Home Blog Page 135

Chân phước Carlo Acutis: Tự phê

Chân phước Carlo Acutis: Tự phê

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles. Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator

 

 

“Chỉ trích Giáo hội là tự phê mình! Giáo Hội phân phối kho tàng để cứu rỗi chúng ta.”

15 tuổi, nếu chúng ta có trái tim nhân hậu, rộng lượng và lý tưởng, nếu chúng ta có đức tin mù quáng (một đức hạnh thiêng liêng!) thì chúng ta có thể tin với một đức tin không lay chuyển, một đức tin không bàn cãi, không cắt xén lời nói. Khi chúng ta đang yêu và yêu thực sự thì lỗi lầm cũng thành tính tốt và chỉ trích thành vô ích. Ở tuổi 15, tuổi chúng ta trải qua những thay đổi lớn lao, chúng ta cần một đức tin không bàn cãi, cần một pháo đài để rút lui, một không gian bảo vệ, như buổi tối về nhà, chúng ta để lại sau lưng những giây phút buồn bã trong ngày để lao mình vào vòng tay mẹ.

Ở tuổi 15, việc nghĩ không nên chỉ trích Giáo hội là điều bình thường. Rồi khi lớn lên, đó là lúc chia tay, lúc có những rạn nứt, những thất vọng. Chúng ta không chấp nhận bạo lực, chúng ta thấy bóng tối, chúng ta sợ… Và chúng ta hiểu ý thứ hai của câu này… Chúng ta hiểu chính chúng ta là người đáng chỉ trích, và trong nghi vấn, chúng ta dần dần khôi phục. Làm những việc này ở tuổi 15 là vô ích, nhưng khi trưởng thành thì điều đó rất quan trọng. Chúng ta bắt đầu chấp nhận sự tầm thường của mình, chúng ta thấy mình không hoàn hảo hoặc chỉ trên mức trung bình và chúng ta chỉ trích bản thân. Đó là giai đoạn đau đớn, thấm thía, vô tận và vô tận. Trong những khoảnh khắc này, những ai chân thành, dịu dàng với chúng ta, họ là thiên thần. Tốt hơn hết chúng ta nên tránh xa những người ăn nói hung bạo, không tế nhị vì chúng ta có nguy cơ tử vong hoặc thành người chai đá. Và tốt hơn cũng nên tránh những người luôn đồng ý với chúng ta, người trấn an chúng ta nhưng lại nói dối với chúng ta (có lẽ vì quá thương chúng ta).

Chúng ta cần những người bạn cùng chúng ta đi về phía trước, tôn trọng chính con người thật của chúng ta, những người bạn yêu thương luôn ở bên cạnh chúng ta, những thiên thần. Đời sống nội tâm của chúng ta càng tiến bộ thì chúng ta sẽ không tức giận khi thấy các lý tưởng cao cả của mình bị phản bội. Chúng ta hơi xấu hổ về những gì mình đã trở thành và rồi, nếu chúng ta chống lại được cám dỗ bỏ trốn khỏi chính mình thì phép lạ sẽ xảy ra. Không phải lúc 15 tuổi, nhưng thường trễ hơn nhiều. Một khi chúng ta bắt đầu thương mình, phép lạ vĩ đại duy nhất có thể có là chúng ta nhìn nhận sự thật, sáng suốt nhưng cũng rất dịu dàng. Có lòng trắc ẩn với bản thân không có nghĩa là chúng ta phải biện minh mọi thứ, nhưng chấp nhận con người thật của mình, tránh lý tưởng hóa mình. Không còn xấu hổ về con đường chúng ta chuẩn bị cho Chúa. Khóc vì chúng ta là ai. Hãy nhìn lên Chúa Cha, để Ngài xem trái cấm chúng ta cầm trên tay, ngay lúc đó, chúng ta sẽ cảm thấy mình  được yêu vì chính con người của mình. Ở tuổi 15, điều này là không thể. Ở tuổi 15, chúng ta bảo vệ chuẩn mực, bảo vệ cây thiện-ác, chúng ta nghĩ trái của nó sẽ không làm bẩn tay mình. Ở tuổi 15, chúng ta dịu dàng và điều đó thật tốt.

Nhưng khi nhận ra rằng mình cũng chẳng khá hơn, khi cuối ngày xét mình, khi đó chúng ta hiểu chỉ trích là một bài học tốt. Và nếu chúng ta biết thương xót, lời chỉ trích này trở nên phong phú hơn. Ở tuổi 15, chúng ta không cho phép ai chỉ trích mẹ mình, nhưng khi đã làm cha mẹ, chúng ta mới hiểu cuộc sống mong manh đến nhường nào, và sự chỉ trích trở thành một hình thức của lòng trắc ẩn. “Khi Chúa Giêsu đến gần Giêrusalem, nhìn thấy thành, Ngài khóc thương” (Lc 19, 41). Để thể hiện lòng trắc ẩn, trước tiên chúng ta phải đến gần, như Chúa Giêsu đã đến Giêrusalem. Những lời chỉ trích chúng ta nói từ xa giống như những viên đá làm tổn thương người khác, nhưng nếu chúng ta đến gần, chúng ta sẽ cảm nhận tổn thương, và không tránh khỏi, chúng ta sẽ khóc. Chúng ta nhận ra giới hạn của chính mình, chúng ta khóc và chúng ta đau khổ. Sẽ có lúc trong cuộc sống chúng ta bắt đầu chỉ trích Giáo hội. Mỗi lời nói đều đau, mỗi lời là một vết thương trong lòng, nhưng không thể im lặng, vì chúng ta quá yêu, vì chúng ta quá gần gũi, vì chúng ta nên một thân thể với Giáo hội. Chúng ta nhìn Giáo hội và khóc, vì ý tưởng chúng ta có về Giáo hội và về chính mình. Chúng ta nhìn và thấy tác hại của một số cơ cấu gây ra, chúng ta nhận ra chúng ta cũng đã gây ra rất nhiều tác hại, chúng ta cảm thấy mình đã đồng tình và chúng ta khóc… đó là tiếng khóc của lòng thương xót, đó là lời cầu nguyện để được Trắc ẩn.

Tôi nghĩ đến câu nói của Carlo, tôi nghĩ đến ngày sinh nhật thứ 15 của tôi và tôi cảm thấy dịu dàng êm ái. Tôi nhớ một số chức vụ của tôi, tôi là người lính cấp thấp đàng hoàng. Tôi nghĩ đến Carlo và tôi tin Carlo sẽ không cắt đứt mối liên kết với Giáo hội. Và đây có lẽ là điều chúng ta nên áp dụng cho mọi quan hệ của chúng ta: đừng bao giờ nói bất cứ điều gì, với bất cứ ai nếu chúng ta không cảm thấy đoàn kết với họ, nếu chúng ta không tạo được một cơ thể duy nhất, một cơ thể chỉ có một hơi thở. Không phải những lời chỉ trích làm chúng ta sợ nhưng những viên đá ném từ xa là những viên đá chống đối. Carlo nói đúng, chỉ trích Giáo hội là tự phê bình, nhưng điều đó rất đẹp, vì chúng ta đang sống câu chuyện của một tình yêu, vì chúng ta cần tha thứ, vì chúng ta cảm thấy cần thương xót.

Các kho báu mà Giáo hội cung cấp không bị mất đi. Tôi nghĩ Carlo muốn nói về các bí tích. Carlo nói đúng. Chỉ khi trưởng thành chúng ta mới hiểu bí tích không chỉ là kết quả. Các bí tích không phải chỉ để tha tội, chỉ là bánh thánh hiến, bánh bẻ ra, cũng không phải để xức dầu, nhưng các bí tích là toàn bộ cuộc hành trình: điều gì đến trước bí tích và điều gì theo sau. Bí tích là điều cho phép chúng ta thể hiện con người chúng ta. Không có sứ vụ thì kho báu chẳng là gì. Kho báu là hành trình. Chỉ trích Giáo hội là chỉ trích chính mình, khi chúng ta chỉ nhìn thấy các khía cạnh bên ngoài của bí tích mà quên mất con đường phải theo. Bí tích Rửa tội không chỉ là nghi thức nước và lửa trong ngày lễ nhưng còn là việc cử hành sự sống được sinh ra và tái sinh. Và kho tàng bí tích chỉ là khởi đầu, vì phép lạ đang lao xuống vực thẳm mỗi ngày, và mỗi ngày lại nổi lên nhờ vòng tay của những người yêu thương chúng ta, để chúng ta thực sự là: những người được tha thứ.

Kho báu không chỉ là bí tích xưng tội với linh mục, mà còn là tất cả cái nhìn thương xót xuất phát từ nhu cầu được tha thứ. Kho báu là khi tôi cảm thấy những giới hạn của mình được thấu hiểu, khi tôi nhận ra không phải quy luật giúp tôi trưởng thành mà chính sự tha thứ và tin tưởng của những người giúp đỡ tôi mới giúp tôi đi đúng hướng. Kho báu không phải là các nghi thức của Giáo hội, mà là những người có thiện chí, những người mỗi ngày bẻ bánh để tưởng nhớ Giáo hội, loại bánh này giống như manna trong sa mạc dành cho người không thể đi ra ngoài một mình. Kho báu không phải là việc cử hành hôn lễ hay truyền chức, nhưng là ngôi vườn bí mật của cuộc sống hằng ngày của những người cố gắng trung thành với chính mình, với Chúa Cha, Đấng giúp mỗi chúng ta lớn lên.

Vấn đề không phải là giản lược ơn Chúa Thánh Thần thành số lượng ơn được bàn tay hay lời nói của một giám mục ban. Kho báu ở đây là khởi đầu, khởi đầu của sáng tạo, của hơi thở thần linh một lần nữa chọn con người để đón nhận từng thực tại.

Kho báu không áp đặt những luật lệ nghiêm khắc và tàn nhẫn, không quên những người thất hứa, nhưng học hỏi từ Chúa Cha, Đấng kiên nhẫn đồng hành với chúng ta. Kho báu đích thực là Giáo hội lắng nghe, Giáo hội chấp nhận thay đổi, không ngại tìm kiếm những cách thức mới để làm cho mọi người hiểu, bí tích đích thực là trí tưởng tượng của Thiên Chúa, không bao giờ bỏ rơi con người. Kho báu không chỉ là việc xức dầu cho người bệnh, mà là thời gian chia sẻ với những người mong manh, bị rơi vào cảnh cô đơn cùng cực. Kho báu là thời gian của nước mắt và im lặng, thời gian của hy vọng và mất tinh thần. Đây là lúc hành động, nhờ mùi dầu và những lời lẽ đầy khôn ngoan trong Kinh Thánh, giúp chúng ta tin rằng chúng ta có thể thoát ra khỏi bóng tối, cái chết của thế gian, để được sinh ra trong cõi vĩnh hằng.

