lỡ lời kêu gọi của Chúa. Thật hoài công nếu cuối cùng anh không đi theo Ngài! “Anh chỉ thiếu có một điều, là bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” (Mc 10:21). Chẳng phải có một số người trong chúng ta hy vọng một ngày nào đó, giây phút cuối trong cuộc đời sẽ trở lại với Chúa Kitô, sau khi bán hết tài sản và sẵn sàng đi theo Ngài đó sao?

 Những gì anh còn thiếu

Nhưng người thanh niên này là ai? Anh là người giữ luật, giữ Điều răn, anh giữ luật Do Thái cách nghiêm ngặt. Ngày nay chúng ta có thể nói anh là tín hữu kitô nhân đức. Đã thế, dù đã cố gắng anh vẫn thấy mình còn thiếu sót, một cơn khát chưa được thỏa mãn hoàn toàn, một khát vọng tuyệt đối hơn. Có điều gì đó đang thoát khỏi anh và anh không nói lên lời. Khi đó anh đến gần Chúa Giêsu và hỏi Ngài: “Con phải làm việc lành gì để được sự sống đời đời? Con còn thiếu gì?” Nói cách khác, con còn làm gì thêm để được ân sủng?

Anh khao khát đời sống vĩnh cửu. Như thử đây là phần thưởng chúng ta sẽ nhận vào cuối đời khi đã giữ luật từng chữ một. Nhưng có lẽ đây cũng là một cái gì khác.Vì anh thấy, các môn đệ theo Chúa Kitô từ đầu còn có một cái gì hơn thế: một dịu dàng lo lắng không yên, một khôn ngoan thách thức, một niềm vui lan tỏa… Điều gì thúc đẩy họ đến gặp Chúa Giêsu? Một chút Vương quốc với Chúa sao?

Điều kiện để theo Chúa Giêsu

Người thanh niên này gần với chúng ta hơn chúng ta nghĩ rất nhiều, có vẻ chúng ta hơi xem thường anh. Anh giống chúng ta rất nhiều: có nhà, có chiếc giường, có thức ăn đầy đủ, có Thiên Chúa nhân lành, có Giáo hội, có các điều răn. Và người thanh niên thân yêu này, tôi nghe như anh hỏi tôi một câu rất rõ: “Còn bạn, bạn có tiếc cho bạn như bạn tiếc giùm cho tôi không? Như tôi, có khi nào bạn ý thức bạn thiếu một cái gì không? Bạn có xem trọng cuộc sống người tín hữu kitô của bạn hay bạn chỉ giữ các quy tắc cho có lệ? Bạn nghĩ bạn đã làm đủ?”

Khi Chúa kêu gọi anh từ bỏ của cải giàu có và đi theo Ngài, anh buồn bã ra đi, anh ý thức rõ lời gọi của Ngài không “chỉ” giới hạn ở việc từ bỏ của cải vật chất mà đặt lên bàn cân an toàn, thoải mái, thì giờ, danh tiếng và của cải của anh. Đó là việc cho đi tất cả những gì anh đã nhận được. Đó là điều kiện để thực sự theo Chúa Kitô. Và có lẽ đó chính là điều chúng ta gặp khó khăn để giải quyết. Hãy đi tìm sự khó nghèo thực sự và tự nguyện vì chính điều này làm cho chúng ta giá trị trước mặt Chúa.

Tâm hồn khó nghèo

Điều này thực sự khó khăn và sâu sắc. Còn hơn thế nữa khi chúng ta giàu như Chúa đã viết trong Tin Mừng: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Trời” (Mc 10:25). Chính sự khó nghèo trong toàn con người chúng ta, điều chỉ có thể đạt được qua sự hiến thân đích thực và trọn vẹn mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta. “Nếu con muốn trở nên hoàn hảo, hãy đi bán những gì con có rồi đến theo Ta”. Nói cách khác, hãy tự nguyện trở nên nghèo, hãy chọn nghèo.

Tất cả những gì chúng ta nhận được từ Chúa, vì chúng ta đã nhận tất cả từ Ngài, trước hết là cuộc sống của chúng ta, chúng ta hãy trao cho người nghèo, cho bất cứ ai cần. Tất cả của cải và sức mạnh của chúng ta, bất cứ những gì chúng ta có dồi dào, hãy cống hiến cho thế giới. Hãy cho những người không có gì của cải chúng ta đã nhận được. Cả những gì chúng ta không có, chúng ta cũng cho. Hãy làm mình trở nên dễ tổn thương, hãy rời bỏ vỏ bọc của mình, loại bỏ sự giả tạo của mình, biến mình thành người phụ thuộc, thành người phục vụ thay vì đấu tranh để làm nhà lãnh đạo, người ra quyết định. Làm cho mình trở nên yếu đuối vì lợi ích của người khác. Loại bỏ niềm tự hào, sự chắc chắn của chúng ta. Ra khỏi chiếc hộp nhỏ thoải mái và an toàn mình tự cho mình. Bỏ thói quen là người khá giả, hư hỏng, no nê. Bỏ sự mù quáng ngăn chúng ta không thấy đau khổ vật chất, tâm lý, tinh thần ngay trước cửa nhà chúng ta. Bỏ thành lũy chúng ta dựng lên giữa chúng ta và phần còn lại của thế giới, giữa chúng ta và nghèo đói. Trước hết là sự khó nghèo của chúng ta vì sự khó nghèo này rất lớn và chúng ta phải nhìn thẳng vào nó. Nhưng cũng là sự khó nghèo của người khác. Luôn ở trong sự thật, luôn luôn. Bảo vệ công lý. Kiên quyết và tự nguyện có một tâm hồn trong sạch.

Bước ngoặt chuyển đổi mạnh mẽ

Có lẽ bằng cách tiếp tục cố gắng, chúng ta có thể trở thành những người có tâm hồn nghèo khó được Nước Trời hứa ban chăng (Mt 5:3)? Một trái tim chọn chấp nhận sự yếu đuối của mình, nhìn thẳng vào sự nhỏ bé của con người mình vì nó hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa của mình. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã khuyến khích khi Ngài sai các môn đệ đi truyền giáo, từng đôi một, không tiền bạc, không quần áo để thay đổi và không có thức ăn. Họ chỉ có Chúa, chỉ ở với nhau, gặp những người giúp họ. Đây có lẽ là điều cần thiết để học cách từ bỏ chính mình và để việc hiến thân được trọn vẹn như Chúa Kitô và như các Thánh đi theo Ngài.

Có lẽ đây là điều mà người thanh niên chợt nhận ra khi lắng nghe và suy ngẫm về Đấng là Sự Thật, là bước hoán chuyển mạnh mẽ chúng ta phải cố gắng rất nhiều để đạt được, dù chúng ta vẫn có thể nhìn thấy nó. Tin Mừng liên tục kêu gọi sự đảo ngược vĩ đại này, giúp chúng ta vượt lên bản chất, nâng cao tâm hồn để đưa chúng ta đến gần Thiên đàng hơn. Những tấm gương của những người đã lựa chọn và đón nhận khó nghèo là những tấm gương thật đẹp. Vì vậy, người thanh niên giàu có này là Thánh Phanxicô Assisi, con của một thương gia giàu có, hứa hẹn một sự nghiệp tốt đẹp cũng là người được mời bỏ mọi sự để theo Chúa Kitô.

Xin Thánh Phanxicô giúp chúng con không giữ gì cho riêng mình, luôn tin tưởng hiến mình, vì tình yêu dành cho Chúa, để phục vụ Vinh Quang của Ngài và hoạt động vì phần rỗi của tất cả mọi người! “Đừng giữ gì riêng cho mình, để có thể trọn vẹn đón nhận Đấng đã hiến mình cho chúng ta” (Thư gửi toàn Dòng, 26-29).

Từ đức tin của người thanh niên giàu có, chúng ta không bao giờ biết được điều gì xảy ra với anh, liệu khi lớn lên, anh có một bước nhảy vọt vĩ đại nào đó để từ bỏ, để đi theo Chúa Kitô hay không. Ước mong chúng ta thường xuyên nghĩ đến câu chuyện này để không bao giờ quên chúng ta mắc nợ Thiên Chúa mọi sự.

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất