Hồng y Müller và “trật tự thế giới mới”: một cuộc phỏng vấn bùng nổ

163

Hồng y Müller và “trật tự thế giới mới”: một cuộc phỏng vấn bùng nổ

kath.net/news, 2022-09-13

Hồng y Gerhard Müller, cựu Bộ trưởng Bộ Tín Lý (2012-2017) Ảnh lưu trữ của Hồng y Müller – Lothar C. Rilinger

“Trật tự thế giới mới”: thuyết âm mưu hay một tầm nhìn chính trị?

Hồng y Gerhard Müller: “Sự xuống dốc của Giáo hội ở Đức và ở châu Âu không do thế tục hóa, không do đấu tranh của Giáo hội… nhưng do thiếu đức tin, do tình yêu nguội lạnh của người công giáo…” Nhà báo Lothar C. Rilinger của trang kath.net phỏng vấn ngài.

Vatican (kath.net) Cụm từ “Trật tự thế giới mới” (Nouvel ordre mondial) được hiểu như một ẩn dụ cho thuyết âm mưu. Tuy nhiên, nó chỉ mô tả một dự án xã hội – giống như bất kỳ dự án nào khác – mà một diễn đàn trí tuệ phải đối diện. Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản năm 1989-90 đánh dấu sự kết thúc của một quá trình lịch sử mà nhà xã hội học người Mỹ Francis Fukuyama gọi là sự kết thúc của lịch sử. Theo hồng y, chủ nghĩa cộng sản một thời đã là phản đề của dân chủ, vì thế chúng ta phải nghĩ đến một cơ sở xã hội mới. Vì thế, một cạnh tranh mới được mở ra: tương lai của phát triển xã hội vượt ra ngoài chủ nghĩa mác-xít. Cuộc đấu tranh giai cấp kiểu mác-xít lẽ ra phải làm vào thời của nó – tuy nhiên người mác-xít chưa sẵn sàng chấp nhận – nhưng trong cuộc đấu tranh giành quyền tối hậu trên diễn đàn về xã hội và Nhà nước, mô hình dân chủ không còn được xem là lý tưởng. Nguyên tắc “một người, một phiếu bầu” gắn liền với Thời đại Khai sáng. Đó là lý do vì sao phải không tuân thủ để có thể quy thuộc tính “tiến bộ” cho sự tiến hóa xã hội. Vì thế khi chúng ta đề cập đến một nguyên tắc mà theo đó con người – tách rời khỏi Thiên Chúa, Đấng không còn có thể cho là tồn tại – có thể làm mọi thứ con người có thể làm. Tự giới hạn là trở ngại cho sự tiến bộ.

Vì Thiên Chúa bị từ chối như thực thể tối hậu hành động của con người trong sự tin tưởng vào tiến bộ, Trật tự Thế giới Mới phải xây dựng một xã hội không có giới hạn, trong đó tất cả những gì con người có khả năng phát triển và suy nghĩ đều được được phép; không có gì cản trở cho sự tiến bộ hoặc ngăn cản sự phát triển của nó. Siêu hình học, được xem là tiền hiện đại, bị loại khỏi diễn đàn xã hội và cùng với nó là niềm tin vào sự cứu chuộc con người trong cõi vĩnh hằng. Chỉ những gì có giá trị là những gì có thể làm giả hoặc có thể kiểm chứng, như thử sự cứu chuộc con người phải diễn ra trên trái đất, trong cuộc sống trần thế. Cái mà Karl Marx gọi là thiên đường trần thế phải đạt được theo một cách khác thông qua tiến bộ đặc trưng của Trật tự Thế giới Mới. Vì trật tự thế giới này phủ nhận vào sự cầu cứu Chúa và tuyên bố Chúa không tồn tại, giống như Feuerbach, nên không có gì ngạc nhiên khi hồng y Gerhard Ludwig Müller, cựu bộ trưởng bộ Tín Lý cảm thấy bị thách thức và lên án Trật tự Thế giới Mới. Chúng tôi đã gặp ngài để nói chuyện về vấn đề này.

Nhà báo Lothar C. Rilinger: Từ vài thập kỷ nay, yêu cầu trật tự thế giới hiện nay phải được thay thế bằng một trật tự không còn cậy trông vào Chúa, mà chỉ phục vụ cho tiến bộ không điều kiện, một lần nữa ám ảnh các bài diễn văn chính trị. Nhu cầu về trật tự thế giới này, được gọi là “Trật tự Thế giới Mới” gần như nằm ngoài lề các cuộc tranh luận chính trị, công khai. Chúng ta nên hiểu “Trật tự Thế giới Mới” như thế nào?

Hồng y Gerhard Ludwig Müller: Theo tuyên xưng đức tin của người do thái cũng như của người tín hữu kitô, chính Thiên Chúa là Đấng, trong nhân lành tối thượng của Ngài đã tạo dựng thế giới từ hư không và ra lệnh cho nó bằng lời của Ngài (biểu tượng, lý trí) và tinh thần vĩnh cửu của Ngài (sức mạnh, trí tuệ). Lý trí con người là hữu hạn và về nguyên tắc – do nguyên tội – dễ bị xáo trộn bởi những xung động ích kỷ, như ham muốn quyền lực, tiền bạc, lạc thú một cách hỗn độn. Vì thế con người về mặt trí tuệ và đạo đức là dễ sai lầm.

Chỉ khi nào chúng ta để Lời Chúa chất vấn và được Chúa Thánh Thần soi sáng, hướng dẫn và củng cố thì chúng ta mới có thể nhận ra sự thật và tự do chọn điều thiện làm mục tiêu cho hành động của chúng ta. Kinh nghiệm lịch sử dạy chúng ta, bất kỳ nỗ lực nào để trật tự thế giới hành động qua trí thông minh và sức mạnh con người thì luôn kết thúc trong thảm họa. Không cần phải đi ngược thời gian quá xa. Chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc ở thế kỷ 19, hệ thống cai trị toàn trị của chủ nghĩa xã hội-quốc gia, tư tưởng cường quốc Nhật Bản và chủ nghĩa cộng sản Lênin-Stalin, cũng như tất cả các chế độ độc tài của các quốc gia nhỏ ở Nam Mỹ, châu Á và châu Phi đều chứng tỏ việc nắm quyền lực thế giới, có nghĩa muốn thiết lập một Trật tự Thế giới Mới là kết quả của tư tưởng ma quỷ và phá hoại chứ không phải của một tư tưởng thần học.

Chương trình của một trật tự thế giới mới giả định một kinh tế hóa hoàn toàn con người, trong đó giới tinh hoa chính trị và tài chánh tự xưng, vẫn là chủ thể tư duy và chỉ đạo, đã phải trả giá cho sự phi nhân hóa con người hàng loạt. Con người chỉ là sản phẩm sinh học thô thiển được biến thành máy tính trong một mạng lưới thông tin tổng thể. Khi đó không còn con người, không còn sự bất tử của linh hồn, không còn sinh vật sống có trái tim, lý trí, tinh thần và ý chí tự do. Con người sẽ vẫn là một công trình xây dựng không tổ quốc, không hy vọng.

Nó liên quan đến việc giảm 99% dân số thế giới xuống thành một sinh khối dựa trên chip, trên vật liệu của con người hoặc trên một nhóm người tiêu dùng thành những phế phẩm méo mó. Con người không có “giá trị” (giá trị được hiểu ở đây theo nghĩa kinh tế chứ không theo nghĩa đạo đức) khi con người tham dự vào việc duy trì hệ thống thống trị, bóc lột và làm cho nó vận hành. Sự thống trị toàn trị đạt được trong một chế độ quan liêu tuyệt đối khi con người thật bị loại bỏ. Triết gia Hannah Arendt viết năm 1951: “Hành động sẽ chứng tỏ là hời hợt trong cuộc sống chung của con người, khi tất cả con người trở thành duy chỉ một người, tất cả các cá thể là những mẫu của loài, mọi hành động theo nghĩa gia tăng trong bộ máy chuyển động hợp pháp của lịch sử hoặc của tự nhiên, tất cả các hành vi thi hành bản án tử hình, mà dù sao lịch sử và bản chất trong bất kỳ trường hợp nào cũng đã tuyên bố”, (Hannah Arendt, Các yếu tố và nguồn gốc của sự thống trị hoàn toàn, Elemente und Ursprünge totaler Herrschaft, Munich 2021), trong khi người sáng lập và điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos gần đây đã báo hiệu cho thế giới về ý tưởng không tưởng của các nhà chuyển ghép-nhân loại (transhumaniste): “Các thiết bị ngoại vi ngày nay (…) gần như chắc chắn sẽ có thể cấy ghép vào cơ thể và não chúng ta. (…) Những công nghệ này có thể thâm nhập vào không gian riêng tư cho đến nay vẫn còn là lãnh vực của tâm trí, đọc suy nghĩ của chúng ta và ảnh hưởng đến hành vi chúng ta.” (Klaus Schwab / Nicholas Davis, Định hình tương lai của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Shaping the Future of the Forth Industrial Revolution), New York 2018; và tương tự, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư,  Die Vierte Industrielle Revolution, Munich 2016).

Chủ nghĩa toàn trị luôn căm ghét sự sống, thích những gì có thể cắt giảm một cách máy móc hơn là những gì sống động và thiêng liêng. Đó là nhóm kiểm soát quyết định ai có thể sống hoặc ai phải chết. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine, Putin đã cho quân đội của ông đi chuyển bằng các lò thiêu di động để không gây nguy hiểm cho quyền lực của ông trên chính trường nội bộ qua hình ảnh những chiếc quan tài về nhà.

Tại Hoa Kỳ, tổng thống Biden công bố có những chiếc xe buýt di động cho việc phá thai, kể cả việc thiêu xác trẻ em, nhằm lách phán quyết của Tòa án Tối cao. Đó là thể hiện quyền lực không bị ràng buộc về mặt đạo đức và quyền được giết trẻ em chỉ một thời gian ngắn trước khi chúng được sinh ra. Điều đó càng nghiêm trọng hơn với chứng từ về sự thật tự nhiên, được Thiên Chúa mạc khải mà cả Putin và Biden, cả hai tự cho mình là tín hữu kitô đã làm. Nhưng trước sự phán xét của Chúa, “những kẻ làm điều ác sẽ không được nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp.” (xem 1Cr 6: 10).

Ở Nga, ai gọi cuộc xâm lược tàn bạo Ukraine là cuộc chiến, mà không gọi đó là “hoạt động quân sự đặc biệt” đều bị trừng phạt. Ở phương Tây, ai gọi việc giết người trong bụng mẹ là một vụ giết người hoặc biểu tình chống trước các phòng khám giết người đều bị đưa ra tòa. Tại Trung Quốc, người ta buôn bán nội tạng một cách tàn nhẫn, coi thường quyền quyết định của người bị đánh cắp nội tạng. Lợi dụng hoàn cảnh nghèo khổ của phụ nữ ở các nước nghèo, các cơ quan “phương Tây” của các nước giàu làm công việc mang thai hộ bẩn thỉu. Không phải là ác mộng tan biến trong hiện thực khi thức dậy, mà là hiện thực đã thành ác mộng.

Rilinger: Loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của người công dân là một đòi hỏi của Khai sáng được thể hiện cao nhất trong chủ nghĩa hư vô mà triết gia Nietzsche không bao giờ mệt mỏi khi rao giảng. Lịch sử có cung cấp bằng chứng nào cho thấy một nhà nước hoặc xã hội không có Chúa có thể thành công không?

Hồng y Müller: Triết gia Hannah Arendt, nổi tiếng là nhà phân tích sáng suốt về chủ nghĩa toàn trị hiện đại, đã tóm tắt “cương lĩnh hư vô của thế kỷ 19” bằng lời của nhà văn Dostọevski: “Mọi thứ đều được phép”, khi con người không tin vào Thượng đế là Đấng đã tạo ra và phán xét nó. (Hannah Arendt, Trách nhiệm cá nhân trong một chế độ độc tài có nghĩa là gì? Munich 52020. 43; bài nói chuyện đầu tiên năm 1964/65). Chắc chắn, kể từ thời kỳ đầu của triết gia Khai sáng Pierre Bayle (1647-1706), đã có nhiều nỗ lực phát triển một nền đạo đức duy vật vô thần hoặc tiến hóa với mục đích tách rời đạo đức cá nhân và xã hội khỏi nền tảng siêu việt của nó. Nhưng những sáng kiến này được tuyên truyền, phô trương dứt khoát sẽ bị thất bại, vì không có đạo đức khi con người phải tự biện minh cho mình không phải trước thế giới có điều kiện, mà một cách cá nhân trước sự không điều kiện.

Điều thiện có giá trị tuyệt đối hay điều ác phải tránh không thể tự nó trở lại, bộ chỉ là một phần của thế giới này hoặc một chức năng bên trong nó.

Chỉ mối quan hệ cá nhân của bản thân với thẩm phán thiêng mà con người nói “cha” (Abba, Cha chúng con) và người mà cuộc gặp diện đối diện, cho phép đạo đức không phải là tham chiếu đến các giá trị khách quan, nhưng đến mối quan hệ cá nhân với tác giả và là hiện thân của chân và thiện.

Là tín hữu kitô, chúng ta cũng nói, những đòi hỏi của mệnh lệnh luân lý không chỉ được chúng ta biết đến trong Mười điều răn. Vì Thiên Chúa đã ghi chúng vào tâm trí và trái tim của mỗi người. Điều này dẫn đến kết quả là ngay cả những người “ngoại đạo”, tức là, con người trước khi gặp gỡ Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ, trong lương tâm của họ đã có những giá trị không điều kiện của các điều răn như một luật thiêng liêng: chớ trộm cắp, chớ tà dâm, không thờ tạo vật nhưng thờ Đấng Tạo Hóa. (x. Rm 2, 14-24).

Rilinger: Nếu, trong Trật tự Thế giới Mới, quyền lực bắt nguồn từ kinh tế và thế giới được xem là thị trường, thì câu hỏi đặt ra là làm thế nào quyền lực – như thần học gia Romano Guardini đã hỏi – có thể được khai thác. Sức mạnh tổng thể đến từ sự giàu có có thể bị giới hạn không, và nếu có thì do ai?

Hồng y Müller: Quyền lực và sự giàu có phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng nó phụ thuộc vào những người nắm quyền trên các sức mạnh của thiên nhiên, sự hỗn loạn của xung lực và lợi ích, và phục vụ cho cộng đồng các hàng hóa có được một cách hợp pháp bằng lao động, nỗ lực và trí tuệ. Chúa Giêsu kêu gọi chú ý đến những cám dỗ của những kẻ quyền thế lạm dụng quyền lực của họ trên đồng loại, cũng như khó khăn của người giàu để vào nước Chúa, khi họ đặt lòng tham của cải và nhắm mắt trước người nghèo.

Chủ nghĩa toàn cầu là kết quả của những khả năng của thông tin liên lạc hiện đại cung cấp, phương tiện giao thông làm giảm khoảng cách, công nghệ có thể làm tăng đáng kể sản xuất hàng tiêu dùng, nâng cao mức sống cho hàng tỷ người. Nhưng ở thời nào thì việc tập trung quyền lực chính trị, tài chính và các phương tiện giao tiếp đều ở trong tay một số ít người – đảng phái, tập đoàn tài chính hay ông trùm truyền thông – và là thảm họa cho phần còn lại của nhân loại. Các trung tâm quyền lực và tài chính thế giới tự cho mình là chính quyền toàn cầu cũng đang toàn cầu hóa phần bóng tối của họ. Họ chỉ hoạt động một cách biện chứng với mặt đối lập của họ. Các siêu nhân cần những người dưới quyền họ, những người siêu giàu cần khách hàng của họ, những người mà họ chỉ nuôi ở cấp thấp. Những người cai trị tối cao luôn cần thần dân tuân phục và sợ những công dân tự do, tự giác như quỷ sợ nước thánh. Ở Hội đồng tối cao quyền lực tuyệt đối trần gian, Phêrô và giáo hoàng, người kế vị Thánh Phêrô luôn phản đối: “Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm”. (Công vụ 5, 29).

“Phương Tây” thế tục hóa và chính thức bài-kitô giáo thừa nhận kitô giáo như một tôn giáo dân sự. Nhưng những người nổi tiếng thế giới, họ quyết tâm bỏ Giáo hội nhưng lại mượn nhà thờ với một giá trị lịch sử, nghệ thuật cao cả làm bối cảnh trang hoàng cho lễ cưới của họ, dù họ không xem hôn nhân như một cái gì thiêng liêng, một lời hứa cho ơn của Chúa.

Tại Trung Quốc, đảng vô thần của Nhà Nước bức hại tín hữu kitô và dùng các cuộc tập họp của họ là dịp để tuyên truyền chống lại đức tin vào Chúa Kitô, vị cứu tinh thực sự của thế giới. Ai còn tin vào những thủ đoạn ngoại giao và thỏa hiệp chính trị với ma quỷ, “chủ nhân của thế gian này” (Ga 12, 31 2Cr 4, 4) để còn có được một cái gì tốt cho kitô giáo?

Sự khác biệt cơ bản là Chúa Kitô đã hiến mạng sống của Ngài để chúng ta sống, trong khi những nhà lãnh đạo thế giới này, dùng mạng sống thần dân họ để họ sống lâu hơn một chút với của cải sang trọng hơn để rồi cuối cùng ở trong địa ngục mà họ đã chuẩn bị cho người khác trên thế trái đất này, “nơi giòi bọ (lương tâm của họ) và lửa (của tình yêu không thắp sáng) không hề tắt. (Mc 9,48) Qua ẩn dụ này, Đức Giêsu Kitô muốn nói lương tâm đang gặm nhấm những người này như giòi bọ. Những kẻ kích động chiến tranh ở Ukraine, đã làm hàng chục ngàn người chết, họ là những người không có lương tâm, những chuyện này không thể biện minh cho họ trước sự phán xét của Chúa.

Rilinger: Triết gia Pháp Auguste Comte đặt cược vào một tiến bộ không có Chúa. Vì thế ông tuyên bố lời van xin tối hậu đã lỗi thời, đứng trước nó con người phải trả lời cho hành động của họ. Do đó, có khả năng giới hạn do Thiên Chúa đặt ra, nhưng con người loại bỏ, có thể được thay thế bằng giới hạn do con người tưởng tượng ra không?

Hồng y Müller: Giới hạn này có thể ở đâu? Nếu, trong một con tàu, giới hạn giữa nước bên trong và nước biển thấm vào thân tàu bị xóa bỏ vì khoang tàu bị thủng thì ngay cả thuyền trưởng giỏi nhất và thủy thủ đoàn có kinh nghiệm nhất cũng không còn có thể cứu con tàu khỏi bị chìm và tự cứu mình khỏi bị chết chìm. Tất cả những hy vọng của một nhân loại hạnh phúc nhờ các cuộc cách mạng chính trị và kỹ thuật đã không thành hiện thực. Cũng vậy với những người không tưởng như Sisyphus, nhân vật biểu tượng cho bi thảm, người luôn thất bại ngay trước khi có được sự tự-cứu chuộc của mình. Những giấc mơ về một thế giới mới và tuyệt vời đều không có kết quả như những gì xảy ra với người đàn ông hói đầu muốn kéo mình ra khỏi đầm lầy bởi hộp sọ bị mất của mình thay vì nắm lấy bàn tay dang rộng của vị cứu tinh mình.

Rilinger: Trật tự Thế giới Mới dựa trên quyền lực thị trường có được hợp pháp hóa một cách dân chủ không?

Hồng y Müller: Vấn đề là các siêu tỷ phú, thông qua các quỹ “từ thiện” và ảnh hưởng của họ trong các tổ chức quốc tế đã làm cho các chính phủ quốc gia phụ thuộc vào họ – ít nhất là một phần ba các Quốc gia được bầu một cách dân chủ. Họ được đón nhận như những chính khách vĩ đại hoặc những người nổi tiếng và VIP và được các nhà lãnh đạo địa phương tâng bốc với hy vọng vô vọng sáng theo hào quang nhấp nhánh của họ. Một thương gia thành công về mặt kinh tế, dù người đó làm giàu một cách hợp pháp và không bị chống đối về mặt đạo đức, thì họ cũng không phải là triết gia, lại càng không phải là người Cứu thế. Và nếu họ là triết gia thì sao? Các vị vua-triết gia ngày xưa của Plato cũng không phải là những người cứu tinh của thế giới. Chỉ có con Thiên Chúa, Đấng mặc lấy xác phàm nhân loại chúng ta mới có thể thay đổi thế giới tốt đẹp một lần và mãi mãi, vì Ngài đã chiến thắng tội lỗi, cái chết và ma quỷ, mang lại cho chúng ta sự hiểu biết và sự cứu rỗi của Chúa. Nhưng ai cũng có thể, nếu họ thành công trong nghề nghiệp, trong công việc kinh doanh của họ thì họ góp phần cải thiện tương đối cho sự tồn tại của chúng ta trên thế giới.

Là tín hữu kitô, chúng ta có trách nhiệm đóng góp vào việc xây dựng một thế giới tôn trọng mọi người nhờ kỹ năng và kinh nghiệm của chúng ta trong các lĩnh vực thủ công, văn hóa khác nhau, nhưng không cho mình là người cứu tinh, người cứu chuộc.

Chúng ta cần giữ trong đầu, trong một xã hội dân chủ, mỗi công dân trưởng thành có một lá phiếu để tự do bầu ra các đại biểu và người cầm quyền. Bỏ phiếu tự do là một cái gì đó khác với săm soi tính khí, mà tính khí thì thay đổi mỗi ngày. Bỏ phiếu tự do là trách nhiệm của công dân đối với lợi ích chung, tính khí chỉ phản ánh cảm xúc tức thời.

Rilinger: Từ một vài năm, người ta nghi ngờ không những về sự tự do của các bài diễn văn khoa học mà còn cả quyền tự do ngôn luận nói chung, thường bị hạn chế bởi sự việc, ngay lập tức họ bị cáo buộc quảng bá một thuyết âm mưu nếu họ tranh luận bên ngoài dòng chính. Chúng ta có thể chấp nhận quyền tự do ngôn luận bị cắt giảm đến mức này không?

Hồng y Müller: Stalin và Hitler liên tục lo sợ các âm mưu, dù đó là do tính toán, để đe dọa và loại bỏ phe đối lập, hoặc do hoang tưởng của họ, vốn là mảnh đất sinh ra chế độ chuyên chế của họ. Vào thế kỷ 18  các khóa Bourbon của các tu sĩ Dòng Tên, ở thế kỷ 19 trong môi trường chủ nghĩa tự do-bài giáo sĩ ở Vatican, ở thế kỷ 20 những người do thái – theo “Giao thức của các Hiền triết Sion” bị cho là người của một âm mưu thế giới. Hoặc người ta xem Giáo hội và các nhà tư bản là kẻ thù cho sự tiến bộ của thiên đàng người lao động, điều mà chỉ có cuộc cách mạng cộng sản thế giới mới có thể ngăn chặn được. Vào thời trẻ của tôi, người ta nói về thuyết âm mưu nơi những người lập dị đương thời, những người thấy bất cứ đâu cũng là vật lạ ngoài hành tinh OVNI hoặc những người lắp ráp các giải thích của thế giới không thể kiểm chứng từ những sự kiện lúc đó.

Ngày nay, từ “âm mưu” là thuật ngữ của một cuộc chiến ý thức hệ được dùng bởi những kẻ chống phát xít thiểu năng trí tuệ, họ tiến hành “cuộc chiến chống lại lẽ phải” với các phương pháp nazi, có nghĩa là đe dọa giới truyền thông, bằng cách đe dọa dùng bạo lực, chẳng hạn: chống các thẩm phán của Tòa án Tối cao, những người đã phủ nhận quyền phá thai của con người, hoặc chống một nữ giáo sư tại Đại học Humboldt – ngày trước là hiện thân của chuẩn mực khoa học Đức – người muốn giải thích sự thật hiển nhiên về mặt sinh học của tính chất lưỡng tính con người, nếu không có điều này  thì sẽ không có cá nhân con người và ngay cả những người nổi loạn chống lại nó.

Rilinger: Chỉ trích Trật tự Thế giới Mới được mô tả rộng rãi như một âm mưu nhằm thu hẹp cuộc thảo luận trong trứng nước. Cha có thể giải thích lý do của việc cấm thảo luận này không?

Hồng y Müller: Hệ tư tưởng chỉ biết hoặc bạn bè, người phục tùng họ như kẻ ngu ngốc với những tiếng reo hò hoan hô, hoặc kẻ thù, người mà họ cho là phải tiêu diệt – tốt nhất là giết thể lý, nếu hệ thống cho phép, hoặc theo cách văn minh hơn một chút bằng cái chết của xã hội như cơn bão tố, tẩy chay công khai, sa thải hoặc bằng cách làm cho nó biến mất trong vòng xoáy của im lặng.

Khi một người bị bách hại về thể chất và bị khủng bố trong tinh thần, trong cơn tuyệt vọng họ tư tử, những kẻ hành hạ họ biện minh một cách đồi bại họ đã đúng khi loại bỏ những kẻ có hại, đó chính xác là cách của nói của Đức Quốc xã và nước Nga Xô Viết. Không thương xót và lòng ghét người đi song song với nhau.

Rilinger: Một hình thức cấm thảo luận khác là việc khẳng định ý kiến của mình là không thay thế được. Việc khẳng định không có gì thay thế có phải là đòi hỏi ý kiến của mình phải được xem là tuyệt đối không?

Hồng y Müller: Trong những chuyện đã hoàn thành, luôn có một số khía cạnh và quan điểm cần xem xét. Chỉ có sự phân biệt giữa đúng và sai, giữa thiện và ác là không có sự thay thế, bởi vì nó dựa trên bằng chứng về các nguyên tắc của nó. Tất nhiên, cũng có những sự thật không thể thay đổi trong những điều thực tế, như sự thật một ngôi nhà sẽ đổ nát nếu nó không xây trên nền tảng vững chắc. Nhưng đây là những nguyên tắc cơ bản vật lý, toán học hoặc triết học chung. Ngay cả trong vùng đất cát, người ta có thể xây nhà nếu họ đặt được nền móng tốt. Đó là lý do vì sao ý kiến cho rằng bạn không thể xây các thành phố trong cát ở Marche không phải là không có giải pháp thay thế. Do đó, người ta không nên sử dụng từ vựng này để ngăn chặn các cuộc thảo luận và tranh cãi chính đáng và thoải mái dành cho mình những lập luận tốt nhất.

Jilinger: Diễn ngôn triết học / chính trị về Trật tự Thế giới Mới có phải là diễn ngôn cần thiết để chứng tỏ sức mạnh kinh tế bất khuất của một số người có thể dẫn dắt các xã hội và các Quốc gia  không?

Hồng y Müller: Sự thống trị phóng túng về mặt đạo đức của các hệ tư tưởng, chính trị gia, các nhà kinh tế trên con người trong một thế giới  nhất thiết phải dẫn đến sự thiếu vắng tự do, áp bức và tiêu diệt những đối thủ không mong muốn hoặc những người vô dụng với hệ thống.

Văn hóa cái chết thổi bùng lên toàn thế giới với tư tưởng mê sảng về quyền được phá thai, quyền được tự làm hại bản thân (trong chuyển đổi giới tính vĩnh viễn), chết êm ái cho những người quá chán cuộc sống, những người bị bệnh nan y, người già bị cho là sống thực vật vô ích mà việc giết người sẽ được cho là một hành động nhân ái.

Rilinger: Tính cách kitô hữu ngày càng phải bị lại ra khỏi các diễn văn chính trị. Điều này có phá hủy nền tảng mà thế giới phương Tây xây dựng trên đó không?

Hồng y Müller: Nếu không có kitô giáo – với nguồn gốc của nó trong lịch sử là mặc khải của Chúa ở Israel, trong đó cũng là di sản tốt nhất của văn hóa hy lạp và la mã, liên kết với di sản của toàn nhân loại – Châu Âu và Châu Mỹ sẽ chỉ là những vùng lãnh thổ trống rỗng, trên đó chỉ có chợ búa và là nơi sinh sống của những cư dân vô danh, những người sống dưới dạng tồn tại của một người máy.

Rilinger: Cha tuyên bố trong bài phát biểu, những người rất giàu có như Bill Gates hay nhà đầu tư George Soros muốn áp đặt trật tự thế giới mới. Chính xác thì ý định của hai người này là gì và họ có khả năng gì để áp đặt ý tưởng của họ?

Hồng y Müller: Hai người này đại diện, bằng chính sự xác nhận của họ, rằng Trật tự Thế giới Mới mà họ muốn thiết lập theo hình ảnh và theo sự giống nhau của họ. Không ai khác ngoài Chúa mới có thể phán xét động cơ cá nhân của họ. Nhưng chương trình và hành động của họ có thể đến được với tất cả mọi người, vì vậy chúng ta cũng có thể đánh giá chúng theo tác động tích cực hay tiêu cực của chúng. Nội dung trí tuệ trong những đóng góp của họ khá khiêm tốn, nếu xét đến lịch sử tri thức và văn hóa của nhân loại, thì bất kỳ học sinh bình thường nào trong những học kỳ đầu tiên cũng có thể đạt được ở bất cứ môn học nào.

Phản ứng trước các nhận xét chỉ trích của tôi, một số phát ngôn viên ở Đức đã ồn ào và hạ thấp đầu óc để tìm hình mẫu bài do thái trong việc tương đối hóa những nhận xét của ông Soro, đơn giản chỉ vì ông là người do thái. Theo quan điểm của chủ nghĩa “bài do thái” chính trị và phân biệt chủng tộc trong thế kỷ 19 và 20 nhuốm màu bài-kitô giáo được bảo vệ bởi Heinrich Treitschke, Bernhard Fưrster, anh rể của triết gia  Nietzsche, Richard Wagner, Houston Chamberlain, Alfred Rosenberg và Adolf Hitler, điều duy nhất chúng ta có thể nói trong tư cách là người tín hữu kitô, Chúa Giêsu cũng sinh ra là người do thái, và chính nơi Ngài mà chúng ta, kitô hữu của bất cứ quốc gia nào cũng đặt tất cả hy vọng vào, cho cuộc sống và cho khát vọng của chúng ta. Ở Đức, bối cảnh trí thức không những bị ô nhiễm về mặt ý thức hệ, nhưng còn rên rỉ dưới sự kém cỏi về trí tuệ và đạo đức của những loa phát thanh toàn trị ồn ào nhất.

Rilinger: Việc xây dựng Trật tự Thế giới Mới có được xem là tuyệt đối và bất khả xâm phạm nên mọi chỉ trích đều bị cấm không?

Hồng y Müller: Đó là dấu hiệu không thể chối cãi của sự thống trị toàn trị, rằng những lời chỉ trích phải bị hình sự hóa. Chúng ta không thể làm tốt hơn những gì triết gia do thái Hannah Arendt đã nêu bật liên quan đến Đệ tam Đế chế và có thể so sánh với chủ nghĩa Stalin, như bà đã viết năm 1951 trong quyển sách “Chủ nghĩa bài do thái, chủ nghĩa đế quốc, sự thống trị hoàn toàn” (Elemente und Ursprünge totaler Herrschaft, Munich 2021).

Jilinger: Ngay cả khi một trật tự thế giới mới phải được tạo ra mà không có Chúa – Francis Fukuyama, trong quyển sách “Làm thế nào xã hội chúng ta phát minh ra một trật tự mới” (Comment notre société invente un nouvel ordre) cho rằng một sự phục hưng tôn giáo sẽ diễn ra. Tuy nhiên, không phải vì mọi người được thuyết phục về chân lý của điều mặc khải, nhưng vì họ “cảm thấy có một nhu cầu cần các nghi lễ của tổ tiên và của văn hóa truyền thống đứng trước sự thiếu vắng cộng đồng và sự tan rã của các mối ràng buộc xã hội trong thế giới thế tục”. Cha có thể chia sẻ tầm nhìn về sự trở lại của tôn giáo và hình dung ra một tiếp nhận rộng rãi và mạnh mẽ hơn với kitô giáo không?

Hồng y Müller: Tôn giáo không trở lại như một hiện tượng tự nhiên mà nó kêu gọi một cái khác. Tôn giáo, với tư cách là một định hướng và thái độ tinh thần và đạo đức nhằm mục đích đưa cả thế giới trở lại với quyền năng cao hơn của thần thánh và cảm nhận một sự tôn kính cho bản chất thiêng liêng của sự sống, không thể tách rời khỏi bản chất con người. Nó khác với đức tin siêu nhiên được Chúa Thánh Thần thổi vào chúng ta và làm cho chúng ta có thể cảm nhận trọn vẹn trong lời Ngài nói với chúng ta, bằng trí thông minh và ý chí của chúng ta. Trong dụ ngôn về quan tòa gian ác đã tước đoạt quyền lợi của một bà góa nghèo, Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?.. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 6).

Sự suy tàn Giáo hội ở Đức và Châu Âu không phải do thế tục hóa, cuộc đấu tranh chống lại Giáo hội của các chế độ độc tài toàn trị, và Xung đột văn hóa, Kulturkampf từ Bismarck đến xã hội Giordano Bruno, nhưng do thiếu đức tin, do hy vọng yếu ớt, do tình yêu đã nguội lạnh. Những người công giáo đã được rửa tội và được thêm sức, những người cho phép mình dễ bị mê hoặc bởi tiếng còi của thế giới hơn là lắng nghe tiếng nói của Vị Mục Tử Nhân Lành của họ và đi theo Người.

Rilinger: Chúng tôi xin kính cám ơn hồng y.

Marta An Nguyễn dịch

Bài đọc thêm: Một chính sách không có định hướng tôn giáo và đạo đức sẽ dẫn nhân loại đến vực thẳm của sự tự hủy diệt