Marta An Nguyễn dịch

Chân phước Carlo Acutis: Các liên kết

Chân phước Carlo Acutis: Yêu

Theo thần học gia Birgit Weilwe, “mọi thứ đang chuyển động” với phụ nữ ở Thượng Hội đồng

Theo thần học gia Birgit Weilwe, “mọi thứ đang chuyển động” với phụ nữ ở Thượng Hội đồng

Nữ tu Birgit Weiler, giáo sư thần học ở Đại học Lima, chuyên gia tại Thượng Hội đồng về tính đồng nghị | © Annegret Langenhorst

cath.ch, Lucienne Bittar, 2024-10-20

Theo nữ tu thần học gia Birgit Weiler: “Nguồn gốc của của chủ nghĩa giáo quyền và chủ nghĩa trọng nam là sự phạm pháp hiển nhiên với tính đồng nghị, phạm pháp này cần được khắc phục.” Là chuyên gia tại Thượng Hội đồng 2024, có một đức tin vững mạnh, Sơ có bài phát biểu rõ ràng và thực tế về vấn đề phụ nữ trong Giáo hội và việc phân cấp quyền lực.

Tháng 2 năm 2024, Đức Phanxicô mở rộng nhóm cố vấn cho Thượng Hội đồng. Trong số sáu thành viên mới của Hội đồng Tổng Thư ký có ba phụ nữ, trong đó có nữ tu người Đức Birgit Weiler, thuộc Tu hội Nữ tu Truyền giáo Y tế (MMS). Giáo sư thần học tại Đại học Công giáo Giáo hoàng Lima, Pêru là chuyên gia về con đường đồng nghị, sơ đã tham dự ở mọi cấp độ, quốc gia, lục địa và bây giờ là toàn cầu.

Sơ tích cực tham gia Thượng Hội đồng với tư cách là chuyên gia. vì sao sơ không có mặt ở Rôma?

Sơ Birgit Weiler: Tôi chỉ mới bắt đầu từ tháng 2 vừa qua, chỉ có thành viên của Thượng hội đồng lần thứ nhất (2023) mới có thể tham dự kỳ họp thứ hai. Công việc của tôi là viết bài theo chuyên môn của tôi cho Tài liệu Làm việc (Instrumentum labis, IL). Tài liệu này được ban thư ký Thượng Hội đồng chuẩn bị dựa trên sự tham vấn trên khắp thế giới, là cơ sở để các thành viên suy ngẫm và đưa ra đề nghị. Chúng tôi cũng chuẩn bị tài liệu cho các thư ký đặc biệt, họ sẽ dần dần viết tài liệu cuối cùng. Tôi đặc biệt làm việc về vị trí của phụ nữ trong Giáo hội.

Sơ là giáo sư thần học, cố vấn thần học của Trung tâm Chương trình và Mạng lưới Mục vụ của Hội đồng Giám mục Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê (CELAM), thành viên của nhóm các thần học gia CELAM… Sơ đã cho thấy phụ nữ có thể tìm vị trí cho chính họ. Sơ cảm nghiệm thế nào về sự chia rẽ hiện nay trong Giáo hội về vị trí “được giao” cho phụ nữ?

Khoảng cách này rất đau đớn và phải được khắc phục. Đây là vấn đề quan trọng của Giáo hội như toàn bộ tiến trình Thượng Hội đồng đã cho thấy.

Nhờ sự đóng góp của một số thành viên trong phiên họp toàn thể tháng 10 năm 2023, báo cáo tóm tắt của kỳ họp đầu tiên này nêu rõ: “Khi trong Giáo hội, phẩm giá và công lý trong các mối quan hệ giữa nam và nữ được tôn trọng, thì độ tin cậy của lời tuyên bố chúng ta đưa ra với thế giới lại bị suy yếu. Tiến trình đồng nghị cho thấy chúng ta cần phải điều chỉnh các mối quan hệ và thực hiện các thay đổi về cơ cấu.”

“Việc biến đổi các cơ cấu và thủ tục không làm thuận lợi cho tính đồng nghị” là cần thiết.

Từ góc độ đức tin, tôi vẫn nghĩ Thần Khí đã và vẫn đang hoạt động trên con đường đồng nghị, trong tất cả các giai đoạn của Thượng Hội đồng. Chúng ta có nhiều nơi chốn để lắng nghe nhau, và với Chúa Thánh Thần, chúng tôi đã được tự do ngôn luận (parrhesia) và nhận định về các ơn gọi khác nhau.

Sơ nói về các ơn gọi khác nhau. Nhiều người trong Giáo hội thích nói đến “đặc sủng” đặc biệt của phụ nữ. Sơ nghĩ gì về chuyện này?

Điều quan trọng là phải tránh ‘chủ nghĩa bản chất’ như thể phụ nữ chỉ có một bản chất thu hút nào đó. Nhưng chúng ta phải nghĩ đến sự đa dạng của phụ nữ. Phụ nữ có nhiều ơn đặc biệt như khả năng chăm sóc, gặp gỡ người khác, xây cầu, đánh giá cao sự đa dạng, vì thế họ có khả năng thống nhất trong đa dạng… Nhưng đây là những năng khiếu đàn ông cũng có và họ có khả năng phát triển.

Cách suy nghĩ này vẫn còn thấy rõ trong Giáo hội… Chúng ta có thể nghĩ đã có một thay đổi thực sự đang hình thành không?

Trong hành trình Thượng Hội đồng, có nhiều đóng góp của phụ nữ từ khắp nơi trên thế giới – cũng như của cả nam giới – nhắc chúng ta nam nữ đều được ban cho phẩm giá rửa tội như nhau và nhận các ơn đa dạng của Chúa Thánh Thần cũng như nhau. Thánh Phaolô đã viết: “… Không còn nam hay nữ vì tất cả anh em là một trong Chúa Giêsu Kitô” (Gl 3,28) – báo cáo tóm tắt năm 2023 viết: “Người nam người nữ đều được kêu gọi hướng tới một hiệp thông đặc trưng bởi tinh thần đồng trách nhiệm, không có sự cạnh tranh, điều này phải được thể hiện ở mọi cấp độ của đời sống Giáo hội.”

Nhưng những đóng góp này cũng đã xác định căn tính và chủ nghĩa trọng nam, ít nhất là ở Châu Mỹ La-tinh, đó là não trạng và thái độ cản trở để có một Giáo hội đồng nghị thực sự. Căn nguyên của hai hiện tượng này là lạm dụng quyền lực, mâu thuẫn hiển nhiên với tính đồng nghị. Điều này phải được khắc phục.

“Phụ nữ phải được tham gia vào các không gian phân định, ra quyết định và đào tạo, kể cả trong các cuộc hội thảo”.

Đây là lý do vì sao cần phải có hoán cải sâu sắc và liên tục trong trái tim và trong tâm trí. Điều này đi đôi với việc biến đổi các cơ cấu và thủ tục không ủng hộ tính đồng nghị, đòi hỏi sự đa dạng của các đoàn sủng – nam giới cũng như nữ giới – phải được đánh giá cao và họ phải có không gian cần thiết để phát triển, đóng góp cho lợi ích Giáo hội, đồng thời thúc đẩy sứ mệnh của Giáo hội trong thế giới ngày nay.

Làm thế nào để đấu tranh hiệu quả chống lại chủ nghĩa giáo quyền và chủ nghĩa trọng nam?

Trong suốt tiến trình đồng nghị, chúng tôi đã thừa nhận chính phụ nữ là người thúc đẩy tính đồng nghị trong Giáo hội. Họ góp phần rất lớn vào việc xây dựng cộng đồng và củng cố đời sống đức tin trong các giáo xứ, trong nhiều lãnh vực khác nhau của Giáo hội. Vì thế điều cần thiết là họ phải được tham gia nhiều hơn vào các không gian phân định và đưa ra quyết định, cũng như trong các không gian đào tạo, kể cả trong các cuộc hội thảo. Nơi chúng tôi làm công việc thần học và nơi chúng tôi giảng dạy.

Một số lớn phụ nữ và cả các ông cũng yêu cầu phụ nữ được làm phó tế vĩnh viễn như một thừa tác vụ được phong chức. Nhưng chức phó tế nữ đã bị loại khỏi các chủ đề thảo luận của Thượng Hội đồng lần thứ hai. Làm thế nào để giữ lạc quan trong bối cảnh này?

Mọi thứ đang chuyển động. Chủ đề này được nhắc đến trong các phiên họp hiện tại của Thượng Hội đồng. Một số thành viên mong muốn có một tiến trình đối thoại hơn trong việc giải quyết vấn đề này, để vấn đề không chỉ được các Ủy ban quy định giải quyết. Chúng ta sẽ xem những người có trách nhiệm về tiến trình đồng nghị sẽ xem xét vấn đề này như thế nào.

Có một điều chắc chắn là sự minh bạch trong cách chúng ta tiến hành vấn đề là rất quan trọng, có nghĩa tất cả các lập luận phải được đưa ra bàn thảo, được những người có quan điểm khác nhau cân nhắc một cách tự do và phân định cẩn thận.

Sơ cũng đã theo dõi kỹ Thượng hội đồng về Amazon năm 2019, “nơi thử nghiệm tốt đẹp” tiến trình Thượng Hội đồng, đã tạo nhiều kỳ vọng… và cả thất vọng. Tại Querida Amazonia, Đức Phanxicô đã không theo mong muốn của các Nghị phụ, không thiết lập viri probati. Có phải chúng ta cũng đang đi đến thất vọng tương tự với Thượng Hội đồng này không?

Trước hết phải làm rõ, Thượng Hội đồng không có quyền đưa ra quyết định mà chỉ đưa ra đề nghị cho giáo hoàng. Tại Querida Amazonia, ngài không đóng cánh cửa viri probati cũng như việc phụ nữ tiếp cận chức phó tế được phong chức.

Đi thuyền ở Amazon | © Truyền thông Vatican

Tôi đã tham dự vào Giáo hội Amazonia, và với chúng tôi, Thượng Hội đồng Amazonia mang lại nhiều hoa trái và vẫn tiếp tục phát triển, đã khơi dậy sự tham gia mạnh mẽ của phụ nữ và giáo dân vào các lãnh vực phân định và ra quyết định cho Amazon.

Một ví dụ cụ thể là việc thành lập Hội đồng Giáo hội Amazon (CEAMA) và thành phần ban chủ tịch, trong đó có ông Mauricio López, đại diện cho giáo dân, và hai phụ nữ, một lãnh đạo bản địa đại diện cho các dân tộc bản địa và một nữ tu đại diện cho các tu sĩ nam nữ vùng Amazon. CEAMA là nơi để tìm hiểu về sự phát triển của tính đồng nghị ở Amazon, cả ở cấp độ tinh thần lẫn cơ cấu, thủ tục và thực hành cụ thể.

Thượng Hội đồng có các đại diện từ khắp nơi trên thế giới, với những tầm nhìn văn hóa và Giáo hội rất khác nhau. Liệu những căng thẳng giữa Giáo hội hoàn vũ và các nét đặc thù địa phương có cơ hội khắc phục mà không cần xem xét lại các phương thức quản trị không?

Tôi nghĩ chúng ta cần một “phân cấp lành mạnh”, như Đức Phanxicô đã viết trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng (Evangelii Gaudium) năm 2013. Điều này ngụ ý quy một số quyền hạn nào đó, chẳng hạn quyền ra quyết định trực tiếp cho các Giáo hội địa phương.

Đức Phanxicô cũng đã nhiều lần nhấn mạnh các Giáo hội địa phương có kiến thức cụ thể hơn về bối cảnh và thực tế tại địa phương. Kiến thức này cần thiết cho việc phân định và đưa ra quyết định ở địa phương về nhiều vấn đề.

“Đó là một thách thức liên tục để phát triển!” Thượng Hội đồng Giám mục phải trở thành Thượng Hội đồng cho tất cả. Đại hội 2023 © Anna Kurian/I.Media

Tiến trình đồng nghị đã kêu gọi Giáo hội sống sâu sắc ý nghĩa thế nào là một tín hữu công giáo, cố gắng sống và thực hành sự hiệp nhất trong đa dạng. Đây là một thách thức liên tục để phát triển, đòi hỏi chúng ta đánh giá cao các khác biệt, tin tưởng nhau và công nhận không chỉ có một cách duy nhất để trải nghiệm tính đồng nghị, cũng như phát triển các cơ cấu, phương tiện và thủ tục quản trị trong Giáo hội. Những điều này phải đáp ứng sự đa dạng của các bối cảnh, các nơi thực hiện, cách để là một Giáo hội, cách sống và cử hành đức tin của chúng ta.

Tài liệu làm việc của phiên họp thứ hai của Thượng Hội đồng đưa ra những quan điểm thần học và mục vụ quan trọng về vấn đề này. Và ở cấp độ toàn thể Giáo hội, Đức Phanxicô đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Giáo hội sống nhất quán trong sự hiệp nhất trong đa dạng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Làm thế nào để giúp trẻ em hướng nội?

Làm thế nào để giúp trẻ em hướng nội?

Từ ngày 19 đến ngày 21 tháng 10, 4.500 bạn trẻ, gia đình và nhân viên của tổ chức Những người Học việc ở Auteuil (Apprentis d’Auteuil) sẽ đi hành hương Lộ Đức. Bà Marie-Dominique Germette, điều phối viên mục vụ của trường nói lên chứng từ: “Bằng cách giữ thinh lặng, các bạn trẻ đi vào nội tâm của họ.”

la-croix.com, Gilles Donada, 2024-10-19

Lớp CM1 tại trường Notre-Dame-des-Anges. Philippe BESNARD / © Besnard/Apprentis d’Auteuil

Xin bà cho biết bà giới thiệu với các bạn trẻ như thế nào về hướng nội? 

Bà Marie-Dominique Germette: Hàng tuần tại trường Học việc Auteuil của chúng tôi, chúng tôi có một giờ bắt buộc có chủ đề “phát triển con người và tinh thần” nhằm mục đích giúp các em thấy mối quan hệ của các em với người khác, với thế giới bên ngoài để khám phá sự khác biệt. Trong chương trình này, trước mỗi cuộc họp, chúng tôi bắt đầu bằng phút thinh lặng, ba, bốn phút. Lần đầu tiên, các em ngạc nhiên, đôi khi chúng tôi phải lặp lại bài tập để các em im lặng hoàn toàn, nhưng ở các buổi tiếp theo, ngay từ đầu, các em đã im lặng!

Bà Marie-Dominique Germette, điều phối viên tại trường trung học Daniel-Brottier, ở Bouguenais (Loire-Atlantique). / Emmanuel Ligner/Apprentis d’Auteuil

Bà giải thích với các em như thế nào?

Bằng cách giữ im lặng, các em đi vào được nội tâm sâu thẳm của mình, nơi các em có những ham muốn, nơi các em thực sự tự do. Độ sâu lắng này là cột sống cho cuộc đời các em. Daniel Brottier, nhà sáng lập Hội của chúng tôi đã nói với các bạn trẻ: “Các con hãy sẵn sàng phát triển nhân cách Chúa đã ban cho các con qua giá trị tinh thần của con người.” Trên bảng, tôi vẽ một số vòng tròn và từ đó vẽ sơ đồ các chiều kích khác nhau của con người: thể xác, cảm xúc, trí tuệ và cuối cùng là tinh thần.

Tôi giải thích vòng tròn nhỏ ở giữa là nội tâm “ngôi vườn bí mật” của các con, để vào ngôi vườn này, các con phải tìm chìa khóa. Đôi khi cánh cổng bị hoen gỉ và ngôi vườn đầy cỏ dại. Thinh lặng là con đường đi về nguồn, đi vào ngôi vườn và vun trồng nó. Thánh Catarina Siêna nói về “tế bào của sự hiểu biết về chính mình”.

Triết gia Pascal đã nói: “Mọi bất hạnh của con người đều xuất phát từ một điều, đó là chúng ta không làm sao ngồi yên một chỗ trong phòng.” Vì chính nơi rất mật thiết này chúng ta gặp Thiên Chúa, Đấng, theo Thánh Augustinô “mật thiết với chúng ta hơn chính chúng ta”. Tôi nói với các em, giữ thinh lặng sẽ có ích cho các em khi các em trưởng thành: các em có thể rút lui khỏi cuộc sống đầy sóng gió, đi sâu vào tâm hồn mình để có những lựa chọn quyết định.

Có khó khăn với các em không?

Có, ở buổi học đầu tiên, một số các em không quen, các em cảm thấy ngượng ngùng. Giữ im lặng không phải là điều dễ dàng, các em lo lắng, các em phải gom lại những vấn đề các em gặp phải. Các em không quen và thường nói chuyện với nhau. Đó là thế hệ sinh ra đã có “ống nghe ở tai”. Im lặng là quá trình học hỏi, để không còn nghe tiếng ồn bên ngoài, để đối thoại với chính mình và để gặp Chúa. “Ngay cả trước khi tạo nên con trong bụng mẹ, Ta đã biết con” (Gr, 1). Sau đó là giờ thảo luận về mối quan hệ của các em với thinh lặng, đó là cả một phong phú khi làm nổi bật các nét đẹp chưa bao giờ được các em nói ra.

Bà nhận được phản ứng nào?

Lúc đầu các em cười, nhưng sau khi thực tập, các em rất thích, tôi nhớ các em đã vỗ tay: “Thưa cô, cô là người duy nhất làm chúng con chịu im lặng!” Các em tự hào về mình: “Thinh lặng giúp chúng con yên nghỉ, cho chúng con bình an, bắt chúng con phải suy nghĩ.” Trong một chuyến đi trên thuyền, một trong các em thường có hành vi hung bạo đã quay qua người bên cạnh nói: “Téma, nhìn kìa, im lặng… thật đẹp.”

Im lặng giúp các em nói về những chủ đề cá nhân hơn. Cũng  đáng lo và cũng thật đẹp khi các em lên tiếng chia sẻ các kinh nghiệm sống mạnh như quấy rối, sức khỏe, bị ngược đãi. Thinh lặng tạo tin tưởng, tạo lắng nghe chăm chú. Trải nghiệm im lặng là cảm thấy mình được sinh ra trong chính mình. Tôi xúc động nhớ lại Christopher, một thanh niên sống thu mình, cuối cùng đã viết và đọc lời cầu nguyện trên một tấm vải: “Hãy tồn tại”.

Marta An Nguyễn dịch

14 thánh mới! Vì sao Đức Phanxicô phong thánh nhiều như vậy?

14 thánh mới! Vì sao Đức Phanxicô phong thánh nhiều như vậy?

Lễ phong 14 thánh mới tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày chúa nhật 20 tháng 10-2024

fr.aleteia.org, Tanguy Lavoisier, 2024-10-19

Chúa nhật 20 tháng 10, Đức Phanxicô phong thánh cho 14 chân phước tại Quảng trường Thánh Phêrô, trong đó có 11 Thánh tử đạo bị sát hại ở Syria vào thế kỷ 19. Với lần phong thánh này, số thánh được Đức Phanxicô phong sẽ tăng lên 926, một kỷ lục trong Giáo hội công giáo.

Có bao nhiêu thánh được Đức Phanxicô phong kể từ đầu triều của ngài? 100, 200 thánh? Không, 926 thánh! Đây là con số kỷ lục nhưng vì sao Đức Phanxicô phong nhiều như vậy? Thật ra trong năm đầu tiên ngài đã là Giáo hoàng phong nhiều thánh nhất. Trong 27 năm Đức Gioan-Phaolô II phong 483 thánh, nhưng chỉ hai tháng sau khi được bầu chọn, Đức Phanxicô đã phong hơn 800 thánh, trong đó có 813 thánh tử đạo người Ý ở Otranto, bị người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát năm 1480. Năm 2013, Đức Phanxicô đã phong hai thánh khác gọi là ‘tương đẳng tính’, một thủ tục cho phép được phong thánh sau khi ban hành một sắc lệnh đơn giản của Giáo hoàng và không cần lễ phong thánh. Thánh Pierre Favre được phong trong nghi thức này, Đức Phanxicô cũng đã nhiều lần dùng tiến trình đặc biệt này.

Nhưng ngược với những gì chúng ta nghĩ, danh sách các thánh mới không nhất thiết gắn liền với lựa chọn cá nhân của ngài. Bộ Tuyên Thánh có trách nhiệm nghiên cứu tất cả các vụ phong thánh, hiện có từ 2 đến 3.000 hồ sơ đang được nghiên cứu! Đúng vậy, “lúa chín đầy đồng” nhưng quá trình phong thánh mất nhiều thời gian khác nhau, với Đức Gioan Phaolô II chỉ mất 8 năm, Thánh Charles de Foucauld mất 96 năm! Đức Phanxicô đã phong thánh: Đức Gioan Phaolô II, ông bà Louis và Zélie Martin, lần đầu tiên một cặp vợ chồng được phong thánh, Mẹ Têrêxa  Calcutta, Charles de Foucauld và sắp tới là Carlo Acutis. Khi được phong thánh, Giáo hội chính thức công nhận các thánh là người cầu bàu với Chúa, việc nói lên các mẫu mực về đức tin, nhân đức và lòng đạo đức từ khắp nơi trên thế giới và từ mọi thời đại cũng là một cách truyền giáo và thực sự phổ quát với Giáo hội Công giáo.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Lễ phong 14 thánh mới tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày chúa nhật 20 tháng 10-2024

Ở Bỉ, một làn sóng giáo dân xin ra khỏi đạo khi Đức Phanxicô cho rằng các bác sĩ phá thai là những người giết mướn

Ở Bỉ, một làn sóng giáo dân xin ra khỏi đạo khi Đức Phanxicô cho rằng các bác sĩ phá thai là những người giết mướn

lemonde.fr, Jean-Pierre Stroobants, phóng viên tại Brussels, 2024-10-17

 

Đức Phanxicô rơi căn cứ không quân Melsbroek, sau chuyến tông du 4 ngày đến Luxembourg và Bỉ ngày 29 tháng 9 năm 2024. GEERT VANDEN WIJNGAERT / AP

Ngày 29 tháng 9, trong chuyến đi Bỉ, Đức Phanxicô nói với các nhà báo về “luật hình sự” cho phép “thuê những kẻ giết người” – cụ thể là các bác sĩ – để các phụ nữ có thể tự nguyện chấm dứt thai kỳ. Một tuyên bố thực sự không mới mẻ nhưng được ngài lặp lại ở một quốc gia đã tranh luận trong nhiều năm về khả năng gia hạn thời hạn hợp pháp của việc phá thai, và thậm chí là phi hình sự hóa, đã tạo tiếng vang mạnh.

Đặc biệt khi ngài công bố ý định tiến hành thủ tục phong chân phước cho Vua Baudouin, qua đời năm 1993. Ba năm trước khi qua đời, Nhà Vua công giáo đã từ chối ký một đạo luật phi hình sự hóa việc phá thai được Quốc hội phê duyệt. Một bàn tay khéo léo của một luật sư đã tránh được cuộc khủng hoảng thể chế lớn: đề nghị viện đến “sự bất lực trong việc cai trị” cho phép chính phủ phê chuẩn văn bản thay cho nhà vua, ngài sẽ tiếp tục làm vua sau ba mươi sáu giờ gián đoạn.

Việc vua Baudouin phản đối phá thai, có phải là một biện minh cho việc phong chân phước không?

Không có gì đáng ngạc nhiên khi lời tuyên bố của Đức Phanxicô đã làm cho Ủy ban Hành động Thế tục và năm thành viên Tam điểm phản ứng mạnh khi họ nói, đây là “sự can thiệp tàn bạo của một thể chế tôn giáo vào công việc của Nhà nước”. Ông Jan Danckaert, viện trưởng trường Đại học Flemish ở Brussels tố cáo “những nhận xét trái với luật dân chủ” có thể dẫn đến một sự cố ngoại giao. Cảm nhận được cơn bão đang ập đến, Thủ tướng từ nhiệm Alexander De Croo đã tuyên bố trước Quốc hội ngày 3 tháng 10: “May mắn thay, thời điểm Giáo hội ban hành luật pháp ở đất nước chúng ta đã ở sau lưng.” Ông đã “mời” sứ thần tòa thánh đến gặp và nội dung cuộc gặp không được tiết lộ.

“’Giáo hội của tôi’ không ở đó”

Người công giáo cũng phản ứng, họ cho biết họ rất buồn và mất tinh thần. Bà Céline Fremault, 50 tuổi, cựu bộ trưởng và nghị sĩ, thành viên đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, ngày 1 tháng 10, trong một bức thư ngỏ gởi Giáo hoàng, bà cho biết: “Bà đã được rửa tội, là tín hữu được giáo dục với các giá trị của Tin Mừng, là thành viên của Giáo hội kể từ khi sinh ra và trung thành với dân Chúa. Năm 2000, tôi đã dùng thuốc phá thai. Tôi xin ‘Giáo hội của tôi’ ở bên cạnh tôi trong những giây phút đau đớn này của một phụ nữ 26 tuổi, nhưng Giáo hội đã không ở đó. Tôi đã cầu nguyện để tôi không phạm điều không thể sửa chữa được, đó là ‘lấy đi một mạng sống’”.

Kể từ đó, bà đã dành một phần hoạt động của bà để tạo điều kiện giúp các cha mẹ phải trải qua sự mất mát đứa con trong bụng. Bị sốc trước lời nói của Đức Phanxicô, bà viết cho ngài: “Những kẻ giết thuê có khả năng y tế và nhân bản rất cao, qua công việc của họ, họ có thể bảo toàn cơ thể và tôi đã có thể sinh thêm bốn đứa con khác.”

Bà Fremault ngày nay là mẹ của ba cô con gái và một con trai. Bà xin ngài: “Xin ngài đến gặp chúng tôi, tôi xin bảo đảm các phụ nữ đã phá thai không phải là những người bị bán cho các luật giết người.”

Ra khỏi Giáo hội và tài trợ đang được tranh luận

Các nhân vật gắn bó trực tiếp hoặc gián tiếp với Giáo hội công giáo còn muốn đi xa hơn. Theo sáng kiến của ông Bernard De Vos, cựu tổng đại biểu về quyền trẻ em của Liên đoàn Wallonia-Brussels, hai trăm thành viên của Liên đoàn muốn xóa tên họ ra khỏi sổ đăng ký của giáo xứ, ông nói với báo Le Soir ngày 5 tháng 10: “Có thể sẽ chẳng có lợi ích gì, nhưng đó là tín hiệu để Giáo hội Bỉ tự vấn.” Chúng ta sẽ phải đợi đến năm 2025 và báo cáo thường niên của Giáo hội công giáo Bỉ để biết liệu lời kêu gọi này có được đông đảo người theo hay không.

Những tiết lộ khủng khiếp về loạt phim truyền hình, Bị Chúa lãng quên, nói về các vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội, phát sóng tháng 9 năm 2023 đã làm cho nhiều người công giáo muốn xóa tên ra khỏi sổ rửa tội. Cũng như một vụ tai tiếng khác vài tháng sau đó: ít nhất 30.000 trẻ sơ sinh của các phụ nữ trẻ độc thân sinh ra trong các cơ sở tôn giáo đã bị cưỡng bức lấy đi và bán cho cha mẹ nuôi.

Cần thời gian để đo lường tác động chính xác của việc xóa tên khỏi sổ rửa tội. Về cơ bản, hệ quả của việc này sẽ mang tính cá nhân và mang tính biểu tượng vì phép rửa tội là không thể thay đổi được. Trên thực tế, hy vọng của ông Demotte và của những người khác về các vụ này là để tạo một cuộc tranh luận về tính hợp pháp của việc chính quyền tài trợ cho các tôn giáo. Ở đây có một dè dặt: nó không liên quan đến số lượng tín hữu mà liên quan đến số lượng linh mục và các tòa nhà dành riêng cho việc thờ phụng được công nhận.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nhà vatican học Giovanni Maria Vian: “Quyền lực giáo hoàng sẽ không còn thực thi theo cách tương tự sau thời Đức Phanxicô”

Nhà vatican học Giovanni Maria Vian: “Quyền lực giáo hoàng sẽ không còn thực thi theo cách tương tự sau thời Đức Phanxicô”

lemonde.fr, Gaétan Supertino, 2024-10-06

Liệu Đức Phanxicô có phải là giáo hoàng cuối cùng không? Đây là điều của lời tiên tri bí ẩn thời Trung cổ gợi ý, và là chủ đề của quyển sách của nhà vatican học Giovanni Maria Vian: “Chúng ta đang ở một bước ngoặt của đời sống Giáo hội công giáo,” khi phiên họp lần thứ hai của Thượng Hội đồng về tương lai của Giáo hội đang họp ở Rôma.

Nhà sử học Giovanni Maria Vian khẳng định, đạo công giáo đang đi qua thời kỳ mang tính quyết định lịch sử với phiên họp Thượng Hội đồng từ ngày 2 đến ngày 27 tháng 10, là cựu giám đốc nhật báo L’Osservatore Romano từ năm 2007 đến năm 2018, là nhà báo độc lập, ông có cái nhìn uyên bác và phê phán về Tòa thánh và giáo hoàng, tác phẩm mới nhất của ông, Giáo hoàng Cuối cùng (Le Dernier Pape. Nxb. Cerf).

Liệu Đức Phanxicô có phải là “giáo hoàng cuối cùng” như tựa đề quyển sách của ông không?

Giovanni Maria Vian: Danh hiệu này đề cập đến lời tiên tri của tiên tri Malachi, được cho là tu sĩ người Ai-len thời Trung cổ. Danh sách liệt kê một trăm giáo hoàng từ thế kỷ 12 đến một giáo hoàng có biệt danh là “Vinh quang của Cây Ô liu”. Sau đó, danh sách này tiếp tục với phần mô tả về ngày tận thế: “Trong cuộc đàn áp cuối cùng của Giáo hội la-mã, sẽ có một ‘Phêrô La Mã’ chăn dắt đoàn chiên vượt qua nhiều hoạn nạn. Thành phố bảy ngọn đồi sau đó sẽ bị hủy hoại và quan tòa khủng khiếp sẽ phán xét người dân.” Nếu nghiên cứu danh sách theo thứ tự, Đức Bênêđíctô XVI (1927-2022) là “Vinh quang của Cây Ôliu”, như thế Đức Phanxicô là “Phêrô La Mã” của ngày tận thế.

Tài liệu này được viết năm 1590 chắc chắn là sai – trước đây không thấy nhắc – với mục đích ủng hộ một hồng y trong mật nghị thời đó, và cũng để khẳng định với người Tin lành Cải cách, rằng danh sách các giáo hoàng vẫn còn dài.

Được một nhà báo người Đức hỏi về điều này năm 2016, ba năm sau khi ngài từ nhiệm, Đức Bênêđíctô XVI không tin lời tiên tri này, đã có một câu trả lời mà tôi thấy thú vị. Trước hết, ngài nhắc lại mức độ thế tục hóa ở Châu Âu và sự thay đổi sâu sắc trong đạo công giáo, sau đó ngài nói thêm: “Tôi không còn thuộc về thế giới cũ nữa, nhưng thực tế thế giới mới vẫn chưa thực sự bắt đầu.”

Do đó, Đức Bênêđíctô XVI khẳng định ngài và người kế nhiệm ngài thuộc một thế hệ được hình thành trong một thế giới công giáo “cũ”, một thế giới sẽ sớm không còn tồn tại. Ý tưởng chính, cũng là chìa khóa để đọc quyển sách của tôi: chúng ta đang ở một bước ngoặt trong đời sống của Giáo hội công giáo, và quyền lực của giáo hoàng không còn có thể được thực thi theo cách tương tự sau Đức Phanxicô.

Có nghĩa là? Những thay đổi nào sẽ được mong chờ?

Thế giới công giáo được cấu trúc xung quanh “quyền tối cao” của giáo hoàng: giáo hoàng được cho là “không thể sai lầm” và nắm giữ chính thức mọi quyền lực của Giáo hội. Ý tưởng này xuất hiện trong thế giới la-tinh từ những thế kỷ đầu tiên của kitô giáo, nhưng giáo điều về tính không thể sai lầm của giáo hoàng đã được Công đồng Vatican I công bố năm 1870. Một số người thấy đây là khả năng có ảnh hưởng phổ quát, đạo đức và tâm linh, gần như một hình thức tái cân bằng cho Tòa thánh sau khi Tòa Thánh mất các Quốc gia Giáo hoàng và quyền lực thế gian.

Cụ thể, tín điều về tính không thể sai lầm của giáo hoàng giả định giáo hoàng có thể có quyết định về các vấn đề đức tin và đạo đức. Đó là trường hợp năm 1950, khi Đức Piô XII (1876-1958) chính thức công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (Đức Maria “lên trời” cả hồn lẫn xác).

Nhưng đó chỉ là vấn đề thiết lập một ý tưởng đã có trong truyền thống công giáo từ lâu. Trên thực tế, chính với Đức Phanxicô mà nguyên tắc bất khả ngộ của giáo hoàng đã đạt đến đỉnh cao. Ngài không ngần ngại tuyên bố mình là người kế vị Thánh Phêrô tông đồ và thực thi quyền uy của ngài trong một số quyết định, như năm 2022 khi ngài cải cách Giáo triều dù bị phản đối, hoặc ngài can thiệp vào các cuộc tranh luận của Thượng Hội đồng gia đình năm 2014-2015 (hầu hết các đề xuất của các giám mục đều bị bác bỏ).

Trước đây chưa có giáo hoàng nào tuyên bố quyền lực đến mức này: đó là thuần túy chế độ thần quyền. Nghịch lý thay, chính Giáo hoàng đến từ Nam bán cầu – từ “tận cùng thế giới” như ngài hay nói – ngay từ đầu ngài đã kêu gọi phải giải tập trung nhiều hơn, bớt quyền của Rôma và cho “ngoại vi” nhiều quyền hơn. Nhưng ngài chưa đi đủ xa, và tôi nghĩ chúng ta đang phải đối diện với những bực tức, từ giáo dân đến giáo triều, đến hàng giám mục, và giáo hoàng tương lai sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải tìm ra một cách thức mới để thực thi quyền lực.

Có phải Đức Phanxicô đã không đi xa hơn các giáo hoàng tiền nhiệm của ngài không? Như cuộc cải cách giáo triều năm 2022 đã không mở cửa văn phòng các bộ ở Vatican cho giáo dân?

Đức Phanxicô có những ý định xuất sắc. Nhưng đây chỉ là khởi đầu của sự thay đổi, không phải là không có mâu thuẫn. Chắc chắn giáo dân có thể được bổ nhiệm làm bộ trưởng các bộ, nhưng thực tế chỉ có ông Paolo Ruffini (một trong khoảng ba mươi) là người đứng đầu Bộ Truyền thông. Và giáo hoàng có thể phản đối việc đề cử, cũng như ngài có thể đưa ra bất kỳ quyết định nào mà không cần tham khảo ý kiến của một bộ.

Chúng ta lấy ví dụ về hệ thống tư pháp của nước Vatican nhỏ bé. Theo Hiệp định Lateran (1929), ngày nay Vatican có thể đưa hoặc không đưa các vụ án hình sự ra trước công lý Ý. Vụ âm mưu ám sát Đức Gioan-Phaolô II (1920-2005) của ông Mehmet Ali Agça, nhà hoạt động cực hữu người Thổ Nhĩ Kỳ ngày 13 tháng 5 năm 1981 được giao cho công lý Ý. Nhưng năm 1998, vụ ám sát hai cận vệ Thụy Sĩ ở Vatican đã được giao cho tòa án Vatican. Tuy nhiên, công lý của Vatican chỉ là ảo tưởng. Không có sự phân chia quyền lực vì người đứng đầu mọi quyền lực là giáo hoàng.

Vatican vẫn hoạt động ngay cả trước thời Montesquieu (1689-1755). Và cả ngày nay, vì sao phiên tòa xét xử tòa nhà ở London (Hồng y người Ý Angelo Becciu bị tòa hình sự Vatican kết án năm năm rưỡi tù giam năm 2023 vì tham nhũng) lại không được giao cho công lý Ý hoặc Anh? Trên thực tế, những cải cách của Đức Phanxicô vẫn chưa xong.

Còn Thượng Hội đồng hiện nay thì sao? Từ bậc sống độc thân của linh mục đến các mục vụ truyền chức cho phụ nữ, những chủ đề nhạy cảm nhất đều đã bị gạt sang một bên. Chúng ta mong đợi gì?

Theo tôi, vấn đề chính của Thượng Hội đồng nằm ở phương pháp tham vấn. Mục tiêu là tạo ra sự năng động giữa giáo dân, khuyến khích họ có trách nhiệm với Giáo hội của họ, thoát ra khỏi vòng quyền lực thông thường bị giới hạn ở Rôma.

Tiến trình của Thượng Hội đồng này đôi khi được gọi là “thượng hội đồng về tính đồng nghị” (Vì một Giáo hội có tính đồng nghị: hiệp thông, tham gia và truyền giáo) bắt đầu bằng việc tham khảo ý kiến của giáo dân trên toàn thế giới. Các giám mục của mỗi quốc gia, sau đó là mỗi châu lục đã cùng nhau tổng hợp và bây giờ Thượng Hội đồng, lần đầu tiên quy tụ các tu sĩ, giáo dân – kể cả phụ nữ –, gặp nhau ở Rôma để thảo luận. Đây là điều chưa từng có.

Vẫn còn phải xem Đức Phanxicô sẽ giữ lại điều gì. Khi mở chức phó tế cho phụ nữ, ngài đã chỉ định một ủy ban lo việc này. Không có gì ngăn cản việc có các nữ phó tế vì đã có một số ở thời Cổ đại. Nhưng dù ý kiến của ủy ban đặc biệt này như thế nào thì có một rủi ro, đó là sẽ không có gì thay đổi. Vì mọi thứ đều nằm trong tay Giáo hoàng. Đức Phanxicô thường nhắc chúng ta phải thoát khỏi chủ nghĩa giáo sĩ trị, khỏi một Giáo hội được các giáo sĩ toàn năng lãnh đạo. Ngài hoàn toàn đúng. Nhưng ngài phải áp dụng yêu cầu này.

Triều Đức Phanxicô cũng là triều chứng kiến nhiều tiết lộ nhất về bạo lực tình dục của các giáo sĩ (thật sự là đã có từ đầu thế kỷ 20). Ông nghĩ câu trả lời của ngài mang lại là gì?

Trong các bài phát biểu của ngài, dường như ngài đã nắm được các vấn đề. Tuy nhiên, vẫn còn những vùng tối như vụ linh mục Dòng Tên Marko Rupnik người Slovenia bị buộc tội bạo lực tình dục. Tháng 5 năm 2020, linh mục bị dứt phép thông công và được dỡ bỏ một tháng sau đó. Trong một phỏng vấn tháng 1 năm 2023, Đức Phanxicô giải thích linh mục Rupnik đã thú nhận một phần cáo buộc và bồi thường cho nạn nhân. Bị loại khỏi Dòng Tên, cuối cùng linh mục được một giáo phận ở Slovenia nhận. Với sự hỗ trợ nào? Và hôm nay linh mục ở đâu? Bí ẩn, có người nói linh mục đang ở Rôma. Và các bức tranh khảm của linh mục vẫn tiếp tục trang hoàng cho các cơ sở của Giáo hội trên khắp thế giới, và các phương tiện truyền thông Vatican tiếp tục dùng để minh họa cho các bài báo hoặc thông điệp trên mạng xã hội, trước sự ngạc nhiên của các nạn nhân. Trường hợp này cũng như các trường hợp khác – Tổng giám mục Gustavo Zanchetta người Argentina thân cận với Đức Phanxicô, bị kết án tấn công tình dục năm 2022 và Giám mục Ấn Độ Franco Mulakkal (đã từ chức năm 2023, bị buộc tội cưỡng hiếp một nữ tu trong nhiều năm), vai trò của Đức Phanxicô cần được làm sáng tỏ.

Nói rộng hơn, chúng ta có thể lấy làm tiếc Giáo hội vẫn bị khóa chặt trong tầm nhìn xưa cổ về các chủ đề này. Trong giáo luật, bạo lực tình dục vẫn xếp vào loại vi phạm điều răn thứ sáu – “Chớ làm sự dâm dục” – như thế đây là tội ác và phải được xem là tội ác, như nhà thần học Lucetta Scaraffia  viết trong một cuốn sách gần đây Vượt ra ngoài điều răn thứ sáu (Au-delà du sixième commandement, mxb Salvator, 2024).

Nếu Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô là các giáo hoàng của “thế giới cũ”, thì các giáo hoàng của “thế giới mới” sẽ như thế nào? Chân dung của họ sẽ ra sao?

Tôi sẽ không mạo hiểm dự đoán vị giáo hoàng tương lai, nhưng chúng ta có thể có những nhân cách đáng chú ý như Thượng phụ Pierbattista Pizzaballa: Thượng phụ la-tinh của Giêrusalem, ngài là một trong những hồng y cuối cùng được Đức Phanxicô bổ nhiệm; ngài đại diện cho Giáo hội ở Thánh địa một cách cân bằng và can đảm trong thời điểm khó khăn này.

Hoặc Hồng y Anders Arborelius, Tổng giám mục Stockholm sinh ra ở Thụy Sĩ trong một gia đình theo giáo phái Luther, ngài trở lại đạo công giáo, biết nhiều ngoại ngữ, làm việc về các vấn đề tình dục, hướng tới chủ nghĩa đại kết: tác động của ngài vượt ra ngoài khuôn khổ Hội đồng Giám mục nhỏ bé của ngài.

Vì sao không phải là một giáo hoàng Châu Phi? Hồng y Fridolin Ambongo người Congo được nhiều người biết đến, ngài có chân trong “Hội đồng C9”, có trách nhiệm giúp Giáo hoàng quản trị Giáo hội. Hay một hồng y Châu Á, như hồng y Miến điện Charles Maung Bo? Một thách thức trong việc nối lại quan hệ với Trung Quốc trong những năm tới. Dù là ai, giáo hoàng tương lai phải nhạy cảm với thời của mình.

Tình trạng thế tục hóa đang gia tăng, đặc biệt ở phương Tây, chúng ta phải đối diện với những sa mạc tâm linh. Nhưng nhiều người vẫn tiếp tục khao khát sự siêu việt, đối đầu với những bí ẩn của sự sống và sự dữ, họ muốn được đón nhận, lắng nghe, trấn an và thách thức của một điều gì đó vượt quá họ. Tôi hy vọng người kế vị Thánh Phêrô tiếp theo sẽ có thể thỏa mãn được cơn khát này.

“Giáo hoàng cuối cùng” (Le Dernier Pape, Giovanni Maria Vian. Nxb. Du Cerf).

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Các thánh, những người bạn thân thiết của Chân phước Carlo Acutis

Các thánh, những người bạn thân thiết của Chân phước Carlo Acutis

Trích sách Carlo Acutis, Đam mê bầu trời. Jean-Luc Moens

Tác giả và nhà xuất bản Emmanuel xin hết lòng cám ơn bà Antonia Acutis, mẹ của Chân phước Carlo Acutis vì sự giúp đỡ và tin tưởng của bà trong việc biên soạn quyển sách này.

Hai thánh Carlo yêu quý là Thánh Phanxicô Assisi và Thánh Antôn Pađua. Carlo rất thích thành phố Assisi. Cha mẹ Carlo có một ngôi nhà ở đó, nghỉ hè Carlo về đây ở. Carlo đọc nhiều sách về cuộc đời của Thánh Phanxicô Assisi, Carlo muốn bắt chước tính khiêm nhường của ngài, đó là đức tính khó trau dồi nhất, sẽ là ảo tưởng khi nghĩ mình khiêm nhường vì khi có ai nói điều gì không vừa ý, chúng ta tức giận ngay. Carlo cũng muốn có lòng kính mến Thánh Thể và nhiệt thành truyền giáo lớn lao như Thánh Phanxicô. Carlo tự hỏi làm sao một người nghèo ở Assisi lại có thể đi khắp nước Ý để truyền giáo cho nhiều người như vậy. Nhờ noi gương Thánh Phanxicô Assisi, Carlo chừa được “tật háu ăn” vì Carlo thích ăn ngon!

Carlo cũng quý mến Thánh Antôn Pađua, ngài vô cùng tôn kính Thánh Thể. Carlo thích kể câu chuyện phép lạ con la ở Rimini. Ông Bonovillo không tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Một ngày nọ, ông thách thức Thánh Antôn. Ông hứa sẽ tin nếu sau ba ngày nhịn ăn, con la đang đói của ông sẽ tôn thờ Mình Thánh Chúa. Sau ba ngày, khi đám đông tụ tập ở quảng trường, ông đem con la đến và bày một ít thức ăn cho nó. Còn Thánh Antôn đem mặt nhật có Mình Thánh Chúa đến. Con la không để ý đến thức ăn, nó đến phủ phục trước Thánh Thể, đám đông hò hét trước phép lạ. Carlo nói về phép lạ này: “Chắc chắn con la được Chúa soi dẫn để đánh đổ hoài nghi của những người chỉ thích ăn ngon hơn là thờ phượng Chúa!”

Một lòng kính mến Đức Mẹ

Carlo có lòng kính mến Đức Mẹ lớn lao. Carlo biết thánh địa quốc gia Đức Mẹ Mân Côi Pompeii của Ý, nơi thân thiết của gia đình bên ngoại và với bà cố, trong ngày cưới của bà tại đây, bà hứa lần chuỗi Mân Côi mỗi ngày. Đền thánh được Chân phước Bartolo Longo xây từ năm 1876 đến năm 1891. Lòng kính Đức Mẹ Pompeii lan rộng khắp nước Ý và vẫn còn cho đến ngày nay. Khi còn nhỏ, Carlo đã nhiều lần đi hành hương ở đền thánh này. Chính trước ảnh Đức Trinh Nữ Pompeii, Carlo dâng mình cho Đức Mẹ và Carlo lập lại thánh hiến này nhiều lần.

Ai hơn Đức Mẹ để dạy chúng ta bước vào sự mật thiết với Ba Ngôi Thiên Chúa; là mẹ của Chúa Giêsu, Thiên Chúa và Đấng Cứu Chuộc cứu rỗi, là hiền thê của Chúa Thánh Thần? Chắc chắn Thiên Chúa sẽ không bao giờ từ chối Mẹ bất cứ điều gì, Mẹ là Đấng Chúa Giêsu yêu thương hơn ai hết.

Một ngày nọ, Carlo sốt sắng cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ Pompeii để mẹ của một người bạn được trở lại, bà đã không giữ đạo từ hơn ba mươi năm. Ít lâu sau, bà cho biết bà đã đi lễ lại. Sự hoán cải này đã làm Carlo xúc động mạnh, thuyết phục Carlo về sức mạnh cầu bàu của Đức Mẹ.

Carlo cũng có dịp đi thăm hai thánh địa lớn khác là Lộ Đức và Fatima. Trong chuyến đi Lộ Đức, Carlo rất ấn tượng với hang Đức Mẹ và với việc Đức Mẹ chọn Bernadette, cô gái trẻ khiêm nhường mù chữ để truyền thông điệp của Mẹ. Tại đây, Carlo hứa với Mẹ sẽ lần hạt mỗi ngày, lời hứa Carlo trung thành giữ suốt đời.

Cuộc hành hương đến Fatima cũng là khoảnh khắc quý giá của Carlo. Chúng tôi đi năm 2006, chỉ vài tháng trước khi Carlo qua đời. Thông điệp Fatima đánh động Carlo rất mạnh: cầu nguyện và hy sinh cho người có tội. Carlo muốn bắt chước ba trẻ ở Fatima luôn làm những việc nhỏ như hy sinh không ăn sôcôla hay Nutella, không xem những phim mình thích… Carlo dâng một bó hoa hồng cho Đức Mẹ để Mẹ giúp đỡ những đứa con của Mẹ đang cần Mẹ nhất”.

Căn bệnh khủng khiếp

Đầu tháng 10 năm 2006, Carlo ngã bệnh. Đầu tiên các bác sĩ chẩn đoán bệnh quai bị. Khi đó không ai nghĩ Carlo sẽ mắc một căn bệnh trầm trọng. Carlo nói với cha mẹ: “Con xin dâng tất cả những đau đớn của con cho Giáo hoàng, cho Giáo hội để con không vào luyện ngục mà đi thẳng lên thiên đàng.” Bốn ngày sau, Carlo đi tiểu ra máu, các bác sĩ nghĩ Carlo bị nhiễm trùng đường tiểu nhưng xét nghiệm không phải. Tình trạng của Carlo càng ngày càng yếu. Bác sĩ khuyên nhập viện. Carlo bị bệnh bạch cầu M3, dạng nặng nhất của căn bệnh này và không thể chữa được. Carlo được chuyển đến bệnh viện chuyên khoa ở Monza, cách Milan không xa. Mẹ và bà luôn ở bên cạnh Carlo, Carlo nói với mẹ và bà: “Con sẽ không sống sót để ra khỏi đây.”

Con bằng lòng chết vì con đã sống không lãng phí một phút nào và con không làm mất lòng Chúa trong các việc con làm.

Carlo được các nhân viên y tế cảm phục. Một cô y tá cho biết: “Tôi đã gặp Carlo ở khoa huyết học nhi khoa của bệnh viện Saint-Gérard. Tình trạng của em rất nguy kịch. Khi vào phòng, tôi hỏi em: ‘Con khỏe không?’ Carlo trả lời: ‘Con khỏe!’ Ngạc nhiên trước câu trả lời của Carlo, tôi hỏi: ‘Con khỏe sao?’ Carlo trả lời: ‘Có nhiều người còn bệnh hơn con!’ Phản ứng này làm tôi rất xúc động.” Ngay sau đó Carlo bị hôn mê. Bác sĩ cố gắng chữa trị máu. Phẫu thuật thành công nhưng ngay sau đó Carlo bị xuất huyết não. Não của Carlo chết ngày 11 tháng 10 năm và tim ngừng đập lúc 6 giờ 45 ngày 12 tháng 10 năm 2006, một ngày trước ngày kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra lần cuối ở Fatima.

Thi thể của Carlo được đặt ở nhà bốn ngày, rất nhiều người đến viếng lần cuối. Nhiều người ngạc nhiên vì họ ngửi thấy mùi hoa huệ tỏa ra từ cơ thể Carlo.

Đám tang đông đến mức nhiều người không có chỗ trong nhà thờ, họ phải ở ngoài nhà thờ. Có một bầu khí ăn mừng, như thể đây là sự ra đời. Thánh lễ kết thúc vào buổi trưa, đúng lúc chuông nhà thờ ngân vang. Một số linh mục có mặt cho đây là dấu hiệu Carlo đã thực sự sinh ra trên thiên đàng.

Bản gốc của chúng ta, đó là sự thánh thiện

Đam mê bầu trời, Carlo lên thiên đàng gặp Chúa. Hiện nay thi thể của Carlo an nghỉ tại Assisi, thành phố Carlo vô cùng yêu mến. Carlo thường nói: “Mọi người sinh ra đều là bản gốc, nhưng có nhiều người chết đi là bản sao.” Một lời nói kinh ngạc của một thiếu niên dưới 15 tuổi! Chúng ta thường nói tuổi thiếu niên là tuổi bắt chước, tuổi tìm cách thuộc về một nhóm vì sợ không giống người khác. Carlo chưa bao giờ như vậy. Carlo sinh ra và chết đi như một “bản gốc”. Đời sống thiêng liêng sâu đậm, khát khao thiên đàng vô biên đã làm cho Carlo thành con người tự do, không lệ thuộc vào thời trang hay nhu cầu làm vui lòng người khác. Carlo cho chúng ta thấy sự thánh thiện là cách duy nhất để duy trì bản gốc mà Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta vì tình yêu. Thật vậy, nên thánh là gì? Đơn giản là luôn trở thành người Chúa đã tạo dựng, trung thành với nguồn gốc của mình. Đó là tìm ra căn tính sâu sắc trong chương trình hoạch định của Chúa dành cho chúng ta. Carlo sinh ra là bản gốc, sống và lắng nghe Chúa như bản gốc và chết như bản gốc. Đó là lý do vì sao Giáo hội tuyên bố Carlo là bậc đáng kính và một ngày nào đó Carlo sẽ là thánh.

Kinh cầu nguyện cho việc phong thánh Carlo Acutis

 Carlo đã cho chúng tôi chứng từ nhiệt thành của Carlo, đã đặt Bí tích Thánh Thể làm trọng tâm đời sống, đã làm cho nhiều người yêu mến Thánh Thể, chúng tôi cầu nguyện để Carlo sớm được vào hàng ngũ các thánh của Giáo Hội.

Xin Carlo củng cố đức tin cho chúng tôi, gia tăng hy vọng, làm sinh động lòng bác ái, giống như Carlo đã thấm nhuần những nhân đức này.

Xin Chúa ban cho con các ơn chúng con đang cần… (nêu rõ ơn)

Con xin phó thác con cho Chúa Giêsu, cho Đức Mẹ nhờ lời cầu bàu của Chân phước Carlo Acutis. Amen.

Đọc một Kinh Lạy Cha, một Kinh Kính Mừng, một Kinh Sáng Danh.

Marta An Nguyễn dịch

Năng khiếu máy tính của Chân phước Carlo Acutis

Xa lộ lên thiên đàng của Chân phước Carlo Acutis

Chân phước Carlo Acutis, Đam mê bầu trời

Thượng Hội đồng, vì sao tôi tin vào Thượng Hội đồng

Thượng Hội đồng, vì sao tôi tin vào Thượng Hội đồng

Thượng Hội đồng về tương lai của Giáo hội đang họp phiên họp thứ hai. Kết quả sẽ là gì? Ngoài văn bản cuối cùng, thành công của Thượng Hội đồng nằm ở cách quy tụ các giám mục, nam nữ giáo dân từ khắp nơi trên thế giới theo một cách chưa từng có, và đã thành công trong việc chuyển trọng tâm của Giáo hội từ trung tâm lịch sử sang ngoại vi.

la-croix.com, Arnaud Alibert, 2024-10-19

Linh mục Arnaud Alibert, Tổng biên tập báo La Croix. Ferville / Ferville

Làm thế nào để đánh thức mọi người quan tâm đến Thượng Hội đồng? Để hy vọng thu hút sự chú ý của bất cứ ai trong thế giới tràn ngập thông tin của chúng ta, bạn phải làm cho mọi người sợ, cười hoặc khóc; mục đích có thể đạt phải gồm ít nhất một trong ba yếu tố này. Tuy nhiên, không yếu tố nào trong ba yếu tố này có thể áp dụng cho việc truyền thông của Thượng Hội đồng hiện nay.

Để sợ? Sợ những quyết định được đưa ra hay sợ thất bại? Vô ích! Vì Thượng Hội đồng không phải là cuộc họp của chính phủ hay hội đồng quốc phòng trong thời chiến. Thành quả của Thượng Hội đồng có nhiều trong quá trình cũng như trong kết quả. Kết quả chắc chắn sẽ là một văn bản, và trên hết là một tinh thần mà chúng ta có thể hy vọng có được sự đổi mới. Những thay đổi trong Giáo hội sẽ không xuất hiện vào những ngày tiếp theo, nhưng khi những điều kiện để mọi người hiệp thông tốt hơn được đáp ứng. Đó là cách Giáo hội đã làm suốt 2.000 năm qua.

Làm cho mọi người cười? Rất khó, ngoại trừ tiếng cười mỉa mai, tiếng cười chế giễu, tiếng cười này có tạo được cảm giác lung lay trước làn gió dân chủ mà Thượng Hội đồng khởi xướng không? Thành thật mà nói, cảnh tượng hoạt động của các nghị viện hay sự mù mờ bao quanh các cuộc họp của hội đồng quản trị của các công ty quốc tế lớn với quyền lực to lớn cũng không khá hơn, không khác nhau bao nhiêu. Giáo Hội không có gì phải xấu hổ về chính mình. Với sự chậm chạp và với vẻ ngoài cổ xưa, Giáo hội cho thấy một dạng trí tuệ.

Tính đồng nghị mang tính tiên tri trong hình thức của nó

Còn yếu tố thứ ba, làm cho các tâm hồn buồn bã phải khóc, những người lớn tuổi tiếng tiếc nuối vì những vấn đề quan trọng đã bị loại trừ hoặc chưa thực sự được tính đến? Khóc cho một Giáo hội quân chủ, sẽ làm ngơ trước lời nói của người dân? Quá mức và một chút tập trung vào Âu Châu? Bằng cách dành chỗ cho nguyện vọng của 150 triệu người Công giáo ở Brazil, 70 triệu người ở Cộng hòa Dân chủ Congo, và rất nhiều người khác ở những nơi khác, cơ chế đồng nghị đã đưa quan điểm của các Giáo hội phương Tây vào một góc nhìn phù hợp. Điều này có tệ không? Đặc biệt là vì các chủ đề được người Châu Âu yêu quý như sự hợp tác lớn hơn giữa giáo sĩ và giáo dân và bình đẳng giới trên thực tế ngày nay ít bị bỏ qua hơn trước, vì công việc đồng nghị đã đưa các vấn đề này lên bàn thảo luận. Việc chúng không được giải quyết vào tháng 10 năm 2024 không hề ảnh hưởng đến điều gì sẽ xảy ra vào năm 2025 hoặc những năm tiếp theo.

Chức phó tế nữ và các linh mục đã kết hôn đang được thảo luận ở Thượng Hội đồng

Có lẽ chúng ta phải thừa nhận một cách đơn giản rằng Thượng Hội đồng Rôma này đã diễn ra theo một cách khá bình thường, đặc biệt về những mong chờ cũng như trong cách tổ chức. Công việc cơ bản mà từ bên ngoài chúng ta không cảm nhận được sóng mà chỉ là một đợt sóng đơn giản; không có gì ngoạn mục cũng không có gì đáng kể. Từ Rôma vang vọng tiếng vang của một Thượng Hội đồng tự hào trong việc trao đổi kinh nghiệm trong “toàn thế giới”, chuẩn bị một sự hiệp thông trên quy mô thế giới, điều này sẽ rất cần thiết vào thời điểm kế vị Đức Phanxicô. Cũng một cách lặng lẽ, một lễ kỷ niệm đại kết đặt vấn đề của Thượng Hội đồng về mặt hiệp nhất Kitô giáo, trong đó giáo hoàng không chỉ được nhìn từ quan điểm hoạt động của Giáo hội công giáo. Thượng hội đồng đã có một tầm nhìn to lớn. Xin cho phép tôi được lạc quan: Thượng Hội đồng đầy hứa hẹn.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chân phước Carlo Acutis: Các liên kết

Chân phước Carlo Acutis: Các liên kết

Trích sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng”. Carlo Acutis, Ses intuitions spirituelles

Tác giả: Alessandro Deho’, nhà xuất bản: Salvator

“Điều làm cho chúng ta thực sự xinh đẹp trong mắt Chúa chính là cách chúng ta yêu mến Ngài và yêu thương người anh em mình.”

“Xinh đẹp trong mắt Chúa”: câu này làm tôi xúc động. Tôi nghĩ ngay đến những người đã nhìn tôi với ánh mắt tươi đẹp, đầy nhân ái. Và tôi không hình dung ngay lập tức đó là đôi mắt Chúa. Thực sự, tôi luôn quyết liệt từ chối hình dung khuôn mặt của Chúa, tôi sợ nhìn Chúa một cách dễ dàng, một Chúa theo hình ảnh của tôi. Ở tuổi 15, chúng ta không sợ, cuộc sống tươi đẹp, chúng ta chắc chắn mình thấy được đôi mắt của Chúa, đó là sự thật. Với tôi, tôi đã mất nhiều năm tháng mới đến được nơi Carlo đến được bằng trực giác. Tôi đã mất cả cuộc đời, đi linh thao Thánh I-Nhã, nhắc nhở tôi mỗi sáng nhìn vào chính mình như Chúa đang nhìn tôi, nhưng trên hết, tôi đã phải nhận rất nhiều cái nhìn đầy yêu thương. Chính những cái nhìn này, và chỉ những cái nhìn này, đã làm cho tôi thấy được đôi mắt của Chúa.

Đã bao lần người khác nhìn tôi bằng ánh mắt yêu thương? Một ngày nọ, một nữ thần học gia, một học giả Kinh thánh nổi tiếng, trêu chọc tôi khi tôi nói với bà tôi cảm thấy tôi rất được yêu thương. Tôi không nói với vẻ kiêu căng nhưng với sự ngạc nhiên. Tôi đau lòng khi bà nhìn tôi như nhìn những người ngây ngô. Carlo sẽ không nhìn tôi như vậy. Ánh mắt của bà có thể là ánh mắt của một phụ nữ khôn ngoan, nhưng lúc đó tôi không nhìn thấy Chúa trong mắt bà. Tôi nghĩ tôi đã quá thường xuyên nhìn người khác một cách lơ đãng hoặc hời hợt, điều mà tôi xem như một tội.

Điều này làm tôi nhớ đến câu chuyện Con đường Ê-mau trong Tin Mừng Thánh Luca. Đó là câu chuyện về những cái nhìn: đầu tiên là cái nhìn khép kín, không nhận ra Đấng Phục Sinh đang đi bên cạnh, nơi mình tránh xa thế giới, và sau đó cũng chính đôi mắt này, nhạy cảm với trái tim nóng hổi, mở ra như những bông hoa. Và kệ, nếu đôi mắt này mở ra vào lúc nửa đêm… Đó là những ngôi sao, có lẽ là sao chổi sẽ bay về phía anh em chúng ta, những người đang chờ mà không hề hay biết, để nhìn thấy Chúa trong đôi mắt của bạn bè họ. Với tôi, dường như ngay cả trong Tin Mừng cũng nói chúng ta không thể tìm thấy cái nhìn của Chúa nếu chúng ta quay lưng lại với cái nhìn của con người. Tôi không biết thế nào là “đẹp trong mắt Chúa” như Carlo nói, nhưng tôi biết cảm xúc khi nhìn thấy mình trong mắt những người yêu thương khi chúng ta lạc lối, khi chúng ta sa ngã, khi chúng ta phản bội… Tôi biết rõ cảm giác nhìn thấy ánh sáng hạnh phúc trong mắt những người mình yêu thương là như thế nào. Tôi biết rõ cảm giác như thế nào khi nhìn vào đôi mắt của người cha sắp chết vì Covid trên giường bệnh, đôi mắt đó đang nhìn bạn qua khẩu trang, đôi mắt trong xanh đầy nhân hậu nhìn vào khoảng không, đôi mắt đã giúp bạn trưởng thành và giờ đây sắp ra đi và vẫn tin tưởng trong bóng tối.

Thực ra, Carlo đang nói về đôi mắt của Chúa. Nhưng chúng ta chỉ có thể nhìn thấy Chúa trong nụ hôn đặt lên mỗi khuôn mặt, làm chúng ta cảm động vì ngạc nhiên, ngạc nhiên nhưng cũng bối rối. Thiên Chúa ở trong mắt những người không hài lòng với cuộc sống, trong mắt những người nhìn qua bên kia, vì họ đang yêu hoặc vì họ đang cận kề cái chết. Tin, là mang lại chiều sâu cho cái nhìn của bạn. Nó giống như việc đi sâu vào hiện thực để khám phá những điều bí ẩn hiện diện trong vạn vật. Thiên Chúa không có cái nhìn hời hợt, Ngài có cái nhìn xuyên thấu chúng ta, đó là hành vi thẳng thắn và cương quyết của người không chỉ nói về tình yêu nhưng là người trao ban tình yêu. Tôi không biết cái nhìn của Chúa trông như thế nào. Với tôi, mọi hình thức nào dường như đều khác xa với Đấng Tối Cao. Tôi chắc chắn tôi ở trong ánh sáng của Ngài nhưng tôi không thể diễn tả làm sao con mắt của Ngài. Tôi không nghĩ Ngài có cái nhìn duy nhất. Tôi nghĩ tôi có thể nói thời gian tôi suy niệm trong thinh lặng đã cho tôi thấy một không gian rực sáng, trong đó đôi mắt của tất cả những người yêu thương tôi cùng nhau tỏa sáng.

 

Đôi khi thật thấm thía, vì bạn thấy tất cả những người đã đi trước, bạn thấy tất cả những biến cố, và trái tim bạn thắt lại, đầy hoài niệm… Bạn tìm thấy tuổi thơ của mình, khi cuộc sống đơn giản và đầy hứa hẹn, bạn tìm thấy hình ảnh của chính bạn khi còn nhỏ, một hình ảnh đẹp. Đó là ánh nhìn làm bạn muốn chết đi, như thể cuộc đời quá đau khổ. Thật không dễ để sống trong cái nhìn, thật khó để nó thể hiện chính mình, thật mệt mỏi khi suy ngẫm. Chúng ta thường chọn cách chạy trốn và đó là điều dễ hiểu. Khi nhìn vào mắt người cha đang hấp hối, tôi thực sự muốn bỏ đi, tôi xấu hổ không dám nói ra, nhưng nỗi đau và sự bí ẩn quá lớn, chúng mang tính hủy diệt. Tôi nghĩ tôi đã đoán được vì sao hầu hết các môn đệ đều bỏ Chúa khi Chúa ở trên Thập Giá. Cái nhìn là cái gì đó phức tạp, và Thiên Chúa là ánh sáng có thể làm chúng ta mù. Vì tình yêu rất phức tạp. Bạn luôn phải cẩn thận.

Carlo không đắn đo khi nói về cái nhìn của Chúa. Tôi nghĩ thật quý giá khi chúng ta giữ sâu tính tự phát này trong ký ức, có lẽ không cần giải thích quá nhiều nhưng cũng không nên làm mất mối liên kết, để nhắc chúng ta mỗi ánh sáng soi sáng chúng ta đều là phản ánh một Tình yêu vô cùng vĩ đại đi trước chúng ta. “Và ‘cách’ chúng ta sẽ yêu thương anh em của mình.” Carlo bắt đầu từ cái nhìn để đi đến các liên kết, và đó thực sự là nội dung, cái nhìn và các liên kết: điều gì gắn kết tôi với những người khác, điều gì đưa tôi đến với Đấng vĩnh cửu, điều gì dẫn tôi đến “cái tôi” sâu sắc của tôi. Cái nhìn là mối liên kết với Đấng Tối Cao, nhưng cũng là mối liên kết thiết yếu với những bí mật nội tâm của chúng ta. Chúng ta chỉ có thể thực sự biết bản thân mình trong con mắt của những người tiết lộ cho chúng ta những phần con người mà chúng ta chỉ có thể nhìn thấy trong hình ảnh phản chiếu.

Chúng ta cần một “linh đạo của cái nhìn”. Tôi đọc ở đâu đó, không khỏi khó chịu, rằng Carlo đã che mắt trước truyền hình để không xem một số cảnh có thể làm Carlo khó chịu. Tôi, tôi nghĩ với tuổi tác, Carlo sẽ lấy tay này bảo vệ tay kia, một bàn tay không còn sợ bị tổn thương nhưng giống như Chúa Giêsu với những người cùi, sẽ học được, từng chút một, để đến gần và chạm nhẹ vào thứ mà mọi người gọi là cái ác. Tình yêu chấm dứt sự ngây thơ của chúng ta nhưng đánh dấu một giai đoạn trong cuộc đời chúng ta, và tội lỗi thực sự là chết vô sinh, có lẽ trong sạch, nhưng vô sinh.

Đúng là chúng ta phải cảnh giác với những cái nhìn, không phải cái nhìn của những người khác, nhưng là cái nhìn của chúng ta về thế giới. Cách chúng ta nhìn người khác nói lên tất cả về chúng ta mà không cần phải nói. Bàn tay bảo vệ sự trong sạch giả định này chỉ mong được lớn lên và trở thành bàn tay dịu dàng thể hiện tình yêu nhân loại và lòng trắc ẩn với anh em chúng ta, ngay cả khi họ có thái độ thô tục và bạo lực. Vì chúng ta chỉ là những người nghèo thường không tìm được cách nào khác để cầu xin tình yêu và sự quan tâm của người khác.

Chúng ta có thể che giấu đôi mắt của mình, với trẻ em thì dễ, nhưng khi lớn lên chúng ta phải có một cái nhìn đầy tình yêu thương, có khả năng nhìn vào sự khốn cùng của thế giới và nhìn thấy ánh sáng bị chôn vùi, ánh sáng có lẽ xa xôi này, nhưng lại không gì có thể dập tắt được, ngay cả sự thô bỉ của tội lỗi. Khi còn nhỏ, chúng ta có thể che giấu đôi mắt của mình, nhưng khi trưởng thành, chúng ta phải học cách nhận ra rằng ánh mắt của chính chúng ta không bao giờ đẹp đẽ và hoàn hảo như chúng ta nghĩ. Và chúng ta khóc, chúng ta cười, chúng ta chào đón nhau… như những vị thánh được tha thứ bởi một tình yêu lớn hơn chúng ta. Tất cả chúng ta đều là những tín hữu kitô nghèo nàn, tất cả chúng ta đều cần một cái nhìn tốt đẹp, thiêng liêng, một cái nhìn phúc lành. Mọi người đều đòi nhu cầu của mình tốt nhất có thể. Chúng ta cần đôi mắt của các môn đệ trên đường Ê-mau, có khả năng làm sống lại ánh sáng trong mỗi cái nhìn.

Carlo hiểu rõ điều này: “Đó sẽ là cách chúng ta yêu Ngài và chúng ta yêu người anh em mình”. Chúng ta tìm thấy Tin Mừng trong câu này, nó tạo nên mối liên kết giữa cái nhìn của Thiên Chúa và tình yêu của chúng ta dành cho Ngài và cho anh em chúng ta. Và khi nói về tình yêu, không khó để tìm được sự đồng thuận. Nhưng trong câu này, có một từ mà chúng ta phải dừng lại, đó là từ “cách”. Chúng ta gần như không bao giờ chỉ trích tình yêu, nhưng khi nó đến thì càng khó hơn, đến “như thế nào”. “Làm sao để yêu?” Vì “làm sao” này bao gồm thời gian, không gian và cả bản thân chúng ta, sự mong manh và sự phản bội của chúng ta, những câu chuyện của chúng ta và những cách chúng ta hiểu khác nhau về tình yêu. Chúng ta yêu như thế nào? Với tôi, đây dường như là điểm thiết yếu để xây dựng tâm linh của chúng ta. Làm thế nào để thể hiện tình yêu? Chúng ta không thể biết. Chúng ta không thể “xiềng xích” tình yêu, chúng ta không thể mô tả tình yêu. Để tránh những điều tầm thường, chúng ta phải tập trung vào “làm thế nào”, sau đó để tình yêu bay đi, giải phóng nó và đi theo nó. Bởi vì “làm thế nào” của tình yêu có thể lường trước được hoặc không thể lường trước được .

Nói rằng chúng ta phải yêu “như” Chúa Giêsu đã yêu, cho dù câu này có chính xác đi chăng nữa thì cũng chưa đầy đủ, thậm chí có phần mạo hiểm. Tình yêu không phải là đơn thuần bắt chước. Tình yêu cần một cái nhìn, Carlo nói đúng. Tình yêu và Cái nhìn, đó là liên kết. Trước hết, chúng ta có thể rèn luyện cách nhìn của mình bằng cách tự hỏi bản thân xem liệu chúng ta có thực sự đang quan sát người trước mặt hay không, vì hướng mắt về phía ai đó, cần rất nhiều can đảm. Để thuận tiện, hoặc có lẽ như phản xạ phòng thủ, chúng ta có xu hướng chiếu những hình ảnh có sẵn mà chúng ta đã xây lên người khác. Tuy nhiên, thực sự nhìn là chấp nhận mắt chúng ta trở nên dễ bị tổn thương, chấp nhận ánh mắt của người khác có thể tạo hỗn loạn trong chúng ta. Đó là lý do vì sao khi trưởng thành, chúng ta không thể tự bảo vệ mình quá nhiều. Bàn tay này trên mắt chúng ta phải di chuyển sang một bên và để tay kia đi vào tâm hồn chúng ta. Thực sự nhìn là chấp nhận để tự vấn bản thân. Chúng ta không thể định nghĩa cái nhìn của Thiên Chúa vì đó là cái nhìn trong Chúa Giêsu và trong người anh em yêu thương của chúng ta, tiếp tục dễ bị tổn thương, quan tâm và kiên nhẫn, sẵn sàng để mình bị tổn thương bởi cuộc gặp gỡ. Lúc đó chúng ta phải yêu như thế nào? Bằng cách chấp nhận bản chất dễ bị tổn thương của đôi mắt chúng ta. Điều gì thuyết phục ông Giakêu, người đàn ông trưởng thành bước xuống khỏi cây nếu không phải là một cái nhìn không thành kiến, một cái nhìn dễ bị tổn thương, đó là cái nhìn của Chúa Giêsu, Đấng đã ở lại với một người mà với đám đông, ông là tội nhân? Sự hoán cải của chúng ta đến qua đôi mắt này, đôi mắt làm chúng ta xúc động trước nỗi khốn khổ của chúng ta.

Tôi không biết cuối đời tôi sẽ còn lại bao nhiêu liên kết. Từ lâu, tôi đã tin vào những liên kết trong sáng và tự do. Tôi nhớ đã hứa rất nhiều lần sẽ không làm tổn thương ai nữa, tôi muốn được tự do, trong sáng và hoàn hảo. Thật là một cám dỗ ma quỷ! Hôm nay, tôi tin chắc những người hiểu tôi yêu, họ đã nhìn thấy ánh mắt của Thiên Chúa nếu tôi có thể bày tỏ điều đó dù chỉ trong giây lát. Có lẽ khó hiểu, thậm chí có thể sai. Hôm nay tôi xấu hổ, tôi xin được tha thứ cho tất cả những lần tôi nhắm mắt bỏ chạy, vì tất cả những lần tôi sợ người khác.

Marta An Nguyễn dịch

Lời giới thiệu sách “Carlo Acutis, các trực giác thiêng liêng

Giuse Nguyễn Quang Thành: từ Tỉnh dòng Truyền giáo Việt Nam đến Tỉnh Dòng Truyền giáo Nhật Bản

Giuse Nguyễn Quang Thành: từ Tỉnh dòng Truyền giáo Việt Nam đến Tỉnh Dòng Truyền giáo Nhật Bản

infoans.org, 2024-10-17

Giuse Nguyễn Quang Thành, đã truyền giáo ở Nhật từ năm 2023. Từ kinh nghiệm ngắn ngủi của mình, anh cho biết: “Chắc chắn truyền giáo không phải là một cuộc sống dễ dàng. Chúng ta cần khiêm tốn để lắng nghe, quan sát, học hỏi và trưởng thành.”

Xin chào anh, xin anh cho biết về anh…

Nguyễn Quang Thành: Tôi tên là Giuse Nguyễn Quang Thành. Tôi thuộc đoàn truyền giáo thứ 151, nhưng vì Covid tôi không dự được khóa đào tạo dành cho các nhà truyền giáo mới nên năm nay tôi đi khóa 155. Gia đình tôi có năm người, chúng tôi ở miền Nam Việt Nam, tạ ơn Chúa, gia đình tôi được bình an.

Điều gì đã làm anh chọn trở thành nhà truyền giáo?

Có hai nhà truyền giáo đã ảnh hưởng đến tôi: cha Germain Lagger và Attilio Stra, cả hai đều truyền giáo ở Việt Nam trước năm 1975. Do chiến tranh, họ buộc phải rời Việt Nam và chưa bao giờ quay trở lại. Sau khi rời Việt Nam, cha Stra tới Haiti và làm việc cho trẻ em đường phố. Tôi thường thấy cha khóc khi nói về Việt Nam: “Việt Nam là quê hương thứ hai của tôi”. Nước mắt của tình yêu. Cha Lagger đến Việt Nam khi tôi đang học tại Học viện Triết học Salêdiêng, cha có một bài nói chuyện rất xúc động, tràn đầy yêu thương. Cha còn hát một bài hát tiếng Việt dâng kính Đức Mẹ. Từ đó tôi nhận được ân sủng yêu mến Đức Maria.

Anh có hài lòng với nơi anh đến không? Anh có lo lắng, có sợ khi đến một nơi có một văn hóa khác không?

Nhật Bản là đất nước xinh đẹp và phát triển. Tôi nghĩ tôi sẽ mất nhiều thì giờ để thích nghi với cuộc sống ở đất nước này. Nhưng với ơn Chúa giúp đỡ, tôi sẽ cố gắng hết sức.

Chương trình và ước mơ của anh cho cuộc đời truyền giáo là gì?

Cuộc sống của một nhà truyền giáo chắc chắn không phải là một cuộc sống dễ dàng.

Khi đến một nơi có văn hóa khác văn hóa của mình, anh nghĩ gì?

Có người cho rằng mình được sinh lại. Và chúng ta cần ơn khiêm nhường để lắng nghe, quan sát, học hỏi và trưởng thành. Tôi có cùng ước mơ với Thánh Gioan Bosco: “Xin lấy đi các thứ khác nhưng xin cho con các linh hồn.”

Tấm gương truyền giáo vĩ đại nào anh muốn noi theo?

Khi tôi xin các Bề trên lời khuyên về đời sống truyền giáo, các ngài nói với tôi: “’Hãy tập trung vào Chúa Giêsu Kitô và đừng bao giờ quên sứ mệnh của chúng ta đến từ Ngài’. Vì thế tôi thưa với Ngài: ‘Xin ở bên con và hướng dẫn con trên đường con đi’”.

Sứ điệp của anh dành cho giới trẻ về việc chọn lựa và ơn gọi truyền giáo là gì?

Nếu phải chọn một thông điệp cho giới trẻ, tôi dùng những lời này của Chúa Giêsu: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,19-20).

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất