Home Blog Page 161

Một lần nữa, Đức Phanxicô bày tỏ mong muốn được đi Trung Quốc

Một lần nữa, Đức Phanxicô bày tỏ mong muốn được đi Trung Quốc

Trong một phỏng vấn với Tỉnh dòng Dòng Tên của Trung Quốc ngày 24 tháng 5, được công bố ngày thứ sáu 9 tháng 8, một lần nữa Đức Phanxicô bày tỏ mong muốn được đến thăm đất nước mà ngài xem như một trong những ưu tiên hàng đầu của ngài. Ngài ngưỡng mộ đức tin của Giáo hội và văn hóa Trung Quốc.

la-croix.com, Céline Hoyeau, 2024-08-11

Đức Phanxicô chào giáo dân đến dự thánh lễ tại Steppe Arena ở thủ đô Ulaanbaatar, Mông Cổ ngày chúa nhật 3 tháng 9 năm 2023. Ng Han Guan / AP

Đây là giấc mơ ngài thường nhắc đến, ngài xem Trung Quốc là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngài. Nếu ước muốn của ngài được thực hiện, ngài sẽ đến thăm đền thánh Đức Mẹ Sheshan, gặp giáo dân và các giám mục trung thành với Rôma. Trong cuộc phỏng vấn, ngài nhấn mạnh: “Trung Quốc là dân tộc trải qua nhiều khó khăn nhưng luôn trung thành. Tôi treo ảnh Đức Mẹ Sheshan trên bàn làm việc của tôi ở Nhà Thánh Marta.”

Một dân tộc “bậc thầy của niềm hy vọng”

Linh mục Pedro Chia, giám đốc báo chí của Tỉnh Dòng Dòng Tên Trung Quốc phỏng vấn Đức Phanxicô tại Dinh Tông tòa ngày 24 tháng 5, Đức Phanxicô nói: “Có vẻ như trùng lặp khi đưa ra thông điệp hy vọng cho một dân tộc là bậc thầy của hy vọng, của kiên nhẫn chờ đợi. Trung Quốc là một dân tộc vĩ đại không lãng phí di sản của mình.”

Cuộc phỏng vấn diễn ra trước chuyến tông du châu Á từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 9 đến Indonesia, Tân Guinê, Đông Timor và Singapore.

Tháng 5 năm ngoái, một hội nghị chưa từng có diễn ra giữa Trung Quốc và Vatican với sự có mặt của các quan chức Trung Quốc. Một số dấu hiệu đã diễn ra trước hội nghị: lời mời đến Trung Quốc của hai nhà báo thân cận Vatican, một người làm việc cho Vatican News, một người làm việc cho nhật báo L’Avvenire của các giám mục Ý; chuyến đi Rôma tháng 10 năm ngoái của hai giám mục Trung Quốc dự Thượng Hội đồng về tương lai Giáo hội, dù các ngài phải về trước khi kết thúc công việc; và linh mục Dòng Tên Antonio Spadaro đến Bắc Kinh dịp lễ Giáng sinh năm ngoái. Linh mục là một trong những người lãnh đạo Bộ văn hóa và cố vấn không chính thức của Giáo hoàng.

“Lời phê bình luôn hữu ích, nó làm chúng ta phải suy nghĩ…”

Theo một số chuyên gia về vấn đề này, khả năng đi Trung Quốc của Đức Phanxicô sẽ không có nhiều hy vọng. Một cách nào đó, chính sách Hán hóa tôn giáo của chủ tịch Tập Cận Bình vẫn gây khó khăn cho các tôn giáo, nhất là công giáo vẫn bị kiểm soát gay gắt.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Phanxicô đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong triều của ngài, đặc biệt là những lời chỉ trích và chống đối mà ngài luôn phải đối diện. Ngài nói: “Những lời chỉ trích luôn có ích, cả khi nó không mang tính xây dựng, vì nó làm chúng ta phải suy nghĩ về cách chúng ta hành động. Đằng sau phản kháng có thể có những lời chỉ trích tốt.”

Đôi khi chúng ta phải đau đớn chờ và chịu đựng như trường hợp các nhóm nhỏ chống lại Giáo hội hiện nay. Ngài lặp lại: “Những giây phút khó khăn hay hoang tàn luôn được giải quyết bằng sự an ủi của Chúa.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chân phước Carlo Acutis chinh phục nước Đức

Chân phước Carlo Acutis chinh phục nước Đức

Giáo dân ở các thành phố Đức Munich, Weltenburg, Berlin, Cologne và Hamburg sốt sắng đón nhận thánh tích Chân phước Carlo Acutis

acistampa.com, Giacomo Kưnig, Frankfurt, 2024-08-09

Thánh tích Chân phước Carlo Acutis chụp từ màn hình / Giáo phận Regensburg

Chân phước Carlo Acutis qua đời ngày 12 tháng 10 năm 2006, phong chân phước năm 2020 và có thể sẽ được phong thánh trong Năm Thánh 2025.

Giáo dân tại năm nhà thờ ở Đức thành kính đón nhận thánh tích Chân phước Carlo Acutis. Kể từ ngày 6 tháng 4 năm 2019, thi thể Chân phước Carlo Acutis được quàn trong tủ kính cùng với giày và bộ đồ thể thao ở nhà thờ Santa Maria Maggiore, Assisi. Thánh tích trái tim được linh mục quản nhiệm Marco Gaballo Dòng Phanxicô đưa đi khắp nước Đức.

Ngày 21 tháng 7, nhà thờ Chúa Thánh Thần (Heilig-Geist-Kirche) ở Munich đã đón nhận thánh tích. Ngày 22 tại tu viện Weltenburg trên sông Danube, Giáo phận Regensburg, sau đó tại Clemens-Kirche ở Berlin. Ngày 24 tại Nhà thờ lớn Cologne và cuối cùng tại Nhà thờ Heiligkreuz Neugraben ở Hamburg, trước khi rời Đức tiếp tục chuyến đi châu Âu.

Linh mục Daniel Lerch, quản xứ nhà thờ Heilig Geist cho biết nhiều người trẻ đã đến viếng thánh tích. Suốt ba năm qua có một nhóm ở nhà thờ Munich dành một giờ mỗi tuần để viếng thánh tích. Ngày chúa nhật 21 tháng 7 có khoảng 500 người đã đến viếng thánh tích. Ngày thứ hai 22 tháng 7 hơn 300 giáo dân đến tu viện Weltenburg hành hương cầu nguyện trước thánh tích và chầu Thánh Thể.

Ngày thứ ba 23 tháng 7, thánh tích đến nhà thờ San Clemente, Berlin, tại đây, linh mục Marco Gaballo, người tháp tùng thánh tích tổ chức một cuộc hội thảo về Chân phước Carlo Acutis và lòng yêu mến Thánh Phanxicô Assisi của Carlo Acutis. Sau hội thảo là thánh lễ và chầu Thánh Thể.

Ngày thứ tư 24 tháng 7, linh mục Christoph Ohly cử hành thánh lễ tại Nhà thờ lớn Cologne trước hàng trăm tín hữu, trong bài giảng ngài nói về cuộc đời luôn hiệp nhất với Chúa Giêsu của Chân phước Carlo. Gần đây ngài thành lập một trung tâm cho giới trẻ mang tên Chân phước Acutis trong giáo xứ của ngài.

Ngày thứ năm 25 tháng 7, thánh tích trái tim được trưng bày tại nhà thờ Thánh Giá Heiligkreuz ở Hamburg-Neugraben.

Đức Tổng Giám mục Stefan Heße đã cử hành thánh lễ kính Chân phước Carlo Acutis, có rất nhiều bạn trẻ dự thánh lễ.  Sau đó, linh mục Marco Gaballo tổ chức một hội thảo về Chân phước Carlo Acutis. Tiếp theo là chầu Thánh Thể và viếng thánh tích.

Sau khi rời Hamburg, thánh tích Chân phước Acutis tiếp tục  lưu diễn ở Amsterdam, Hà Lan ngày 26 tháng 7 và Zonhoven, nước Bỉ ngày 27 tháng 7.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Có đức tin nhờ Chân phước Carlo Acutis: một hoán cải cụ thể

Có đức tin nhờ Chân phước Carlo Acutis: một hoán cải cụ thể

Trích sách “Trao truyền đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Vậy chính Carlo là người đã đưa ông bà đến với đức tin. Trong thực tế điều này xảy ra như thế nào?

Ông bà ngoại tặng Carlo quyển Kinh thánh minh họa và Carlo say sưa đọc. Carlo rất mê đọc hạnh các thánh. Đó là loại sách truyện dành cho thiếu nhi. Khi Carlo còn nhỏ, cô bảo mẫu Beata thường đưa Carlo vào nhà thờ chào Chúa Giêsu hiện diện trong nhà tạm. Khi cô về lại Ba Lan, chúng tôi đưa Carlo đi nhà thờ, mới đầu Carlo xin chúng tôi đưa em vào nhà thờ chào Chúa Giêsu. Carlo đến quỳ ở bàn quỳ  hoặc quỳ ở hàng ghế đầu tiên, em thinh lặng cầu nguyện. Chúng tôi rất thán phục em, dần dần chúng tôi bắt chước Carlo cầu nguyện, lúc đầu thì thầm, sau đó chúng tôi cùng cầu nguyện lớn tiếng với Carlo.

Và rồi, chính nhờ những van xin đôi khi khăng khăng của Carlo mà chúng tôi được dẫn dắt để sống đức tin một cách nghiêm túc và có ý thức hơn. Những năm đầu tiên, tôi (Antonia) thực sự không biết gì về đức tin. Tôi còn không biết sự khác biệt giữa Kinh thánh và Phúc âm là gì. Andréa, chồng tôi khác tôi, anh ở trong một gia đình giữ đạo. Tôi không thể trả lời các câu hỏi của Carlo, vì thế tôi bắt đầu đọc quyển Giáo lý Giáo hội Công giáo của Đức Gioan Phaolô II xuất bản năm 1992.

Ông Andrea cho biết: “Sau đó, chúng tôi hiểu sự nghiêm túc tìm hiểu đòi hỏi chúng tôi phải được một cha giải tội thánh thiện khôn ngoan hướng dẫn. Một người bạn đề nghị chúng tôi đến gặp linh mục Ilio Carrai ở Bologne. Lần đầu tiên chúng tôi gặp ngài là năm 1995, cha là người hướng dẫn chúng tôi cho đến khi cha qua đời ngày 14 tháng 3 năm 2010. Khi gặp cha lần đầu tiên, chúng tôi ngạc nhiên khi cha nói từ nhiều năm cha đã chờ chúng tôi và chúng tôi có một sứ mệnh quan trọng phải thực hiện. Cha có một tài năng lạ, khi cha gặp chúng tôi, cha nói cha đã biết quá khứ của chúng tôi. Còn về tương lai của Carlo, cha nói: “Thiên Chúa đã chọn Carlo cho một nhiệm vụ đặc biệt.” Cha cho chúng tôi biết những chi tiết sẽ được thực hiện trong những năm sau đó. Cha khuyên chúng tôi đọc Kinh Thánh và sách giáo lý để đào sâu đức tin. Cha đề nghị tôi (Antonia) theo học một khóa thần học, tôi đã học ở Milan và đã đậu. Carlo say sưa nghiên cứu hạnh các thánh, Carlo khuyên chúng tôi nên xem phim về cuộc đời của một số thánh và về những lần Đức Mẹ hiện ra. Carlo rất mừng khi chúng tôi làm những chuyện này.

Đức tin của Carlo vừa đơn giản vừa lôi cuốn. Chúng tôi quan sát con khi con thắp nến thì thầm cầu nguyện trước cây thánh giá trong nhà thờ, khi ở nhà Carlo hay hôn gió lên tượng Chúa Hài Đồng hay lên cây thánh giá treo trên tường trong phòng ngủ. Carlo vui sướng khi chúng tôi cho Carlo ảnh Đức Mẹ Carmel, một bên là ảnh Thánh Tâm Chúa Giêsu, bên kia là ảnh Đức Maria. Đó là món quà quý giá của một trong các bà cố cho chúng tôi. Carlo luôn mang ảnh này trong người. Carlo nói: “Như thế này, con sẽ luôn có Chúa Giêsu và Đức Mẹ ở gần trái tim con.”

Marta An Nguyễn dịch

Tại sao nên là người công giáo?

Tại sao nên là người công giáo?

americamagazine.org, Connor Hartigan, 2024-08-07

“Ta là Đá, trên viên Đá này Ta xây Giáo hội muôn đời vinh quang.” Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta một trong những thành phần cốt lõi của đức tin: thể chế Giáo hội. Tại sao nên là người công giáo? Vì sao chúng ta nên tham gia vào đời sống tôn giáo được tổ chức xung quanh thể chế của con người, dù được Chúa hướng dẫn, nhưng có thể bị ảnh hưởng bởi tội lỗi của những người xây dựng thể chế này? Thể chế Giáo hội có mục đích gì? Khi bạn bè và gia đình hỏi tôi vì sao tôi trả lời “có” với đức tin công giáo và Giáo hội công giáo, theo bản năng tôi sẽ tìm đến thần học cơ bản. Tôi thường trích dẫn quan điểm tương đối khoan dung của Công đồng Trent về bản chất con người ngược với quan điểm cấm đoán, đầy lửa và lưu huỳnh của giáo phái Calvin về sự tan vỡ vốn có của con người. Nhưng đoạn Phúc âm Thánh Mattêô đề cập đến một khía cạnh của Phúc âm mà tôi đặt vào trọng tâm đức tin của tôi: tình yêu và sự tin tưởng Chúa Giêsu đặt vào chúng ta khi giao cho chúng ta sứ mệnh xây dựng Giáo hội của Ngài.

Bằng cách biến Phêrô thành tảng đá để Giáo hội công giáo được xây dựng. Chúa Giêsu nhắc chúng ta chân lý cốt yếu: Ở bên này cõi vĩnh hằng, đức tin của chúng ta phải được người khác truyền qua. Mỗi chúng ta cần vun đắp mối quan hệ cá nhân với Chúa Giêsu, nhưng đời sống kitô hữu sẽ không trọn vẹn nếu chúng ta không hiệp thông với người khác. Giáo hội không phải là một thực thể trừu tượng, không chỉ là khái niệm thần học, Giáo hội là cộng đồng cụ thể, hiện thân của con người trần thế – những người như bạn, như tôi hoặc như Thánh Phêrô. Tại sao phải theo công giáo? Tại sao phải là một phần của Giáo hội? Vì Chúa Giêsu ở đó.

Chúng ta có phải hoàn hảo để hiện thân cho Giáo hội không? Bản thân Giáo hội có hoàn hảo không? Lời Chúa Giêsu nói với Thánh Phêrô cho chúng ta hiểu ngược lại: “Hãy lui sau Ta, Satan! Ngươi là chướng ngại cho Ta. Ngươi không suy nghĩ như Thiên Chúa, mà theo cách con người.” Đây là một trong những đoạn Kinh thánh khó hiểu khi đọc lần đầu, nhưng những gì đoạn này dạy chúng ta về Giáo hội, về tình yêu Chúa Giêsu dành cho chúng ta là điều cốt yếu. Có thể nói gì về những thiếu sót của Giáo hội khi Chúa Giêsu gọi tảng đá của Ngài, môn đệ tin cậy nhất của Ngài là Satan? Khi Chúa Giêsu thành lập Giáo hội của Ngài trên trái đất này, Ngài đã tính đến những điểm yếu, những thiếu sót và tội lỗi của chúng ta. Người biết chúng ta sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng, rằng cái tôi và hệ tư tưởng của con người thường cản trở tình yêu của Ngài. Tuy nhiên, dù Ngài đã khiển trách Thánh Phêrô đã hành động theo những thôi thúc nhỏ nhặt của bản chất không hoàn hảo của con người, Ngài vẫn tin vào Thánh Phêrô để phục vụ tảng đá của Ngài, vì dù sai lầm, Thánh Phêrô đã tin vào Chúa Giêsu để nói Ngài là Đấng Kitô, Con Đức Chúa Trời hằng sống.

Đức tin của Thánh Phêrô tồn tại song song với những sai lầm của ngài nhưng cuối cùng đức tin đã giúp ngài vượt lên, trở thành tấm gương cho tất cả chúng ta, những người đang đấu tranh với những lỗi lầm của chính mình nhưng vẫn cố gắng phát triển đức tin và tình yêu. Cũng vậy, Giáo hội trong sự phức tạp rất nhân bản của mình đã hướng chúng ta đến tình yêu của Chúa Giêsu. Chúng ta, con người, là sứ giả của tình yêu và ân sủng của Thiên Chúa trên thế giới này; khi chúng ta tụ họp với nhau trong Giáo hội hoàn vũ (katholikos) và gặp gỡ nhau, chúng ta gặp gỡ Đấng đã ban cho con người giống Ngài, giao cho chúng ta chìa khóa Vương quốc Thiên đàng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Cựu Linh mục Đa Minh Jacques Arnould: “Chúa luôn thoát khỏi”

Cựu Linh mục Đa Minh Jacques Arnould: “Chúa luôn thoát khỏi”

Cựu Linh mục Đa Minh Jacques Arnould chiếm vị trí độc nhất trong  giới chuyên gia đạo đức ở Cơ quan vũ trụ Pháp. Từ chối thói đạo đức giả của cuộc sống hai mặt, ông rời Dòng để sống với một phụ nữ nhưng không phủ nhận bất cứ một điều gì về đức tin đã luôn hướng dẫn cuộc đời của ông.

lavie.fr, Sistine Chartier, 2024-06-21

Cựu Linh mục Đa Minh Jacques Arnould – Hình ảnh / Emeric Fohlen – La Vie

Người ta nói nguồn gốc vẫn còn lảng tránh chúng ta. Thần học gia Teilhard de Chardin đã viết: “Nguồn gốc ẩn giấu trong làn sương mù lớn.” Giống như cuộc sống, đức tin là di sản tôi đã nhận được. Tôi không có kinh nghiệm con đường Damas. Đức tin của tôi được xây dựng trong một gia đình giữ đạo. Rồi với những người đàn ông, đàn bà tôi gặp trong cuộc sống đã thúc đẩy tôi phải tự vấn bản thân.

Mẹ tôi là người phụ nữ có đức tin mạnh mẽ, bà không bị suy nghĩ làm rối trí: bà tin vào hành động, vào đôi tay vào đôi bàn chân của bà. Bà đòi hỏi khắt khe với chính mình và với người khác, nhưng bà có một tự do to lớn. Đức tin được kế thừa này tiếp tục tiếp sức cho tôi. Tôi cũng bị thôi thúc của một tò mò lớn lao: Chúa là ai? Tôi luôn muốn đi xa hơn.

Trong một thời gian dài tôi thường lui tới các tu viện với mong muốn có một kinh nghiệm triệt để nào đó cho tôi. Đây có phải là nơi dành cho tôi không? Trong một lần tình cờ, tôi gặp bạn tôi là Nicolas-Bernard, tu sĩ Đa Minh ở Toulouse. Ở đó, tôi tìm thấy được những gì của đời sống tu viện – đời sống chung, phụng vụ – và sự dấn thân triệt để vào thế giới này.

Hình ảnh / Emeric Fohlen – La Vie

Khoa học và đức tin

Tôi được đào tạo tại Agro Paris Tech, tôi rất thích các câu hỏi khoa học nhưng tôi tập trung vào các ứng dụng kỹ thuật nhiều hơn. Trong thời gian tập sự ở Lille, đoạn cuối trong tiểu luận Cơ hội và Sự cần thiết của Jacques Monod (Hasard et la Nécessité) đã có tác động sâu đậm trong tôi: “Cuối cùng, con người biết mình đơn độc trong vũ trụ bao la thờ ơ, nơi nó xuất hiện một cách tình cờ. Không hơn số phận của mình, nhiệm vụ của nó không được viết ở bất cứ đâu. Con người phải chọn cho mình giữa Vương quốc và bóng tối.”

Nhận thức này có vẻ nghiêm khắc nhưng nó vẫn mở. Là tu sĩ trẻ, tôi tự hỏi làm thế nào đức tin kitô giáo có thể trả lời một cách trung thực cho Monod. Đó là động lực tôi mở tập tin “Khoa học và đức tin”. Nó tiếp tục có tác dụng với tôi vì khoa học tiếp tục làm phong phú tầm nhìn của chúng ta về thực tại, về bản thân chúng ta, về cái vô cùng lớn cũng như cái vô cùng nhỏ.

“Nếu có bằng chứng về sự tồn tại của Chúa, tất cả các nhà khoa học sẽ là những người có đức tin”

Cũng như mọi người, đức tin của tôi bị nghi ngờ, nhưng tôi chưa bao giờ có ý định bỏ đức tin. Những câu hỏi lớn này đặc biệt đánh thức sự lười biếng, những hệ thống suy nghĩ nhỏ bé nhưng rất thực tế của chúng ta. Tôi phải nói gì khi nói Chúa là đấng sáng tạo? Tôi có thể thú nhận sự sáng tạo trước hết là mối quan hệ giữa người sáng tạo và thụ tạo không? Chúng ta cần trí thông minh để nói một cách đơn giản rằng một phần của những gì chúng ta tin sẽ luôn thoát khỏi tầm tay chúng ta.

Ai là Chúa? Tôi có thể nghĩ đến những ý nghĩ cao siêu nhất nhưng những chuyện này luôn thoát khỏi tôi. Khi chúng ta xem đức tin là ơn (Các tông đồ xin Chúa: “Xin cho con thêm đức tin!), chúng ta nhận ra chúng ta đang đứng trước một mầu nhiệm vĩ đại và điều đầu tiên là chúng ta phải thúc đẩy động lực hướng về Thiên Chúa.

Tôi thường nghe: “Bạn thật may mắn có đức tin.” Tôi không biết… Đôi khi nó thực sự cồng kềnh! Chắc chắn Darwin đã có một đức tin khá trung thực cho đến khi ông mất đứa con gái 10 tuổi. Ông không còn tin vào một Chúa đã cất con của ông ra khỏi tay ông. Nhưng với  người khác, chính đức tin đã giúp họ tiếp tục sống. Bạn tôi Jérôme và Florence đã mất hai đứa con trong trận sóng thần năm 2004 ở Thái Lan. Đức tin của họ có một vai trò quan trọng trên con đường họ xây dựng lại. Chúng ta nghe tôn giáo là “thuốc phiện của nhân dân”. Vậy thì sao? Thuốc phiện là thuốc giảm đau trước khi là thuốc gây nghiện. Chúng ta cần giảm đau. Việc lạm dụng tôn giáo chắc chắn là rất nhiều, nhưng chúng ta có nên vứt bỏ mọi thứ nhân danh những chuyện này không? 

Không gian, một lợi ích chung

Khi kết thúc chương trình học, để tiếp tục đào sâu những vấn đề này, tôi xin phép cấp trên có chân trong lãnh vực khoa học kỹ thuật. Chuyện này dẫn đến chuyện khác, sau khi làm “khách du lịch” trong phòng thí nghiệm sinh học tiến hóa ở Orsay, tôi đến cơ quan vũ trụ Pháp (Trung tâm Nghiên cứu Vũ trụ Quốc gia, Cnes). Và nhờ đó tôi là chuyên gia đầu tiên về đạo đức không gian trong lịch sử! Bây giờ tôi vẫn còn giữ chức vụ này.

Hình ảnh / Emeric Fohlen – La Vie

Việc này cung cấp cho các đồng nghiệp kỹ thuật của tôi “bằng chứng ngoại phạm” để suy nghĩ về các hoạt động họ thực hiện trong không gian. Để làm gì? Làm sao? Với những hậu quả nào? Chúng tôi phải áp dụng những câu hỏi này cho việc khám phá không gian và sử dụng các nguồn tài nguyên của nó. Chúng tôi phải làm mọi thứ để bảo đảm không gian phải là lợi ích chung.

Các bằng chứng về sự tồn tại của Chúa: “Nghi ngờ là cấu thành của khoa học cũng như của tôn giáo”

Rõ ràng, công việc của tôi tại Trung tâm Nghiên cứu Cnes, một tổ chức công cộng, không liên quan đến thần học! Tuy nhiên, cuối cùng các đồng nghiệp, độc giả, thính giả của tôi đều biết cam kết tôn giáo của tôi. Vì vậy, họ hỏi tôi: “Chúa sẽ ra sao nếu chúng ta phát hiện ra sự sống trên sao Hỏa?” Câu hỏi không điên rồ chút nào! Ngày nay, để suy nghĩ về Thiên Chúa trong một vũ trụ vô hạn, chúng ta phải xem lại thần học, phải nghiêm túc xem xét kitô học vũ trụ của các Giáo phụ, được thần học gia Teilhard de Chardin phát triển gần đây. Đức tin kitô giáo sẽ nói gì với con người rất khiêm hèn khi đối diện với chiều kích không gian và thời gian của vũ trụ! Có điều gì đó để suy nghĩ… hoặc để tin.

Những suy tư và công việc này chiếm phần lớn thì giờ của tôi. Nhưng tôi không quên Thánh Tôma Aquinô, vào cuối đời ngài đã nói về công việc của ngài: “Tất cả chỉ là rơm rạ”! Điều này cũng không sao vì rơm rạ cũng được dùng để đốt lửa. Nhưng khi chúng ta đối diện với Chúa, tất cả những điều này dường như chỉ là thứ yếu với chúng ta. Chúng ta cần những viên đá, những nền tảng, một chút trí thông minh để tránh đi lạc lối… nhưng trước những nỗ lực suy đoán quá mức, tôi muốn tìm một hình thức đơn giản: chúng ta bỏ qua quá nhiều điều về Thiên Chúa và thế giới.

Đối với số đông

Tin Mừng không chỉ giới hạn ở một nhóm nhỏ những người có suy nghĩ đúng đắn. Đức tin dành cho tất cả mọi người. Trong phụng vụ thánh lễ, lúc truyền phép, rượu được thánh hiến “cho mọi người”, không chỉ dành cho những ai đi rước lễ. Sự cứu rỗi dành cho tất cả mọi người, ngay cả cho những người chúng ta không thể chịu nổi, những người hung bạo, độc ác… Tôi biết điều đó thật khó chấp nhận.

Trong 17 năm “làm mục vụ vỉa hè ”, mỗi tuần tôi ở một đêm ở đường Saint-Denis, một trong những địa điểm mại dâm chính ở Paris. Tôi là tình nguyện viên và tuyên úy quốc gia của Phong trào Tổ ấm; trong một thời gian dài tôi giúp các cô lang thang một mình. Bao nhiêu là gặp gỡ! Tôi nhớ người phụ nữ xin tôi làm phép cho căn phòng của cô. Tôi giải thích, trước hết tôi làm phép cho con người, vì thế tôi chúc lành cho cô và cho khách của cô. Một cô khác nói với tôi, cô xấu hổ khi vào nhà thờ, dù để đem hoa vào. Tôi đã làm mọi cách để họ thấy cái nhìn nhân từ của Chúa và đơn giản là cái nhìn tôi dành cho họ. Tôi biết Maria Mađalêna đã khuyên tôi!

Tôi có thể nói tôi là tu sĩ Đa Minh hạnh phúc, vì thế tôi không tìm cách tránh đời sống tu trì. Nhưng, những thay đổi bất thường trong cuộc sống đã cho tôi gặp Catherine trong một cuộc gặp hàng không mà tôi và một người bạn phi hành gia tổ chức hội thảo. Từ lần gặp này đến lần gặp khác, chúng tôi đã kết một mối quan hệ bền chặt, một mối quan hệ lãng mạn hoàn toàn mới mẻ với tôi.

Không muốn để tâm đến chuyện này nhiều quá, tôi thấy tôi đang sống hai cuộc đời mà tôi vô cùng hạnh phúc. Một, đã được thành lập và một, mới ra đời, với sự kỳ diệu, viên mãn gắn liền với nó. Tôi biết tôi không phải là người tu sĩ duy nhất trong cộng đoàn sống hai mặt; nhưng tình trạng bí mật, dối trá, đạo đức giả này đã làm cho tôi rất đau khổ: vì vậy tôi quyết định chọn một trong hai cuộc sống này.

Tôi xin rời Dòng để ra khỏi lời khấn. Tôi muốn tình trạng của tôi rõ ràng, với Giáo hội cũng như với Catherine. Hôm nay người ta giới thiệu tôi là cựu tu sĩ Đa Minh: điều này đúng về mặt pháp lý, nhưng tôi vẫn gắn bó với anh em dòng vì lòng biết ơn cho những gì họ đã cho tôi với tình huynh đệ. Tôi không muốn biện minh cho mình, tôi chỉ cố gắng tiếp tục thực hiện nền tảng của đời sống Đa Minh: sự thật và tình yêu.

Đứng trước cái chết

Hình ảnh / Emeric Fohlen – La Vie

Cha tôi đã tặng cho tôi hai món quà: sự sống và khoảnh khắc ông qua đời. Đó là 25 năm trước. Khoảnh khắc của một nét đẹp đáng kinh ngạc. Những giờ trước đó thật khủng khiếp. Ông nghẹt thở, từng chút một, ông thở lại. Như thể ông đã đi xa. Ông xin hỏa táng; chưa bao giờ có ai trong gia đình chúng tôi chọn cách này, nó phổ biến ở các nước phía bắc hơn ở Pháp, đặc biệt vào thời điểm đó. Giáo hội không cấm, vì thế chúng tôi làm theo nguyện vọng của ông và rải tro cốt của ông ở rừng Meuse yêu quý của ông. Mẹ tôi, vợ chồng anh tôi và tôi đã leo lên những ngọn đồi ở Meuse, gần nơi của ông Alain-Fournier. Cha tôi, người đàn ông ôn hòa muốn ở cùng với các quân nhân của cuộc Đại chiến. Khi mẹ tôi qua đời cách đây năm năm, chúng tôi cũng đã làm như vậy. Lần này có hai đứa con của anh tôi và Catherine đi cùng chúng tôi. Tôi để chiếc bình trong túi ba-lô… Việc chôn cha mẹ là thật đau lòng; nhưng cha mẹ tôi đã cho tôi cơ hội được sống trong hòa bình, được mời gọi hy vọng. Tôi thấy thật đáng tiếc là chúng ta thường tìm cách trốn tránh cái chết, không nói về nó, không trông chừng những người đã khuất. Tôi không ủng hộ bất kỳ thái độ bệnh hoạn nào; tôi nghĩ rằng trong những khoảnh khắc này, chúng ta trải nghiệm một phần thiết yếu của nhân loại. Chúng ta đừng bỏ lỡ nó.

Cuộc đời của cựu linh mục Jacques Arnould

1961 Sinh ra ở Metz (Moselle).

1985 Tốt nghiệp trường Agro Paris Tech.

1986 Vào Dòng Đa Minh.

1996 Luận án thần học.

1999 Luận án về lịch sử khoa học.

2001 Chịu trách nhiệm về các vấn đề đạo đức tại Trung tâm Nghiên cứu Vũ trụ Quốc gia (Cnes).

2010 Ra Dòng.

Cựu linh mục Jacques Arnould được biết đến với nhiều bài tiểu luận về cuộc chinh phục không gian và mối quan hệ biến động giữa khoa học và đức tin. Trong hơn 15 năm, cựu linh mục đã đưa kiến thức chung của mình về truyền thống kitô giáo và những thách thức do những tiến bộ khoa học đặt ra để phục vụ công chúng. Là tác giả nổi tiếng, năm nay linh mục sẽ phát hành hai quyển sách với nội dung khác nhau: một với chủ đề không gian: Des colonies dans l’espace, nxb. Odile Jacob, quyển kia rất cá nhân, kể tiến trình cá nhân, rời Dòng vì tình yêu cho một phụ nữ. Quyển sách phỏng vấn viết với nhà báo Théo Moy kể giai đoạn ông rời Dòng Đa Minh giải thích một cách đơn giản và tế nhị quan điểm của ông về những vấn đề chính đang kích động Giáo hội hiện nay.

Marta An Nguyễn dịch

Việc chuyển giao đức tin trong những năm đầu đời của Chân phước Carlo Acutis

Việc chuyển giao đức tin trong những năm đầu đời của Chân phước Carlo Acutis

Trích sách “Chuyển giao đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Nhưng nếu, trong những năm đầu đời  của Carlo, bà, Antonia bà có một đức tin rất chập chững, và ông, Andrea, ông không đi nhà thờ thì ai là người truyền cho Carlo những điều cơ bản đầu tiên về đức tin?

Sự hiện diện của cô gái trẻ Ba Lan Beata trong nhà chúng tôi mang một ý nghĩa quyết định. Cô là người giữ Carlo từ năm 1992 đến năm 1996, cô mang đến cho Carlo đời sống đức tin với những việc làm đơn giản như lần hạt Mân Côi và cầu nguyện cho người quá cố. Khi đến nhà chúng tôi, cô mang theo một  vali đầy ảnh tượng Đức Mẹ Czestochowa. Beata đã kết nối đời sống hằng ngày với đời sống thiêng liêng, đời sống hiệp thông với Chúa Giêsu. Beata cũng giúp tôi về mặt thiêng liêng khi cha tôi (Antonia) đột ngột qua đời. Cô đã sống những năm cuối cùng của chế độ cộng sản ở Ba Lan, khi đó đời sống của tín hữu rất khó khăn, vì thế cô được rèn luyện mạnh mẽ để vượt qua khó khăn. Beata thường chia sẻ những cảm nghĩ của cô về Carlo với chúng tôi. Cô cho chúng tôi biết, Carlo phát triển rất sớm, Carlo hỏi những câu hỏi của một người khôn ngoan, trưởng thành, Carlo khao khát sống đời sống thiêng liêng. Carlo xin cô kể về Chúa Giêsu. Và khi chúng tôi đi lễ, Carlo rất buồn vì không được rước lễ.

Cô nhận thấy Carlo quá ngoan ngoãn. Dĩ nhiên Carlo rất năng động, hòa đồng, nghịch ngợm như các em bé ở tuổi của Carlo. Carlo rất nghe lời chúng tôi, Carlo không bao giờ làm phiền chúng tôi, Carlo luôn làm những gì chúng tôi yêu cầu. Beata cho biết Carlo không bao giờ nổi loạn dù các bạn cùng lớp chơi khăm hoặc phá Carlo một chút. Beata muốn Carlo phản ứng lại và không để người khác chế giễu mình. Nhưng Carlo trả lời một cách đơn giản đến bất ngờ: “Chúa Giêsu sẽ không vui nếu con phản ứng bằng bạo lực.”

Tôi còn nhớ rõ câu chuyện khi Carlo khoảng 4 tuổi. Beata và mẹ tôi vào siêu thị mua sắm, tôi và Carlo đợi bên ngoài. Một cô bé có mái tóc hung đến gần Carlo và ném cho Carlo một quả bóng bay màu xanh. Có lẽ cô muốn làm quen hoặc chọc Carlo. Carlo vẫn thản nhiên, vì thế cô làm mặt nhăn nhó và lè lưỡi trêu Carlo. Nhưng Carlo không phản ứng, Carlo dịu dàng nhìn cô, mỉm cười với cô. Nụ cười này làm cô bé ngạc nhiên và cô bé cũng mỉm cười lại với Carlo. Carlo có một cá tính mạnh, Carlo biết mình muốn gì. Cuộc sống của Carlo dựa trên tình bạn với Chúa Giêsu. Carlo được Chúa truyền cảm hứng vì Carlo biết nhờ ơn thánh hóa, Chúa Giêsu ở trong lòng mình.

Vì thế chắc chắn Beata đã có một vai trò quan trọng trong việc giáo dục đời sống đức tin của Carlo qua những cử chỉ đơn giản. Nhưng với nhận thức muộn màng, chúng tôi phải công nhận nếu Carlo ngoan ngoãn, vâng lời cha mẹ thì Carlo còn ngoan ngoãn, siêng năng hơn, đáp ứng một cách thông minh và nhanh chóng trước ân sủng thiêng liêng, trước những soi sáng của Chúa Thánh Thần và noi gương Chúa Giêsu. Trong những năm đầu đời của Carlo, chúng tôi chưa hiểu đầy đủ tầm quan trọng của việc cầu nguyện trong gia đình, của đi lễ, của cố gắng tương ứng với tình bạn với Chúa trong mọi lúc. Vì thế chúng tôi hoàn toàn không thể hướng dẫn Carlo. Nhưng chúng tôi không cản trở, chúng tôi khuyến khích theo những gì chúng tôi có thể hiểu được. Chúng tôi biết, Carlo muốn chúng tôi hướng về Chúa. Qua những cử chỉ, những ước muốn, những câu hỏi tò mò, đôi khi khiêu khích Carlo đã dẫn chúng tôi khám phá bản chất của đức tin kitô giáo: đi theo Chúa Kitô, sống hiệp thông với Ngài, luôn hành động trước sự chứng kiến của Ngài.

Marta An Nguyễn dịch

Làm thế nào để đối phó với tình trạng mất ý chí của trẻ vị thành niên?

Làm thế nào để đối phó với tình trạng mất ý chí của trẻ vị thành niên?

Con cái các bạn có bị mất ý chí không? Tính lười biếng có chiếm trọn sức sống của chúng không? Khi dán mắt vào điện thoại, trẻ vị thành niên thường không kiểm soát được thời gian. Một số yếu tố giúp cha mẹ hiểu các con đang ở trong tình trạng này.

famillechretienne.fr, Nathalie Mihailovich, 2024-07-03

Tuổi vị thành niên là giai đoạn thường có những thay đổi đáng lo ngại. Đôi khi rất khó để thấy đứa con dễ thương của mình bây giờ là thanh niên cao lớn có nhiều râu tóc đang đứng trước mặt mình. Nhưng chúng ta đừng quên, đây chỉ là giai đoạn mất quân bình khi trẻ vị thành niên có những thay đổi về thể chất và tâm lý dẫn đến thái độ phản đối. Khi lớn lên, trẻ em muốn tránh quyền lực và quy tắc người lớn áp đặt. Chúng muốn tạo cho mình một bản sắc. Giữa một bên muốn duy trì quyền lực, một bên muốn thoát ra, dĩ nhiên sẽ có xung đột. Đứa bé nổi loạn với chiếc điện thoại trong tay làm cha mẹ bực mình, cha mẹ chỉ muốn con đàng hoàng ngay. Mâu thuẫn giữa hai bên làm cha mẹ căng thẳng.

Làm sao đây?

Hai thế kỷ trước, nhà văn Nga Goncharov đã nói, không có gì mới dưới ánh sáng mặt trời, ông mô tả vấn đề này qua nhân vật phản anh hùng Oblomov. Oblomov là người thuê nhà, ông nằm trên chiếc ghế dài cả ngày. Ông không làm gì hết, kỷ luật bản thân không có. Sự thụ động làm ông kiệt sức, ông không nhấc tay nhấc chân làm một cái gì cho gia đình. Gia đình ông bực tức. Nhưng đứa bé mất ý chí là tự nó sao? Rất có thể sự thụ động này là do trẻ em thiếu tự tin. Nếu ý chí là khả năng để làm những việc có mục tiêu thì vì sao một số người không có? Nói cách khác, người bị cho là vô dụng, lười biếng, họ không có cách nào làm cho ý chí hoạt động sao? Đây không phải là vấn đề vì họ là nạn nhân, nhưng chúng ta phải đặt câu hỏi cho chính mình. Khi bực mình chúng ta có nói với trẻ những lời tiêu cực chỉ làm cho các em thêm lười không? Chúng có nghĩ mình lười vì mình… đã như vậy không? Mình có phải là người vô dụng, người không có khả năng không?

Một giai đoạn chuyển tiếp

Khi không kìm nén được thôi thúc, chúng ta nói những lời không nên nói, khi đó chúng ta nên nhớ lại, chúng ta cũng từng là đứa bé lười biếng. Lòng tự hào của chúng ta cũng từng bị tổn thương vì chúng ta cũng đã đấu tranh để được chấp nhận mà không được. Tuổi thiếu niên là tuổi chuyển tiếp, vì thế chúng ta đừng để mình phải luyến tiếc khi con cái rời khỏi nhà mới nhận ra. Trong những lúc bực mình, chúng ta kềm mình, lấy dịu dàng làm sức mạnh. Thánh Phaolô đã khuyên: “Tình yêu cần kiên nhẫn, tình yêu là phục vụ.”

Marta An Nguyễn dịch

Đức tin, “hiện hữu” và “sở hữu”

Đức tin, “hiện hữu” và “sở hữu”

Trích sách “Chuyển giao đức tin theo cách Carlo Acutis, con chúng tôi”, Antonia Salzano và Andrea Acutis  (Transmettre la foi à l’école de notre fils Carlo Acutis, Antonia Salzano et Andrea Acutis, nxb. Salvator). Linh mục Giorgio Maria Carbone phỏng vấn ông bà Andrea Acutis và Antonia Salzano.

Carlo thường nói: “Bước một bước trong đức tin là thêm một bước tiến tới hiện hữu và bớt một bước hướng tới sở hữu.” Bà có nhớ ý nghĩa này khi Carlo nói câu này không?

Tôi (bà Antonia) nghĩ tôi có thể tìm được ý nghĩa câu này khi nhớ lại những gì đã xảy ra vào buổi tối tháng 8 năm 2006. Chúng tôi đi ăn tối ở Portofino. Khi chúng tôi vừa rời nhà hàng, Carlo đứng sang một bên, vẻ mặt trầm tư và buồn buồn. Thỉnh thoảng Carlo vẫn như thế. Tôi không nói gì. Tôi không muốn mình thiếu thận trọng. Tôi đợi cuối cùng Carlo sẽ nói chuyện này với tôi. Và đúng vậy. Trước khi đi ngủ, Carlo nói cho tôi biết: “Khi rời nhà hàng, Carlo nghe lời Chúa Giêsu vang vọng trong tâm hồn: Ta khát (Ga 19:28), lời Ngài nói trước khi tắt thở.” Với Carlo, qua lời này Chúa muốn Carlo hiểu được ý Ngài: không màng đến sự giàu có xa hoa Carlo có thể có ở Portofino – đó là những thứ không đáng kể – mục đích của Chúa là muốn cứu rỗi những người sống ở đây, chính họ mới đáng kể.

“Sở hữu” không mang cho mình một hạnh phúc ổn định. Nhưng hiện hữu xuất phát từ đức tin sẽ đưa chúng ta đến hạnh phúc mãi mãi. Không phải sự giàu có làm chúng ta hạnh phúc. Mối quan tâm chính của chúng ta là phải cứu rỗi linh hồn mình và linh hồn của những người mình gặp. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu đã nói: “Vì nếu được cả thế gian mà phải mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16:26). Carlo luôn nói: “Nếu Chúa chiếm hữu trái tim thì chúng ta sẽ có được cái vô hạn. Ai chỉ dựa vào của cải vật chất mà không dựa vào Chúa thì sống lối sống ngược lại. Giống như người lái xe, thay vì đi nhanh để đến mục tiêu thì lại đi sai hướng, ngược chiều với đích đến sẽ liên tục có nguy cơ đụng người khác.”

Marta An Nguyễn dịch

Đức Bà Cả và tuyết rơi, “biểu tượng của ân sủng”

Đức Bà Cả và tuyết rơi, “biểu tượng của ân sủng”

Trong bài giảng nhân lễ cung hiến đền thờ Đức Bà Cả, Đức Phanxicô chia sẻ một suy tư ngắn dựa trên hai dấu hiệu đặc trưng của lễ kỷ niệm này: truyền thống tuyết rơi và tượng Đức Mẹ bảo vệ người dân La-mã.

vaticannews.va, Myriam Sandouno, 2024-08-05

Ngày thứ hai 5 tháng 8, Đức Phanxicô dự lễ cung hiến đền thờ Đức Bà Cả do Đức ông Rolandas Makrickas, linh mục phó của Đền thờ cử hành. Trong bài giảng Đức Phanxicô nhắc lại giấc mơ “tuyết rơi” của Giáo hoàng Liberius để xây Đền thờ và đặt tượng Đức Mẹ bảo vệ người dân Rôma trong nhà nguyện Pauline gần 410 năm.

Đức Phanxicô gắn bó với biểu tượng này, trước mỗi chuyến tông du ngài đến đây dâng chuyến đi cho Đức Mẹ và sau chuyến đi, ngài đến tạ ơn Mẹ.

“Tuyết rơi”

Huyền thoại “tuyết rơi” có từ thế kỷ thứ 4. Huyền thoại kể, trong giấc mơ hiện ra với Giáo hoàng Liberius và nhà quý tộc la-mã John, Đức Mẹ xin họ xây một đền thờ để vinh danh Mẹ, nơi họ sẽ thấy tuyết. Vì thế ngày 5 tháng 8 năm 358, giữa mùa hè, một lớp tuyết mỏng bao phủ ngọn đồi Esquiline.

Lễ Đức Mẹ Tuyết

Đức Phanxicô giảng: “Huyền thoại tuyết rơi chỉ là huyền thoại dân gian hay có giá trị biểu tượng? Nó tùy thuộc cách chúng ta nhìn nhận và ý nghĩa chúng ta gán cho nó. Việc giải thích dấu hiệu tuyết rơi có thể được xem như một ơn, một thực tại kết hợp vẻ đẹp với ân sủng. Đó là thứ không thể kiếm được, không thể mua được, chỉ có thể được nhận như một ơn và như vậy là hoàn toàn không thể đoán trước được: tuyết rơi giữa mùa hè Rôma! Ân sủng làm chúng ta kinh ngạc và ngưỡng mộ. Ở đây ân sủng mang tính chất cụ thể, lột bỏ mọi vỏ bọc thần thoại, ma thuật, tâm linh, những thứ chúng ta phải đề phòng trong lãnh vực tôn giáo.”

Đức Phanxicô trước ảnh Đức Mẹ bảo vệ người dân La-mã

Trong biểu tượng Người Phụ nữ và Hài nhi nói lên điều cốt yếu: “Người Phụ nữ đầy ân sủng, được thụ thai mà vô nhiễm, tinh tuyền như tuyết vừa rơi. Mẹ là Mẹ của Chúa từ trước thời gian và mãi mãi sau thời gian. Mẹ đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc lạ hơn mọi người nữ. Áo choàng đen của Mẹ làm nổi bật chiếc áo vàng của Con Mẹ: chỉ nơi Ngài mới chứa trọn vẹn thần tính; khuôn mặt lộ ra của Mẹ phản ánh vinh quang của Chúa.”

Mẹ là trung gian cầu bàu cho hòa bình

Cùng với 600 giáo dân hiện diện trong buổi lễ, Đức Phanxicô xin Đức Mẹ cầu bàu cho thành phố Rôma, cho tất cả các thành phố trên thế giới, cho hòa bình: hòa bình chỉ chân thực và lâu dài nếu bắt đầu từ những tấm lòng sám hối và được tha thứ; bình an đến từ Thập giá Chúa Kitô, từ Máu Người đã đổ ra để cứu chuộc. Ngài đọc Kinh Kính Mừng, xin Mẹ là ánh sáng không hề tắt, Mẹ đã sinh ra mặt trời công lý.

Lạy Mẹ Thiên Chúa, xin cầu bàu cho chúng con.

Marta An Nguyễn dịch

Didier Grandjean, cựu cận vệ Thụy Sĩ muốn làm linh mục

Didier Grandjean, cựu cận vệ Thụy Sĩ muốn làm linh mục

Với 500 năm tuổi, sứ mệnh của đội cận vệ Thụy Sĩ là bảo đảm an ninh cho Giáo hoàng. Được đào tạo về cận chiến, bắn súng và bảo vệ cá nhân, sau khi làm việc ở Rôma, nhiều cận vệ Thụy Sĩ phục vụ trong ngành cảnh sát, canh gác biên phòng hoặc quân đội. Nhưng không phải tất cả: cựu cận vệ Thụy Sĩ Didier Grandjean, 34 tuổi muốn đi tu! Didier Grandjean bây giờ là chủng sinh.

vaticannews.va, Romano Pelosi, Vatican, 2024-08-06

Didier Grandjean nói đùa, anh mặc lại đồng phục nhưng đồng phục bây giờ không sặc sỡ bằng! Mùa hè này chủng sinh Didier ở giáo phận Fribourg, Thụy Sĩ về lại Vatican để làm một số việc trong Đội cận vệ huy hoàng này.

Anh học ngành làm vườn, anh vào Đội cận vệ từ năm 2011 đến năm 2019, bây giờ anh vào chủng viện.

Phỏng vấn chủng sinh Didier Grandjean

Cận vệ Thụy Sĩ: con đường đi đến ơn gọi

Môi trường gia đình và thành phố Fribourg anh ở thấm đậm kitô giáo. Thành phố Fribourg là nơi có trụ sở của một trong bốn khoa thần học Công giáo Thụy Sĩ (Lucerne, Chur, Lugano) đôi khi được gọi là “Rôma của Thụy Sĩ”.

Nhân dịp kỷ niệm 500 năm thành lập Đội cận vệ Thụy Sĩ năm 2006, anh Grandjean nhận được tờ quảng cáo sinh hoạt của Đội cận vệ: “Tôi luôn giữ tờ quảng cáo này ở tủ đầu giường vì nó luôn ở trong ký ức của tôi. Ký ức này này đồng hành với tôi trong suốt  hành trình, chưa bao giờ tôi rời bỏ nó. Buổi họp thông tin này là yếu tố thúc đẩy tôi vào đội cận vệ.”

Anh học xong khóa tuyển quân của đội cận vệ Thụy Sĩ, tiêu chuẩn để được nhận vào quân đội lâu đời nhất thế giới, nhưng trên hết động lực phục vụ Giáo hoàng và Giáo hội của anh vẫn là  tôn giáo.

Tiếp xúc với khách hành hương là động lực xúc tác cho đức tin

Năm 2011, anh vào Đội Cận vệ khi anh 21 tuổi, anh khám phá thế giới Vatican, sự hòa nhập này đã giúp anh phát triển đức tin. Công việc đa diện của Đội, đặc biệt ở các nơi kiểm soát ra vào như ở cổng Thánh Annà hoặc Dinh Tông tòa là những nơi tiếp xúc với khách hành hương từ khắp thế giới đổ về: “Trong thời gian phục vụ, việc tiếp xúc với khách hành hương đã làm tôi suy nghĩ về đức tin sâu đậm của họ, họ thể hiện một cách rõ ràng. Mặt khác, cô đơn và cô lập là đặc điểm chung của tất cả các cơ quan an ninh trên thế giới lại nổi bật: có những lúc chúng tôi chỉ có một mình trong các vị trí phục vụ ở Vatican. Tôi đã tận dụng những giây phút này để cầu nguyện, tĩnh tâm và suy ngẫm.”

Didier Grandjean trong bộ đồng phục Grand Gala: “Phục vụ trong Đội Cận vệ và với tư cách là linh mục phải thấm nhuần đức khiêm nhường”

Đáp trả ơn gọi

Cầu nguyện, suy niệm, suy tư gắn liền với những cuộc gặp đầy ấn tượng chung quanh vòm Đền thờ Thánh Phêrô đã mài giũa ơn gọi của Didier và đưa anh đến con đường làm linh mục. Một khám phá từ từ, anh giải thích: “Thuật ngữ ‘ơn gọi’ xuất phát từ chữ la-tinh ‘vocare’ có nghĩa là gọi. Đó là cuộc gọi, một cái gì đó tôi cảm thấy trong nội tâm. Với tôi, lời kêu gọi này phát triển từ từ, không phải là một tỉnh thức đột ngột. Điều này khác nhau ở mỗi người, nhưng với tôi đó là tiến trình tôi dần dần nhận ra Chúa đang gọi tôi làm một cái gì khác.”

Trên thực tế, ý tưởng làm linh mục đã nảy sinh trước khi anh vào Đội, nhưng khi đó anh còn quá trẻ. Anh cần thời gian để nhận ra bước quan trọng của ơn gọi: nhận ra tiếng gọi, chấp nhận và cuối cùng dấn thân. Anh giải thích: “Với tôi, làm cận vệ là con đường để được công nhận và trưởng thành, cả về mặt nhân bản lẫn tinh thần. Tôi cần thời gian để trưởng thành về mặt nhân bản, để nhận ra tiếng gọi, chấp nhận và dấn thân.”

“Đi, đó là con đường của con”

Sau khi quyết định vào chủng viện, anh được gia đình, bạn bè ủng hộ rất mạnh. Anh xúc động kể: “Là một ân sủng lớn lao khi tôi được mọi người ủng hộ, không ai ngăn cản tôi đi con đường này.” Điều làm anh xúc động mạnh là anh còn kịp thông báo tin này cho cha của anh, ông qua đời năm 2018: “Tôi rất xúc động vì cha tôi khuyến khích tôi rất nhiều, bà tôi cũng vậy. Tôi rất gần với bà, bà tôi qua đời một năm sau. Tôi biết bây giờ từ thiên đàng, họ đang theo dõi tôi. Tôi vẫn còn nhớ lời cha tôi dặn: ‘Con đi đi, đó là con đường của con’.”

Dù có một số người e ngại, nhưng chủ yếu tích cực đã mang lại cho anh tự tin và sức mạnh để đi trên con đường này. Anh làm chứng: “Tôi có cảm giác Chúa đang kêu gọi tôi làm một việc khác, theo một cách khác để tiếp tục phục vụ Ngài.”

Didier Grandjean chào Đức Phanxicô

Một thế giới thu nhỏ bao quanh sức sống của sự vĩnh hằng

Trong Vatican, Đội cận vệ bảo đảm an ninh cho Giáo hoàng. Hơi thở vĩnh cửu này tạo nên những khoảnh khắc đặc biệt, những khoảnh khắc quyết định trong đời của một cận vệ, định hình cho cuộc đời tương lai của họ. Với anh Didier cũng vậy: “Trong thời gian tôi phục vụ, thời điểm mang tính bước ngoặt cho tôi, đó là mật nghị năm 2013. Thật xúc động khi thấy sự kiện này quan trọng như thế nào về mặt lịch sử và tinh thần. Những điều phi thường đã xảy ra. Chúng tôi ở đó để phục vụ và đồng hành trong tiến trình này và thật ấn tượng khi thấy sự vĩ đại và bản chất siêu nhiên của Giáo hội vượt lên những điểm yếu của con người. Điều này đã tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng tôi và làm tôi xúc động. Việc được gần với hai Giáo hoàng, Giáo hoàng Bênêđíctô XVI và giáo hoàng Phanxicô mang một ý nghĩa rất lớn với tôi. Thật là ấn tượng khi thấy họ dấn thân phục vụ Giáo hội, họ không tiếc công tiếc sức, luôn sẵn sàng phục vụ. Họ mang lại cho tôi mong muốn và sức mạnh để đến lượt tôi, tôi phục vụ.”

Ý thức phục vụ

Chúng ta có thể thiết lập mối liên hệ giữa việc phục vụ trong Đội cận vệ Thụy Sĩ cà cuộc sống của một chủng sinh không?

Trước hết, nhận thức việc phục vụ là điều quan trọng, dù trong Đội cận vệ, trong chủng viện hay với tư cách là linh mục. Phục vụ là trọng tâm. Đó là thông điệp mang tính quyết định.” Nhưng theo anh Didier, không nên bỏ qua một yếu tố quyết định khác của Đội, đó là tình bạn thân thiết.

Anh đã phát triển tình bạn này trong suốt 8 năm làm việc trong Đội. Là linh mục tương lai, có được nhiều bạn là một kho báu, vì cô độc là thách thức rất lớn cho các linh mục.

Cuối cùng, ý thức phục vụ, dấn thân cho người khác không phải là tất cả. Anh giải thích: “Còn có kỷ luật. Kỷ luật không chỉ đóng vai trò trong bối cảnh quân sự của một cận vệ, mà còn trong đời sống cầu nguyện của một linh mục. Một linh mục đọc các Giờ Kinh Phụng vụ, và đôi khi lời cầu nguyện như một cuộc chiến. Thật không dễ dàng để dành thì giờ cầu nguyện mỗi ngày.

Anh Didier Grandjean tại văn phòng của Đài phát thanh Vatican.

Tầm quan trọng của kỷ luật

Cuộc sống của một cận vệ đòi hỏi phải có một kỷ luật liên tục: áo quần sạch sẽ, cạo râu mỗi ngày, đồng phục hoàn hảo, thái độ thân thiện. Nhưng bản chất thực sự của kỷ luật là vị tha phục vụ, đi đôi giữa đồng phục và áo chùng.

Để kết luận, anh muốn nhắc lại khẩu hiệu của Giáo hoàng: Servus servorum Dei, tôi tớ của các tôi tớ Chúa. Và đúng vậy, phục vụ như một linh mục cũng là tiếp tục phục vụ trong tư cách cận vệ Thụy Sĩ.

Anh kết luận: “Trong Đội Cận vệ, chúng tôi phục vụ Giáo hoàng, Giáo hội và giáo dân. Chúng tôi thường nói chúng tôi là tôi tớ của các tôi tớ Chúa. Chính xác đó là điều quan trọng: chúng tôi phải khiêm tốn phục vụ hết mình.”

Didier Grandjean đã cho đời mình một món quà: hôm qua là người cận vệ, hôm nay là linh mục tương lai.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất