Home Blog Page 186

Bà Geneviève de Galard, y tá “can đảm” của trận Điện Biên Phủ qua đời, thọ 99 tuổi

Bà Geneviève de Galard, y tá “can đảm” của trận Điện Biên Phủ qua đời, thọ 99 tuổi

famillechretienne.fr, Chloé Masero, 2024-05-31

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân đội Pháp ngừng chiến đấu ở Đông Dương. Bà Geneviève de Galard, “Thiên thần của Điện Biên Phủ” tiếp tục săn sóc bệnh nhân. Bảy mươi năm sau, ngày 31 tháng 5 bà qua đời, thọ 99 tuổi. Năm 2021 bà trả lời phỏng vấn báo Gia đình Kitô giáo.

Bà Geneviève de Galard, y tá trong trận Điện Biên Phủ, chụp hình ở trụ sở của Quân đoàn Nước ngoài ở Aubagne ngày 30 tháng 4 năm 2004. GERARD JULIEN / AFP

Từ thời của bà, bà Geneviève de Galard được báo chí vinh danh, bà đi vào lịch sử khi làm y tá trong trại tập trung Điện Biên Phủ. Can đảm không phải là một đức tính đã biến mất, lòng can đảm luôn là một đức tính vẫn trường tồn. Năm 2021, bà trả lời với báo Gia đình Kitô giáo: “Chúng ta đang sống trong thời kỳ khó khăn của đại dịch. Mỗi người phản ứng theo cá tính và giáo dục mình đã nhận. Các thanh niên Opex phục vụ ở Phi châu thể hiện lòng dũng cảm của họ.”

Máy bay trúng đạn và bốc cháy

Bà không còn nhớ tên những người lính trẻ nhưng bà nhớ khuôn mặt của họ. Năm 1953, chính lòng dũng cảm đã khuyến khích cô y tá trẻ lên đường đi đến vùng Đông Dương xa xuôi. Bà phụ trách đưa thương binh về. Khi Việt Minh mở cuộc tấn công vào căn cứ Điện Biên Phủ, bà đi như con thoi trên các chuyến bay Dakota. Ngày 28 tháng 3 năm 1954, máy bay bị bắn hạ và bốc cháy. Không thể đi tiếp. Bà tiếp tục làm việc trong đức tin và sỉ nhục.

Nhiệm vụ chính: phải cứu những người lính trẻ này, đưa họ về nơi an toàn để tối thiểu họ được săn sóc, nâng đỡ họ trong lời cầu nguyện. Bác sĩ Grauwin viết: “Không ai có thể thay thế một cô gái trẻ ở bên đầu giường của một thương binh, vì với sự dịu dàng kiên nhẫn, với nữ tính nhẹ nhàng, bà là người săn sóc giỏi nhất, chuyên nghiệp nhất.” Sau thời gian săn sóc thương binh trong bệnh viện dã chiến, khi về Pháp bà nổi tiếng một cách bất ngờ, đại tướng De Castries phong huân chương Bắc đẩu Bội tinh cho tinh thần hy sinh quên mình của bà, lúc đó bà mới 29 tuổi.

Lòng can đảm, sức mạnh tinh thần

77 năm sau, bà cho biết, can đảm là đức tính đi theo hành động của bà: “Lòng can đảm là sức mạnh tinh thần giúp chúng ta lựa chọn con đường khó khăn dù chúng ta không đủ sức. Trung thành với điều chúng ta cần, được chuẩn bị sẵn sàng dù gặp khó khăn. Lòng can đảm không phải là cái gì có thể ép buộc, nhưng là một công việc: tôi không thể kiếm tiền mà không cần cố gắng hết sức, để nếu tôi không kiếm được thì tâm hồn tôi cũng được bình an. Trong thời kỳ đại dịch, vượt lên giai đoạn phức tạp và bất định, chúng ta phải có những quyết định, phải can đảm để có những quyết định dù phải gặp rất nhiều khó khăn.”

Một tình huống khó khăn cho người đã đi khắp thế giới bây giờ phải bó chân trong cách ly. Tuy nhiên, sức mạnh này mang lại bình yên cho cuộc sống, năm 96 tuổi bà nói “lòng can đảm vẫn còn để tôi chấp nhận tiếp tục sống sau khi không còn khả năng làm việc”.

Một tấm gương của lòng can đảm trong mọi hoàn cảnh.

Marta An Nguyễn dịch

Bà Geneviève de Galard, y tá trong trận Điện Biên Phủ

Quan hệ Trung Quốc-Vatican: “Giáo Hoàng kết nối lại với truyền thống Dòng Tên”

Quan hệ Trung Quốc-Vatican: “Giáo Hoàng kết nối lại với truyền thống Dòng Tên”

la-croix.com, Thomas Tanase, 2024-05-28

Giảng viên môn lịch sử trung cổ tại Đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne, tác giả quyển “Lịch sử các Giáo hoàng ở phương Tây” (Histoire de la papauté en Ocident, nxb. Folio History, 2019)

Sau hội thảo về Trung Quốc tổ chức tại Vatican, Trung Quốc được đón nhận rất thuận lợi, sử gia Thomas Tanase đề nghị đọc lại lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc và Giáo hội, ông nhận xét giáo hoàng đang nối kết lại với truyền thống Dòng Tên, không tìm cách áp đặt “kitô giáo phương Tây” lên Trung Quốc.

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại Quảng trường Thánh Phêrô. ETTORE FERRARI / EFE

Kitô giáo luôn có một lịch sử ở Á châu, từ năm 635, người kitô giáo nestorian đã đến thủ đô Tây An. Vào thế kỷ 19, Trung Quốc đóng cửa với các tôn giáo “ngoại lai”, người nestorian về lại vùng  dân tộc thảo nguyên gần Mông Cổ.

Chính nhờ lịch sử này mà Giáo hội la-mã đã nối kết lại với Trung Quốc vào hậu bán thế kỷ 13, khi nhà thám hiểm Marco Polo gặp Hoàng đế Hốt Tất Liệt, cháu của Thành Cát Tư Hãn ở Bắc Kinh. Năm 1294, tu sĩ dòng Phanxicô Montecorvino đến Bắc Kinh mở hai tu viện. Tuy mang lại ít kết quả, nhưng châu Âu sẽ không quên chân trời này cho đến khi Christopher Columbus lên đường đi hoán cải các đại hãn.

Một thời đại mới bắt đầu, Đại Tây Dương và Châu Đại Dương là bước đường đưa các tu sĩ Dòng Tên đến Trung Quốc theo bước chân của Thánh Phanxicô Xaviê. Họ tạo ấn tượng với khoa học châu Âu. Linh mục Dòng Tên Matteo Ricci qua đời ở Bắc Kinh năm 1610, những người kế vị ngài cố gắng hoán cải giới tinh hoa, họ truyền kitô giáo qua lò luyện kim của triết gia Aristote, được dịch sang tiếng Trung Quốc như một thành tựu của Nho giáo. Năm 1689, các tu sĩ Dòng Tên thay mặt hoàng đế Khang Hy đàm phán Hiệp ước Nerchinsk với Nga. Họ cũng giới thiệu người châu Âu đến Trung Quốc.

Mô hình áp đặt của phương Tây

Tuy nhiên, người Trung Quốc không ấn tượng với chủ nghĩa của triết gia Aristote. Ở châu Âu, triết gia Pascal phản đối chủ nghĩa tương đối của Dòng Tên, và cuối cùng những người cho rằng họ quá hòa giải đã thắng. Giáo hoàng Clement nói về một kitô giáo phương Tây được hình thành trong hơn một thiên niên kỷ.

Thế kỷ 19 chứng kiến sự trỗi dậy mới của kitô giáo, đó là kitô giáo, hoặc chính thống giáo được Nga thúc đẩy, tin lành kiểu Mỹ mà Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch đã theo. Nhưng do sự nhượng bộ với nước ngoài mang lại, thời đại mới của kitô giáo lại liên quan đến việc bành trướng thuộc địa. Và việc buộc phải bước vào nền văn minh hiện đại của phương Tây ở thế kỷ 20, đã làm cho Trung Quốc qua một thời kỳ đầy những thảm họa có lẽ chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Cuối cùng, Trung Quốc xây dựng một mô hình khác với mô hình phương Tây, mô hình của một Đảng Cộng sản tiêu diệt kitô giáo và các tôn giáo truyền thống, cao điểm là Cách mạng Văn hóa.

Chính quyền chống kitô giáo

Kitô giáo quay lại vào đầu những năm 1980, nhưng về cơ bản là theo mô hình Mỹ, kể cả công giáo mà trung tâm là thành phố Hồng Kông. Ngày nay đạo tin lành đã phát triển mạnh ở các đô thị, dù chính quyền vẫn chống kitô giáo. Xuất phát từ hệ tư tưởng mác-xít, họ đồng hóa kitô giáo với ảnh hưởng của phương Tây theo mô hình Mỹ.

Trung Quốc-Vatican: sau một hội nghị chưa từng có, Vatican sẵn sàng thấy Giáo hội mang “bộ mặt Trung Quốc”

Vatican tổ chức một hội nghị chưa từng có về quan hệ với Trung Quốc

Dưới ánh sáng của toàn bộ lịch sử này, thỏa thuận tạm thời giữa Trung Quốc và Tòa thánh được ký năm 2018 trên nền tảng của những người ủng hộ chủ nghĩa Đại Tây Dương, xác định kitô giáo được truyền bá với các giá trị phương Tây và mô hình Anglo-Saxon, đồng thời hy vọng sự sụp đổ của quyền lực cộng sản mà không ai có thể đo lường được tác động của nó đã gây ra, đặc biệt là về mặt lịch sử Trung Quốc ở thế kỷ 20.

Xoa dịu xung đột

Tuy nhiên, ngoài việc Trung Quốc đang ở một chân trời hoàn toàn khác so với các nước phương Đông trong quá khứ, thái độ này dường như phần lớn hướng về quá khứ trong khi Trung Quốc ngày nay là trung tâm của một nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa và đa cực, điều này làm cho sự thống trị của phương Tây theo mô hình hai thế kỷ vừa qua là không thể có trong tương lai. Nhạy cảm với sự biến đổi này, Đức Phanxicô, giáo hoàng đến từ nam bán cầu, đứng đầu một Giáo hội công giáo toàn cầu hóa, đã chọn cách xoa dịu cuộc xung đột. Ngài dần dần tạo mối liên kết giữa đạo công giáo và Trung Quốc, dù trong ngắn hạn Giáo hội vẫn còn bị đàn áp bất chấp đã có thỏa thuận.

Vì thế Đức Phanxicô kết nối lại với toàn bộ truyền thống Dòng Tên, nói rộng hơn là truyền thống của một châu Âu cổ đại ngày nay đang gặp khủng hoảng, được tạo nên từ chính sách thực tế, kiên nhẫn và để thời gian làm việc. Sự cân bằng này có vẻ bấp bênh với sự gia tăng càng ngày càng đối đầu toàn cầu giữa một phương Tây hậu-kitô giáo, tập trung vào thế giới Anglo-Saxon, và những kẻ thù của nó chung quanh một Trung Quốc liên minh với Nga.

Trên thực tế, các áp lực luôn rất mạnh và ngày càng tăng để không gia hạn và hủy bỏ thỏa thuận. Nhưng Đức Phanxicô luôn hy vọng vào thế giới ngày mai, Vatican trông coi một lịch sử phức tạp sẽ có thể trở thành tác nhân đối thoại để xây dựng những cây cầu nối kết các nền văn minh, tạo thuận tiện cho đạo công giáo ở Trung Quốc và các nơi khác.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Một nửa chủng sinh, linh mục và giám mục là người đồng tính

Một nửa chủng sinh, linh mục và giám mục là người đồng tính
otheo.be, Linh mục Dòng Tên Jos Moons, 2024-05-30
Dù sao đây là điều mà linh mục Dòng Tên Jos Moons khẳng định (một cách vô cớ) trên mạng Otheo, nói lên rất nhiều điều về nhận thức của chúng ta có về Giáo hội ở một số nước nói tiếng flamăng.
Mạng Otheo gồm các trang mạng Kerknet, Kerk & LevenHalewijn.
Vì sao người đồng tính luôn bị chú ý?
Linh mục Dòng Tên Jos Moons: Thảo luận lời của Đức Phanxicô nói về người đồng tính, các chủng viện và chức linh mục, nói lời tiêu cực thì không phục vụ được ai nhưng phải đối diện với thực tế và phải có lòng biết ơn. Có rất nhiều chủng sinh, linh mục và giám mục đồng tính, theo tôi, có ít nhất một nửa trong số họ kể cả ở Hà Lan và Vatican. Đức Bênêđíctô XVI rất có thể là người đồng tính, và John Henry Newman hay linh mục Dòng Tên Gerard Manley Hopkins cũng vậy. Ngoài ra, chúng ta phải biết ơn tất cả những gì các giáo sĩ đồng tính mang lại cho Giáo hội, như linh mục Dòng Tên James Martin đã nói: họ đã chôn cất cha mẹ bạn, họ là người lắng nghe bạn trong các chuyến đi hành hương, họ là người dạy dỗ con cái bạn…
Vậy là không có vấn đề gì phải không?
Tôi nghĩ vậy. Thường xuyên nghi ngờ và quan tâm thái quá đến các linh mục đồng tính không góp phần vào sự hội nhập lành mạnh. Tránh né dường như là điều tốt nhất nên làm, vì bạn sẽ không bị từ chối, không bị tổn thương. Có thể nói vấn đề đã được giải quyết. Nhưng về mặt tâm lý, lại xảy ra điều hoàn toàn ngược lại: những gì bị che giấu luôn lộ ra. Dưới hình thức giả vờ tán tỉnh, chú ý quá mức đến hương trầm hay phẩm phục phụng vụ, có một khắc nghiệt lạnh lùng… Kể cả loại văn hóa đồng tính ngầm như Đức Phanxicô đề cập đến. Tóm lại, lời nói của ngài phản tác dụng.
Thường xuyên nghi ngờ và quan tâm thái quá với các linh mục đồng tính không góp phần vào sự hội nhập lành mạnh.
Khách quan mà nói, khó cho một chủng sinh hay một tu sĩ đồng tính sống với những người có thể thu hút họ hơn là một chủng sinh dị tính, vì họ phải luôn cảnh giác. Vì thế với những bình luận chỉ trích, giới lãnh đạo Giáo hội đang gậy ông đập lưng ông.
Vì sao luôn có sự chú ý đến người đồng tính như vậy? Chỉ cần là người đồng tính, đương sự phải luôn đối diện với những cú đập.  Suy cho cùng, người dị tính cũng có thể có “khuynh hướng sâu đậm”; chúng ta không nên nói về họ sao? Còn những linh mục có nhân tình thì sao? Thêm một lần nữa, hội nhập là con đường phải đi. Vì sao lại luôn nhấn mạnh đến giới tính? Môi trường, quan tâm đến người nghèo, tầm quan trọng của việc tiếp tục nghiên cứu thần học, sự tế nhị thiêng liêng…, tất cả những chuyện này cũng quan trọng vậy.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
 
Đã đến lúc Đức Phanxicô hiểu được sự nguy hiểm khi nói chuyện bất cẩn

Đã đến lúc Đức Phanxicô hiểu được sự nguy hiểm khi nói chuyện bất cẩn

Đã đến lúc Đức Phanxicô hiểu được sự nguy hiểm khi nói chuyện bất cẩn

catholicherald.co.uk, 2024-05-29

Giáo hoàng là đại diện của Chúa Kitô trên trái đất, là nhà lãnh đạo thiêng liêng của Giáo hội. Nhưng ngài có thể là người thiếu thận trọng về mặt con người.

Đức Phanxicô đã phải xin lỗi người đồng tính sau khi dùng lời lẽ khiếm nhã (frociaggine) với họ trong một cuộc họp kín với các giám mục Ý và bị trang Dagospia đưa ra; ngài dùng từ ngữ này để trả lời cho câu hỏi liệu có nên nhận người đồng tính nam vào chủng viện hay không. Dĩ nhiên người đồng tính nói chung không mấy thích.

Lời xin lỗi của Vatican rất rõ ràng: ông Matteo Bruni, giám đốc văn phòng báo chí Vatican cho biết: “Đức Phanxicô biết có các bài báo đưa tin về cuộc nói chuyện kín đáo với các giám mục Ý. Ngài không bao giờ có ý xúc phạm hoặc nói những từ ngữ kỳ thị người đồng tính, ngài xin lỗi những ai cảm thấy mình bị xúc phạm khi ngài dùng một từ ngữ của người khác đưa tin.”

Lời nói gây sốc của Đức Phanxicô về các chủng sinh đồng tính trong các chủng viện Ý

Như ngài đã nói nhiều lần: “Trong Giáo hội có chỗ cho mọi người, không ai là không hữu ích, không ai là người thừa, luôn có chỗ cho tất cả mọi người. Cho tất cả chúng ta.”

Điều đáng nói ở đây, cuộc nói chuyện này trong bối cảnh một cuộc họp kín của các giám mục Ý, lý ra họ nên nhắc ngài cẩn thận trong lời nói: các giám mục cũng có những người ‘buôn chuyện’, ngài không nên ảo tưởng về chuyện này. Thêm nữa, ngài hay dùng các từ ngữ trần tục, trong cuộc gặp trước đây với các chủng sinh, ngài cũng đã gây sốc với từ ngữ thông tục của ngài. Giáo hoàng là con người, nhưng vì tiếng nói của các ngài có tiếng vang trong thế giới công giáo cũng như trên toàn thế giới, nên ngài lại càng phải cẩn thận hơn.

Về câu hỏi người đồng tính có nên được nhận vào chủng viện hay không, ngài nói dù quan trọng là phải đón nhận mọi người, nhưng rất có thể một người đồng tính có thể có nguy cơ sống hai mặt.

Điều quan trọng ở đây là phải phân biệt người đồng tính tích cực và người có khuynh hướng đồng tính. Đã có nhiều người đồng tính trong chủng viện, trong hàng giáo sĩ. Quan trọng không phải định hướng tình dục của chủng sinh, nhưng quan trọng là đời sống này thăng hoa khi họ hy sinh đời sống độc thân, không phải để làm khổ nhưng để được trọn vẹn phục vụ dân Chúa. Nhiều linh mục đã là những mục tử gương mẫu.

Điều mà Đức Phanxicô nghĩ đến là tình trạng của một số chủng viện nổi tiếng về tình trạng đồng tính mạnh mẽ trong hàng ngũ nhân viên và thành viên, các chủng sinh vô tội phải tiếp xúc với loại văn hóa đồi trụy này. Văn hóa này đã dẫn đến việc phong các linh mục sống hai mặt, thiếu chính trực về mặt thiêng liêng. Những người này không có chỗ trong Giáo hội.

Chúng ta hy vọng Đức Phanxicô sẽ cẩn thận hơn khi dùng từ ngữ thô tục và không ảo tưởng của cái gọi là nói chuyện kín đáo ở Rôma.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô xin lỗi sau khi dùng từ ngữ xúc phạm người đồng tính

Tôi là linh mục đồng tính. Chúng tôi cần nhiều hơn một lời xin lỗi của Đức Phanxicô

Tôi là linh mục đồng tính. Chúng tôi cần nhiều hơn một lời xin lỗi của Đức Phanxicô

americamagazine.org, Bryan N. Massingale, 2024-05-29

Đức Phanxicô tại cuộc họp mặt thường niên của các tổ chức ủng hộ gia đình tại Auditorium della Conciliazione, Rôma ngày thứ sáu 10 tháng 5 năm 2024. (Ảnh AP/Alessandra Tarantino)

Tôi là linh mục đã công khai tuyên bố tôi thuộc về cộng đồng L.G.B.T.Q. Là người đồng tính nam, tôi bị sốc và đau buồn nghe Đức Phanxicô có lời lẽ xúc phạm khi ngài nói chuyện với các giám mục Ý. Khi biện minh cho việc từ chối người đồng tính nam vào chủng viện, ngài đã nói có quá nhiều “frociaggine, làm tình bằng hậu môn” trong các chủng viện. Chúng ta cần làm rõ lời nói này để hiểu cuộc tranh cãi. Từ này là một thuật ngữ thô tục, xúc phạm thường dùng để miệt thị người đồng tính nam.

Để trả lời, Vatican tuyên bố giáo hoàng đã biết về những báo cáo này và dù không trực tiếp xác nhận ngài đã nói từ này, nhưng vẫn thông báo: “Giáo hoàng không bao giờ có ý xúc phạm hoặc nói những thuật ngữ kỳ thị đồng tính, và ngài xin lỗi những người cảm thấy mình bị xúc phạm khi ngài dùng lại thuật ngữ của người khác đã báo cáo.”

Tôi hoan nghênh lời xin lỗi của ngài. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì ngài không cố ý xúc phạm. Nhưng bất kỳ quan sát viên chân thực nào cũng cho rằng việc này đã làm tổn hại nghiêm trọng đến việc ngài đã cởi mở chưa từng có với các thành viên của cộng đồng L.G.B.T.Q.

Để hiểu tầm quan trọng của việc ngài dùng từ ngữ thô tục này, chúng ta phải phân biệt giữa mục đích và tác động lời nói của ngài. Một số tìm cách hạ thấp tất cả những điều này, đó chỉ là vấn đề lựa chọn từ ngữ không may hoặc dùng một cách bất cẩn. Một số xem đây không gì khác hơn là sự hiểu biết không chính xác của một người đã lớn tuổi về một ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ. Nhưng một số cho rằng ngài đã nói tiếng Ý từ khi còn nhỏ.

Tất cả điều này có thể đúng. Nhưng dù mục đích của ngài là gì, dùng từ ngữ như vậy là mất nhân tính. Những lời nói xấu và những từ xúc phạm có lẽ quá dễ dàng cho những người không phải là người trong cuộc nên họ bỏ qua. Nhưng xin đừng nhầm: những lời nói xúc phạm hạ thấp nhân tính của một nhóm thiểu số tình dục. Chúng khiến chúng ta phải xem lại nhân tính của mình.

Hơn nữa, tác hại còn vượt xa những người bị xúc phạm trực tiếp vì lời nói kỳ thị người đồng tính này là của giáo hoàng. Việc ngài dùng ngôn ngữ như vậy nhằm hỗ trợ cho các chính sách công làm nguy hiểm cuộc sống của các nhóm thiểu số tình dục trên thế giới. Những người tìm cách loại những người đồng tính nam, đồng tính nữ và chuyển giới khỏi đời sống xã hội và khỏi sự bảo vệ pháp lý có thể –họ sẽ nhận được khuyến khích trong những lời của giáo hoàng.

Đúng, tôi biết Đức Phanxicô đã kêu gọi phi hình sự hóa đồng tính. Tuy nhiên, việc ngài dùng từ ngữ xúc phạm không thể làm giảm đi thông điệp của ngài: tất cả đều có “phẩm giá vô hạn” cần được mọi người tôn trọng. Chúng ta cần nhiều hơn một lời xin lỗi.

Các câu hỏi và các vấn đề khác

Lời xin lỗi của ngài tuy được hoan nghênh và cần thiết, nhưng lại đặt ra nhiều câu hỏi và mối lo ngại hơn nữa. Thứ nhất, những nhận xét này được đưa ra trong bối cảnh thảo luận về việc người đồng tính nam công khai có nên được nhận vào chủng viện hay không. Một số cho rằng Đức Phanxicô chỉ đơn giản nhắc lại chính sách chính thức của Giáo hội đã được Vatican làm rõ năm 2005 và khẳng định lại năm 2016.

Tuy nhiên, chính sách này của Vatican đã bỏ qua thực tế là hiện nay luôn có nhiều giám mục và linh mục đồng tính trung thành và quảng đại phục vụ Giáo hội. Việc từ chối người đồng tính nam vào chủng viện ngụ ý những người này có những khiếm khuyết hoặc thiếu sót về mặt đạo đức mà người đàn ông dị tính không mắc phải. Chính sách này cho rằng có một mức độ tội lỗi hoặc thiếu đạo đức ở những người đồng tính nam mà những người đàn ông dị tính không có, điều đó sẽ tự động loại những người đồng tính nam khỏi chức tư tế.

Tuy nhiên, kinh nghiệm hơn 40 năm làm linh mục của tôi cho thấy điều này không đúng. Mọi người thuộc mọi khuynh hướng tình dục đều sống độc thân tốt. Các linh mục thuộc mọi khuynh hướng tình dục có khi phải đấu tranh với việc sống độc thân. Đôi khi những cuộc đấu tranh này làm nảy sinh tai tiếng, kể cả giáo sĩ đồng tính và dị tính. Và “những nhóm buôn chuyện khép kín” – điều mà một số Tiểu bang thực sự lo ngại đằng sau việc Đức Phanxicô dùng từ ngữ xúc phạm – không phải chỉ dành riêng cho những người đồng tính nam. Lệnh cấm hoàn toàn với tất cả những người đồng tính nam cũng không phải là giải pháp chính đáng cho một vấn đề như vậy.

Khuynh hướng tình dục không phải là vấn đề quyết định tính hiệu quả của mục vụ, cũng không phải là lý do duy nhất để loại người muốn vào chủng viện hay vào nhà dòng.

Vấn đề sâu đậm nhất

Nếu ai cũng biết có nhiều người đồng giới phục vụ Giáo hội một cách có trách nhiệm trong tư cách là người lãnh đạo được phong chức, thì vấn đề thực sự là gì? Tôi nghĩ cuộc tranh cãi về việc giáo hoàng dùng từ ngữ làm mất nhân tính và việc công khai từ chối nhận người đồng tính vào chủng viện cho thấy một vấn đề sâu sắc nhất trong Giáo hội: Những người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính, chuyển giới và đồng tính có hoàn toàn bình đẳng với nhau trong nhiệm thể Chúa Kitô không? Sự tranh cãi về nhận xét của Đức Phanxicô đã phản ánh câu trả lời: hiển nhiên là chưa.

Đức Phanxicô hay nói “mọi người” đều được chào đón trong Giáo hội, vòng ôm của Giáo hội mở ra cho tất cả mọi người. Trong những Ngày Thế Giới Trẻ, ngài đã nói: “Tất cả, tất cả, tất cả.” Nhưng những lời của ngài và chính sách của Vatican về việc nhận chủng sinh vào chủng viện cho thấy tất cả đều có thể được đón nhận nhưng không được đón nhận như nhau. Hoặc chỉ đón nhận với điều kiện họ phải chấp nhận có điều gì đó thiếu sót ở họ, ngay cả khi họ sống độc thân. Và nếu họ được chịu chức, thì họ sẽ không được công khai thừa nhận giới tính của mình.

Điều này thu hút sự chú ý đến một câu hỏi khác đằng sau nhận xét của giáo hoàng: Giáo hội thực sự có thể đón nhận như thế nào khi Giáo hội chính thức mô tả tình dục không dị tính là “rối loạn khách quan”, một từ ngữ tập trung vào tình trạng đạo đức của các hành vi tình dục hơn là vào hiểu biết chính mình của những người mà Giáo hội mô tả?

Nếu chúng ta thực sự nghĩ rằng tính dục  của những người L.G.B.T.Q. “thấp kém hơn” các hình thức tính dục khác, thì việc dùng những lời nói xấu, lăng mạ và các hình thức hạ thấp nhân phẩm khác cũng không có gì đáng ngạc nhiên. 

Từ đó chúng ta sẽ đi đến đâu?

Trong một phỏng vấn về chủ đề này, một phóng viên BBC đã hỏi tôi một câu hỏi cá nhân: là linh mục đồng tính, cha có gặp khó khăn với cách lãnh đạo của cấp trên của cha không? Và giáo hoàng phải làm gì để phục hồi lại những thiệt hại do những nhận xét của ngài gây ra?

Tôi trả lời rằng tôi không biết bất kỳ nhóm L.G.B.T.Q nào. Người công giáo không đấu tranh cho vị trí của mình trong Giáo hội. Tôi cảm thấy bị sốc, thậm chí có phần bị phản bội, khi một giáo hoàng nói như vậy với những người như tôi, dù tôi chấp nhận ngài không ác ý. Tôi xin nhắc lại, để hiểu tầm quan trọng của sự kiện này, chúng ta phải nhận ra sự khác biệt giữa mục đích và tác động lời nói của ngài.

Dù vậy tôi nghĩ, nguyên do của những chuyện này một phần là do đã có sự cởi mở mới trong Giáo hội. Mọi giáo phái kitô giáo hiện nay đã có lập trường chấp nhận hoàn toàn với người L.G.B.T.Q., trước đây các giáo sĩ đồng tính bị loại trừ. Trong những nhà thờ này, những mục tử không phải là người dị tính phải làm việc với tư cách là người có khiếm khuyết về mặt đạo đức và tâm lý. Họ thường bị nghi ngờ và thậm chí bị ra khỏi sứ vụ.

Tuy nhiên, đó là do các mục tử này vẫn tiếp tục phục vụ nhà thờ của họ và phục vụ người L.G.B.T.Q. Các tín hữu tiếp tục thuộc về Giáo hội bất chấp sự phản đối chính thức mà họ phải đối diện, cộng đồng đức tin của họ đã có được những hiểu biết chính xác hơn về tình dục con người và cái nhìn sâu sắc hơn về sức mạnh của Thánh Linh trong Giáo hội.

Nói cách khác, điều làm cho tôi được an ủi là Giáo hội công giáo đang trải qua những cuộc đấu tranh tương tự mà các tổ chức Tân giáo, Lutheran, Methodist, Presbyterian và các tín ngưỡng kitô giáo khác đã phải chịu đựng khi họ đấu tranh với những hiểu biết sâu sắc hơn về tình dục con người. Tôi cảm thấy an ủi vì những thử thách như vậy là một phần của quá trình thay đổi đôi khi buồn bã và lộn xộn nhưng cần thiết. Những gì chúng ta đang trải qua là những cơn đau đẻ khi chúng ta ngày càng trung thành sâu đậm hơn với Thần Khí của Chúa.

Vậy tôi nghĩ giáo hoàng nên làm gì? Tôi nghĩ giáo hoàng cần trực tiếp lắng nghe và cởi mở với các linh mục đồng tính, những người trung thành phục vụ dân Chúa. Ngài cần đồng hành với chúng tôi, cảm nhận đàn chiên của ngài và của Chúa. Ngài cần nghe những niềm vui và thử thách của chúng tôi, chăm sóc nỗi đau cũng như những toại nguyện sâu đậm của chúng tôi. Ngài cần được truyền cảm hứng từ lòng trung thành anh hùng của chúng tôi. Và chúng tôi cần được ngài truyền cảm hứng, lắng nghe quan điểm của ngài là người dấn thân phục vụ dân Chúa.

Một tấm gương đồng hành sâu sắc của đồng nghị và sự lắng nghe thiêng liêng sẽ có tác dụng chữa lành cho Giáo hội nhiều hơn là những lời xin lỗi trong thông cáo báo chí của giáo hoàng. Lắng nghe tiếng nói của chúng tôi sẽ là một bước quan trọng để trở thành một Giáo hội nơi tất cả mọi người đều thực sự được chào đón.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Một nửa chủng sinh, linh mục và giám mục là người đồng tính

Tổng giám mục Sứ thần Celestino Migliore: “Putin có thiện cảm với Đức Phanxicô”

Tổng giám mục Sứ thần Celestino Migliore: “Putin có thiện cảm với Đức Phanxicô”

lamontagne.fr, Simon Antony, 2024-05-30

Tổng giám mục Celestino Migliore, Sứ thần Tòa thánh tại Pháp.

Sứ thần là đại sứ và Vatican có rất nhiều sứ thần. Tổng giám mục Celestino Migliore đại diện Tòa thánh ở Paris, sau khi ngài làm sứ thần tại Matxcơva.

Nền ngoại giao Vatican ít được biết đến. Xin cha kể cho chúng tôi biết.

Tổng giám mục sứ thần Celestino Migliore: Tất cả các nguyên thủ quốc gia hoặc chính phủ đều đến Rôma ít nhất một lần trong nhiệm kỳ của họ. Nét chính ngoại giao của giáo hoàng được chính giáo hoàng đưa ra và được các sứ thần thực hiện.

Trong số 193 quốc gia có tên trong Liên Hiệp Quốc có 184 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Tòa thánh. Vatican gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1964 với tư cách quốc gia không thành viên, là quan sát viên không có quyền bỏ phiếu và duy trì tính trung lập của mình. Nhưng Vatican có khoảng 50 đại diện làm việc trong ngành ngoại giao và 110 tòa sứ thần.

Vai trò của ngoại giao này là gì?

Không có hỗ trợ quân sự. Quyền lực không đến từ một sức mạnh kinh tế hay thương mại. Chúng tôi không đi tìm sự ủng hộ qua việc bầu cử. Hiệu quả của Tòa Thánh xuất phát từ thẩm quyền đạo đức của Tòa Thánh. Việc lắng nghe giáo hoàng nói là một chuyện, đó là một cách để áp dụng.

 Như thế Tòa Thánh có thể nói gì với Vladimir Putin?

Chúng tôi rất lo về sự xâm lược của Nga ở Ukraine. Đây là hai quốc gia kitô giáo. Khi bắt đầu cuộc xung đột, một điều rất hiếm đã xảy ra: Đức Phanxicô đến sứ quán Nga. Và ngài gọi điện thoại cho Tổng thống Zelensky. Cả hai bên đều không sẵn sàng để hòa giải. Họ xem xung đột là kết quả. Tất cả những gì còn lại là lo viện trợ nhân đạo và tạo áp lực trên các quốc gia có thể gây áp lực lên hai quốc gia này. Nhưng chúng tôi đã đụng vào cùng một logic.

Các nhà lãnh đạo hiện tại dường như chỉ nói ngôn ngữ kinh tế.

Không biết gì đến tâm linh.

Đức Phanxicô nói rất nhiều về lòng thương xót và về những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Gần hai phần ba nhân loại ở trong tình trạng nghèo đói. Đây không phải là bài phát biểu tâm linh. Đó là cụ thể. Các nhà lãnh đạo biết rõ các thực tế này hơn giáo hoàng, nhưng họ chỉ lo cho việc bầu cử của họ.

Thánh lễ Ngũ Tuần với sứ thần Luigi Ventura

Vladimir Putin không bận tâm lắm về cuộc bầu cử.

Tôi ở đó từ năm 2016 đến năm 2020. Một khoảng thời gian tốt đẹp  với chúng tôi. Putin có thiện cảm với Đức Phanxicô, trong bốn năm ông gặp ngài ba lần. Nhưng gặp ngài không có nghĩa là theo ngài. Trong bốn năm, tôi đã làm việc tốt với Điện Cẩm Linh. Chúng tôi đã thỏa thuận giúp đỡ các bệnh viện, lo về thị thực… Và chúng tôi có quan hệ tốt với Giáo hội chính thống.

Ngoại giao có mở rộng ra với các tôn giáo khác không?

Có ngoại giao tôn giáo và văn hóa. Cách đây hai năm, Đức Phanxicô đã đến Abu Dhabi ký một tuyên bố chung với đại giáo sĩ Ahmed Al Tayeb của Viện Al-Azhar. Ngài đi Iraq để nói chuyện với Ayatollah Ali Al-Sistani, lãnh đạo phong trào sunni. Ở đó, ngài đã phá vỡ tảng băng. Đây là công việc mất rất nhiều thời gian.

Đức Phanxicô rất chính trị.

Việc chúng ta đang nói hôm nay là một hành động chính trị. Mọi thứ đều mang tính chính trị. Đức Phanxicô có một tầm nhìn nhân văn.

Vatican là quốc gia nuôi dưỡng nhiều trí tưởng tượng nhất hành tinh. Vậy cha có biết tất cả bí mật của nhân loại không?

Tôi đã sống bảy năm ở Vatican. Tôi đã ngủ ở đó. Tôi chỉ mất một ít thời gian để hiểu chẳng có gì bí mật ở đây. Thêm nữa làm đại sứ tại Tòa thánh rất thú vị vì có những người quan trọng từ khắp thế giới đến thăm mỗi ngày.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nhân vật số 3 của Vatican: “Còn quá sớm để làm tang lễ cho Giáo hội công giáo Pháp”

Nhân vật số 3 của Vatican: “Còn quá sớm để làm tang lễ cho Giáo hội công giáo Pháp”

Tổng giám mục Paul Gallagher, nhân vật số 3 của Vatican cho rằng “còn quá sớm để chôn Giáo hội công giáo Pháp”

 famillechretienne.fr, Antoine-Marie Izoard, 2024-05-24

Tổng giám mục ngoại trưởng Paul Richard Gallagher dự Hành hương Quân đội Quốc tế của Pháp lần thứ 64 tại Lộ Đức từ ngày 24 đến ngày 26 tháng 5. Ngài ca ngợi cuộc sống và tinh thần của Quân đội Pháp.

Xin cha cho biết cảm tưởng của cha về buổi lễ cha cử hành hôm nay. 

Tổng giám mục Paul Gallagher: Có rất nhiều đức tin trong Quân đội vì các quân nhân thường đối diện với các vấn đề thiết yếu nhất: cái chết cái sống, đau khổ, tình bằng hữu. Khi nói về hòa bình với những xung đột, những thử thách và hận thù của thời chúng ta, tốt hơn chúng ta nên nói với họ thay vì nói với các chính trị gia, những người này có quá nhiều lợi ích. Các quân nhân họ biết cái giá của chiến tranh, của những xung đột. Thường thường các nhân vật lớn trong quân đội, các đại tướng, đại tá, nguyên soái biết hơn ai hết điều gì tốt cho những người được giao phó cho họ.

Trong lần hành hương này có 180 người rửa tội, nhiều hơn các năm trước, đây là dấu hiệu gì?

Trước hết đây là dấu hiệu cho thấy văn hóa và truyền thống kitô giáo rất yếu trong xã hội. Ở châu Âu, các bề trên chủng viện có kinh nghiệm trở lại của các thiếu niên, của các sinh viên đại học, họ không có một văn hóa kitô giáo, tất cả phải bắt đầu từ zero. Nhưng đó cũng là dấu hiệu của một cơn khát thiêng liêng. Tôi dự các lễ rửa tội này và tôi rất phấn khởi. Tôi ít làm mục vụ trong tư cách là nhà ngoại giao! Ngay từ ngày đầu hành hương, tôi ban bí tích cho người bệnh, việc này làm tôi nhớ lại kinh nghiệm làm việc ở giáo xứ cách đây đã lâu… Đó là lý do vì sao tôi làm linh mục, chứ không phải để là nhà ngoại giao của Tòa Thánh như bây giờ! (cười) 

Cha cảm nghiệm gì trong ngày hành hương này?

Thành thật mà nói… có một khuynh hướng đánh giá thấp sức mạnh thiêng liêng của nước Pháp và của giáo hội Pháp. Nhưng tôi nghĩ ở Pháp có rất nhiều nguồn sức thiêng liêng, nên quá sớm để cử hành tang lễ cho Giáo hội Pháp! Chúa Thánh Thần sẽ hành động để có những hình thức mới cho đức tin, cho đời sống tôn giáo, đời sống tu trì, cho các cộng đồng sống động và táo bạo. Tôi hoàn toàn tin tưởng Giáo hội công giáo Pháp, đời sống đức tin của những người dân thường. Như Đức Phanxicô thường hay nói, các thánh ở bên cánh cửa!

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chức phó tế nữ: Đức Phanxicô đã nói không, bây giờ chúng ta phải làm gì?

Chức phó tế nữ: Đức Phanxicô đã nói không, bây giờ chúng ta phải làm gì?

cath.ch, Thierry Collaud, 2024-05-29

Diễn viên hài Ý Roberto Benigni tại Quảng trường Thánh Phêrô nhân Ngày Thế giới Trẻ em

Trong một phỏng vấn gần đây, Đức Phanxicô từ chối phong chức phó tế nữ. Đột nhiên Thượng hội đồng thấy sự nhiệt tình của của mình bị nguội đi! Nhưng chúng ta phải làm gì khi không đồng ý với giáo hoàng?

Tôi muốn nói ‘bất đồng quan điểm’ là một loại đa dạng mang tính sáng tạo của Giáo hội. Tin tức đến với tôi theo một cách vừa nghiêm túc vừa hài hước. Cách đây vài ngày, bà Norah O’Donnell của hãng tin CBS phỏng vấn ngài: “Liệu bây giờ một bé gái lớn lên trong đạo công giáo có cơ hội để thành phó tế nữ và dự vào hàng ngũ giáo sĩ trong Giáo hội được không?” Câu trả lời rất rõ ràng: “Không!”

Các phản ứng rộ lên. Một số người thất vọng vì họ thấy cánh cửa vừa được hé ra đã bị đóng sầm lại, một số người thấy thể chế cần ổn định, một số đau khổ trước những mơ hồ do nhiều yêu cầu mở ra, một số vui mừng trước lời nói chắc nịch giúp giảm rủi ro cho một Thượng hội đồng đồng nghị khó kiểm soát.

“Tiếng ‘không!’ của Đức Phanxicô thật khắc nghiệt vì nó kiên quyết.

Nhưng tiếng “không!” của giáo hoàng mà tôi cảm thấy nghẹn họng lại được xoa dịu nhờ sự can thiệp tươi mát của danh hài Roberto Benigni ở Quảng trường Thánh Phêrô nhân Ngày Thế giới Trẻ em. Sức thổi thần thánh nào lại thúc đẩy Đức Phanxicô mời chú hề đầy tính nhân văn có một không hai này đến đây trong ngày này? Như chú hề trong cung đình, ông vi phạm chỉ dẫn của đội cận vệ Thụy Sĩ, ông hôn hai má giáo hoàng, ông biện minh: “Nụ hôn để làm gì nếu chúng ta không hôn!” Ông mở toang cánh cửa mà Đức Phanxicô muốn đóng!

Ở đây chúng ta không còn nói về việc trở thành phó tế, mà việc ai muốn làm giáo hoàng: “Ai muốn làm giáo hoàng? Xin giơ tay lên!” Trước những bàn tay giơ lên, Đức Phanxicô khuyên họ mơ ước: “Trong nước Chúa, mọi sự đều có thể!” Có thể giáo hoàng tương lai là một người ở đây. Có thể đó là người châu Phi, châu Á hoặc một bé gái, một phụ nữ, một nữ giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử. Mamma Mia, chúng ta sẽ nói về chuyện này trên mặt trăng!

Khi Đức Phanxicô nói “không!”, chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ lui về hàng ngũ? Chúng ta ra khỏi đạo công giáo? Hay chúng ta sẽ nói: “Thưa giáo hoàng thân mến, một số đồng ý với cha, một số không. Nhân danh đặc sủng hiệp nhất của Chúa, xin cha giúp chúng con sống bình an với những khác biệt của chúng con, để những khác biệt này không phá vỡ hiệp thông.”

Tiếng “không!” của giáo hoàng thật khắc nghiệt vì nó kiên quyết, vì từ một người duy nhất và không cần có một thảo luận rộng rãi. Đó là cái giá đáng tiếc cho hệ thống kim tự tháp hóa của Giáo hội công giáo. Chỉ lời nói trên cao mới đáng kể. Chính từ thể chế cứng nhắc theo thời gian này mà các thành viên của Thượng hội đồng phải có can đảm vượt lên. Giáo hoàng không ở đây để đưa ra ý kiến cá nhân. Những người khác cũng được cảm hứng và đưa ra ý kiến của mình. Vai trò chính của giáo hoàng không phải là giải quyết những khác biệt để luôn có một tiếng nói duy nhất, nhưng bảo đảm những khác biệt có thể được nhấn mạnh mà sự hiệp nhất không bị phá vỡ.

“Tôi cầu nguyện để Chúa Thánh Thần thổi trên Thượng hội đồng để Thượng hội đồng dám giải quyết những vấn đề nóng bỏng ”

Đặc sủng chính của giáo hoàng là đón nhận sự đa dạng, đón nhận tiếng nói của mọi người, giúp có được hiệp thông trong tính đa dạng, vốn là định nghĩa thực sự về tính công giáo của Giáo hội.

Suy nghĩ và xây dựng một Giáo hội có nhiều tiếng nói là một thách thức lớn. Nếu không làm được, chúng ta sẽ phải đối diện với những căng thẳng nghiêm trọng. Chúng ta đã thấy qua tài liệu về việc chúc phúc cho các cặp đồng tính. Chúng ta đã thấy tầm quan trọng của một số bộ phận trong cộng đồng Giáo hội công giáo qua việc tái xác định vai trò của phụ nữ trong đời sống Giáo hội.

Vai trò của thừa tác vụ Phêrô là xoa dịu những căng thẳng nảy sinh chứ không phải chỉ đạo các chủ đề của cuộc nói chuyện. Chúng ta không ngăn được ly giáo bằng cách cấm thảo luận. Ở thời điểm này, chúng ta chứng kiến sự ly giáo thầm lặng của những người dần dần ra đi. Nhưng ngược lại Giáo hội có thể tránh được ly giáo qua các cuộc gặp gỡ, không mệt mỏi trao lời nói qua tình yêu và tôn trọng nhau để chúng ta có thể chung sống hòa bình với những khác biệt.

Tôi cầu nguyện để Chúa Thánh Thần thổi trên Thượng hội đồng để Thượng hội đồng dám giải quyết những vấn đề nóng bỏng và biết cách sắp xếp giữa những gì có thể là đối tượng của sự đa dạng và những gì nên được xem là một. Nếu thượng hội đồng lay chuyển được giáo hoàng và đặc biệt bộ máy giáo triều, thì người tín hữu kitô sẽ biết ơn Thượng hội đồng.

Marta An Nguyễn dịch

Linh mục Joël Pralong: chúng ta phải tương đối hóa chữ “frociaggine” của giáo hoàng

Linh mục Joël Pralong: chúng ta phải tương đối hóa chữ “frociaggine” của giáo hoàng

cath.ch, Lucienne Bittar, 2024-05-29

Linh mục Joël Pralong, cựu giám đốc chủng viện giải thích về chữ “fociaggine, làm tình bằng hậu môn” Đức Phanxicô nói sau cánh cửa đóng kín ngày 20 tháng 5 năm 2024 với các giám mục Ý, và một tuần sau đó đã bị rò rỉ tạo khó hiểu và phẫn nộ. Thực sự quan điểm của Đức Phanxicô về vấn đề đồng tính là gì?

Ngày thứ ba 28 tháng 5, linh mục Pralong nói với Vatican News: “Đức Phanxicô không bao giờ có ý xúc phạm hoặc nói những từ ngữ kỳ thị người đồng tính, ngài đã xin lỗi những ai cảm thấy bị xúc phạm khi ngài dùng từ ngữ được các bên thứ ba báo cáo. Nhưng đã có gì đáng ngại không?

Linh mục là cựu giám đốc chủng viện, tác giả của một số tác phẩm về đồng tính trong đó có quyển Người đồng tính, người chuyển giới và Chúa chúc phúc cho họ! (Homos, trans et Dieu les bénit! Nxb. St-Augustin 2024), linh mục cho rằng chúng ta không nên xem trọng những lời này để không làm sai lệch đường lối mà ngài luôn bảo vệ người đồng tính từ đầu triều của ngài.

Cá nhân cha, cha nghe tin này như thế nào?

Linh mục Joël Pralong: Trước hết tôi cười, sau đó là bình an. Câu này hoàn toàn theo phong cách Bergoglio và ngài có quyền nói như vậy. chúng ta đừng quên câu này được nói trong một thảo luận thân mật vốn không được phép lộ ra. Đây là lời nói bộc phát, đôi khi tạo cảm giác mâu thuẫn với chính mình. Thêm nữa ngày hôm sau ngài đã xin lỗi.

Tôi nghi không biết đây có phải là suy nghĩ sâu xa của ngài không như trong trường hợp tuyên bố Fiducia supplicans, tài liệu được chính ngài ký. Chính đường lối đạo đức này mới là quan trọng, đó là điều ngài đã bảo vệ trong 11 năm, khi ngài khẳng định “nếu một người đồng tính chân thành đi tìm Chúa, thì tôi là ai mà phán xét họ?”

Cuộc thảo luận lẽ ra tập trung vào việc cải cách một quy tắc được Đức Bênêđictô XVI ban hành năm 2005: loại những người đồng tính có hoạt động tình dục, những người có “khuynh hướng đồng tính hoặc ủng hộ văn hóa đồng tính” ra khỏi chủng viện. Với những lời này liệu Đức Phanxicô có đột ngột theo Đức Bênêđíctô XVI không?

Một lần nữa, tôi nghĩ sự bộc phát có thể lấn át suy nghĩ. Trong câu này, vấn đề không phải là có thực hành đồng tính hay không, chúng ta không thể bắt ngài nói câu ngài không nói. Về phần tôi, tôi nghĩ dường như ngài muốn phản đối việc cho người ‘đồng tính’ công khai vào chủng viện, dù họ có thực hành tính dục của mình hay không. Thuật ngữ đồng tính được liên kết với một phong trào gần như chính trị, với cuộc vận động hành lang. Và tôi biết có những người đồng tính công khai tham gia các cuộc hội thảo ở Ý là những nhà hoạt động vì mục đích này.

“Về phần tôi, tôi nghĩ dường như ngài muốn phản đối việc cho người ‘đồng tính’ công khai vào chủng viện, dù họ có thực hành tính dục của mình hay không.”

Chúng tôi không thể nhận vào chủng viện một người tự cho mình là nhà hoạt động vì chính nghĩa đồng tính hoặc muốn tiếp tục cam kết trong một quan hệ đồng tính. Chúng tôi xin họ sống cuộc sống cho đi và khiết tịnh, ít nhất là trong nhà chúng tôi. Giám mục Charles Morerod chính xác nói điều này trong quyển sách phỏng vấn với nhà báo Camille Krafft Ngươi không lạm dụng (Tu n’abuseras point. Nxb. Slatkine 2024). Khiết tịnh có nghĩa là nhìn người khác với cái nhìn không quyến rũ, không hòa nhập.

Trong một loạt các giải thích có thể có, một số người cho rằng giáo hoàng không còn muốn người đồng tính vào chủng viện. Nói rộng ra, các linh mục đồng tính chắc chắn sẽ bị cám dỗ sống hai mặt. Cha nghĩ sao?

Tôi thực sự nghi không biết đây có phải là suy nghĩ của ngài hay không! Nếu thế ngài sẽ phải yêu cầu một số lượng lớn các linh mục, ở tất cả các nước trên thế giới rời bỏ chức vụ! Tôi không có một số liệu thống kê nào để đưa ra, nhưng tôi có nhiều tài liệu nói về vấn đề này.

Với tư cách là cựu bề trên chủng viện Sion ở Fribourg, Thụy Sĩ, tôi đã mời một nhà tâm lý học kitô giáo đến dự một buổi thảo luận về cảm xúc và tình dục. Ông cho biết khi ông tổ chức khóa học này ở Pháp, 80% chủng sinh hỏi ông những câu hỏi về đồng tính, điều này cho thấy chủ đề này đặt ra những câu hỏi. Chúng ta không được phép che giấu. Tôi đưa ra khẳng định dựa trên kinh nghiệm của tôi vì tôi đã nghiên cứu vấn đề này ở hơn 20 giáo phận Thụy Sĩ, Pháp và Brazil trong bối cảnh chăm sóc mục vụ gia đình.

“Khi một người trẻ vào chủng viện, dù là đồng tính hay dị tính, điều quan trọng là sự trưởng thành của người đó chứ không phải khuynh hướng tình dục của họ.”

Trong phần thứ hai của câu hỏi, tôi muốn nói các linh mục dị tính hay đồng tính đều phải đối diện với những lựa chọn và khó khăn giống nhau trong việc kiêng quan hệ tình dục. Từ bỏ hoạt động tình dục là một hy sinh, và lựa chọn này là một đấu tranh khốc liệt! Nhưng nó cũng đi kèm với những niềm vui tinh thần lạ thường.

Thêm nữa, điều có thể tạo ra vấn đề giữa các linh mục hoặc chủng sinh có khuynh hướng đồng tính là việc giữ bí mật, thậm chí bị ẩn ức, có nguy cơ làm cho họ có những thái độ không nhất quán và gây tai tiếng.

Việc giáo hoàng nói về nguy cơ “frociaggine” có dẫn đến việc ẩn ức nhiều hơn không?

Có, đó là lý do vì sao phải đưa những lời nói này vào đúng chỗ của nó để không làm nặng thêm mặc cảm tội lỗi của những người liên quan. Điều nghiêm trọng không phải là xu hướng đồng tính, nhưng là vấn đề ẩn ức. Vì bí mật thường dẫn đến thái độ lạm dụng quyền lực và thống trị, ham muốn chiếm hữu người khác. Sự ẩn ức làm xa lý tưởng khiết tịnh.

Một sai lệch khác có thể xảy ra, đó là điều tôi gọi là chủ nghĩa phụng vụ. Phụng vụ là một không gian được trải nghiệm như một nơi hoàn thiện, thanh lọc, liên quan đến cuộc sống không phù hợp với lý tưởng. Đó là nơi chúng ta hoàn hảo. Vì vậy, điều này không phải là tầm thường. Việc tập trung vào các hình thức phụng vụ cầu toàn có thể nhanh chóng trở thành nơi ẩn náu.

Vì thế tôi nhấn mạnh. Để phá bỏ những điều cấm kỵ, chúng ta phải nói về chúng, không phải dưới góc độ đe dọa và cấm đoán mà dưới góc độ nhân văn. Như Đức Phanxicô đã làm trong 10 năm qua. Và chính định hướng này của ngài chúng ta phải giữ, chứ không phải cụm từ đáng tiếc này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Mất người thân yêu vì tự tử

Mất người thân yêu vì tự tử

Ronald Rolheiser, 2024-05-27

Tôi đã viết về tự tử suốt gần 40 năm. Tôi làm vậy bởi vì nhìn chung, chuyện tự tử bị hiểu lầm nghiêm trọng. Hơn thế nữa, có lẽ hơn bất cứ hình thức chết nào khác, tự tử làm cho những người bị bỏ lại mang một nỗi đau buồn, tổn thương và mặc cảm tội lỗi nặng nề.

Chúng ta cần phải nói thẳng bốn điều về tự tử:

Thứ nhất, tự tử là căn bệnh và có lẽ đây là căn bệnh khó hiểu nhất. Trong hầu hết trường hợp, đương sự không được tự do khi lựa chọn cách chết này. Khi chết vì đau tim, đột quỵ, ung thư, AIDS hay tai nạn, con người chết trái với ý mình. Với tự tử cũng thế, trừ một chuyện, tự tử là cơn bộc phát cảm xúc hơn là bộc phát thể lý, một đột quỵ về cảm xúc, một khối ung thư về cảm xúc, một sụp đổ của hệ miễn dịch cảm xúc, một đòn chí tử của cảm xúc.

Và đây không phải là cách nói ẩn dụ. Tự tử là một căn bệnh. Hầu hết những người tự tử đều chết trái với ý muốn của họ. Họ chỉ muốn kết thúc nỗi đau không thể chịu đựng thêm được nữa, cũng như người nhảy ra khỏi tòa nhà đang cháy, vì họ đã như cây đuốc sống.

Thứ hai, chúng ta không nên lo lắng quá mức về sự cứu rỗi đời đời của họ, không nên tin rằng tự tử là hành động tuyệt vọng tận cùng và là điều mà Thiên Chúa sẽ không tha thứ. Thiên Chúa thông hiểu, yêu thương và trìu mến con người vô cùng vô tận. Chúng ta không nên lo lắng về số phận của bất kỳ ai đã rời thế giới này trong tan vỡ, trong quá đỗi nhạy cảm, thiết tha, quá đỗi kiệt quệ và cảm xúc bị sụp đổ. Những con người tan nát được Chúa yêu thương cách đặc biệt.

Nhưng, hiểu được chuyện này không nhất thiết giúp chúng ta hết đau đớn (hết giận dữ) khi mất người thân vì tự tử, đức tin và sự thông hiểu không phải lúc nào cũng giúp chúng ta xóa bỏ nỗi đau, để chúng ta hy vọng, để được nâng đỡ khi chúng ta bước đi trong nỗi đau.

Thứ ba, chúng ta không nên hành hạ bản thân khi cảm thấy tội lỗi và băn khoăn lo lắng mình đã mất người thân yêu này vào thời điểm nào. “Mình đã phụ lòng họ lúc nào? Giá mà mình ở đó? Nếu như?” Lẽ tự nhiên, chúng ta sẽ bị ám ảnh với suy nghĩ, “giá mình ở đó vào lúc này”. Hiếm khi mặc cảm này tạo nên được sự khác biệt. Thật vậy, hầu như chúng ta đều không ở đó vì người đó không muốn chúng ta ở đó. Người đó đã chọn thời điểm, địa điểm và phương thức sao để chúng ta không thể làm được gì. Tự tử là căn bệnh dường như chọn nạn nhân, để làm sao họ loại trừ được người khác, loại trừ được sự quan tâm của người thân. Đây không phải là biện hộ cho sự thiếu nhạy cảm, nhưng là một xác nhận lành mạnh trước mặc cảm tội lỗi và băn khoăn đau đớn.

Chúng ta là con người, chúng ta không phải là Thiên Chúa. Con người chết vì tai nạn, vì bệnh tật, và đôi khi tình yêu và cả sự quan tâm của cả thế giới cũng không ngăn được cái chết. Một người mẹ mất con vì tự tử đã viết: “Ý chí muốn cứu mạng ai đó không tạo được sức mạnh để ngăn chặn cái chết.”

Vì thế, chúng ta phải tha thứ cho bản thân vì sự bất toàn của mình khi sống với người bị trầm cảm muốn tự tử. Nhưng chuyện này không dễ dàng gì, như người đàn ông đã mất vợ vì tự tử này xác nhận: “Vợ tôi không hạnh phúc, bà bị trầm cảm quá lâu, vì thế tôi mong cuối cùng bây giờ bà được bình an. Suốt bốn hay năm năm qua, ít nhất mỗi tuần một lần, bà lặp lại ý muốn chết… Thật khó để tôi không cắn rứt trong bất hạnh của vợ tôi… Ít nhất, tôi sẽ mang đến chết đáng ra tôi có thể làm nhiều hơn để giữ bà lại. Suốt mấy năm qua, thay vì nói chuyện để cố khuyến khích bà nhìn sự việc một cách tích cực, tôi lại chọn cách trốn tránh và rút lui. Tôi nghĩ cố gắng phá trầm cảm không giải thích được, chỉ làm mọi chuyện tệ hơn, ít nhất là với tôi, vì tôi thường là mục tiêu dễ nhắm để vợ tôi trút cơn giận và bất hạnh của bà”.

Đây là cảm giác tội lỗi thường có của những người mất người thân vì tự tử, nhất là người vợ hoặc người chồng. Điều chúng ta cần hiểu là cơn giận dữ của người trầm cảm gần như thường xuyên chính xác tập trung vào những người mà họ tin tưởng và thân yêu nhất, vì đó là nơi an toàn duy nhất họ có thể trút cơn giận (mà không bị phản đòn). Hệ quả là, người bị nhắm thường cố thoát ra bằng cách trốn tránh và rút lui, sau đó là cảm thấy mình tội lỗi.

Thứ tư, khi mất người thân vì tự tử, một trong những nhiệm vụ của chúng ta là cứu ký ức về họ, đưa cuộc đời họ vào một góc nhìn sao cho cách chết của họ không làm ố màu ký ức về họ mãi mãi. Đừng gỡ bỏ hình ảnh của họ, đừng thì thầm khi nói về cuộc đời và cái chết của họ, đừng đánh một ngôi sao không phai bên cạnh tên họ. Cuộc đời của họ không nên bị phán xét qua lăng kính cái chết của họ. Chúng ta nên chuộc lại ký ức cho họ.

J.B. Thái Hòa dịch

Tự tử và những hiểu lầm của chúng ta

Bài mới nhất