Home Blog Page 125

Vatican công bố phụng vụ đơn giản hóa tang lễ Giáo hoàng

Vatican công bố phụng vụ đơn giản hóa tang lễ Giáo hoàng

la-croix.com, Matthieu Lasserre, 2024-11-20

Ngày thứ tư 20 tháng 11, Văn phòng Phụng vụ Giáo hoàng công bố nghi thức phụng vụ trong tang lễ các Giáo hoàng đã được Đức Phanxicô phê chuẩn. Trong một nghi thức phụng vụ đơn giản, Đức Phanxicô cho biết ngài muốn an nghỉ tại Đền thờ Đức Bà Cả Rôma chứ không ở Đền thờ Thánh Phêrô.

Tang lễ Đức Bênêđíctô XVI ngày 6-1-2023 / Martin Bertrand / Hans Lucas / AFP

Tháng 12 năm 2023 ngài đã cho biết ý định ngài muốn được chôn cất ở đền thờ Đức Bà Cả, chứ không ở Đền thờ Thánh Phêrô. Ngày thứ tư 20 tháng 11, Vatican công bố ấn bản mới của Ordo Exsequiarum Romani Pontificis, nghi thức hệ thống hóa tang lễ của các giáo hoàng.

Ấn bản này đã được Đức Phanxicô phê chuẩn vào tháng 4 và đã được làm lại để “đơn giản hóa” phù hợp với mong muốn của ngài. Tổng giám mục Diego Ravelli, người đứng đầu Văn phòng phụng vụ giáo hoàng lúc đó giải thích: “Nghi thức được đổi mới nhấn mạnh tang lễ của giáo hoàng là tang lễ của mục tử và môn đệ của Chúa Kitô chứ không phải tang lễ của người có quyền lực trên thế gian này.”

Một quan tài duy nhất

Nếu ba “nơi” của nghi thức an táng được giữ nguyên – trong các căn hộ giáo hoàng, trong vương cung thánh đường Vatican, trong nơi an táng – nhưng một số đặc điểm mới đã được đưa vào. Bây giờ việc thông báo cái chết của Giáo hoàng sẽ được tuyên bố ở nhà nguyện riêng của ngài chứ không ở phòng ngủ như trước đây. Sau đó thi thể được đặt trong một chiếc quan tài bằng gỗ duy nhất, bên trong bọc kẽm và được chuyển đến Đền thờ Thánh Phêrô, thi thể được quàn trong quan tài mở nắp để giáo dân đến viếng. Trước đây thi thể được quàn tại nhà thờ trong ba chiếc quan tài làm bằng cây bách, chì và gỗ sồi. Ngoài ra, nghi lễ được cải tiến, các giáo hoàng sẽ chọn một địa điểm chôn cất khác ngoài Đền thờ Thánh Phêrô.

Phụng vụ lễ an táng cũng nhẹ hơn, phù hợp hơn với Sách lễ Rôma kể cả các bài hát và các thánh vịnh. Các nghi thức tuần cửu nhật sau tang lễ cũng được sửa đổi. Các lời cầu nguyện trong sách lễ Rôma được dùng lại, các bài đọc đã bị xóa.

Tổng giám mục Ravelli giải thích: “Đây là một Ordo theo nghĩa đen của thuật ngữ, gồm các chỉ dẫn về nghi thức, sự phát triển của các nghi thức và ý nghĩa riêng của các văn bản. Các chỉ dẫn khác đều đã có trong sách lễ, sách bài đọc, vì thế đây là bản văn chính xác, dễ dùng trong tang lễ.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Ngôi mộ tương lai của Đức Phanxicô dưới chân Đức Mẹ

Giáng sinh đã về Quảng trường Thánh Phêrô

Giáng sinh đã về Quảng trường Thánh Phêrô

fr.aleteia.org, Ban biên tập, 2024-11-21

Cây thông Giáng sinh được dựng ở Quảng trường Thánh Phêrô ngày thứ sáu 22 tháng 11-2024 / Hình ảnh / Antoine Mekary | Aleteia

Quảng trường Thánh Phêrô náo nức chuẩn bị lễ Giáng sinh. Ngày thứ năm 21 tháng 11, cây thông truyền thống đã về Quảng trường Thánh Phêrô, sẽ được trang trí và sẽ được khánh thành cùng với máng cỏ ngày 7 tháng 12.

Cây thông 200 tuổi, cao 29 mét của vùng Ledro, đông bắc nước Ý, thị trấn có 5.300 người dân sinh sống giữa các ngọn núi hùng vĩ Tyrol. Cây thông được chọn vì thẩm mỹ và đến từ khu rừng được quản lý theo một số yêu cầu về môi trường, xã hội và kinh tế. Trong một kiến nghị, các nhà hoạt động môi trường đã phản đối việc chặt cây thông này, nhưng cây thông ở trong các lô đất phải bị đốn hạ để khai thác rừng một cách hợp lý.

Truyền thống dựng cây thông Giáng sinh có từ rất xưa, năm 1982 Đức Gioan-Phaolô II đã đặt cây thông Giáng sinh tại Quảng trường Thánh Phêrô. Dù phong tục này đã quen thuộc ở quê hương Ba Lan của ngài, nhưng ngài mong muốn Vatican cũng có truyền thống này. 40 năm sau, mỗi mùa Giáng sinh về, cây thông sáng rực làm nung nấu tâm hồn trẻ con cũng như người lớn chuẩn bị sống mầu nhiệm Chúa Giáng sinh một cách sốt sắng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hình ảnh cây thông Giáng sinh được dựng ở Quảng trường Thánh Phêrô ngày thứ sáu 22 tháng 11-2024 / Antoine Mekary | Aleteia

“Tôi tồn tại”, điều đó có nghĩa là gì?

“Tôi tồn tại”, điều đó có nghĩa là gì?

Câu “Tôi tồn tại” có mặt ở hầu hết mọi nơi trên nước Pháp, nhà trị liệu tâm lý và nhà tâm lý học Jacques Arènes phân tích nhu cầu tồn tại và cảm giác nơi một số người không muốn tồn tại.

lavie.fr, Jacques Arenes, 2022-03-16

“Tôi tồn tại.” Thẻ này ở khắp mọi nơi. Ở Paris, trên những cây cầu đường sắt, trên những cột đèn của một số con phố. Trên các xa lộ và các nơi khác. Nó nằn nì, nó bày mưu tính kế. Nó bị từ chối, dù sao cũng khi mới đầu – vì bây giờ rất nhiều “Tôi tồn tại” đã sao chép đến vô tận – như Thierry Jaspart người Bỉ, ông đã có các hoạt động khiêu khích khác như phát video trên mạng xã hội, ông hét lên tên các trạm dừng tiếp theo của chuyến tàu Liège-Verviers, vì không ai thông báo.

Thú vị, kinh ngạc, đau đớn, mong muốn tồn tại trần trụi này. Chẳng để làm gì sao? Nhưng dù sao thì cũng còn hơn thế, vì nó được viết ở khắp nơi. Về cơ bản, tôi không quan tâm vì sao một thẻ như vậy lại gia tăng nhiều đến thế. Điều làm cho tôi để ý là tại sao nó làm cho tôi khó chịu.

Chúng ta có thể có nhiều cuộc sống không?

Đó là lời khẳng định ngay tức thì, gần như thống thiết, “Tôi tồn tại”. Nói với người khác, với những người khác rằng tôi ở đó, mọi người có thể nghe thấy tôi, và tôi phải tiếp tục tồn tại. Cũng không hẳn câu xác nhận là có người muốn được lắng nghe. Chỉ đơn giản là tồn tại. Chúng ta đừng mỉa mai những gì có vẻ như một sự khiêu khích. Nó không phải là vô hại. Tôi thường nghe kiểu khẳng định này. Cũng không lâu bao nhiêu. Trước đó thì không giống vậy. Dĩ nhiên Covid có gì đó liên quan đến chuyện này, cuộc sống xã hội hầu như không có. Nhưng, nó cũng đã xảy ra trước đây, cảm giác này của một số người trong chúng ta là họ không tồn tại.

Chúng ta không tồn tại một mình

Một số người tôi tháp tùng nói với tôi như thế. Không tồn tại, là những người khốn cùng nhất, họ không còn bất kỳ mối quan hệ xã hội hay thân thiện nào, dù ở thành phố hay nông thôn, một mình. Họ thực sự đơn độc. điều này cũng có thể phụ thuộc vào một vị trí xã hội ít nhiều được ưu đãi hơn, nhưng không hẳn thế. Giám đốc điều hành nhiều tiền, ở thành phố lớn và độc thân cũng không tồn tại quá nhiều. Nhưng cũng có những người ở xa hơn, thiệt thòi hơn, những người ở tận đáy thế giới. Ở một mình. Tôi sống ở một quận phía bắc Paris, nơi có nhiều người không còn tồn tại. Nó là như vậy, chúng ta nói về họ rất nhiều, nhưng sự tồn tại của họ không hề mãnh liệt hơn, ngược lại.

Làm thế nào để giúp đỡ, đồng hành với những người không tồn tại? Dĩ nhiên, trong một số trường hợp, nó cũng phụ thuộc một chút vào họ. Nếu chúng ta có cảm giác không tồn tại, nếu chúng ta thu hút người khác một cách ngây thơ hơn một chút, thì có lẽ đó là do chúng ta chưa thực sự quan tâm đến những người chung quanh mình, quá bị cuốn hút bởi ý tưởng xuất hiện làm sao dưới mặt người khác đây.

Khá dễ dàng để nghĩ rằng họ xứng đáng với sự không tồn tại này. Tuy nhiên, chúng ta không tồn tại một mình, và chúng ta có thể giúp những ai chúng ta gặp, họ phải “tồn tại”. Không phải bằng cách giả vờ, bằng cách lắng nghe một cách mơ hồ, mà ngược lại, bằng cách phát triển một hình thức chú tâm. Những gì triết gia Simone Weil phân tích về “sự chú tâm” phản ánh khả năng chờ đợi để ngưng mọi suy nghĩ và ý chí cá nhân, và làm cho mình trở nên sẵn sàng với người khác.

Đó là việc chú ý đến những gì mà thế giới không nắm bắt được. Trong tiếng xào xạc của cuộc sống hàng ngày, giữa những người chúng ta gặp, đôi khi chỉ thỉnh thoảng gặp. Nếu chúng ta nuôi dưỡng một hình thức chú tâm dành cho nhau, cuối cùng chúng ta sẽ có thể nói: “Tôi tồn tại”. Hoặc, “chúng ta tồn tại”.

Marta An Nguyễn dịch

“Các phương tiện truyền thông bảo thủ theo thuyết âm mưu là những người có ảnh hưởng trong những năm tới”

“Các phương tiện truyền thông bảo thủ theo thuyết âm mưu là những người có ảnh hưởng trong những năm tới”

la-croix.com, Thomas Huchon, 2024-11-14

Thomas Huchon, chuyên gia về tin giả và thuyết âm mưu, đồng tác giả quyển Chống tin giả: quyển sách cần thiết để tách sự thật khỏi hư cấu (Anti fake news: le livre indispensable pour démêler le vrai du faux, nxb. First, 2022)

Sau khi Donald Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, tác giả Thomas Huchon phân tích sức nặng của “sự thật thay thế” trong chiến thắng của Tổng thống thứ 47 của Mỹ. Ông nhắc lại xu hướng này đã lan rộng trong xã hội Pháp và chuẩn bị nền tảng cho các sự kiện chính trị tiếp theo của nước Pháp.

“Bằng hành vi và bằng cách nói dối một cách có hệ thống, Trump đã tạo vấn đề cho các đối thủ của ông, cho các nhà quan sát, nhưng nghiêm trọng hơn, ông đã làm suy yếu một trong những khía cạnh cơ bản của nền dân chủ.”

Tin giả. Chúng đã trở thành vũ khí của những người theo chủ nghĩa dân túy chống lại nền dân chủ. Ở Mỹ và cả ở Pháp? Đây là câu hỏi mà nhiều người đã đặt ra kể từ khi Donald Trump tái đắc cử ngày 5 tháng 11 năm 2024. Người sẽ là Tổng thống thứ 47 của Mỹ đã dùng những lời nói dối có lẽ chưa từng ai có trước ông.

Để trở thành Tổng thống Mỹ thứ 45 năm 2016, tỷ lệ phát biểu đúng sự thật của ông đã được viện Politifact – được lưỡng đảng đánh giá nghiêm túc – ở con số lạ lùng: 4%. Như vậy 96% là dối trá. Để trở lại Nhà Trắng, ông đã nâng mức thành tích của mình, được chính viện này đo lường ở mức 3% năm 2024, hay 97% dối trá. Theo thống kê của CNN, ông đã đưa ra 33 thông tin sai lệch chỉ trong một tiếng rưỡi tranh luận với Kamala Harris ngày 10 tháng 9. Vào giữa tháng 8, ông đã nâng con số lên đáng kinh ngạc: 160 lời nói dối được đưa ra chỉ trong một giờ họp báo ở Mar-a-Lago, Florida. Vấn đề của những lời nói dối là cuối cùng luôn có người tin chúng.

Sự thật biến mất

Các nhà bình luận về cuộc bầu cử nghĩ rằng người Mỹ dại khờ hoặc hết sức ngu ngốc khi bỏ phiếu cho ông Trump, họ quên một thông số thiết yếu. Họ không ngu ngốc. Họ bị thao túng. Bởi Trump, mà còn bởi các thuật toán truyền thông xã hội đã khóa chúng lại khi chúng giam chúng ta vào các bong bóng lọc nhằm củng cố niềm tin và định kiến đã được thiết lập sẵn của chúng ta.

Bằng hành vi và bằng cách nói dối một cách có hệ thống, Trump đã tạo vấn đề cho các đối thủ của ông, cho các nhà quan sát, nhưng nghiêm trọng hơn, ông đã làm suy yếu một trong những khía cạnh cơ bản của nền dân chủ, vì ông không nhận ra sự tồn tại của sự thật. Và điều này xảy ra kể từ ngày đầu ông ở Nhà Trắng.

Vào thời điểm đó, bà Kellyanne Conway, cố vấn truyền thông của ông đã đặt ra cụm từ “các sự việc thay thế”. Nhưng chúng tôi không hiểu trình tự này nói gì. Đó là bằng chứng hiển nhiên, trực quan, thậm chí là truyền hình, rằng chúng ta đang bước vào kỷ nguyên hậu sự thật.

Một kịch bản của Pháp?

Bên kia Đại Tây Dương, giữa Tin giả (Faux News), những người theo thuyết âm mưu như ông Alex Jones hay theo Breitbart News và một số viên chức được bầu của Đảng Cộng hòa được X-Twitter củng cố dưới sự lãnh đạo của Elon Musk. Theo báo Le Monde, việc này đã gây hại cho nền dân chủ Mỹ nhiều hơn các cơ quan tình báo Nga, điều này đang nói lên điều gì đó.

Có phải Mỹ luôn đi trước một bước? Những gì xảy ra ở Mỹ phải mất mười năm mới tới được Pháp, chúng ta thường nghe nói như vậy. Lần này không mất đến mười năm. Ngày 29 tháng 10 vừa qua, trong chương trình “C à vous” của kênh France 5 có cuộc trao đổi căng thẳng giữa ông Patrick Cohen, nhà biên tập và ông Éric Ciotti, nghị sĩ bảo thủ cũng bàn đến chủ nghĩa dân túy này. Bị đẩy đến giới hạn gần đúng của mình, gần như biến thành dối trá, nghị sĩ đưa ra lập luận rằng “có chỗ để giải thích”, nói tóm lại, sự thật không phải là sự thật.

Sự phân cực đang tiến hành

Kể từ đó, ông cũng như nhiều nhân vật cánh hữu và cực hữu khác đều hoan nghênh chiến thắng của Tổng thống Trump trên đất Mỹ. Họ có lý. Câu hỏi còn lại, liệu việc này có tồn tại ở Pháp để từ đó cho phép phổ biến những tin tức giả mạo này không? Yếu tố đầu tiên cho thấy rõ ràng là có. Vào cuối năm 2016, cố vấn chính trị của Tổng thống Trump, ông Steve Bannon, người cực hữu đã đến Pháp để cố gắng ra mắt phiên bản Breitbart ở Pháp. Ông phát hiện có quá nhiều cơ quan truyền thông âm mưu và giả mạo đến nỗi ông không có thị trường!

Từ hành động của kỹ nghệ gia tỷ phú Vincent Bolloré và sự phân cực cực độ của quan điểm được phát sóng suốt ngày trên các kênh đã bình thường hóa các quan điểm này trên các phương tiện truyền thông “cũ”. Trên Internet, nhiều phương tiện truyền thông bảo thủ tung ra các thuyết âm mưu cũng đã được tạo ra và có một số thành công. Omerta, Frontières, Les Incuribles… Họ sẽ là những người có ảnh hưởng đến dư luận trong những năm tới, và họ đang chuẩn bị nền tảng cho một chiến thắng chính trị.

Chiến thắng này cho thấy rõ ràng, sau chiến thắng của Tổng thống Javier Milei ở Argentina, hay Thủ tướng Orban ở Hungary, rằng có một chiến lược từ chối sự thật để làm cơ sở cho cuộc đối thoại dân chủ phục vụ lợi ích của họ. Họ cảm thấy mình được mọc thêm cánh và nghĩ mình đang đứng trước cánh cổng quyền lực. Nền dân chủ Mỹ sẽ tồn tại như thế nào trong những tháng tới? Nó sẽ là dấu hiệu không chỉ về những gì sẽ xảy ra trên Đại Tây Dương mà còn về những gì có thể xảy ra vào ngày mai tại Âu Châu.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Giáo hội Anh: hướng tới việc bổ nhiệm một phụ nữ làm Tổng Giám mục Canterbury?

Giáo hội Anh: hướng tới việc bổ nhiệm một phụ nữ làm Tổng Giám mục Canterbury?

Lần đầu tiên sau 80 năm, Giáo hội Anh phải đẩy nhanh tiến trình thay thế Tổng giám mục Justin Welby, tổng giáo phận Canterbury. Một số phụ nữ ở trong danh sách kế nhiệm ngài.

la-croix.com, Tristan de Bourbon, ở London, 2024-11-21

Tổng giám mục Rose Hudson-Wilkin, giáo phận Dover phát biểu trong buổi lễ có sự tham dự của Vua Charles III của Anh tại Nhà nguyện St George Lâu đài Windsor, London ngày 22 tháng 6 năm 2023. ANDREW MATTHEWS / AFP

Giáo hội Anh đang trải qua giai đoạn gần như chưa từng có. Trong hơn một trăm năm qua, chỉ có sự kế vị của Tổng giám mục William Temple, qua đời năm 1944 mới tạo ra mức độ bất ổn như vậy.

Kể từ năm 1975, Giáo hội và Quốc hội Anh đã thông qua đạo luật các giáo chủ phải nghỉ hưu ở tuổi 70. Năm 2022, trong một phỏng vấn với báo Times, Tổng giám mục Justin Welby cho biết ngài sẽ tiếp tục tại vị cho đến giới hạn tuổi năm 2026.

Một Tổng giám mục lâm thời cho giáo phận York?

Việc ngài bất ngờ từ chức ngày 12 tháng 11 đã làm xáo trộn lịch sinh hoạt bình thường của Giáo hội, việc bổ nhiệm Giám mục thay thế vẫn chưa được ấn định, nên chưa ai có thể nói chính xác những gì sẽ xảy ra trong vài tháng tới. Ngày 20 tháng 11, Tổng giám mục Justin Welby thông báo ngài sẽ chấm dứt chức vụ của ngài ngày 6 tháng 1 năm 2025. Có tin đồn Tổng giám mục Stephen Cottrell, giáo phận York sẽ tạm thời thay thế.

Các lý do của một quyết định lịch sử: sự từ chức của Tổng giám mục Anh giáo Justin Welby

Tất cả đều hướng về tương lai. Cho đến năm 1976, Tổng Giám mục Canterbury được Thủ tướng trực tiếp lựa chọn. Giáo hội Anh mong muốn có được độc lập vì các việc bổ nhiệm đều phải được Ủy ban Bổ nhiệm của Hoàng gia thông qua. Ủy ban này có 16 thành viên: Tổng Giám mục Canterbury, người sẽ được thay thế bởi một giám mục khác, Tổng Giám mục York, sáu thành viên của thượng hội đồng, ba đại diện của giáo phận Canterbury và năm thành viên của Cộng đồng Anh giáo trên toàn thế giới.

Việc lựa chọn người đứng đầu Anh giáo rất cụ thể: mỗi người phải đại diện cho một lục địa khác nhau, ít nhất hai người trong số này là phụ nữ và tối đa có hai người “da trắng”. Sau khi phỏng vấn các ứng viên, Ủy ban sẽ đề xuất một nhân vật lên Vua Charles III, Vua sẽ phê chuẩn ứng viên này.

Giáo hội Anh ở giai đoạn bấp bênh sau khi Tổng giám mục Welby từ chức

Suy nghĩ về việc đề cử một phụ nữ

Hiện tại, danh sách có 7 người thường được báo chí nhắc đến. Ông Stephen Cottrell, 66 tuổi tuyên bố trên nhật báo Guardian, ông không nghĩ mình là ứng viên vì Giáo hội cần người có thể cống hiến ít nhất 5 đến 10 mười năm. Ông hoan nghênh phụ nữ ở chức vụ này. đây sẽ là một cuộc cách mạng nhỏ, vì chưa bao giờ có phụ nữ nắm giữ trách nhiệm cao nhất này trong Giáo hội Anh.

Mười năm sau lần phong nữ giám mục đầu tiên, có 4 phụ nữ ở trong danh sách được mến chuộng: Bà Rose Hudson-Wilkin, 63 tuổi, người phụ nữ da đen đầu tiên làm giám mục ở Dover; Guli Francis-Dehqani, 58 tuổi, giám mục Chelmsford; Sarah Mullally, 62 tuổi, giám mục Luân Đôn và Rachel Treweek, 61 tuổi, giám mục Gloucester.

Tuy nhiên, sự hiện diện của năm đại diện không phải người Anh có thể làm rắc rối cho việc bầu cử. Linh mục thần học gia Martyn Percy giải thích: “Đa số các Hiệp hội nước ngoài vẫn phản đối giám mục nữ. Nếu bạn tham khảo ý kiến của những người từ các châu lục khác, bạn sẽ ít có khả năng chọn được một ứng viên ủng hộ LGBTQ hoặc một phụ nữ ở giáo phận Canterbury vì bạn sẽ phải cố gắng làm vừa lòng mọi người. Như thế có thể có lợi cho Giám mục Martyn Snow, 56 tuổi hoặc Giám mục Graham Usher, 54 tuổi.”

Việc từ chức của Tổng giám mục Justin Welby, gương mẫu khi đối diện với các vụ tai tiếng tình dục

Ngoài vấn đề giới tính, người đứng đầu sẽ phải giải quyết các vấn đề lớn trong những năm gần đây. Giáo dân mong Giáo hội chú ý nhiều hơn đến thần học và đời sống thiêng liêng, được các nhà lãnh đạo là thần học gia dẫn dắt rõ ràng, chứ không phải các nhà quản lý.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài học từ việc Tổng giám mục Justin Welby từ chức

Dự án “13 Ngôi nhà” của Gia đình Vinh Sơn được Đức Phanxicô làm phép tại Rôma

Dự án “13 Ngôi nhà” của Gia đình Vinh Sơn được Đức Phanxicô làm phép tại Rôma

eglise.catholique.fr, Ban biên tập, 2024-11-19

Hình ảnh © Liên minh Người vô gia cư Famvin

Dự án “13 Ngôi nhà” của Gia đình Vinh Sơn nhân dịp Năm Thánh 2025 để chấm dứt tình trạng vô gia cư trên toàn cầu. Ngày 17 tháng 11-2024, Đức Phanxicô làm phép chìa khóa biểu tượng cho các ngôi nhà ở 13 quốc gia, một nỗ lực toàn cầu nhằm chống lại tình trạng vô gia cư và mang hy vọng đến cho các gia đình dễ bị tổn thương trong Năm Thánh 2025.

Trong một cử chỉ thể hiện lòng thương xót và tinh thần đoàn kết, ngài làm phép cho 13 chìa khóa biểu tượng cho các ngôi nhà ở 13 quốc gia tham gia vào Dự án “13 Ngôi nhà” nhân Năm Thánh của Liên minh Người vô gia cư Famvin (FHA).

Sáng kiến đặc biệt này phù hợp với chủ đề Năm Thánh 2025 của Giáo hội, “Những người hành hương hy vọng” để giúp các gia đình vô gia cư trên thế giới. Đức Phanxicô đã làm phép các chìa khóa bằng đồng dài 30 cm, do nghệ sĩ công giáo nổi tiếng Timothy Schmalz điêu khắc. Phương châm – “Cùng nhau trên hành trình chấm dứt tình trạng vô gia cư”, Dự án “13 Ngôi nhà” là dấu chỉ hy vọng cho cuộc khủng hoảng nhà cửa, thúc đẩy các giải pháp nhà ở tại 13 quốc gia trên thế giới. Chương trình tiếp tục cho đến tháng 11 năm 2025 tại các quốc gia ở Syria, Úc, Brazil, Campuchia, Cộng hòa Trung Phi, Chi-lê, Costa Rica, Ý, Senegal, Tanzania, Tonga, Vương quốc Anh và Ukraine.

Đức Phanxicô nhắc lại “Lời cầu nguyện của người nghèo dâng lên Thiên Chúa” trong thông điệp Ngày Thế giới Người nghèo năm 2024, đây là cơ hội mục vụ khuyến khích giáo dân lắng nghe lời cầu nguyện của người nghèo, ý thức được sự hiện diện và nhu cầu của họ.

Một trong mười ba chìa khóa của Dự án “13 Ngôi nhà” cho Năm Thánh © Liên minh Người vô gia cư Famvin

Kể từ năm 2018, Chiến dịch “13 Ngôi nhà” đã giúp hơn 10.000 người ở 70 quốc gia trên thế giới. Mục tiêu của dự án Năm Thánh là khuyến khích nhiều quốc gia và cộng đồng tham gia hơn nữa. Trong những năm gần đây, Liên minh đã tích cực vận động cho sáng kiến này, được Đức Phanxicô hỗ trợ năm 2022 khi ngài làm phép cho phẩm điêu khắc “Shelter” của điêu khắc gia Timothy Schmalz.

Dự án được triển khai đặc biệt ở Syria, quốc gia bị ảnh hưởng sâu sắc do cuộc xung đột kéo dài tác động trên đời sống của người dân ở đây. Ngày Thế giới Người nghèo năm 2025, Liên minh Người vô gia cư có kế hoạch đưa các gia đình đại diện cho mỗi quốc gia trong số 13 quốc gia này đến Đền thờ Thánh Phêrô, Rôma, họ sẽ nhận được phép lành đặc biệt của Đức Phanxicô. Mỗi gia đình của mỗi quốc gia sẽ hành hương về Rôma, nói lên tầm ảnh hưởng toàn cầu của Gia đình Vinh Sơn giúp các gia đình bị tổn thương.

Hình ảnh lưu niệm làm phép 13 chìa khóa của Dự án “13 Ngôi nhà”. Từ trái sang phải: Linh mục Serhiy Pavlish, Bộ trưởng Tư pháp và Cáo thỉnh viên, bà Natalie Monteza, Giám đốc Chiến dịch Liên minh Người vô gia cư, Đức Phanxicô, Linh mục Ziad Haddad, Tổng Thủ quỹ, Thánh bộ Truyền giáo, Linh mục Tomaž Mavri, Bề trên Tổng quyền, Thánh bộ Truyền giáo, Sơ Françoise Petit, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Vinh Sơn © Famvin Homeless Alliance

Cùng nhau bước đi, đoàn kết trong sứ mệnh

Dự án 13 Ngôi nhà nhân Năm Thánh thể hiện tinh thần hợp tác của Gia đình Vinh Sơn, một mạng lưới với hơn 160 chi nhánh trên khắp thế giới hợp nhất trong sứ mệnh và tinh thần của Thánh Vinh Sơn. Linh mục Cha Tomaž Mavrič giải thích, sáng kiến này là “hành trình hy vọng tái khẳng định cam kết trong việc chống lại tình trạng vô gia cư trên toàn thế giới”. Trước khi phát động chiến dịch, Gia đình Vinh Sơn đã tập trung tại Rôma từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 11 để củng cố tinh thần đồng nghị. Cuộc gặp gỡ tập trung vào việc tăng cường sự hợp tác và mối quan hệ huynh đệ giữa các nhóm Vinh Sơn. Linh mục Tomaž Mavrič giải thích: “Đồng hành với những người gặp khó khăn, chúng tôi làm chứng cho một tương lai bắt nguồn từ hy vọng và cam kết chung. Năm Thánh mời gọi chúng ta là người hành hương hy vọng, để thế giới thấy khi chúng ta cùng nhau bước đi, chúng ta có thể biến đổi cuộc sống và xây dựng một di sản của lòng nhân ái và phục vụ cho các thế hệ tương lai.”

Điều phối viên của Liên minh ông Mark McGreevy cho biết: “Việc Đức Phanxicô làm phép chìa khóa là một bước quan trọng trong sứ mệnh của chúng tôi để đến với người dễ bị tổn thương nhất và truyền bá thông điệp về hy vọng và lòng bác ái của Giáo hội. Tập trung vào nhà ở, chúng tôi đáp ứng nhu cầu cơ bản, thể hiện lời kêu gọi Năm Thánh.”

Đức Phanxicô nhấn mạnh đến tầm quan trọng về mặt thiêng liêng và xã hội của việc nhìn nhận người nghèo: “Người nghèo thực là những người khiêm tốn, những người không có gì để nương tựa, họ nhận sức mạnh từ Chúa và đặt trọn niềm tin vào Ngài. Giáo hội được kêu gọi để là nơi ẩn náu và hy vọng, nơi lời cầu nguyện được chuyển thành hành động và sự quan tâm cụ thể. Chúng ta được kêu gọi trong mọi hoàn cảnh để là bạn của người nghèo, theo bước chân của Chúa Giêsu, Đấng đoàn kết với những người thấp bé nhất.”

Với sáng kiến này, Giáo hội tiếp tục truyền thống lâu đời trong việc cung cấp nơi ở, phẩm giá và lòng trắc ẩn cho những người cần giúp đỡ nhất.

Marta An Nguyễn dịch

Phong thánh cho Chân phước Carlo Acutis và Chân phước Pier Giorgio Frassati trong Năm Thánh 2025

Phong thánh cho Chân phước Carlo Acutis và Chân phước Pier Giorgio Frassati trong Năm Thánh 2025

acistampa.com, Veronica Giacometti, 2024-11-20

Trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư 20 tháng 11, Đức Phanxicô thông báo sẽ phong thánh cho Chân phước Carlo Acutis Ngày Trẻ em và Thanh thiếu niên từ 25 đến 27 tháng 4-2025 và phong thánh cho Chân phước Pier Giorgio Frassati Ngày Giới trẻ từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 3 tháng 8-2025.

Ngài cũng loan báo Cuộc họp thế giới nhân Ngày Thế giới về Quyền Trẻ em và Thanh thiếu niên sẽ được tổ chức ngày 3 tháng 2 tại Vatican với chủ đề “Chúng ta hãy yêu thương và bảo vệ trẻ em” với sự tham gia của trẻ em và các chuyên gia của nhiều quốc gia trên thế giới.

Ngài tuyên bố: “Đây là những cách thức mới để giúp hàng triệu trẻ em không có quyền lợi, những em sống trong điều kiện bấp bênh, bị bóc lột và lạm dụng.”

Sau đó ngài lên tiếng tranh đấu cho hòa bình: “Hôm qua đánh dấu 1.000 ngày cuộc xâm lược ở Ukraine. Một ngày kỷ niệm bi thảm, một thảm họa xấu hổ cho nhân loại, điều này không được ngăn cản chúng ta ở lại bên cạnh người dân Ukraine. Xin vũ khí nhường chỗ cho đối thoại. Tôi nhận thư của một sinh viên Ukraine…” và ngài đọc bức thư trong buổi tiếp kiến này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Giáo dân nên có tiếng nói nhiều hơn trong việc chọn lựa giám mục của họ

Giáo dân nên có tiếng nói nhiều hơn trong việc chọn lựa giám mục của họ

americamagazine.org, Thomas J. Reese, 2024-11-20

Đức Phanxicô trong ngày khai mạc phiên họp thứ hai Thượng Hội đồng Giám mục tại Hội trường Phaolô VI ngày 2 tháng 10 năm 2024. (Ảnh AP/Andrew Medichini)

Vì vai trò của các giám mục trong Giáo hội Công giáo rất quan trọng cho đời sống Giáo hội địa phương nên quá trình chọn lựa giám mục có tác động rất lớn trên giáo dân, nhưng hiện nay họ không có tiếng nói trong việc chọn lựa giám mục của mình.

Các nghị phụ của Thượng Hội đồng về tính đồng nghị thừa nhận đây là một vấn đề và trong tài liệu cuối cùng, họ mong muốn “Dân Chúa có tiếng nhiều hơn trong việc chọn lựa giám mục”.

Hiện nay quy trình chọn giám mục tập trung tại Vatican, trao cho giáo hoàng quyền tối cao trong quy trình này.

Quy trình bắt đầu với việc các giám mục trong giáo phận lập danh sách các linh mục có thể là ứng viên cho chức giám mục. Danh sách được giao cho sứ thần, sứ thần lập danh sách terna, ba ứng viên cho một giáo phận còn trống. Ngài có thể đề cử một ứng viên khác nếu ngài muốn.

Sứ thần soạn một báo cáo cho từng ứng viên với các nguồn tài liệu ngài có, kể cả bảng câu hỏi bí mật ngài gởi cho các giáo sĩ và giáo dân được chọn, những người biết các ứng viên. Bảng câu hỏi này được sửa đổi trong các triều giáo hoàng khác nhau, được giữ bí mật cho đến khi lần đầu tiên tôi công bố trên tạp chí America năm 1984.

Thông thường, sứ thần cũng hỏi ý kiến các giám mục địa phương cũng như các viên chức của Hội đồng Giám mục và các giám mục quan trọng khác trong nước.

Sứ thần viết báo cáo giáo phận cần một giám mục mới. Sứ thần Pio Laghi, đại diện giáo hoàng tại Hoa Kỳ từ năm 1980 đến năm 1990 so sánh công việc này với công việc của một kiến trúc sư cố gắng tìm một bức tượng phù hợp với một hốc trong nhà thờ chính tòa.

Chẳng hạn nếu giáo phận bị ảnh hưởng bởi nạn lạm dụng tình dục, họ sẽ tìm người có uy tín trong việc giải quyết vấn đề này. Nếu giáo phận gặp khó khăn về tài chính, họ sẽ tìm người có kỹ năng tài chính. Nếu giáo phận bị chia rẽ, họ sẽ tìm người xây dựng hòa bình.

Mỗi giáo hoàng cũng có những tiêu chuẩn riêng của các ngài để tìm ứng viên. Trước Công đồng Vatican II, nhiều phản ảnh cho rằng các giám mục Hoa Kỳ giống các nhân viên ngân hàng và xây dựng hơn là mục tử. Đức Phaolô VI muốn có nhiều giám mục mục vụ hơn. Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiệp nhất và lòng trung thành với giáo hoàng. Đức Phanxicô muốn có các giám mục gần gũi với người nghèo, “những mục tử có mùi chiên như đàn chiên của họ”

Danh sách terna và các báo cáo được gởi về Bộ Giám mục, Bộ xem xét và trình lên Ủy ban gồm các hồng y và giám mục phụ trách Bộ. Nếu Bộ không bằng lòng các ứng viên, Bộ sẽ xin sứ thần làm một danh sách khác. Cuối cùng, Ủy ban bỏ phiếu chọn ứng viên và đệ trình đề nghị của họ lên giáo hoàng, ngài sẽ chấp nhận hoặc bác bỏ đề xuất của họ.

Trong quá trình này, ý kiến đóng góp của giáo sĩ và giáo dân chiếm vị trí rất hạn chế, ngoại trừ những cá nhân được sứ thần gởi bảng câu hỏi.

Quá trình này cho phép tham khảo ý kiến giáo hội địa phương về nhu cầu của giáo phận và tính cách cần thiết nào cho một ứng viên giám mục, nhưng thường thường giáo dân muốn giám mục giống Chúa Kitô có thêm bằng Cao học của Đại học Harvard, nhưng người như thế này lại không có! Theo quy tắc hiện hành, không được thảo luận công khai về tên ứng viên, dù ủng hộ hay phản đối. Vatican cho rằng bất kỳ cuộc thảo luận công khai nào về các ứng viên đều sẽ gây chia rẽ và dẫn đến các phe phái ủng hộ và phản đối các ứng viên.

Vai trò trung ương của giáo hoàng trong việc lựa chọn giám mục là một hiện tượng hiện đại. Ở Giáo hội sơ khai, khi một giám mục qua đời, giáo dân tập trung tại nhà thờ chính tòa và bầu giám mục mới, có thể là một linh mục hoặc giáo dân. Cuối cùng, quyền bầu cử giới hạn ở giáo sĩ hoặc một phần của giáo sĩ, ví dụ tu nghị của nhà thờ chính tòa.

Nhưng điều này không nhất thiết loại bỏ giáo dân khỏi quá trình. Vào thế kỷ thứ năm, Giáo hoàng Lêô Cả cho rằng một giám mục nên được giáo sĩ bầu chọn, được giáo dân chấp nhận và được các giám mục của các giáo phận lân cận tấn phong.

Một điều đáng buồn, khi Giáo hội giàu có và quyền lực, các vua chúa và giới quý tộc can thiệp vào quá trình, họ đe dọa hoặc họ hối lộ. Vào thế kỷ 19, khi chế độ quân chủ sụp đổ, những người cải cách xem chức giáo hoàng là thể chế, họ bổ nhiệm các giám mục phục vụ lợi ích của Giáo hội thay vì mục đích chính trị của nhà nước.

Ngày nay, những người cải cách muốn Giáo hội quay về với thông lệ cổ xưa, giáo dân hoặc giáo sĩ bầu giám mục ở cấp địa phương. Dù điều này có thể có hiệu quả ở các quốc gia dân chủ tôn trọng sự độc lập của Giáo hội, nhưng lịch sử cảnh báo cho chúng ta biết, giới tinh hoa chính trị và những kẻ độc tài có thể sẽ can thiệp vào các cuộc bầu cử.

Việc bầu ông Donald Trump làm Tổng thống Hoa Kỳ nên làm cho những người theo chủ nghĩa tiến bộ phải dừng lại trước khi họ dân chủ hóa Giáo hội. Dân chủ không phải là bất khả xâm phạm.

Thượng Hội đồng về tính đồng nghị mời gọi chúng ta đối thoại để mọi người có tiếng nói nhiều hơn trong việc lựa chọn giám mục. Đối thoại này nên được thực hiện theo cách thức công nghị, chúng ta lắng nghe mọi tiếng nói để xác định Chúa Thánh Thần đang dẫn dắt chúng ta đến đâu ngày nay.

Các cơ quan tư vấn giáo phận (hội đồng linh mục, hội đồng mục vụ, cộng đồng) nên được trao vai trò vì họ đại diện cho giáo dân và linh mục. Họ có thể đề cử ứng viên hoặc bỏ phiếu tư vấn về terna do sứ thần chuẩn bị không? Sự tham gia đó nên công khai hay bảo mật?

Giáo hội Công giáo cũng có thể học hỏi từ các giáo hội khác cách dùng các phương pháp khác nhau để lựa chọn các nhà lãnh đạo của họ.

Tất cả các cuộc thảo luận này có thể dẫn đến việc phát triển một mô hình lựa chọn giám mục có thể được thử nghiệm trong nhiều tình huống khác nhau theo quyết định của sứ thần.

Lịch sử cho chúng ta thấy các giám mục đã được lựa chọn theo nhiều cách trong nhiều thế kỷ và mỗi cách đều có những vấn đề riêng. Không có cách hoàn hảo nào để chọn giám mục. Ngay cả Chúa Giêsu cũng bị lầm về một trong 12 tông đồ của Ngài.

Giáo hoàng Lêô đã khôn ngoan khi đề xuất hệ thống kiểm tra và cân bằng liên quan đến giáo sĩ, giáo dân và Hội đồng Giám mục. Đã đến lúc chúng ta cần thử nghiệm những cách mới để chọn giám mục, để “Dân Chúa có tiếng nói nhiều hơn trong việc chọn giám mục của mình”.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tháp Babel

Tháp Babel

Ronald Rolheiser, 2024-11-18

Những trang đầu tiên của Kinh thánh kể cho chúng ta một loạt các câu chuyện diễn ra vào thời điểm bắt đầu lịch sử để giải thích vì sao thế giới ngày nay lại như vậy. Câu chuyện của ông A-đam và bà E-và về tội nguyên tổ là một trong những câu chuyện này. Và cũng có những câu chuyện khác. Các chuyện này dùng hình ảnh làm chúng ta nghe như chuyện cổ tích nên chúng ta nghĩ đó là những chuyện hoàn toàn do tưởng tượng, nhưng thật ra đó là những chuyện còn thật hơn cả sự thật. Và nó đã xảy ra. Đã xảy ra với người đàn ông và phụ nữ đầu tiên trên hành tinh, và tiếp tục xảy ra cho đến ngày nay theo cách ảnh hưởng đến mọi người đàn ông và phụ nữ trong suốt lịch sử. Đó là các câu chuyện về trái tim, không phải theo nghĩa đen mà theo những bài học của trái tim.

Một trong những câu chuyện nền tảng đầu tiên này là câu chuyện Tháp Babel. Theo ngôn ngữ bình dân thì nó như thế này: Lúc đầu (trước đây cũng giống như bây giờ) có một thành tên là Babel quyết định làm cho thành của mình có tên tuổi, họ xây một tháp ấn tượng đến mức tất cả các thành khác sẽ phải thán phục. Họ bắt đầu xây nhưng có điều gì đó kỳ lạ xảy ra. Khi họ xây, bỗng nhiên họ nói các loại ngôn ngữ khác nhau, họ không còn hiểu nhau và ra đi sống rải rác khắp nơi trên thế giới, họ nói ngôn ngữ mà người khác không thể hiểu được.

Bài học ở đây là gì? Có phải để giải thích nguồn gốc các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới không? Không, nhưng để giải thích những hiểu lầm sâu xa, dường như không thể hòa giải giữa chúng ta. Vì sao chúng ta mãi hiểu lầm nhau? Nguồn gốc của những chuyện này là gì?

Có nhiều cách để hiểu, để làm sáng tỏ sự chia rẽ trong thế giới chúng ta ngày nay. Ví du: năm ngoái, nhà tâm lý học xã hội Jonathan Haidt viết trên tờ The Atlantic cho rằng có lẽ không có phép ẩn dụ nào tốt hơn để giải thích sự chia rẽ giữa chúng ta ngày nay cho bằng câu chuyện của Tháp Babel. Lập luận của ông như sau: Phương tiện truyền thông xã hội dùng để kết nối chúng ta không chỉ với bạn bè và gia đình mà còn với mọi người từ khắp nơi trên thế giới, nhưng trên thực tế đã dẫn đến sự phân mảnh triệt để trong xã hội và làm tan vỡ tất cả mọi thứ, điều đó có vẻ vững chắc, sự phân tán của những người đã từng là một cộng đồng. Lấy nước Mỹ làm ví dụ: chúng ta vẫn dùng một ngôn ngữ, nhưng các phương tiện truyền thông xã hội và các nơi loan tin tức đã cung cấp cho chúng ta những tập hợp dữ kiện, giá trị và tầm nhìn khác nhau làm cho trong thực tế, cuộc trò chuyện ngày càng trở nên bất khả thi.

Khi những căng thẳng gần đây xung quanh cuộc bầu Tổng thống Mỹ trở nên rõ ràng, với tư cách là một xã hội, chúng ta không còn nói cùng một ngôn ngữ, ở chỗ chúng ta không còn có thể hiểu nhau về hầu hết mọi vấn đề quan trọng – hiện tượng nóng lên toàn cầu, nhập cư, nghèo đói, giới tính, sức khỏe, phá thai, vị trí của tôn giáo trong phạm vi công cộng – sự thật đứng về phía nào, và quan trọng nhất: sự thật là gì. Chúng ta không còn chia sẻ bất kỳ sự thật chung nào nữa. Đúng hơn, tất cả chúng ta đều có sự thật riêng, ngôn ngữ riêng của mình. Như chúng ta vẫn thường nói, tôi đã thực hiện nghiên cứu của riêng tôi! Tôi không tin vào khoa học. Tôi không tin vào bất kỳ sự thật chính thống nào. Tôi có nguồn tin riêng của tôi.

Và những nguồn tin đó thì rất nhiều, nhiều không đếm xuể được! Hàng trăm kênh truyền hình, vô số podcast và hàng triệu người cung cấp cho chúng ta phiên bản đặc trưng của họ trên mạng xã hội để bây giờ chúng ta hoài nghi về bất kỳ sự thật nào. Điều này chia rẽ chúng ta ở mọi cấp độ: gia đình, láng giềng, nhà thờ, đất nước và thế giới. Tất cả chúng ta hiện đang nói những ngôn ngữ khác nhau giống như người dân đầu tiên của Tháp Babel sống rải rác trên khắp thế giới.

Dưới ánh sáng của điều này, điều đáng chú ý là lễ Hiện Xuống được mô tả trong Kinh thánh sẽ như thế nào. Sách Công vụ Tông đồ mô tả Lễ Hiện Xuống, sự hiện đến của Chúa Thánh Thần, như một sự kiện đảo ngược những gì đã xảy ra tại Tháp Babel. Tại Tháp Babel, các ngôn ngữ (“tiếng lạ”) trên trái đất bị chia cắt và phân tán. Nhưng trong  Lễ Hiện Xuống, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên mỗi người như một “lưỡi lửa” đến nỗi, trước sự ngạc nhiên tột độ của mọi người, giờ đây mọi người đều hiểu nhau bằng ngôn ngữ của mình.

Một lần nữa, những gì đang được mô tả ở đây không phải là về ngôn ngữ theo nghĩa đen của con người khi mọi người đột nhiên hiểu được tiếng Hy Lạp hoặc tiếng La-tinh trong lễ Hiện Xuống. Đúng hơn, bây giờ mọi người đều hiểu người khác bằng ngôn ngữ của mình. Tất cả các ngôn ngữ đã trở thành một ngôn ngữ.

Ngôn ngữ chung đó là gì? Đó không phải là tiếng Hy lạp, tiếng La-tinh,  tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Yiddish, tiếng Trung Quốc hay tiếng Ả Rập hay bất kỳ ngôn ngữ nào khác trên thế giới. Đó cũng không phải là ngôn ngữ thiếu nhân ái của những người bảo thủ hay những người theo chủ nghĩa tự do. Như Chúa Giêsu và Kinh thánh đã nói rõ, đó là ngôn ngữ của bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tin tưởng và tiết độ.

Đó là ngôn ngữ duy nhất có thể hàn gắn những hiểu lầm và khác biệt giữa chúng ta – và khi chúng ta nói bằng ngôn ngữ này, chúng ta sẽ không tìm cách xây một tòa tháp để tạo ấn tượng cho bất cứ ai.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Trong 20 năm qua Giáo hội Mỹ trả 4 tỷ đô la tiền bồi thường cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục

Trong 20 năm qua Giáo hội Mỹ trả 4 tỷ đô la tiền bồi thường cho các nạn nhân bị lạm dụng tình dục

cath.ch, Bernard Hallet, 2024-11-11

Vụ dàn xếp trị giá 880 triệu đô la của Tổng giáo phận Los Angeles được công bố ngày 16 tháng 10, nâng tổng số tiền các giáo phận Mỹ thanh toán để giải quyết các vụ lạm dụng kể từ năm 2004 lên hơn 4,4 tỷ đô la. Đây là con số được trang thông tin OSV News công bố ngày 8 tháng 11-2024, tổng cộng hai thập kỷ báo cáo của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ. Thông báo cho biết các giáo phận và giáo phận đông phương của đất nước đã trả khoảng 3,7 tỷ đô la để giải quyết các vụ khiếu nại từ năm 2004 đến năm 2023. Việc giải quyết 776 triệu đô la của Tổng giáo phận Los Angeles và 284 triệu đô la của giáo phận Rockville Center (New York) công bố ngày 26 tháng 9, gần 1 tỷ đô la trong thời gian chưa đầy một tháng. Hai con số này cộng với tổng số tiền của Hội đồng Giám mục Mỹ từ năm 2004 đến năm 2023 lên đến 4,8 tỷ đô la.

Tổng số tiền Hội đồng Giám mục Mỹ trả cho giai đoạn 2004-2023 không tính đến 660 triệu đô la được Tổng giáo phận Los Angeles công bố năm 2007, cùng với khoản giải quyết ngày 16 tháng 10, nâng tổng số tiền của Tổng giáo phận này lên 1,1 tỷ đô la chi phí liên quan đến lạm dụng trong 20 năm qua.

Số tiền bồi thường lên đến 5,4 tỷ đồng

Tổng số tiền thanh toán của các giáo phận Mỹ trong 20 năm qua có thể vượt quá 6,24 tỷ đô la nếu các dữ liệu Hội đồng Giám mục Mỹ bao gồm khoản thanh toán do Tổng Giáo phận Los Angeles thực hiện năm 2007.

Để tính toán tổng số tiền bồi thường trả trong 20 năm qua, dữ liệu từ báo cáo thường niên của Hội đồng Giám mục Mỹ về việc thực hiện “Hiến chương Bảo vệ Trẻ em và Thanh thiếu niên” – còn được gọi là Hiến chương Dallas – đã được kiểm tra. Kể từ khi thông qua hiến chương năm 2002, Hội đồng Giám mục Mỹ đã báo cáo tổng chi phí của các giáo phận toàn quốc đã chi trả để giải quyết các khiếu nại về lạm dụng tình dục.

Chi phí bổ sung bao gồm trong số liệu thống kê

Chi phí thể hiện số tiền “chi tiêu hoặc phát sinh” trong một năm cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên. Các khoản thanh toán, thanh toán trị liệu cho những người sống sót (nếu không được bao gồm trong thỏa thuận dàn xếp) và cho người phạm tội cũng như phí luật sư đều được bao gồm trong các số liệu.

Dữ liệu này được Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Tông đồ (CARA) tại Đại học Georgetown lấy từ các cuộc khảo sát trực tuyến và qua thư. Tỷ lệ phản hồi của các giáo phận trong giai đoạn 2004-2023 là từ 99% đến 100%. CARA cũng đưa vào báo cáo hàng năm dữ liệu tương tự về các viện giáo sĩ và các tổ chức tôn giáo hỗn hợp; nhưng tỷ lệ phản hồi của các nơi này thường từ 68% đến 72%.

Tổng số tiền các giáo phận phải trả để thiết lập và duy trì để có môi trường an toàn lên tới ít nhất 628,8 triệu đô la trong những năm 2004-2023.

Dữ liệu của USCCB-CARA không bao gồm các khoản dàn xếp mà các giáo phận đã ký kết với các nạn nhân trước năm 2004. Những số tiền này khác nhau và nhiều số tiền không được các giáo phận tiết lộ.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nước Mỹ: một quốc gia tôn giáo?

Bài mới nhất