Home Blog Page 136

Năm câu Kinh Thánh an ủi dành cho cha mẹ của thanh thiếu niên

Năm câu Kinh Thánh an ủi dành cho cha mẹ của thanh thiếu niên

fr.aleteia.org, Carith Gardiner, 2024-10-04

Nuôi dạy thanh thiếu niên tuổi mới lớn không dễ, Kinh Thánh có những lời khuyên khôn ngoan giúp cha mẹ kiên nhẫn hướng dẫn con cái trong giai đoạn này.

Với các cha mẹ, “tuổi thiếu niên” là tuổi gay go để hướng dẫn, đó là giai đoạn các em cảm thấy không dễ chịu trong cơ thể, hay bực bội mệt mỏi và cha mẹ nhiều lúc không biết phải đối phó như thế nào trước tình trạng này.

Một số câu Kinh Thánh giúp cha mẹ trau dồi đức tính kiên nhẫn, khôn ngoan, yêu thương và tin tưởng, những điều cần thiết để nuôi dưỡng mối quan hệ lành mạnh với con đang tuổi lớn lên.

 1- Chuyện này đáng để cố gắng

 Hãy giáo dục một người trẻ khi anh ta phát triển: Tập tành đứa trẻ theo đường nó phải đi, đến tuổi già nó cũng chẳng lạc xa .” (Châm ngôn 22.6). Câu này nâng đỡ cha mẹ dạy con cái, tin chắc các giá trị và bài học được dạy trong những năm tháng đầu đời sẽ sẽ còn mãi với chúng. Nhắc cha mẹ ngay cả khi con cái tuổi này lạc lối hoặc có vẻ nổi loạn nhưng nền tảng chúng ta đã xây sẽ có tác động lâu dài.

2- Đi tìm sự giúp đỡ của Chúa

Ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, thì hãy cầu xin Thiên Chúa, Đấng  thi ân xuống cho mọi người, không kỳ kèo không trách mắng; và kẻ ấy sẽ được Người ban cho.” (Gc 1.5)

Cha mẹ của thanh thiếu niên thường thấy mình bất lực, nhất là khi thấy con cái không cởi mở tâm sự. Câu này nhắc chúng ta tìm khôn ngoan qua lời cầu nguyện, chúng ta sẽ nhận được ánh sáng và sự hướng dẫn cần thiết. Chúa là nguồn sức mạnh lớn hơn chính mình.

3- Thêm kiên nhẫn

Anh em hết lòng khiêm nhường, hiền lành quảng đại, chịu đựng nhau trong lòng mến.” (Êp 4.2)

Tuổi vị thành niên là tuổi con cái thách thức lòng kiên nhẫn của cha mẹ… liên tục! Câu này khuyến khích cha mẹ khiêm tốn, dịu dàng và yêu thương, vì những nhân đức này cần thiết để đối diện trong những lúc khó khăn, làm cha mẹ con cái hiểu tầm quan trọng của việc giữ bình tĩnh khi đối diện với nỗi thất vọng.

4- Cảm thông trong giáo dục

“Con cái hãy vâng phục cha mẹ trong mọi sự, vì là điều đẹp lòng Chúa.” (Cl 3,21)

Câu này nhắc cha mẹ giáo dục con cái nhưng đừng phản ứng thái quá. Thư giãn hít thở thật sâu, tránh những biện pháp khắc nghiệt có thể làm con cái thất vọng hoặc nổi loạn, dành thì giờ để hiểu con cái, giúp con cái phát triển, nhẹ nhàng hướng dẫn con cái.

5- Giao cho Chúa các lo lắng của mình

Anh em đừng lo gì! Nhưng dùng lời cầu nguyện, cầu xin và cảm tạ, giải bày trước Thiên Chúa các điều anh em xin! bình an của Thiên Chúa vượt quá mọi suy tưởng sẽ canh giữ lòng dạ anh em trong Chúa Giêsu Kitô.”  (Pl 4, 6-7)

Việc nuôi dạy con là nguồn gốc của lo lắng sâu xa, nhất là khi con ở tuổi thiếu niên. Câu này nhắc cha mẹ giao cho Chúa mọi lo lắng, cầu xin bình an của Chúa ở với mình, khuyên cha mẹ quay về với đức tin để xoa dịu lo lắng và giữ suy nghĩ của mình trong Chúa Giêsu. Đây là câu trích dẫn quan trọng nhất cho các cha mẹ.

Marta An Nguyễn dịch

Trí thông minh nhân tạo, nhà văn C.S. Lewis và mối nguy hiểm của các nhà tiên tri nhân tạo

Trí thông minh nhân tạo, nhà văn C.S. Lewis và mối nguy hiểm của các nhà tiên tri nhân tạo

americamagazine.org, Colm O’Shea, 2024-10-11

Nhà văn C.S. Lewis (1898-1963)

Trong số nhiều điều tôi phải cám ơn YouTube YouTube giúp tôi đào sâu các tác phẩm của các nhà văn, các nhà tư tưởng tôi ngưỡng mộ bất cứ lúc nào khi tôi tập thể dục, khi tôi làm bếp. Từ một năm nay, tôi khám phá lại nhà văn C.S. Lewis, tác giả bộ truyện Narnia làm tôi mê mẩn khi còn nhỏ. Tôi mê các yếu tố ma quỷ trong thế giới của ông, các nhân vật huyền thoại của ông. Bây giờ tôi khám phá ra tác phẩm của ông có một cái gì đó phù hợp với tuổi trung niên của tôi: cái nhìn thoáng qua về một thực tại cao hơn.

YouTube là kho tàng các bản ghi âm của chính tác giả đọc tác phẩm của mình. Âm thanh giọng nói của ông cho tôi cảm giác tôi biết cá nhân ông, tin tưởng ông như người lớn tuổi. Vài tuần trước, YouTube phát bản ghi âm tôi chưa từng nghe có tựa đề “Học cách hành động như thể không có gì làm phiền bạn”.

Tôi nhấn nút và nghe giọng nói quen thuộc của ông, một pha trộn kỳ lạ giữa sự tách biệt của người giáo sư và sự ấm áp của một nhân cách mà tôi cho là chỉ có ở ông. Tuy nhiên, sau vài giây, tôi nhận ra giọng nói này đã dùng những thuật ngữ mà C.S. Lewis sẽ không bao giờ dùng – những cụm từ như “thảm họa hóa”, “để ý đến lời tự nói của bạn”, “định hình lại tình huống theo cách trung lập hơn”. Nó ủng hộ những ý tưởng mà ông sẽ không bao giờ tán thành với ngôn ngữ rỗng tuếch của sự tự lực đương đại, tự thỏa mãn bản ngã. Từ “ân sủng” được nhắc nhiều lần, nhưng theo nghĩa hoàn toàn thế tục và sáo rỗng của “ân sủng dưới áp lực”, một thứ ngạo mạn cho rằng mình kiên cường và độc lập, và có thể tự sức mình làm được mọi chuyện.

Bản ghi âm này là một deepfake (video giả mạo) do A.I. tạo ra. Trên thực tế, nó khá vô hại, tầm thường nhưng không xấu. Nhưng khi nghe một bài chắc chắn không phải của ông, tôi có cảm giác mình bị phản bội. Trong phần bình luận, phản hồi được đánh giá cao nhất là: “Tôi cô đơn, tôi không có ai để nói chuyện ngoài những chú chó của tôi và chính tôi… Tôi dựa vào những lời như thế này để giữ cho tâm trí tôi được thoải mái.”

Thế giới luôn có những tiên tri giả, nhưng bây giờ chúng ta có tiên tri nhân tạo. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta không nên ngạc nhiên: chi phí sản xuất video bằng A.I. không bao nhiêu, việc khai thác danh tiếng của một “thương hiệu” nổi tiếng như Lewis là một cách chắc chắn để có được lượt nhấp và lợi nhuận. Có thể có một cơn sóng thần “nội dung tâm linh” do A.I. tạo ra đang hướng đến chúng ta. Nhưng dù có thể lường trước được, tôi vẫn thấy lo lắng. Vì sao? Điều gì làm cho nhà tiên tri nhân tạo trở thành một viễn cảnh đáng sợ?

Tạo chỗ cho bí ẩn

Đối với các khía cạnh cơ học hơn của đức tin và giữ đạo, thật dễ dàng để thấy cách A.I. là phù hợp. Trong bối cảnh thiếu hụt linh mục, Justin, một chatbot có kiến thức về giáo lý sẽ rất hữu ích. Cũng có điều gì đó cần nói về SanTO, robot công giáo đầu tiên, ngoài việc trả lời các câu hỏi về giáo lý, robot còn lần chuỗi Mân Côi, được triển khai để giúp những người hấp hối cầu nguyện tại một bệnh viện ở Đức.

Nhưng tổng thể đức tin gồm nhiều thứ vượt qua kiến thức và logic. Đức tin cho chúng ta một nơi chốn bí ẩn, nghi thức và tất cả những gì mà lời nói không thể chứa đựng. Và đó cũng là nơi mà một hình thức trí thông minh bắt chước và khai thác dữ liệu thường xuất hiện một cách đáng buồn. Trước khi bị thế tục hóa, Justin, chatbot công giáo được gọi là “Cha Justin”, một linh mục ảo; có lẽ được đào tạo dựa trên các văn bản do các linh mục thật viết, A.I. cho rằng robot có thể tha tội và làm những việc mà người bình thường không làm được.

Tại sao một con người lại đi tìm một người khác hành động thay cho Chúa qua thẩm quyền Chúa Giêsu Kitô (là Thiên Chúa đã nhập thể) và nói lớn tiếng những điều làm lương tâm họ bối rối, để đổi mới mối quan hệ của họ với nền tảng tối hậu của sự tồn tại sao? Đó là vấn đề được đặt ra.

Dù có một sự không phù hợp buồn cười ở đây nhưng tôi không loại nguy cơ  “A.I. về mặt tinh thần” được xem trọng như một quy mô lớn, đặc biệt khi xét đến vấn đề sâu xa là tình trạng con người ở thế kỷ 21 bây giờ xa lánh những gì là thiêng liêng. Kết hợp các chiến công mà A.I. đang có hoặc sẽ có đối diện với nạn đói tâm linh lan rộng, và sân khấu được thiết lập cho một hình thức mới của một vấn đề cũ: sự sùng bái thần tượng.

Có lẽ một từ tốt hơn là chủ nghĩa sùng bái vật, vì các thực thể A.I. trong tương lai sẽ có khả năng thực hiện các hành động có vẻ giống như phép thuật, hoạt động bên trong của chúng sẽ hoàn toàn không rõ ràng với con người chứng kiến những điều kỳ diệu của chúng. Tiếp xúc rộng rãi của con người với các thực thể có trí nhớ hoàn hảo, quyền truy cập vào các cơ sở dữ liệu gần như toàn tri và khả năng tính toán vượt xa nhận thức của con người theo một thứ trật có quy mô lớn, gần như chắc chắn sẽ dẫn đến một số người sẽ xem trí thông minh phi nhân loại này gần như thần thánh, đặc biệt là khi chúng nói bằng ngôn ngữ huyền thoại của các tín ngưỡng.

 

Tôi nhớ đến bộ phim ”F for Fake” của Orson Welles và cuộc điều tra của Elmyr de Hory, trong số những kẻ làm giả khác, nhân vật tự hào đã rèn luyện đôi tay của mình đủ do dự và vụng về để bắt chước thành công của họa sĩ Matisse. De Hory đã xoay sở để bán những bức tranh sơn dầu giả của Renoir và Modigliani cho các viện bảo tàng trên toàn cầu, với những người hướng dẫn và nhà sưu tập háo hức muốn mua những kiệt tác “mới”. Bộ phim của Welles tự hỏi liệu những người đi xem có xúc động trước vẻ đẹp của một tác phẩm giả hấp dẫn, có cùng một niềm vui như khi họ nhìn vào “tranh thật” hay không.

Chúng ta còn phải lo lắng bao nhiêu nữa về A.I., với khả năng tiêu thụ và xử lý vô tận, tìm ra cách hoàn hảo để bắt chước C.S. Lewis hay Alan Watts – tâm trí kỳ quặc, phép ẩn dụ bất ngờ, bước nhảy vọt khó lường của họ?

Có lẽ nếu A.I. có thể thực hiện được sự giả mạo đó – thực sự thực hiện được, để trí tuệ mà nó tạo ra không thể phân biệt được với trí tuệ của những nhà tư tưởng đó – thì nó đã vượt qua điểm quan trọng. Nhưng khi nói đến khả năng đó, tôi là người hoài nghi. Tôi không tin bằng cách sao chép cẩn thận phong cách của một nghệ sĩ khác, một người như De Hory có thể nhận ra điều kỳ diệu của ý thức con người khi tham gia nghiêm túc vào thực tế. Và tôi thậm chí còn không tin một công cụ đạo văn do con người tạo ra có thể đạt đến trạng thái kỳ diệu đó.

The Electric Monk (Nhà sư điện)

Vào khoảng độ tuổi tôi đọc bộ truyện Narnia, tôi cũng thích bộ truyện khoa học viễn tưởng dí dỏm của Douglas Adams, nổi tiếng với bộ truyện Hitchhiker’s Guide to the Galaxy. Nhân vật Adams mà tôi cho là phù hợp nhất với thời đại của chúng ta là Electric Monk trong tác phẩm Holistic Detective Agency (1987) của Dirk Gently:

Electric Monk là thiết bị tiết kiệm sức lao động, giống như máy rửa chén hoặc máy ghi hình. Electric Monk giúp bạn tiết kiệm được nhiệm vụ ngày càng trở nên nặng nề, đó là tin vào tất cả những điều mà thế giới mong đợi bạn tin.

Thảm họa xảy ra với phi hành đoàn của một con tàu vũ trụ khi kỹ sư trưởng dựa vào Electric Monk để xác định xem con tàu có thể phóng an toàn sau một vụ tai nạn hay không. Electric Monk tuyên bố rằng nó an toàn, nhưng con tàu phát nổ. Người kỹ sư nhớ lại: “Có lẽ bạn khó có thể hiểu được Electric Monk đã trấn an như thế nào. Và đó là lý do tại sao tôi đã phạm phải sai lầm chết người của tôi. Khi tôi muốn biết liệu có an toàn để cất cánh hay không, tôi không muốn biết nó có thể không an toàn. Tôi chỉ muốn được trấn an rằng nó an toàn.

Electric Monk muốn phục vụ, có nghĩa là làm hài lòng. Tôi đã từng viết trên những trang này về sự phân biệt của Philip Rieff giữa Người tâm linh, người tìm kiếm sự cứu rỗi, và Người tâm lý, người tìm kiếm sự hài lòng. Khi thực sự lắng nghe Lewis, tôi nghe thấy một nhà tư tưởng đặt ra những thách thức, thúc đẩy tôi phát triển, yêu cầu những điều mà tôi không chắc mình có thể đạt được và đã không đạt được hết lần này đến lần khác. Khi lắng nghe phiên bản Lewis của “Electric Monk”, tôi nghe thấy điều gì đó nói với tôi rằng tôi đã hoàn hảo rồi.

Thế giới hoang dã và rối rắm, và luôn như vậy. Sự nhầm lẫn là một khía cạnh cơ bản của tình trạng con người. Các nhà lãnh đạo tâm linh xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau về chất lượng trí tuệ của họ. Một số tương đương với những người làm giả tài năng như Elmyr de Hory, những kẻ bắt chước hoàn hảo, họ không có hiểu biết sâu sắc ban đầu. Những người khác thì địa ngục hơn, dẫn dắt những người cả tin vào những vùng tối tăm mà họ có thể không bao giờ thoát ra được, từng miếng một của Turkish Delight.

Là một trí óc hạn hẹp của con người, tôi không thể biết cuộc cách mạng A.I. có thể mang lại điều gì, trong giáo dục tâm linh hay bất kỳ lĩnh vực nào khác. Những rủi ro và phần thưởng có thể xảy ra khiến trí tưởng tượng của tôi phải kinh ngạc. Nhưng theo tôi, chúng ta nên lựa chọn cẩn thận về cách thức và mức độ chúng ta dựa vào những thực thể không đau khổ và không thể yêu thương.

Nói một cách đơn giản, các phép tính của A.I. bị tách biệt bởi một vực thẳm lớn so với nhận thức được thể hiện của một sinh vật sống cảm thấy đau đớn và khoái cảm. Tôi nghi ngờ cơ thể vật lý có mối liên hệ sâu sắc với điều bí ẩn mà chúng ta gọi là ân sủng – trong chừng mực chúng ta dường như đến gần nhất với điều bí ẩn này theo thuật ngữ khoa học bằng cách xem xét sự tương tác giữa não trái và não phải, nơi hai bán cầu não song sinh “đọc” thế giới để tìm kiếm những kiểu mẫu hoàn toàn khác nhau. Trong sự phân chia cơ bản tồn tại bên trong chúng ta, khiến chúng ta trở nên xa lạ với chính mình, chúng ta tìm thấy đặc tính mới nổi cuối cùng. Ân sủng xuất hiện từ một nơi nào đó mà chúng ta không thể xác định được để làm chúng ta kinh ngạc, luôn giống nhau nhưng luôn mới mẻ và đổi mới.

Tôi chỉ có thể hy vọng ân sủng như vậy sẽ giúp chúng ta khéo léo điều hướng việc triển khai các công cụ nhận thức mới này khi chúng phát triển mạnh mẽ ở đây trên Trái đất, mô tả thế giới trở lại với chúng ta bằng thứ nghe giống như giọng nói của chúng ta, nhưng được viết bởi một bàn tay ngoài hành tinh.

Colm O’Shea

Colm O’Shea dạy viết luận văn tại Đại học New York. Ông là tác giả của tiểu thuyết khoa học viễn tưởng Claiming De Wayke (Crossroad Press) và chuyên khảo học thuật Mandala của James Joyce (Routledge). Trang web của ông colmoshea.com.

Marta An Nguyễn dịch

Tháng 1-2025, Đức Phanxicô sẽ xuất bản quyển tiểu sử “Hy vọng”

Tháng 1-2025, Đức Phanxicô sẽ xuất bản quyển tiểu sử “Hy vọng”

Tại Hội chợ Sách Frankfurt, Đức, ngày thứ tư 16 tháng 10, nhà xuất bản Ý Mondadori công bố quyển tiểu sử Hy vọng sẽ được xuất bản ở 80 quốc gia ngày 15 tháng 1 năm 2025 nhân dịp Năm Thánh 2025.

la-croix.com, Marguerite de Lasa, 2024-10-17

Ông Gilles Haéri, giám đốc nhà xuất bản Albin Michel cho biết, ban đầu quyển tiểu sử dự trù xuất bản sau khi Đức Phanxicô qua đời, nhưng cuối cùng Đức Phanxicô muốn xuất bản khi ngài còn sống, để đánh dấu sự kết thúc triều của ngài.

Trong thông báo của nhà xuất bản, Đức Phanxicô cho biết: “Quyển sách là câu chuyện của một hành trình hy vọng, một hành trình mà tôi không thể tách rời khỏi hành trình của gia đình tôi, của dân tộc tôi, của toàn dân Chúa. Đó cũng là quyển sách của những người đã cùng đi với tôi, những người đi trước tôi và những người sẽ đi sau tôi.”

Sáu năm viết

Tác phẩm bắt đầu viết năm 2019, đồng sáng tác với ông Carlo Musso người Ý, cựu giám đốc biên tập của Piemme và Sperling & Kupfer và là người sáng lập nhà xuất bản độc lập Libreria Pienogiorno. Theo nhà xuất bản Albin Michel, quyển sách bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 20 với câu chuyện về nguồn gốc Ý, về cuộc phiêu lưu của tổ tiên di cư đến Châu Mỹ La-tinh, tiếp đó là thời thơ ấu, thời niên thiếu, chọn lựa ơn gọi, cuộc đời trưởng thành và triều giáo hoàng của Đức Phanxicô.

Đức Phanxicô muốn được chôn cất ở đền thờ Đức Bà Cả, bên ngoài Vatican

Tháng 3 vừa qua, Đức Phanxicô đã xuất bản quyển tiểu sử có tựa đề SốngVivre – ngài cùng viết với nhà báo Ý Fabio Marchese Ragona và được nhà xuất bản Harper Collins phát hành. Ngài xem lại cuộc đời của ngài và đưa ra những chìa khóa để hiểu triều của ngài.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hồng y Brazil Steiner: “Nhiều phụ nữ của chúng tôi đã là phó tế”

Hồng y Brazil Steiner: “Nhiều phụ nữ của chúng tôi đã là phó tế”

Hồng y Leonardo Ulrich Steiner, Tổng Giám mục Manaus (Brazil) phát biểu về chức phó tế nữ tại Thượng Hội đồng | © Wikimedia/CC BY 2.0

cath.ch, Ban biên tập, 2024-10-16

Trong cuộc họp Thượng Hội đồng ngày thứ ba 15 tháng 10, khi công khai đề cập đến việc phụ nữ phục vụ trong cộng đồng Brazil, Hồng y Leonardo Steiner, Tổng Giám mục Địa phận Manaus (Brazil) khẳng định: “Phụ nữ là những người lãnh đạo trong cộng đồng chúng tôi. Hiện nay họ phục vụ ở những vùng xa xôi nhất, cử hành một số bí tích như rửa tội khi không có linh mục. Rất nhiều phụ nữ của chúng tôi đã là phó tế, dù họ chưa được phong.” Hồng y lên tiếng về những yêu cầu của của một số vùng, đặc biệt vùng Amazonia nơi chỉ có 163 linh mục phục vụ cho hàng ngàn cộng đồng: “Chúng tôi muốn gọi họ là phó tế, nhưng để không tạo nhầm lẫn với thừa tác vụ thụ phong, chúng tôi chưa tìm được từ thích hợp.”

Đề cập đến vấn đề này ở Rôma – Đức Phanxicô đã thành lập hai Ủy ban để nghiên cứu – Hồng y Steiner cho biết: “Nếu chúng ta thấy phụ nữ phó tế đã có trong lịch sử Giáo hội, vì sao chúng ta không khôi phục lại như chúng ta đã làm với chức phó tế nam.” Trong một phỏng vấn tháng 5 vừa qua, Đức Phanxicô đã loại trừ khả năng phụ nữ tiếp cận với chức phó tế.

Đức Phanxicô cũng chưa giải quyết vấn đề ‘viri probati’

Về việc phong chức linh mục cho các ông đã lập gia đình (viri probati), đã được nêu ra trong Thượng hội đồng Amazon năm 2019, Hồng y Steiner cho biết một số người đã “thất vọng” vì vấn đề này đã không được đề cập trong phần kết luận của Thượng hội đồng. Ngài cho biết việc thiếu linh mục ở khu vực Amazon đã là mối lo ngại cho các cộng đồng ở đây, vì không chỉ liên quan đến Bí tích Thánh Thể mà còn liên quan đến đời sống bí tích của các cộng đồng.

Nhưng theo Hồng y: “Đức Phanxicô vẫn chưa kết thúc vấn đề, ngài sẽ tiến về phía trước, nhưng vì tính nhạy cảm cao độ nên ngài chưa làm vì vẫn còn các chia rẽ trong Giáo hội. Trong một số thực tế, không khó để chấp nhận các ông lập gia đình được thụ phong; với các thực tại khác của Giáo hội, điều này là một khó khăn lớn vì cuộc sống độc thân ở một số nơi là một khó khăn lớn, chúng ta còn phải tiếp tục suy nghĩ về vấn đề này.”

Không thể đồng ý về các đề xuất cụ thể?

Tài liệu Làm việc là kim chỉ nam cho công việc của Thượng hội đồng đưa ra giả thuyết giáo dân có thể giảng lễ, Hồng y Steiner cho biết một số nhận xét đã được đưa ra trong các cuộc tranh luận: “Tôi không biết điều này sẽ như thế nào trong văn bản cuối cùng. Với một số thành viên được hãng tin I.Media phỏng vấn, họ cho biết mỗi đoạn trong Tài liệu Làm việc phải được đa số 2/3 biểu quyết – đây là một trở ngại cho bất kỳ tiến bộ cụ thể nào về các chủ đề nhạy cảm.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tình yêu trưởng thành hay chỉ yêu cho có lệ?

Tình yêu trưởng thành hay chỉ yêu cho có lệ?

Ronald Rolheiser, 2024-10-14

Là linh mục của phái Luther, khi cử hành hôn lễ, linh mục Dietrich Bonhoeffer thường khuyên: “Hôm nay các con yêu nhau và tin rằng tình yêu sẽ giữ gìn hôn nhân của các con, nhưng không thể. Các con hãy để hôn nhân gìn giữ tình yêu của các con.”

Đó là lời khuyên khôn ngoan, nhưng chính xác ý nghĩa của lời khuyên này là gì? Vì sao tình yêu không thể giữ gìn hôn nhân?

Điều Linh mục nêu bật ở đây là chúng ta ngây thơ khi nghĩ cảm xúc sẽ giữ chúng ta trong tình yêu, trong dấn thân lâu dài. Tình yêu không thể và không làm vậy. Nhưng nghi thức thì có thể. Bằng cách nào? Bằng cách tạo một nghi thức có thể giữ chúng ta vững vàng bên trong con tàu lượn sóng của những cảm xúc và tình cảm giữ chúng ta trong mối quan hệ lâu dài.

Nói đơn giản, chúng ta sẽ không bao giờ giữ mối quan hệ lâu dài với người khác, với Thiên Chúa, với việc cầu nguyện, hay việc phục vụ quên mình, nếu chỉ dựa trên tình cảm tốt đẹp và cảm xúc tích cực. Ở đời, tình cảm và cảm xúc của chúng ta thường cứ đến rồi đi tùy ý và không nhất quán.

Chúng ta đã biết, cảm xúc của chúng ta thiếu nhất quán. Hôm nay chúng ta thấy mình yêu người này, ngày mai chúng ta bực tức họ. Cầu nguyện cũng thế. Hôm nay chúng ta chú tâm, sốt sắng, ngày mai chúng ta chán nản phân tâm.

Vì thế, theo Linh mục Bonhoeffer chúng ta cần nghi thức để giữ mình trong tình yêu và trong cầu nguyện, vì những việc chúng ta làm theo nghi thức giữ chúng ta vững vàng và cam kết bên trong làn sóng của cảm xúc và tình cảm.

Chẳng hạn, một cặp vợ chồng yêu nhau, hứa yêu nhau và ở bên nhau suốt đời, xét tận cùng thì họ hoàn toàn có chủ ý làm vậy. Họ tôn trọng nhau, đối xử tốt với nhau, sẵn sàng chết vì nhau. Tuy nhiên, cảm xúc của họ không phải lúc nào cũng vậy. Có ngày tình cảm của họ dường như ngược với tình yêu, họ bực bội, họ giận nhau. Nhưng hành động của họ nói lên tình yêu và cam kết, chứ không nói lên cảm xúc tiêu cực của họ. Buổi sáng trước khi đi làm, họ hôn nhau và nói “anh yêu em”, “em yêu anh” như một nghi thức. Vậy họ đang nói dối? Họ chỉ làm cho có lệ? Hay đó là tình yêu thực sự?

Tình yêu và cam kết trong gia đình cũng vậy. Chúng ta hình dung người cha và người mẹ với những đứa con tuổi teen, một cậu bé 16, một cô bé 14 tuổi. Họ có luật là mỗi tối, họ sẽ ăn tối với nhau trong khoảng 40 phút, không đụng đến điện thoại thông minh. Nhiều bữa tối, cậu con trai, cô con gái, hay người cha, người mẹ đến bàn ăn (không cầm điện thoại) như thể chỉ vì bổn phận, cảm thấy chán, họ chán ghét thì giờ ở bên nhau này, họ chỉ muốn ở một nơi nào khác. Nhưng họ ngồi với nhau vì họ đã biến thì giờ này thành một cam kết. Họ chỉ đang làm cho có lệ hay họ đang thể hiện một tình yêu thực sự?

 

Nếu Linh mục Bonhoeffer đúng và tôi cho là đúng, thì họ không chỉ làm cho có lệ, họ đang nói lên một tình yêu trưởng thành. Khi có cảm xúc thúc đẩy và giữ chúng ta thì việc biểu lộ tình yêu này thành dễ dàng. Nhưng về lâu về dài cảm xúc tốt đẹp sẽ không gìn giữ tình yêu và cam kết của chúng ta. Chỉ có sự trung tín với cam kết và những hành động mang tính nghi thức làm nền cho cam kết đó mới giữ chúng ta khỏi bỏ đi khi cảm xúc đã cạn.

Trong văn hóa thời nay, ở hầu hết mọi tầng mức, chúng ta không hiểu điều này. Từ những người chìm đắm trong một văn hóa nghiện cảm xúc, đến con số đông đảo các nhà trị liệu tâm lý, các nhà mục vụ tôn giáo, những người cầm trịch cầu nguyện, linh hướng, và “những người bạn của ông Gióp”, chúng ta thường nghe:  Nếu chúng ta không cảm nhận được, thì nó không có thật, chúng ta chỉ làm cho có lệ thôi! Chỉ là nghi thức sáo rỗng nà thôi!

Thật vậy, nó có thể là nghi thức sáo rỗng. Như Kinh Thánh đã nói, chúng ta tôn vinh trên môi miệng nhưng lòng thì cách xa.

Tuy nhiên, thường thì đó là cách thể hiện một tình yêu trưởng thành, một tình yêu không còn cháy bằng tư lợi hay cảm xúc. Bây giờ nó là tình yêu đủ khôn ngoan và trưởng thành cho hoàn cảnh con người vốn đầy khiếm khuyết và phức tạp và cho mọi chuyện vốn đầy màu sắc và phức tạp – bao gồm cả người chúng ta yêu, cả chính chúng ta và thực tế tình yêu của con người.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu, không phải là quyển sách của những người đang yêu nhau say đắm trong tuần trăng mật viết, cũng như quyển sách chúng ta cần cho việc cầu nguyện không phải là quyển sách của một tân tòng nhiệt huyết ở giai đoạn ban đầu viết, lại càng không phải của hầu hết những người cầm trịch cầu nguyện viết.

Quyển sách chúng ta cần cho tình yêu là quyển sách của các cặp vợ chồng đã qua nghi thức nhưng còn giữ sự cam kết qua bao thăng trầm của năm tháng viết. Cũng vậy với quyển sách cầu nguyện, quyển sách này cần một người đã giữ một đời cầu nguyện, đi nhà thờ qua nhiều mùa lễ và ngày chúa nhật, dù đôi khi họ chẳng muốn cầu nguyện hay đi nhà thờ chút nào.

J.B. Thái Hòa dịch

Từ đầu thế kỷ 20, Rôma đã hiểu rõ bạo lực tình dục trong Giáo hội

Từ đầu thế kỷ 20, Rôma đã hiểu rõ bạo lực tình dục trong Giáo hội

Ba năm sau khi công bố báo cáo của Ủy ban Độc lập về các vụ Lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp (Ủy ban Ciase), sử gia Agnès Desmazières đưa ra một nghiên cứu phong phú, phân tích một hệ thống dựa trên hàng thập kỷ về nỗi lo sợ tai tiếng và ủng hộ mọi hình thức ‘lạm dụng’.

lavie.fr, Blandine Doazan, 2024-10-14

Hình minh họa – Vatican

Nhà sử học, tiến sĩ lịch sử, thần học gia Agnès Desmazières dạy tại Trung tâm Sèvres, Paris. Chuyên về lịch sử kitô giáo, bà phát hành quyển sách Không luật lệ, không đức tin. Linh mục và bạo lực tình dục: trọng tâm của hệ thống công giáo (Sans loi ni foi. Prêtres et violences sexuelles: au cœur du système catholique, nxb. Payot). Chủ đề này là chủ đề của nhiều bài báo và tác phẩm, đặc biệt kể từ báo cáo của Ủy ban Ciase, bà đưa ra một nghiên cứu công phu, đặc biệt và rõ ràng về văn hóa im lặng và che giấu liên quan đến toàn bộ thể chế trên thế giới.

Xuất bản tháng 10 năm 2021, báo cáo Ciase có tác dụng như một quả bom. Tuy nhiên theo sử gia, từ đầu thế kỷ 20, Giáo hội công giáo đã nhận thức được mức độ bạo lực tình dục của các giáo sĩ, đặc biệt việc áp đặt các tòa giải tội, không cho phép tiếp xúc thân thể giữa linh mục giải tội và giáo dân. Vậy làm sao chúng ta có thể giải thích hiện tượng cấm nói omerta bà đề cập trong quyển sách và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay?

Thần học gia Agnès Desmazières: Mức độ bạo lực tình dục đã được biết đến ở Rôma từ đầu thế kỷ 20, nhưng cấp địa phương vẫn phủ nhận. Ngày nay sức nặng của luật cấm nói omerta thay đổi tùy theo bối cảnh văn hóa. Sự phản kháng hiện nay đặc biệt tập trung vào chiều kích mang tính hệ thống của bạo lực tình dục – vấn đề này đã được một số nhân vật trong Giáo hội nhận thức từ lâu, tiếc thay họ bị cô lập. Vào thời bắt đầu Công đồng Vatican II, bạo lực tình dục đã bị cho là “vi phạm công bằng xã hội”. Điều cấm kỵ ngự trị trên toàn bộ lĩnh vực lạm dụng: tài chính, xã hội (phân biệt đối xử, không tuân thủ luật lao động), lạm dụng quyền lực hoặc thậm chí tấn công quyền tự do ngôn luận. Hệ thống lạm dụng này thúc đẩy bạo lực tình dục.

Ngoài ra còn có việc từ chối không xem xét vô số các đồng lõa đã làm cho bạo lực tình dục xảy ra và được che đậy. Những điều này vẫn được bảo vệ và chúng ta đã không đặt câu hỏi về bản chất lạm dụng của một số tổ chức giáo hội – đặc biệt ở các dòng tu, hiệp hội và phong trào tín hữu. Họ ưu tiên cho việc bảo tồn các tổ chức này nên đã tạo bất lợi cho nạn nhân.

Chúng tôi cũng thấy, trong nhiều ví dụ bà đưa ra, các giám mục thường khoan dung với các linh mục lạm dụng, đi ngược lại chỉ dẫn của Tòa Thánh. Vì sao lại có sự khác biệt trong phản ứng này?

Quả thực các giám mục có khuynh hướng khoan dung, nhưng các bề trên dòng còn khoan dung hơn, họ từ chối phục tùng công lý của các giám mục và Tòa Thánh. Mối quan hệ chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và những người dưới quyền, việc giữ gìn danh tiếng của các dòng, của giáo sĩ, việc thiếu linh mục hoặc sự thành công mục vụ của một số bị cáo đã đóng một vai trò quan trọng. Tòa Thánh vẫn dung thứ cho sự khoan hồng này vì sợ phản ứng kiên quyết sẽ làm cho các giám mục, các bề trên dòng càng ít phản ứng hơn.

Cuối cùng, khi đến gần Công đồng Vatican II, Tòa Thánh đã nhượng bộ trước quyền tự trị của các dòng tu, cho phép họ tự phán xét các thành viên của mình. Ngày nay tội phạm ấu dâm nơi các tu sĩ phần lớn vẫn còn là điều cấm kỵ. Đó không chỉ là trường hợp của các cộng đoàn gọi là “mới” nhưng còn tồn tại từ lâu ở các cộng đoàn xưa cổ, họ có những chiến lược khôn ngoan để che giấu hiện tượng này. Vai trò của đức vâng lời không được đặt thành vấn đề trong các vụ omerta.

Vào những năm 1930, vai trò nạn nhân đã được phát triển ở Tòa Thánh nhưng chưa hoàn chỉnh, vai trò này phụ thuộc vào sự non nớt về trí tuệ và tâm lý của nạn nhân. Có phải cách nhìn nhận nạn nhân này sẽ tạo một hệ thống phân cấp giữa nạn nhân “tốt” và nạn nhân “xấu” không?

Vấn đề trên hết là vấn đề về sự đồng ý thường không được giải quyết một cách rõ ràng. Ngoài ra, còn có vấn đề linh mục và các tu sĩ không cam kết tiết dục. Tác hại gây ra cho nạn nhân ít được tính đến. Những quan điểm xúc phạm phụ nữ – dù các câu nói sáo rỗng mang tính biếm họa như “người phụ nữ cuồng loạn” dần dần bị lên án nhưng vẫn còn tồn tại. Trên hết, sự phản đối ngày càng tăng của xã hội đối với tội ấu dâm được đặt dưới lăng kính của các vụ tai tiếng, phải được ngăn chặn bằng im lặng càng nhiều càng tốt. Khi các nhà chức trách Giáo hội nhận thức được cảm xúc do tội ấu dâm của hàng giáo sĩ gây ra, họ củng cố sự bí mật xung quanh những sự thật này. Thật không may, chiến lược này vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến ngày nay.

Khi lên án các hành vi đồng tính và tội ác ấu dâm nghiêm trọng nhất, crimen pessimum (tội nặng nhất) thể hiện sự chênh lệch trong cách đối xử giữa bé gái và bé trai. Vì sao Giáo hội không có tầm nhìn toàn cầu hơn về bạo lực tình dục?

Việc dùng cụm từ crimen pessimum, trọng tâm để hiểu cách Giáo hội công giáo giải quyết việc giáo sĩ lạm dụng trẻ em, chắc chắn đã tạo ra phân biệt đối xử – chỉ những bé gái dưới 12 tuổi mới có thể thấy việc mình tố cáo được Tòa Thánh mở phiên tòa. Điều này dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đồng tính và tội ấu dâm đặc biệt gây tổn hại rất nặng. Trong một thời gian dài, các tội phạm tình dục của giáo sĩ chỉ được đề cập trong khuôn khổ bí tích, với việc gạ gẫm tình dục của các linh mục khi giải tội, tệ nạn này này bây giờ đã bị triệt tiêu.

Vào đầu thế kỷ 20, việc tấn công tình dục, đặc biệt là với phụ nữ trẻ ngoài tòa giải tội ngày càng không được dung thứ. Tuy nhiên, vào thời điểm giáo hoàng tăng các đòi hỏi về vấn đề khiết tịnh của giáo sĩ, thì đầu tiên, việc các linh mục không tuân thủ nghĩa vụ độc thân đã bị lên án. Ngoài ra còn có sự khinh thường các quyền của nhà nước và sự nhầm lẫn giữa tội phạm và tội lỗi. Khả năng các giáo sĩ có thể bị tòa án thế tục xét xử gần như không có và tình huống này, nguồn gốc của các vụ tai tiếng phải được tránh càng nhiều càng tốt.

Quyển sách của bà được xuất bản ngay sau khi có các tiết lộ về Abbé Pierre, và bà đã dành một phần tái bút ngắn viết về vụ này. Liệu có sự tập trung hóa quyền lực giáo sĩ ngăn cản nhận thức về những lạm dụng đã xảy ra trong Giáo hội không?

Trong vụ Abbé Pierre, việc phân cấp quyền lực giáo sĩ không phải là vấn đề duy nhất, dù tất nhiên nó đã góp phần phủ nhận sự lạm dụng. Chắc chắn thành công của Abbé Pierre trong công việc từ thiện đã là một yếu tố có tác động: chúng ta nhắm mắt làm ngơ nhiều hơn với những nhân vật nổi tiếng. Mong muốn tránh làm mất uy tín công trình của họ là hàng đầu.

Vụ Abbé Pierre: “Chúng ta tạo ra một thần tượng hơn là thực thi công lý”

Chúng ta choáng váng trước sự im lặng của cả một tầng lớp trí thức, những người đã nắm rõ sự thật và bảo vệ bí mật của Abbé Pierre, họ theo logic đẳng cấp, họ vẫn tìm cách minh oan. Phong trào #MeToo chưa thâm nhập vào toàn bộ xã hội Pháp. Không chắc chắn các tiết lộ về vụ Abbé Pierre đủ để chấm dứt những liên minh lợi ích này hay không.

Đức Phanxicô: “Abbé Pierre là tội phạm khủng khiếp”

Không luật lệ, không đức tin. Linh mục và bạo lực tình dục: trọng tâm của hệ thống công giáo (Sans loi ni foi. Prêtres et violences sexuelles: au cœur du système catholique, nxb. Payot).

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Người tị nạn, nhập cư và Chúa Giêsu

Người tị nạn, nhập cư và Chúa Giêsu

Ronald Rolheiser, 2024-10-07

Ngày nay, ở biên giới các nước trên biên giới có rất nhiều người tị nạn, có nơi có cả hàng triệu người. Họ dễ dàng bị cho là quỷ hóa, là tai ương, là mối đe họa, là kẻ xâm lấn, là tội phạm trốn tránh công lý ở quê nhà. Nhưng hầu hết họ là những người tử tế và lương thiện đang chạy trốn nghèo đói và bạo lực. Và những lý do làm cho họ phải rời quê nhà cho biết họ không phải là tội phạm.

Bất chấp sự thật hầu hết họ là người tốt, gần như ở khắp mọi nơi, họ vẫn bị cho là những người tạo vấn đề. Chúng ta không được cho họ vào! Họ là mối đe dọa! Và các chính trị gia thường dùng từ “xâm lấn” để nói đến sự hiện diện của họ ở biên giới.

Còn chúng ta nói được gì về điều này? Chúng ta cứ để ai vào cũng được sao? Chúng ta sáng suốt chọn lọc, cho một số vào, một số khác chặn lại? Chúng ta xây tường và dây thép gai để chặn đường? Chúng ta phải phản ứng như thế nào?

Những câu hỏi này cần được xem xét từ hai khía cạnh: thực tế và Kinh Thánh.

Thực tế, đây là một vấn đề rất lớn. Chúng ta không thể đơn giản mở hết biên giới và để hàng triệu người tràn vào. Làm vậy là phi thực tế. Nhưng mặt khác, chúng ta không thể biện hộ cho sự chần chừ đón nhận người tị nạn bằng cách viện dẫn Kinh Thánh, Chúa Giêsu, hay lý luận ngây thơ cho rằng nước “chúng ta” là của chúng ta và chúng ta có quyền ở đây còn người khác thì không, trừ phi chúng ta cho phép họ vào. Tại sao không?

Với người tín hữu kitô, có vô số nguyên tắc Kinh Thánh miễn tranh luận.

Trước hết, Thiên Chúa tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Chúng ta là quản gia chứ không phải là chủ. Chúng ta không sở hữu gì, tất cả là của Thiên Chúa và Thiên Chúa đã tạo nên thế giới cho tất cả mọi người. Đây là nguyên tắc chúng ta dễ làm ngơ khi nói đến vấn đề ngăn người khác vào nước “của mình”. Nhưng chúng ta chỉ là người quản gia ở đây, ở một đất nước thuộc về toàn thể thế giới mà thôi.

Thứ hai, trong Kinh Thánh, cả Cựu Ước và Tân Ước có vô số điểm nói rõ ràng và mạnh mẽ về thách thức đón nhận người lạ và người nhập cư. Điều này ở khắp nơi trong thánh thư Do Thái và là hình ảnh rất mạnh trong tâm điểm thông điệp của Chúa Giêsu. Quả thật, Chúa Giêsu mở đầu con đường mục vụ của Ngài bằng việc thông báo Ngài đến để mang Tin Mừng cho người nghèo. Vì vậy, bất kỳ việc giảng dạy, rao giảng, mục vụ, chính sách chính trị hay hành động nào không phải là Tin Mừng  cho người nghèo, thì không phải là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, dù chúng ta có thiết thực về mặt chính trị hay về mặt Giáo hội gì đi chăng nữa. Và nếu đó không phải là Tin Mừng cho người nghèo, thì các chính sách này đừng khoác lên mình lớp áo Phúc âm hay Chúa Giêsu. Do đó, bất kỳ quyết định nào chúng ta đưa ra với người tị nạn và người nhập cư, không được đối nghịch với sự thật rằng Phúc âm đã đem Tin Mừng đến cho người nghèo.

Hơn nữa, Chúa Giêsu quá rõ ràng khi đồng nhất người nghèo với chính Ngài (Ai trong các con làm việc này cho người nhỏ bé nhất, là đang làm cho Ta) và cho chúng ta biết, đến cuối cùng, chúng ta sẽ bị phán xét bằng cách chúng ta đối xử với người nhập cư và tị nạn (Hãy đi khuất mắt Ta, vì khi Ta là người lạ, ngươi đã không đón tiếp.) Trong kinh thánh có một vài đoạn văn thẳng thừng và đầy thách thức như vậy (Mt 25: 35-40).

Cuối cùng, chúng ta còn bị thách thức trong Cựu Ước. Thiên Chúa thách chúng ta đón nhận người nước ngoài (người nhập cư), chia sẻ tình yêu, đồ ăn, áo mặc với họ, vì chính chúng ta đã một thời là người nhập cư (Đệ nhị luật 10: 18-19). Đây không chỉ là câu châm ngôn Kinh Thánh mơ hồ, nhất là với những người sống ở Bắc Mỹ. Trừ các quốc gia Da Đỏ bản địa (mà chúng ta đã dùng vũ lực đuổi đi), thì hết thảy chúng ta đều là người nhập cư và đức tin thách thức chúng ta đừng bao giờ quên điều này, ít nhất là khi đối xử với người đói đang chờ bên đường biên giới. Dĩ nhiên, những ai đã ở đây hàng thế hệ, có thể lập luận chúng tôi ở đây đã lâu và bây giờ chúng tôi không là người nhập cư nữa. Nhưng có lẽ còn có một lập luận thuyết phục hơn, đó là việc đóng cửa biên giới sau khi bản thân mình được vào là một hành động ích kỷ.

Đây là những thách thức của Kinh Thánh. Tuy nhiên, sau khi đã công nhận những thách thức này, chúng ta vẫn còn một câu hỏi thực tế: xét một cách thực tế, chúng ta (và nhiều nước trên khắp thế giới) nên làm gì với hàng triệu người, đàn ông, phụ nữ trẻ con đang tìm đến biên giới của chúng ta? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng mảnh đất chúng ta sống thuộc về tất cả mọi người? Làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng, là tín hữu kitô, chúng ta phải nghĩ về người nghèo trước hết? Làm sao chúng ta đối diện với Chúa Giêsu trong ngày phán xét khi Ngài hỏi vì sao chúng ta không tiếp đón Ngài lúc Ngài ở trong hình hài người tị nạn? Và làm sao chúng ta tôn vinh sự thật rằng hầu hết chúng ta đều là người nhập cư, sống ở một đất nước mà chúng ta đã dùng vũ lực đoạt lấy của người khác?

Không có câu trả lời dễ dàng nào cho những câu hỏi này, cho dù đến tận cùng, chúng ta vẫn cần đưa ra một vài quyết định chính trị thực tế. Tuy nhiên, khi áp dụng chủ nghĩa thực dụng để xử lý chuyện này, chúng ta đừng bao giờ lẫn lộn về chuyện Chúa Giêsu và Kinh Thánh đứng về phía ai.

J.B. Thái Hòa dịch

Đức Phanxicô lắng nghe chứng từ của người công giáo chuyển giới và liên giới tính

Đức Phanxicô lắng nghe chứng từ của người công giáo chuyển giới và liên giới tính
americamagazine.org, Justin McLellan, CNS, 2024-10-15
Ngày 12 tháng 10 năm 2024, Đức Phanxicô gặp các thành viên của phái đoàn Các Con đường Sứ vụ Mới (New Ways Ministry) gồm các tín hữu công giáo chuyển giới và liên giới tính, những người ủng hộ LGBTQ+ và một bác sĩ săn sóc họ tại Nhà nguyện Thánh Marta ngày. Buổi tiếp kiến kéo dài 90 phút.
Từ trái sang phải: Bà Cynthia Herrick, bà Laurie Dever, Phó tế Ray Dever, Michael Sennett và Nicole Santamaria. (Ảnh CNS/ New Ways Ministry)
Thông cáo ngày 12 tháng 10 của New Ways Ministry cho biết, từ 50 năm nay, Sơ Loretto Jeannine Gramick, người đồng sáng lập mục vụ đã giúp người LGBTQ+ hòa nhập vào xã hội và vào Giáo hội.
Trong số 11 thành viên gặp Đức Phanxicô, năm thành viên đã chia sẻ chứng từ và kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm làm việc với người liên giới tính và chuyển giới. Ông Michael Sennett, người chuyển giới và là thành viên hội đồng quản trị của New Ways Ministry kể, khi ông 8 tuổi, ông bị một linh mục khiển trách vì đã mặc váy trong ngày rước lễ lần đầu thay vì mặc vét. Ông kể: “Tôi đã khóc vì tôi nghĩ Chúa ghét tôi. Sau lần tự tử hụt năm 17 tuổi, một y tá công giáo đồng tính nữ chia sẻ câu chuyện của cô với ông, và ông nghĩ ‘mình có thể là chính mình’”.
Bà Nicole Santamaria, một phụ nữ liên giới tính ở El Salvador cho biết: “Những người liên giới tính hoặc lưỡng tính là những người vô hình nhất, ngay cả trong cộng đồng LGBT” dù họ phổ biến hơn trong xã hội so với những gì mọi người có thể nhận ra. Theo các nghiên cứu học thuật vẫn còn tranh cãi, ước tính có khoảng 1,7% trẻ sơ sinh sinh ra là liên giới tính.”
Bà Santamaria cho biết kinh nghiệm của riêng bà về người liên giới tính và đức tin công giáo đã định hình công việc của bà với người chuyển giới và liên giới tính: “Chúa đã đặt tôi vào công việc phục vụ những người bị cho là không tồn tại, là bí ẩn của những người bị khinh thường, bị lên án.”
Phó tế công giáo Ray Dever đã nghỉ hưu và là cha của một phụ nữ chuyển giới trưởng thành, nói với Đức Phanxicô: “Qua kinh nghiệm của con gái, gia đình tôi đã học, đơn giản không có mối liên hệ nào giữa lý thuyết giới tính và những người chuyển giới, vì chứng rối loạn bản năng giới tính không phải là lựa chọn cá nhân hoặc kết quả của một số hệ tư tưởng.”
Ông cho biết sự nhầm lẫn như vậy dẫn đến việc những người chuyển giới bị loại khỏi đời sống của nhà thờ ở nhiều giáo phận và giáo xứ, họ không được nhận các phép bí tích và bị các trường công giáo từ chối. Khi nuôi dạy người con gái chuyển giới, ông nhận thấy sự thiếu lòng trắc ẩn đáng kinh ngạc trong rất nhiều nhà thờ với người chuyển giới: “Tôi rất đau lòng khi phải nói lên điều này, nhưng tôi nghĩ hiện nay Giáo hội đã làm hại nhiều hơn là giúp đỡ trong việc giao tiếp với lý thuyết giới tính và người chuyển giới.”
Tháng 3 vừa qua, Đức Phanxicô gọi lý thuyết giới tính là “một hệ tư tưởng xấu của thời đại, xóa bỏ sự khác biệt và làm cho mọi thứ trở nên bình đẳng”. Ngài đã gặp Sơ Gramick trước đó tại Vatican năm 2023 sau hai năm ngài và Sơ trao đổi thư từ với nhau. Trước đó, Sơ bị các Giám mục Hoa Kỳ và Vatican điều tra. Năm 1999, khi Hồng y Joseph Ratzinger làm Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, ngài đã ra lệnh cấm Sơ Gramick và Linh mục Robert Nugent, người đồng sáng lập New Ways Ministry không được làm mục vụ cho người đồng tính, cho rằng lập trường của họ “không thể chấp nhận về mặt giáo lý, liên quan đến bản chất xấu của các hành vi đồng tính và sự rối loạn khách quan của khuynh hướng đồng tính.
Với sự chấp thuận của Đức Phanxicô, tháng 4, Bộ Giáo lý Đức tin đã công bố Tuyên bố Phẩm giá con ngườiDignitas Infinita” lên án sự phân biệt đối xử người LGBTQ+ và đặc biệt là những tình huống họ “bị giam cầm, tra tấn và thậm chí bị tước đoạt quyền sống chỉ vì khuynh hướng tình dục của họ”.
Tuyên bố này cũng lên án “lý thuyết giới tính là cực kỳ nguy hiểm vì nó hủy bỏ những khác biệt trong việc làm cho mọi người bình đẳng”, cảnh báo các can thiệp chuyển đổi giới tính có nguy cơ “đe dọa đến phẩm giá độc nhất mà chúng ta đã nhận được từ thời điểm thụ thai.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Công nghị 2024, cuộc đảo chính của Đức Phanxicô

Công nghị 2024, cuộc đảo chính của Đức Phanxicô

mondayvatican.com, Andrea Gagliarducci, 2024-10-07

Đức Phanxicô sẽ phong 21 tân hồng y trong Công nghị ngày 8 tháng 12 năm 2024, nâng số hồng y bầu mật nghị lên 141 hồng y, con số này sẽ giảm đáng kể vào năm 2025, khi 13 hồng y sẽ trên 80 tuổi. Tuy nhiên, Công nghị lần thứ 10 này của Đức Phanxicô đưa ra một số chỉ dẫn không thể bỏ qua.

Những dấu hiệu này liên quan đến:

– thành phần Hồng y đoàn;

– cách điều hành của Đức Phanxicô;

– hoạt động thay đổi câu chuyện diễn ra trong triều giáo hoàng này.

Với công nghị này, chúng ta ở trong một tình trạng đảo ngược các quan điểm, một “cuộc đảo chính” đã hoàn thành công việc của nó. Cho đến nay, các giáo hoàng luôn vạch ra đường lối cho guồng máy của họ, xây dựng Hồng y đoàn bằng cách xem xét tình hình chung và cân bằng các tầm nhìn. Mối quan tâm chính của họ là sự hiệp thông trong Giáo hội, điều này làm cho các giáo hoàng sẽ có những lựa chọn nào đó với người khác.

Còn Đức Phanxicô, ngài đã chấp nhận quan điểm của một thiểu số trong Giáo hội – phải thừa nhận là họ ồn ào và công khai. Khi hiểu thiểu số này không có cùng quan điểm với ngài, ngài tiến hành các hoạt động của ngài một cách rõ ràng, loại bỏ đa số khỏi các vị trí chỉ huy một cách hiệu quả.

Hướng tới mật nghị tiếp theo

Hồ sơ của 21 tân hồng y cho thấy đường hướng này. Không ai trong số họ có thể có một vị trí nào khác ngoài vị trí trong triều giáo hoàng của ngài. Ngược lại, một số người luôn tỏ lòng trung thành của họ với giáo hoàng vì thuận tiện, vì ý thức hệ hoặc đơn giản vì họ mang tính mục vụ hơn là cai trị.

Đức Phanxicô đã đặt tân hồng y Angelo Acerbi, 99 tuổi lên đầu danh sách. Ngài là người duy nhất sẽ không bỏ phiếu trong mật nghị vì đã 99 tuổi. Là nhà ngoại giao lão luyện, ngài là Giám mục danh dự của Quân đoàn Tối cao Malta và có thể xem như một thông điệp Đức Phanxicô gởi đến Dòng này. Ngài đề cấp những người trung thành, và cuộc cải cách mạnh mẽ ngài yêu cầu Dòng Malta đã mang lại nhiều khó khăn cho ngoại giao nhân đạo hiệu quả nhất thế giới này.

Không có gì ngạc nhiên khi Tổng giám mục Pêru Carlos Mattasoglio, giáo phận Lima được phong hồng y, Đức Phanxicô kêu gọi có một thay đổi ở tổng giáo phận bị cho là bảo thủ. Tổng giám mục Santiago của Chi-lê, Fernando Chomali cũng được phong hồng y. Đức Phanxicô khen thưởng Ecuador, không phải nhìn vào thủ đô Quito nhưng nhìn vào Guayaquil và ngài trao mũ đỏ cho Tổng Giám mục Luis Gerardo Cabrera Herrera. Tổng giám mục Porto Alegre, Jaime Spengler, cũng sẽ nhận được chiếc mũ đỏ.

Điều đáng chú ý là việc bổ nhiệm Tổng Giám mục Vicente Bokalic Iglic của Santiago del Estero, Đức Phanxicô đã nâng lên hàng hồng y trong giáo phận nguyên thủy của Argentina. Quyết định của ngài chọn Santiago del Estero làm trụ sở chính của Argentina dường như là một hoạt động nhằm thay đổi cán cân quyền lực hoặc một hoạt động đền bù. Trên thực tế, Santiago del Estero thậm chí còn không tồn tại với tư cách là một giáo phận khi giáo phận đầu tiên ở Argentina được gọi là Córdoba và Tucuman. Điều này biểu thị mong muốn của Giáo hoàng muốn viết lại lịch sử và hợp pháp hóa nó.

Sau đó, ngài phong chức hồng y cho Tổng giám mục Baldassarre Reina (phó đại diện giáo phận Rôma) và bổ nhiệm ngài làm đại diện. Nhưng việc bổ nhiệm ngài không chính thức bằng bỏ phiếu, chỉ bằng lời nói của giáo hoàng. Đây là dấu hiệu của một giáo hoàng cai trị không tính đến các nghi thức thể chế, không chỉ bổ nhiệm các hồng y mà còn bổ nhiệm ngay tại chỗ.

Việc bổ nhiệm Cha Fabio Baggio, thứ trưởng bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện có thể cho thấy ngài sẽ kế nhiệm Hồng y Bộ trưởng Michael Czerny hiện 78 tuổi. Cũng vậy với Rolandas Makrickas, linh mục phụ tá của đền thờ Đức Bà Cả, ngài đã cải cách tài chính của Đền thờ với kết quả làm hài lòng Đức Phanxicô.

Đức Phanxicô vinh danh giáo phận Turin Ý bằng cách phong Tổng giám mục Roberto Repole làm hồng y, nhưng không có hồng y cho Naples, Milan, Venice hay Florence. Ở Châu Âu, Đức Phanxicô phong Tổng giám mục Laszlo Nemet của Belgrade nhưng không trao mũ đỏ cho các tổng giám mục Brussels, Paris hay Lisbon, các thủ đô luôn có hồng y. Nhưng ngài phong Tổng giám mục Mykola Bychok, hồng y người Serbia đầu tiên, cố gắng thu hẹp khoảng cách với Giáo hội Chính thống Serbia.

Không có tân hồng y Hoa Kỳ mặc dù có sự thay đổi thế hệ đặc biệt sẽ diễn ra trong những tháng tới trong số các hồng y người Mỹ. Tổng giám mục Toronto, Canada Frank Leo sẽ trở thành hồng y.

Châu Á có Tổng giám mục Tokyo và chủ tịch Caritas Quốc tế, Tarcisius Kikuchi; có Pablo Virgilio Siongco David, giám mục Kalookan, Phi Luật Tân; có Paskalis Bruno Syukur, giám mục Bogor (Indonesia); và giám mục Dominique Joseph Mathieu, tổng giám mục Tehran-Isfahan (Iran) người Bỉ.

Châu Phi có hai hồng y: Ignace Bessi Dogbo, tổng giám mục thủ đô Abidjan (Bờ Biển Ngà), và Jean-Paul Vesco, tổng giám mục thủ đô Algiers (Algeria), gốc Pháp.

Úc có đại diện giáo chủ Công giáo Hy Lạp, Giáo phận Melbourne Mykola Bycock, một lựa chọn gây sốc cho Tổng giám mục chính của Giáo hội Công giáo Hy Lạp Ukraine, Sviatoslav Shevchuk, người đang ở tuyến đầu của cuộc chiến, sẽ bị cho là ở ngoài cái bóng của giáo hoàng, có thể làm ảnh hưởng cá nhân và ngoại giao của ngài bị suy giảm ở chính đất nước ngài.

Trong số các tân hồng y, có hai quyết định đáng ngạc nhiên: thần học gia Timothy Radcliffe, linh mục giảng cho Thượng Hội đồng và Đức ông George Jacob Koovakad, người Ấn Độ ở  Phủ Quốc vụ khanh, tổ chức các chuyến tông du của giáo hoàng. Tân hồng y là người Syria-Malabar và điều đáng ngạc nhiên là Tổng giám mục Raphael Tattil vừa được bổ nhiệm gần đây không được phong hồng y.

Năm tiêu chuẩn chọn các tân hồng y của Đức Phanxicô

Sẽ có 141 hồng y cử tri vào ngày 8 tháng 12. Có tin đồn ngài sẽ mở rộng bầu cử mật nghị, nhưng như mọi lần, ngài không làm một cách chính thức. Ngài đi chệch khỏi các quy tắc ấn định số lượng hồng y tối đa là 120. Ngay cả Đức Gioan Phaolô II cũng đã làm trong một số trường hợp nhất định, nhưng đó là những trường hợp ngoại lệ. Đức Phanxicô đã làm ít nhất hai lần.

Tiêu chuẩn chọn tân hồng y của Đức Phanxicô là gì?

Đầu tiên, Đức Phanxicô phong các hồng y thân thiết nhất của ngài. Các giáo hoàng trước đây cũng bổ nhiệm người thân tín vào các vị trí trong chính phủ và phong họ làm hồng y. Giáo hoàng phong hồng y chỉ để họ ở vị trí của họ, đó là lý do vì sao có những giáo phận được gọi là hồng y thường không do các hồng y đứng đầu, cũng như nhiều chức vụ có ảnh hưởng không được giao cho các hồng y.

Đức Phanxicô đã tăng cơ sở bầu cử, đại diện quốc gia và lục địa trong mười công nghị, nhưng ngài chuyển các hồng y ra khỏi trung tâm. Ngài cai trị một mình, có thể đến với ngài nhưng chỉ một số ít người có ảnh hưởng. Những người lẽ ra có thể giúp ngài điều hành đều vắng mặt.

Tiêu chuẩn thứ hai là ngài muốn gởi một thông điệp địa chính trị, ngài muốn có một hồng y ở Iran, thể hiện sự gần gũi của ngài với người dân địa phương, như khi ngài bổ nhiệm sứ thần Mario Zenari ở Syria làm hồng y.

Ngài không phong Tổng giám mục Shevchuk của Giáo hội Công giáo Hy Lạp Ukraine làm hồng y nhưng phong giáo chủ Mykola Bychok, giáo chủ Công giáo Hy Lạp ít được biết đến ở Úc, có ít tín hữu và tương đối vô hình, cho thấy khoảng cách giữa quan điểm của Tổng giám mục Shevchuk và của ngài. Ngài muốn hòa bình và ngài muốn đối thoại bằng mọi giá. Shevchuk và các giám mục khác của đất nước ở một tình huống khác, họ đòi hòa bình bằng cách thúc giục người dân phản kháng. Đó là những quan điểm không thể dung hòa được.

Tiêu chuẩn thứ ba là lòng trung thành. Tân hồng y Rolandas Makrickas chứng tỏ lòng trung thành và khả năng của ngài trong công việc ở Đền thờ Đức Bà Cả. Trước đó ngài đã điều hành Bộ Ngoại khi có phiên tòa xét xử việc quản lý quỹ của Bộ Ngoại giao (phiên tòa Becciu).

Việc phong Đức ông George Jacob Koovakad làm hồng y, người tổ chức các chuyến tông du sẽ khó hiểu nếu cho rằng chức vụ hồng y phải gắn liền với một sứ mệnh cụ thể. Tuy nhiên, sẽ dễ hiểu nếu Đức Phanxicô muốn có một hồng y tổ chức các chuyến đi của ngài, đó cũng là tín hiệu gởi đến Bộ trưởng bộ Ngoại giao vì tân hồng y Kovakand đang ngày càng có uy tín.

Làm sao để biết? Đây có thể là phản ứng của ngài sau chuyến đi Bỉ, kết thúc trong tranh cãi. Ngài đã có thể buộc tội Bộ Ngoại Giao vì đã thận trọng quá mức khi viết bài phát biểu cho ngài. Thậm chí vấn đề còn quay trở lại chuyến đi Canada của ngài, ngài từ chối các bài phát biểu rất cân bằng, nhấn mạnh trong cuộc họp báo trên máy bay ngài xem những gì xảy ra ở các trường nội trú người bản địa ở Canada là “diệt chủng”. Bây giờ trở đi, việc tổ chức các chuyến đi sẽ có người không làm trở ngại cho chức vụ giáo hoàng, dù có thể vô lý.

Tiêu chuẩn thứ tư là mong muốn cải tổ, việc bổ nhiệm Giám mục Baldassare Reina làm hồng y giáo phận Rôma kết thúc quá trình cách mạng trong giáo phận Rôma. Đức Phanxicô đã triệu tập các giám mục và các phụ tá từ bên ngoài hàng giáo sĩ của Rôma, thúc đẩy cải cách giáo phận Rôma, loại bỏ khu vực trung tâm lịch sử trái với ý kiến của mọi người. Đại diện của Rôma không còn thuộc về Rôma mà thuộc về một tổ chức có liên hệ với Giáo hoàng, bằng cách này, ngài có thể dễ dàng thực hiện những cải cách mạnh mà không gặp phản kháng.

Cuối cùng, tiêu chuẩn thứ năm là sự thống nhất về tư tưởng. Xét cho cùng, các hồng y do Đức Phanxicô phong vẫn chưa có lập trường vững chắc về mặt tư tưởng. Mặt khác, những người có lập trường thì theo một hướng cụ thể.

Ví dụ, không ai mong chờ Tổng giám mục Belgrade Laszlo Nemet sẽ được phong hồng y, ngài là phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Châu Âu (CCEE), hiện có hai hồng y phó chủ tịch (Hồng y Jean-Claude Hollerich và Tổng giám mục Gintaras Grušas của Vilnius). Mùa hè năm nay, Tổng giám mục Nemet đã tổ chức hội thảo về Thượng Hội đồng ở Linz quy tụ đông đảo giới trí thức thần học tiến bộ gốc Đức để suy ngẫm tương lai của Thượng Hội đồng.

Khi làm như vậy, Tổng giám mục Nemet thể hiện mình là người hòa giải giữa phe Đức và Thượng Hội đồng về tính đồng nghị, như Hồng y Hollerich đã cùng làm với Hồng y Grech, thư ký của Thượng hội đồng trong một nỗ lực hòa giải.

Trong khi Hồng y Hollerich và Grech tìm sự cân bằng khó khăn giữa những quan điểm tiên tiến nhất và việc duy trì những nguyên tắc học thuyết cơ bản nhất định, thì trường phái thần học của tân hồng y Nemet dựa vào khách quan hơn, trường phái này có tài liệu bằng tiếng Hungary tìm cách tác động đến cuộc tranh luận Thượng Hội đồng truyền thống ở Hungary.

Ngoài ra còn có thần học gia Timothy Radcliffe, ngài đề cập đến chủ đề Fiducia Supplicans trong các suy tư Thượng Hội đồng. Ngài đưa ra một ý tưởng được giáo hoàng yêu thích: chúng ta phải tin tưởng Phêrô. Đó là cách làm im lặng những tranh chấp khác nhau về quy định chúc phúc cho các cặp vợ chồng không hợp lệ: tin tưởng Phêrô có nghĩa là không thể nêu ra vấn đề. Theo cách này, cuộc tranh luận của Thượng Hội sẽ bị giới hạn vì mọi thứ phải hướng tới ý muốn của Giáo hoàng.

Do đó, Đức Phanxicô cho thấy ngài đánh giá cao các cố gắng này và phong hồng y cho Linh mục Radcliffe và Tổng giám mục Nemet. Nhìn vào danh sách hồng y, ngài gởi thông điệp nào cho Giáo hội?

Cách điều hành của Đức Phanxicô

Quyết định ủng hộ một số xu hướng này hơn xu hướng kia cho thấy ngài tiếp tục những cải cách của ngài, bất kể điều gì xảy ra. Các cuộc tranh luận tại Thượng Hội đồng, đặc biệt là các tranh luận giữa mười nhóm làm việc cho thấy hầu hết các giám mục đều có cách tiếp cận truyền thống với các câu hỏi. Họ không có ý muốn làm cách mạng. Chẳng hạn một số vấn đề như thẩm phán-giám mục, các thành viên của ủy ban quay về với cách làm trước đây về các vấn đề vô hiệu hóa hôn nhân.

Cũng vậy với các tranh luận tại Thượng Hội đồng năm 2023, đã sửa đổi hoàn toàn văn bản cuối cùng, bỏ một số từ ngữ theo thời. Đức Phanxicô muốn trấn an mọi người. Ngài tái khẳng định vai trò giám mục, cho rằng vai trò này đã mất đi tầm quan trọng. Ngài nói Thượng Hội đồng không có mục đích tìm kiếm những cải cách hợp thời.

Tuy nhiên, giáo hoàng có thể đưa ra những chỉ dẫn thực tế, sẽ lật đổ hệ thống học thuyết. Ngài truyền cảm hứng cho sự tự tin; ngài muốn tham gia vào các cuộc trò chuyện cá nhân, nhưng đây là cách ngài thăm dò tâm trạng và ẩn náu. Không có gì chắc chắn về cách ngài sẽ giải quyết mọi việc; không có phương thức hoạt động dễ hiểu và đường thẳng.

Liệu điều này cũng sẽ xảy ra với Thượng Hội đồng không? Liệu ngài có thể vượt lên được mọi cuộc thảo luận bằng những lựa chọn triệt để và dứt khoát không? Câu hỏi lớn đặt ra, cho đến bây giờ ngài đã giải quyết các vấn đề như thế nào. Đã có lúc ngài đưa ra quyết định và dùng thông tin được cung cấp để phá hủy và xây dựng lại con đường của ngài.

Một cuộc đảo chính?

Chính đó là nơi nảy sinh ý tưởng về một cuộc đảo chính. Ngài thực sự đã đề cập và phát triển phần lớn cuộc tranh luận hậu công đồng mà đôi khi vẫn ở bên lề – và cũng có một số sự bất bình nào đó của người Châu Mỹ Latinh, đến mức ngài thường nhấn mạnh thần học Mỹ Latinh phải là “thần học gốc”.

Cuộc tranh luận hậu công đồng đặc trưng qua suy nghĩ thực tiễn của Đức Phaolô VI, Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI, các ngài đã dự tính nhưng không được đặt ở trung tâm của làng giáo hội.

Động lực của các giáo hoàng tiền nhiệm rất đa dạng. Đầu tiên là một số áp lực đã vượt ra ngoài chính giáo lý và không có lựa chọn thực tế nào có thể thay đổi được sự giảng dạy của Phúc Âm. Thứ hai là, trong mọi trường hợp, Giáo hội không đi theo hướng này.

Ví dụ, Đức Phaolô VI đã tái khẳng định quan điểm về tránh thai và tính dục trong Thông điệp Sự sống Con người Humanae Vitae trái với lời khuyên của đa số các ủy ban được tham khảo ý kiến. Nhưng nghiên cứu lịch sử – cả những nghiên cứu gần đây – cho thấy Đức Phaolô VI đã hành động hòa hợp với Giáo hội và những gì được trình bày với tư cách là ý kiến đa số trên thực tế lại là những báo cáo bị cho là thiểu số.

Điều này cũng đúng với nhiều câu hỏi đang trở thành vấn đề trọng tâm ngày nay. Từ lập trường về vai trò của phụ nữ trong Giáo hội cho đến vấn đề độc thân linh mục, bao gồm cả các vấn đề về tính dục và tính vô hiệu của hôn nhân, dư luận công chúng ủng hộ một tầm nhìn thực tế hơn của Giáo hội, và gần như đòi hỏi một thay đổi về mặt giáo lý. Nhưng đây có phải là điều tín hữu mong muốn? Đây có phải là điều mà đa số các giám mục nghĩ?

Nếu Đức Phanxicô cắt đứt phong trào truyền thống và xem đây là yếu tố gây chia rẽ trong Giáo hội, thì chúng ta cũng phải xem xét các hiện tượng truyền thống đang phát triển như các cuộc hành hương Chartres. Chúng ta có nên dập tắt sự thúc đẩy theo chủ nghĩa truyền thống này chỉ vì nó không được đánh giá cao, hay chúng ta nên cho phép nó phát triển trong đức tin? Chúng ta nên tạo chia rẽ hay đoàn kết?

Về một số chủ đề Đức Phanxicô cho thấy ngài là người có đức tin.

Ngài duy trì lập trường mạnh mẽ của ngài về việc phá thai. Ngài khẳng định vấn đề này khi ngài phong chân phước cho Vua Baudouin ở Bỉ và lấy ông làm gương. Ngài chống các thần học gia của Đại học Louvain bằng cách bác bỏ quan điểm xã hội học về vai trò của phụ nữ của họ.

Nhưng ngài phải đối diện với kẻ thù không đội trời chung của ngài, đó là dư luận, họ ít dịu dàng hơn bình thường khi ngài có những quan điểm này.

Do đó, ngài ngỏ lời với mọi người, để qua một bên những người có thể gây ra vấn đề, xa những người có thể cùng cai trị với ngài và trao sức mạnh cho một dư luận vững chắc mà cho đến nay vẫn chỉ là thiểu số trong Giáo hội. Dấu hiệu của điều này được thể hiện qua những người được gọi là “hồng y cứu chữa” mà ngài luôn tạo ra trong mỗi công nghị – như hồng y Fitzgerald được cử làm sứ thần Ai Cập nhưng không làm việc ở Giáo triều, hay như Rauber, sứ thần đã đề nghị Kesel làm Tổng giám mục Brussels thay cho Leonard.

Với công nghị tiếp theo, Đức Phanxicô có những thay đổi thường xuyên. Đó là thay đổi tường thuật được áp đặt, tượng trưng bằng quyết định biến Santiago al Estero thành giáo phận nguyên thủy của Argentina. Đó là thay đổi cách tường thuật nhằm mục đích viết lại lịch sử, xóa bỏ quá khứ và tạo ra một cách làm giáo hoàng mới. Đó là một công nghị muốn để lại di sản. Nhưng những gì xảy ra tiếp theo thì không được đưa ra. Bởi vì một khi các hồng y họp mật nghị thì chuyện gì cũng có thể xảy ra.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

François Euvé: “Tội lỗi là sự rạn nứt trong mối quan hệ với Thiên Chúa cũng như với người khác”

François Euvé: “Tội lỗi là sự rạn nứt trong mối quan hệ với Thiên Chúa cũng như với người khác”

Đức Phanxicô vừa công bố bảy tội mới – về thiên nhiên, phụ nữ và thậm chí với các dân tộc bản địa – thần học gia Dòng Tên François Euvé nhìn lại lịch sử tội lỗi.

lepoint.fr, Jerome Cordelier, 2024-10-08

Khi long trọng công bố, qua tiếng nói của bảy Hồng y bảy tội mới, Đức Phanxicô đã đưa quan điểm về tội, mà với nhiều người, có vẻ như đã lỗi thời – dù cái ác rình rập khắp nơi. Nhưng rốt cuộc thì tội là gì? Một lỗi lầm, một cấm đoán, một vi phạm đức tin tôn giáo, đạo đức?

Định nghĩa tội không đơn giản để hiểu. Đó là lý do chúng tôi nhờ thần học gia Dòng Tên François Euvé, giám đốc tạp chí Études và là tác giả quyển sách Những nỗi sợ hãi và run rẩy, Lịch sử tội lỗi (Craintes et tremblements, une histoire du péché, nxb. Seuil) giải thích cho chúng tôi.

Giovanni Maria Vian: “Nói về tội lỗi, Đức Phanxicô kêu gọi xét mình”

Tội lỗi là gì trong mắt Giáo hội?

Linh mục François Euvé: Đó là sự rạn nứt trong mối quan hệ với Thiên Chúa, nhưng cũng là sự rạn nứt trong mối quan hệ với người khác, kể cả với thiên nhiên vì “mọi thứ đều liên kết với nhau” (Laudato si’). Ý tưởng trọng tâm: con người là một sinh vật có quan hệ. Theo Thánh Augustinô, tội “điển hình” là tội ích kỷ, khép kín, giả vờ sống. Không có mối quan hệ với Thiên Chúa, với người khác, với thiên nhiên, không có cuộc sống đích thực. Đó là lý do vì sao để giải thoát mình khỏi tội, chúng ta nói đến bí tích “hòa giải”. Khi xưng tội, chúng ta ít nhấn mạnh đến việc xây dựng lại mối dây liên kết, chỉ nói về tội và đền tội.

Linh mục François Euvé © DR

Các loại tội khác nhau là gì?

Chúng ta có thể nói, trên nhiều khía cạnh mọi tội đều là “tội trọng” vì nó là sự đứt gãy của một mối quan hệ sống còn. Tuy nhiên, ở cấp độ mục vụ, theo truyền thống, Giáo hội công giáo phân biệt sự nghiêm túc theo từng mức độ. Chúng tôi giữ lại hai loại: tội trọng và tội nhẹ. Đây là cách để nói hai điều: chúng ta có thể vô tình phạm phải những hành vi rất nghiêm trọng, gây “chết người” cho người khác cũng như cho chính chúng ta; cũng có thể chúng ta không thực sự có ý định làm hại hoặc không nhận thức đầy đủ về mức độ nghiêm trọng của hành động đó. Để là “tội trọng”, phải có vấn đề nghiêm trọng nhưng cũng phải có sự hiểu biết đầy đủ và sự đồng ý hoàn toàn. Việc khách quan hóa các phạm trù tội là một trợ giúp thiết thực, nhưng cũng có vấn đề nếu chúng ta không chú trọng đầy đủ đến lương tâm vốn là thẩm quyền luân lý tối thượng.

Khái niệm tội đã phát triển như thế nào theo thời gian?

Tội lỗi là một khái niệm trong Kinh thánh, được các cộng đồng kitô giáo đầu tiên chấp nhận. Nhưng họ chỉ quan tâm đến những hành vi nghiêm trọng nhất: giết người, ngoại tình, bỏ đạo… Và người phạm tội bị trục xuất khỏi sự hiệp thông (dứt phép thông công) cho đến khi họ đền tội xong, một hành trình đôi khi lâu dài. Đồng thời các tu sĩ trong tu viện phát triển thói quen xét mình và xác định những khuynh hướng đi ngược lại mối quan hệ tốt đẹp với Thiên Chúa đã phát triển nơi họ. Điều này dẫn đến việc hình thành nên “tội trọng”, những khuynh hướng có thể đưa đến phạm tội. Cách nhìn này sẽ dần dần trở nên khái quát trong giáo dân và từ đó phát triển việc xưng tội riêng tư: chúng ta xưng không phải những điều mà mọi người đều biết, như trong các cộng đoàn đầu tiên, nhưng những gì chúng ta xem đó là tội.

Chúng ta nhạy cảm hơn với những tội thuộc “quan hệ” (với người khác, cả trong gia đình và ngoài xã hội), trong khi trước đây mối quan hệ với Thiên Chúa là ưu tiên hàng đầu.

Có nhiều tội hơn trong thế giới của chúng ta ngày nay không?

Thật là vô ích khi định lượng về tội lỗi, như thể thế giới chúng ta tốt hoặc xấu hơn thế giới trước. Đúng hơn, đó là một tiến triển trong hành vi bị cho là một tội ít nhiều nghiêm trọng. Chẳng hạn tội chống lại môi trường là một tội mới liên quan đến sự nhạy cảm về sinh thái. Chúng ta cũng có thể nói, chúng ta đã nhạy cảm hơn với những tội “quan hệ” (với người khác, trong gia đình và ngoài xã hội), trong khi trước đây mối quan hệ với Thiên Chúa là hàng đầu (giữ đạo). Về vấn đề này, bảy tội “mới” cho thấy sự nhạy cảm ngày càng gia tăng (thiên nhiên, phụ nữ, các dân tộc bản địa, v.v.).

Tội lỗi có phải là điều cấm đoán không?

Một cách để chúng ta “xét mình” là quay về với Mười Điều Răn. Tội là bất tuân với những điều răn này. Nhưng chúng ta phải hiểu ý nghĩa của chúng, các điều răn đưa ra những gì thiết yếu: “Chớ giết người không hẳn là một điều cấm đoán nhưng là lời mời gọi tôn trọng sự sống.” Như Đức Phanxicô nói, việc xưng tội chủ yếu không phải là tòa án xét xử dựa trên luật pháp, mà trên hết dựa trên sự trợ giúp dành cho mọi người. Ý tưởng trung tâm là Thiên Chúa nhân từ.

Có phải Giáo Hội được xây dựng trên việc lên án tội lỗi?

Trong suốt lịch sử, Giáo hội nhấn mạnh nhiều đến việc xưng tội. Chúng ta có thể thấy ở đó mối quan tâm để nhận thức được những gì chúng ta đang trải qua. Xét mình là nhận thức được những gì làm chúng ta tồn tại, bao gồm cả những xu hướng tiêu cực. Nó cũng có nghĩa là thừa nhận mình có trách nhiệm, có khả năng trả lời cho hành động của mình. Nhưng phải thừa nhận sự tha thứ được nhấn mạnh nhiều hơn. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta nói đến “tha tội”. Việc tin rằng chúng ta được tha thứ có thể khó hơn việc thừa nhận mình là kẻ có tội hoặc cảm thấy mình tội lỗi.

Không có tội, không có tôn giáo?

Tôi nói thêm: cũng không có xã hội. Chúng ta không được ngây thơ. Cái ác hiện diện trong thế giới chúng ta, dưới hình thức những thế lực chia rẽ ở trong lòng chúng ta mà đôi khi chúng ta không hề hay biết. Đừng rơi vào tình trạng ám ảnh về tội (xét lương tâm, xét mình có thể làm nảy sinh cảm giác tội lỗi, làm nản lòng), điều tốt là duy trì một cảnh giác.

Việc xưng “con là kẻ có tội” có nuôi dưỡng một hình ảnh đau khổ của đạo công giáo không?

Trong giới hạn từ ngữ, tôi thấy có sự tương đối hóa về thân phận của kẻ có tội. Đôi khi chúng ta làm những hành động xấu một cách khách quan (làm hại ai đó) mà không thực sự mong muốn. Đó không phải là hoàn toàn do lỗi của chúng ta. Thật khó nhưng cần thiết để duy trì cả hai: tính khách quan của tội, vốn là một phần của công lý, và sự tha thứ đầy lòng thương xót. Các trường hợp lạm dụng tình dục của giáo sĩ nói rõ điều này. Chúng ta thấy khuynh hướng giảm thiểu một số tội ác của một Giáo hội vốn tỏ ra cực kỳ nghiêm khắc với các tội khác.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Linh mục François Euvé: “Kitô giáo vẫn cho chúng ta điều gì đó để suy nghĩ”

 

 

Bài mới nhất