Home Blog Page 121

Vì sao bây giờ buổi tiếp kiến chung của Giáo hoàng được dịch sang tiếng Trung Quốc

Vì sao bây giờ buổi tiếp kiến chung của Giáo hoàng được dịch sang tiếng Trung Quốc

Kể từ ngày thứ tư 4 tháng 12, các buổi tiếp kiến chung của Đức Phanxicô được dịch sang tiếng Quan Thoại. Theo các nhà quan sát đây là một dấu hiệu mới trong việc bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Vatican.

la-croix.com, Malo Tresca, 2024-12-04

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 4 tháng 12 năm 2024. PHILIPPO MONTEFORTE / AFP

Bây giờ người Công giáo Trung Quốc sẽ nghe bằng tiếng mẹ đẻ của mình trong các buổi tiếp kiến chung của Đức Phanxicô. Kể từ ngày thứ tư 4 tháng 12, tiếng Quan thoại là ngôn ngữ thứ bảy được dịch ra. Cho đến nay các bản dịch được các nhân viên của Vatican dịch từ tiếng Ý “chính thức” ra các tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan và Ả Rập – đây là các ngôn ngữ được Đức Bênêđíctô XVI bổ sung ngày 10 tháng 10 năm 2012.

Trong buổi tiếp kiến ngày 27 tháng 11, Đức Phanxicô tuyên bố: “Tuần tới việc dịch sang tiếng Trung Quốc sẽ bắt đầu.” Quyết định này đánh dấu điều gì trong tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Trung Quốc và Vatican? Thần học gia và nhà nhân chủng học Michel Chambon, chuyên gia về Công giáo Trung Quốc ở Singapore giải thích: “Sự lựa chọn này không có gì đáng ngạc nhiên – tiếng Trung Quốc là ngôn ngữ của cường quốc thứ hai thế giới – đây là một phần trong chính sách hợp lý hóa việc quan hệ với Trung Quốc của Tòa Thánh.”

Ngoài Trung Quốc, tiếng Quan Thoại còn là ngôn ngữ chính thức của Đài Loan và Singapore – nơi Đức Phanxicô đến thăm vào tháng 9 trong chuyến tông du Châu Á của ngài. Tiếng Quan thoại cũng được khoảng 10% dân số ở Malaysia, Brunei và Thái Lan nói.

Một “dấu hiệu” của sự chính quy hóa

Chuyên gia Chambon cho biết: “Đó là dấu hiệu của sự chính quy hóa nhưng cũng là dấu hiệu thận trọng để tránh sự can thiệp, trong đó các điều khoản có thể bị hiểu sai. Việc giữ ban dịch thuật của riêng mình có vẻ nặng nề nhưng như thế cho phép Rôma giữ quyền kiểm soát các công thức, những gì giáo hoàng nói được lưu truyền rất nhiều trên các mạng Trung Quốc”. Vào đầu tháng 8, Đức Phanxicô đã có cuộc phỏng vấn được quay phim với một đại diện của tỉnh Dòng Tên ở Trung Quốc, được đăng trên YouTube với phụ đề bằng tiếng Trung Quốc.

Theo chuyên gia Michel Chambon: “Sáng kiến này phù hợp rộng rãi hơn trong bối cảnh quan hệ song phương đang ở giai đoạn tốt đẹp, gần đây được đánh dấu bằng các dấu hiệu: ngày 22 tháng 10 hai bên ngầm gia hạn 4 năm thỏa thuận về việc bổ nhiệm các giám mục; sự tham gia của các giám mục Trung Quốc trong phiên họp kết thúc của Thượng Hội đồng tháng 10 tại Rôma… Mọi thứ đang diễn ra tương đối tốt đẹp vào lúc này.”

Sự gắn bó của Giáo hoàng với Trung Quốc

Trong một số trường hợp, Đức Phanxicô trong những năm gần đây đã tăng cường các cử chỉ với chính quyền Trung Quốc, ngài bày tỏ sự gắn bó của ngài với Trung Quốc và hy vọng một ngày nào đó sẽ đến Trung Quốc: “Trung Quốc là niềm khao khát của tôi, tôi muốn đến thăm Trung Quốc.” Trong chuyến bay trở về sau chuyến đi châu Á và châu Đại Dương tháng 9, ngài nói: “Tôi ngưỡng mộ Trung Quốc, tôi tôn trọng Trung Quốc. Đó là đất nước có nền văn hóa lâu đời, khả năng đối thoại và hiểu biết lẫn nhau vượt xa các hệ thống chính quyền khác mà nước này đã từng có.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Buổi tiếp kiến chung hàng tuần tại Quảng trường Thánh Phêrô ngày 4 tháng 12 năm 2024

Lắng nghe Đức Phanxicô về nạn diệt chủng và chiến tranh ở Gaza

Lắng nghe Đức Phanxicô về nạn diệt chủng và chiến tranh ở Gaza

americamagazine.org, Linh mục Dòng Tên David Neuhaus, giáo sư Kinh thánh tại Israel và Palestina, 2024-12-04.

Linh mục là thành viên kỳ cựu  Ủy ban Công lý và Hòa bình của Giáo hội Công giáo Đất Thánh. Sinh tại Nam Phi trong thời Apartheid, phân biệt chủng tộc, ngài sống phần lớn cuộc đời ở Israel và là công dân Israel.

Một em bé khóc bên thi thể người cha và các người Palestina khác tại Bệnh viện Al-Aqsa Martyrs ở Deir Al-Balah, miền trung Dải Gaza, ngày 9 tháng 10 năm 2024. Họ thiệt mạng trong một cuộc không kích của Israel. (Ảnh của OSV News/Ramadan Abed, Reuters)

Trong quyển sách mới Hy vọng không bao giờ làm thất vọng (Hope Never Disappoints) phát hành tiếng Ý tháng 11 năm 2024, Đức Phanxicô nhắc lại nỗi sợ của thế giới, đặc biệt ở Nam Bán cầu, cũng như trên các đường phố, trên khuôn viên các trường đại học các thành phố lớn ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Ngài viết: “Theo một số chuyên gia, những gì đang xảy ra ở Gaza có đặc điểm của một cuộc diệt chủng. Cần phải điều tra cẩn thận để xác định xem nó có phù hợp với định nghĩa kỹ thuật của các luật gia và các tổ chức quốc tế đưa ra hay không.”

Tháng 12 năm 2023, Nam Phi đệ trình một vụ kiện chống lại Israel lên Tòa án Công lý Quốc tế về vấn đề này. Ngay sau khi Đức Phanxicô công bố, Tòa án Hình sự Quốc tế đã ban hành lệnh bắt giữ Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, cựu bộ trưởng quốc phòng Yoav Gallant, ông Muhammad Deif, chiến binh Hamas hàng đầu, tất cả đều bị buộc tội phạm tội ác chống lại loài người.

Điều gì thúc đẩy ngài trong lập trường của ngài về cuộc chiến đang diễn ra giữa Israel và Palestina? Tại sao một số đối tác Do thái trong cuộc đối thoại lại nghi ngờ về lời nói của ngài?

Trong suốt năm qua, ngài luôn dấn thân sống theo Phúc âm, đấu tranh cho công lý và thúc đẩy giáo huấn xã hội của Giáo hội, lấy gương mẫu của các nhân vật tiên tri đương thời như Óscar Romero và Pedro Arrupe làm gương. Ngài lên án các cuộc tấn công của người Palestina vào miền nam Israel ngày 7 tháng 10 năm 2023 làm cho 1.200 người thiệt mạng và bắt giữ khoảng 250 con tin. Mặc dù liên tục kêu gọi thả con tin, ngài là một trong những người đầu tiên thách thức phản ứng quân sự của Israel, ngày càng không cân xứng, làm hàng chục ngàn người thiệt mạng. Từ đó ngài không ngừng chỉ trích chiến tranh vì chiến tranh là thất bại của mọi người, ngài nhấn mạnh tự vệ là hợp pháp, nhưng chiến tranh ở thời hiện đại chắc chắn là bất công, gây ra cái chết bừa bãi và sự tàn phá khủng khiếp.

Khi đặt câu hỏi về nạn diệt chủng, ngài quyết tâm để Giáo hội không bị buộc tội im lặng một lần nữa, những lời buộc tội vang lên sau cuộc diệt chủng Holocaust, khi người Do thái là nạn nhân của nạn diệt chủng. Giống như các giáo hoàng tiền nhiệm, ngài cam kết thực thi công lý cho cả người Palestina và người Israel. Ngài nói về một cuộc chiến giữa người Israel và người Palestina trái ngược với lời tuyên bố chính thức của Israel về một “cuộc chiến chính nghĩa” chống lại Hamas – một cuộc đấu tranh giữa một nhà nước hợp pháp, Israel, và một tổ chức khủng bố bất hợp pháp, Hamas. Cách mô tả này đã bỏ qua các yếu tố chính của cuộc xung đột:

Cuộc xung đột này là cuộc chiến mới nhất trong cuộc chiến đã diễn ra trong nhiều thập kỷ giữa người Israel và người Palestina, từ lâu trước khi Hamas thành lập, cuộc chiến đã có từ khi thành lập nhà nước Israel và từ sự khởi nguồn của Nakba (thảm họa) của người Palestina. Điều quan trọng cần nhớ là kể từ năm 1948, hầu hết các tổ chức chính trị Palestina đấu tranh đòi công lý cho người Palestina đều bị giới cầm quyền Israel cho là “khủng bố”.

Thủ tướng Netanyahu phản đối nhà nước Palestina, ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Do thái và các yêu sách của Israel đối với toàn bộ lãnh thổ Palestina lịch sử, những lập trường nhắm vào toàn thể người dân Palestina. Hơn nữa, ông đã hợp pháp hóa các hình thức cực đoan nhất của chủ nghĩa phục quốc Do thái, đưa vào nội các của ông các chính trị gia như Itamar Ben-Gvir, Bộ trưởng An ninh nội bộ và Bezalel Smotrich, Bộ trưởng Tài chính, những người kêu gọi các chính sách tương đương với việc thanh trừng sắc tộc ở Gaza và dùng nạn đói để chống lại người Palestina, bảo vệ những kẻ cực đoan giết hại thường dân Palestina.

Vòng xung đột này đã lan sang Bờ Tây, nơi các băng nhóm bán quân sự của những người định cư đang áp đặt chế độ khủng bố mà không bị trừng phạt.

Nỗi sợ của Israel về Iran và những người được cho là đại diện của Iran (Hamas, Hezbollah và Houthis ở Yemen), các cuộc tấn công của họ vào Israel đã dẫn đến các cuộc tấn công quân sự của Israel vào Lebanon, Syria, Iraq, Yemen và Iran, vòng tròn chiến tranh ngày càng mở rộng.

Giáo hội nhấn mạnh, cách duy nhất để chấm dứt xung đột là đảm bảo công lý, tự do và bình đẳng cho người Palestina, điều kiện để đảm bảo hòa bình và an ninh cho người Israel và Palestina, người Estonia cũng vậy. Liên Hiệp Quốc, Tòa án Công lý Quốc tế và các tổ chức liên kết được thành lập sau Thế chiến thứ hai nhằm cố gắng ngăn chặn các cuộc chiến trong tương lai. Giáo hội ủng hộ họ, luật pháp quốc tế phải được tôn trọng. Nhưng các tổ chức và hoạt động của luật pháp quốc tế đang liên tục bị phá hoại vì Israel từ chối tuân thủ các phán quyết của họ (mặc dù chính Israel ra đời qua một nghị quyết của Liên hiệp quốc). Nhiều thế lực hỗ trợ Israel được cho là sẽ bảo vệ các trường hợp quốc tế này.

Chắc chắn nhiều người sẽ bị sốc khi câu hỏi về tội diệt chủng được nêu ra với Israel, Israel là thủ phạm tiềm tàng. Vào thế kỷ 20, người Do thái là nạn nhân của cuộc diệt chủng kinh hoàng nhất lịch sử, phản ứng chung với vụ Thảm sát là “Không bao giờ tái phạm nữa!” Chính phủ Israel và những người ủng hộ, cả người Do thái và không Do thái có xu hướng nghi ngờ ai nói về tội diệt chủng ở Gaza là người bài Do thái, một phản ứng thường được nêu ra trước bất kỳ lời chỉ trích Israel nào hoặc bày tỏ sự ủng hộ người Palestina.

Liệu việc chỉ trích Israel và đặt ra câu hỏi về nạn diệt chủng của Giáo hoàng có tương quan với sự vô cảm trước lịch sử bài Do Thái của kitô giáo không? Việc xóa bỏ hoàn toàn thái độ bài Do Thái trong diễn từ công giáo còn lâu mới hoàn toàn, bằng chứng là những phát biểu thỉnh thoảng của Đức Phanxicô và các giáo hoàng tiền nhiệm. Hai phát biểu đáng tiếc gần đây nhất là:

Thư của Đức Phanxicô gởi tín hữu Trung Đông ngày 10 tháng 7 có nhắc đến Phúc âm Thánh Gioan 8:44, một câu được dùng trong lịch sử kitô giáo để loan truyền nội dung bài Do thái là một chuyện khủng khiếp  (Cha các ông là ma quỷ, và các ông muốn làm những gì cha các ông ham thích…)

Trong bài phát biểu về việc thành lập Ủy ban Giáo hoàng cho Ngày Trẻ em Thế giới (20 tháng 11), Đức Phanxicô bình luận về “các giáo sĩ Do Thái” khi họ ngăn không cho trẻ em đến gần Chúa Giêsu. Các bình luận này không thúc đẩy việc giảng dạy về sự tôn trọng người Do thái và Do thái giáo mà Giáo hội đã cổ động từ năm 1965.

Giáo sư Adam Gregerman, nhà nghiên cứu Do thái tại Đại học Thánh Giuse ở Philadelphia, trong một bài báo trên tạp chí Tablet giáo sư chỉ trích gay gắt các bình luận của giáo hoàng về nạn diệt chủng và thái độ của ngài với cuộc xung đột, giáo sư viết: “Đức Phanxicô thường xuyên nói với tính cách cá nhân về quan hệ Do thái-Công giáo, nhấn mạnh đến cam kết của ngài trong việc làm sâu sắc thêm mối liên hệ giữa hai cộng đồng xa cách nhau từ lâu. Đây là lời mở đầu cho lời tri ân cảm động của ngài trong cuộc chiến chống chủ nghĩa bài Do thái và xây dựng mối quan hệ với người Do thái. Nhưng vì sao các nhận xét mang tính cách bài Do thái vẫn xuất hiện? Những nhận xét này bắt nguồn từ chính giáo hoàng đến mức nào, hay chúng có thể bị quy cho những người chuẩn bị các bài phát biểu và văn bản đã xuất bản?”

Dù phản ứng như thế nào, những nhận xét này đều gây thất vọng và bực bội, làm tổn hại đến lập trường của ngài về cuộc chiến Israel-Palestina, cho phép một số người cáo buộc ngài bài Do thái, trái ngược với cam kết của ngài về tình bằng hữu với người Do thái. Quan trọng nhất, họ chuyển hướng sự chú ý khỏi vấn đề quan trọng nhất đang bị đe dọa, bạo lực đang diễn ra ở Trung Đông.

Trong khi mối quan tâm sâu sắc của ngài với người Palestina, với tất cả các dân tộc ở Trung Đông làm cho tiếng nói của ngài trở thành tiếng nói vang dội, thì việc chỉ trích Israel và sự coi thường mạng sống và quyền tự do của người Palestina của giới lãnh đạo chính trị không bao giờ được gợi lên những ẩn dụ liên quan đến chủ nghĩa bài Do thái. Giáo hội phải liên tục đổi mới cam kết đấu tranh chống lại mọi dấu vết của chủ nghĩa bài Do thái, đồng thời đấu tranh cho công lý, cho người dân Palestina. Nếu không có cam kết với người Palestina, họ bị đẩy ra bên lề từ năm 1948 thì cuộc đấu tranh cho công lý và hòa bình, tự do và bình đẳng cho tất cả người dân ở Trung Đông chắc chắn sẽ thất bại.

Cuối cùng, khi các cuộc tấn công quân sự hàng ngày làm hàng chục người chết và bị thương, đẩy số người chết lên gần 45.000 người trong năm qua; khi hàng trăm ngàn người sống trong các lều tạm hoặc trên đống đổ nát ngôi nhà của họ; khi tình trạng suy dinh dưỡng và nạn đói gây ra hậu quả chết người; khi mùa đông đến gần, khi dịch bệnh lan rộng, Đức Phanxicô liên tục nhắc chúng ta về Gaza. Cuộc chiến kéo dài quá lâu đến nỗi nó gần như không còn là tin thời sự nữa. Sau các sự kiện trên thực địa, gần như ngài tiếp xúc hàng ngày với cộng đồng Công giáo ở Thành phố Gaza, hiểu nhiều hơn về những gì đang xảy ra so với người khác. Ngài không thể không xin chúng ta ghi nhớ, ngài không ngừng thúc đẩy để chấm dứt thảm họa đang diễn ra này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nhà thờ Đức Bà Paris: Hoa Kỳ đứng đầu trong số các nhà tài trợ nước ngoài

Nhà thờ Đức Bà Paris: Hoa Kỳ đứng đầu trong số các nhà tài trợ nước ngoài

Nhà thờ Đức Bà Paris sẽ mở cửa lại để đón công chúng ngày 7 và 8 tháng 12. Du khách người Mỹ rất thích đến thăm Nhà thờ Đức Bà Paris, họ là du khách nước ngoài đông nhất và góp phần lớn vào việc sửa chữa nhà thờ.

la-croix.com, Alexis Buisson, phóng viên tại New York, 2024-12-04

Hình ảnh về vụ cháy Nhà thờ Đức Bà năm 2019 làm cho người Mỹ vô cùng xúc động. ERIC BARADAT / AFP

Tiếng chuông nhà thờ reo từ căn phòng nhỏ phía sau Nhà thờ Thánh Gioan ở Harlem: giáo dân đang xem hình ảnh của một thế giới khác: Công ty Lịch sử Pháp dựng lại 850 năm Nhà thờ Đức Bà Paris với các hình ảnh thực tế từ thế kỷ 12 cho đến vụ hỏa hoạn năm 2019.

Ông Tom Newcomb, một người dân New York tôi gặp ở nhà thờ Thánh Gioan nói: “Vợ tôi đang xem truyền hình ở phòng bên cạnh, bà nói Nhà thờ Đức Bà đang cháy. Tin này làm trái tim tôi tan nát. Nhà thờ mở cửa lại? Đó là ngày vinh quang, tôi đã theo dõi tin tức trên YouTube!”

Một nơi độc đáo trong trí tưởng tượng của người Mỹ

Nhà thờ Paris chiếm một vị trí đặc biệt trong trí tưởng tượng của người Mỹ. Có đạo hay không có đạo, nhiều người Mỹ biết nhà thờ qua phim Người gù nhà thờ Đức Bà của hãng phim Disney phát hành năm 1996, sau đó phim được chuyển qua nhạc kịch. Trong nhiều năm, hàng triệu du khách đã đến Nhà thờ Đức Bà Paris và người Mỹ chiếm đa số, điều này giải thích vì sao rất nhiều công ty lớn, cá nhân dù giàu hay nghèo đã bỏ tiền túi ra để tái thiết.

Ông Michel Picaud, chủ tịch Hội gây quỹ cho các nhà thờ từ năm 2017 tại Mỹ cho biết: “Ngày xảy ra vụ cháy, chúng tôi đã thu được 2 triệu đô la. Một số nhà tài trợ là các tổ chức tôn giáo như giáo phận New York, nhưng phần lớn là những người gắn bó Nhà thờ Đức Bà vì nhiều lý do văn hóa và cá nhân qua các sự kiện văn hóa và lịch sử khi họ ở Pháp. Nhà thờ Đức Bà có hình ảnh độc đáo giữa các thánh đường và di tích ở châu Âu.”

Với người Mỹ, một yếu tố khác giải thích cho sự gắn bó với Nhà thờ Đức Bà: “Các hình ảnh về vụ hỏa hoạn, đặc biệt là ngọn tháp bị sập làm họ nhớ lại các tòa tháp của họ bị sập ngày 11 tháng 9 năm 2001. Sự việc này có tác động rất mạnh trên khắp Đại Tây Dương.”

Các nhà tài trợ lớn nhỏ gắn bó với thánh đường

Bà Jennifer Herlein, Giám đốc Hiệp hội Di sản Pháp (FHS), một Hiệp hội Mỹ gây quỹ giúp bảo tồn các di tích lịch sử ở Pháp, bà cho biết bà đã quyên được 2,6 triệu đô la để trùng tu Nhà thờ Đức Bà, trong đó có 2 triệu của gia đình hãng Mỹ phẩm Estée Lauder, một hãng có thị trường lớn ở Pháp. Bà giải thích: “60% trong số còn lại là các khoản đóng góp dưới 50 đô la. Một cặp vợ chồng quyên 1.994 đôla vì họ kết hôn ở Paris năm 1994 và nhân cơ hội họ đã đến thăm nhà thờ. Một gia đình gởi cho chúng tôi vật kỷ niệm họ có được khi thắng ván bài poker vào cuối Thế chiến thứ hai thuộc về Nhà thờ Đức Bà.”

Bà Jennifer Herlein cho biết, đóng góp của Hoa Kỳ vượt xa khía cạnh tài chính. Một số thợ thủ công Mỹ đã tới Pháp để tham dự vào quá trình tái thiết. Ông Michael Burrey, thợ mộc ở Boston là một trong những người này: “Đây là dự án rất cảm động với người Pháp cũng như với người Mỹ như chúng tôi.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô gởi thông điệp để đọc trước khi bắt đầu lễ mở cửa lại Nhà thờ Đức Bà Paris

Đứng trước thuyết âm mưu, “quản lý” với điều bất định

Đứng trước thuyết âm mưu, “quản lý” với điều bất định

Nhà tâm lý học Jacques Arènes lưu ý, sự rời rạc của thế giới có thể nuôi dưỡng một dạng nghi ngờ có hệ thống đôi khi dẫn đến thuyết âm mưu. Để đối phó với vấn đề này, ông đề nghị chúng ta xem xét lại mối quan hệ của chúng ta với điều bất định.

lavie.fr, Jacques Arenes, 2022-10-26

Một thế giới của những lựa chọn. Vì sao ‘thế giới’ chúng ta lại trở nên như thế này? Tôi đã đề cập chủ đề liên quan đến thuyết âm mưu và mối quan hệ của nó với thực tế. Một câu hỏi khó: tại sao một số người trong chúng ta không còn tin vào điều hiển nhiên, hoặc không còn tin tưởng vào những gì thông thường của con người?

Hôm nọ tôi đợi tàu điện ngầm ở một quận nghèo nàn và bị bỏ hoang của Paris mà tôi biết rõ. Một ông lớn tuổi – ông bằng tuổi tôi và có lẽ là người gốc Bắc Phi – đã nói với tôi theo kiểu buông xuôi cho định mệnh. Tàu điện ngầm đông đúc và ông nhấn mạnh cho tôi, điều mà tôi cũng thấy, rằng lịch tàu chạy đã thành khó khăn từ khi có cách ly. Vào lúc này, các tàu điện ngầm thường đông đúc.

“Chẳng có gì chạy, nó được làm theo lệnh”

Trông ông buồn vô hạn. Ông nói nhỏ với tôi: “Càng ngày càng tệ”. Không có gì hoạt động và nó được làm theo lệnh. Nó được họ muốn. Bằng cách đó, những kẻ cực đoan sẽ sớm nắm quyền, và những người cai trị chúng ta, họ muốn như vậy.”

Chắc chắn đó là lời của một ông già cay đắng, nhưng cần phải lưu tâm.

Sự tuyệt vọng thầm lặng này cần được tôn trọng. Vì ông không phải là người duy nhất và tôi đã từng nghe điều đó. Chắc chắn đó là điều quá đáng, nhưng cái gì là “thực”, nghĩa là hữu hình, sờ thấy được, gần như có thể đánh giá được, đó là bề dày của sự nghi ngờ, và từ đó là nỗi khổ của nhiều người trong chúng ta. Ông già này đã đặt cuộc sống của ông ở đất nước chúng ta và cảm thấy lạc lõng, cảm thấy bị bỏ rơi. Thuyết âm mưu nuôi dưỡng loại ấn tượng bị loại trừ này. Chúng ta đã tin vào nó và chúng ta không còn tin vào nó nữa.

Chúng ta không còn tin vào những diễn văn nói đến những gì chúng ta đang trải qua, các bài diễn văn thường bao gồm việc đưa ra những quyết định không chắc chắn hoặc bình luận về chúng theo nhiều cách. Một bài tiểu luận được dịch gần đây của một nông dân Mỹ, ông cũng là triết gia, kể lại một cách khéo léo qua nhiều từ ngữ bao quanh và làm chúng ta bối rối.

“Hiện tại, ở Hoa Kỳ và phần lớn phần còn lại của thế giới, hầu hết các bối cảnh văn hóa còn tồn tại là một mớ lộn xộn của những ký ức địa phương phá sản, những âm mưu trục lợi, những chương trình ngu đần, những tưởng tượng bâng quơ, thông tin sai lệch và những sự kiện không mạch lạc ngày nay được gọi là thông tin” (Wendell Berry, Tại sao tôi không mua máy tính, Pourquoi je n’achèterai pas d’ordinateur, nxb. Actes Sud, trang 11).

Sự ngờ vực khi đối diện với thông tin hỗn loạn

Thông tin hỗn loạn xuất phát từ giới chính trị và gia tăng công cụ truyền thông, thể hiện nhiều lợi ích và ảnh hưởng khác nhau, tạo sự  ngờ vực vào các quyết định dính đến chúng ta mà tầm quan trọng của chúng phụ thuộc nhiều vào cách họ cho chúng ta biết và họ chỉ thông tin mức độ liên quan thực sự của nó.

Việc những quyết định không chắc chắn này là điều dễ hiểu. Chính trị là việc quản lý của sự không chắc chắn. Một số triết gia đã dùng  thuật ngữ “oái oăm” để chỉ nghệ thuật chính trị. Heterotelia có nghĩa là chúng ta không bao giờ đạt được mục đích mà chúng ta đặt ra cho chính mình, vì thực tế rất phức tạp và vì chúng ta làm những gì chúng ta có thể với các sự kiện và với những sự cố trong lĩnh vực này (như Thánh Phaolô đã nói, việc tôi muốn làm thì tôi không làm, việc tôi không muốn làm thì tôi làm).

Nhưng “quản lý” sự bất định cần khiêm tốn và cả lòng dũng cảm… Không nói quá và không huyênh hoang. Hay đơn giản nói khi mình bị lầm, dành thời gian lắng nghe mọi người, quay lại và nhận ra điều mình đã khẳng định một cách gần đúng. Tất cả điều này chỉ có ít. Nhưng nó lại mang lại sự tự tin.

Khiêm tốn hơn

Nghe có vẻ ngây ngô nhưng các bậc cha mẹ biết rõ điều này, trong mọi trường hợp “tốt nhất”, biết nhận lỗi của mình trước con cái, xin  tha thứ, không phải lỗi lầm của những người từ mấy thế hệ trước, nhưng lỗi do mình đã không làm hoặc làm không đúng…

Nếu chúng ta muốn có được lại niềm tin của những gì chung quanh chúng ta, của những quyết định đã làm, những thể chế chạy việc hay không, mà còn vào những gì chúng ta dựa vào sâu sắc nhất – những dữ liệu khoa học, tình trạng của những gì chúng ta cần và những gì chúng ta thiếu, thực phẩm, năng lượng hoặc không khí trong sạch – trước tiên chúng ta cần khiêm tốn hơn.

Tất cả những người gằn mạnh, trịnh trọng, những người tố cáo, những người áp đặt sự thật bằng sức mạnh, dù nghèo nàn, nhưng họ phải suy nghĩ đến những thiệt hại họ tạo ra. Không ai tin vào đó nữa, và nhiều người cảm thấy mình bị bỏ rơi. Cứ nói dông dài lý thuyết, chúng ta đã bỏ qua một bên hành động giản dị, khiêm tốn hàng ngày…

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Thuyết âm mưu, liều thuốc độc của đời sống chung

Đức Phanxicô gởi thông điệp để đọc trước khi bắt đầu lễ mở cửa lại Nhà thờ Đức Bà Paris

Đức Phanxicô gởi thông điệp để đọc trước khi bắt đầu lễ mở cửa lại Nhà thờ Đức Bà Paris

Ngày thứ bảy 7 tháng 12, Đức Phanxicô sẽ không có mặt trong lễ mở cửa lại Nhà thờ Đức Bà Paris. Nhà thờ Đức Bà Paris bị cháy ngày 15 tháng 4 năm 2019 và phải sửa chữa trong 5 năm. Ngài gởi một thông điệp để đọc trước thánh lễ.

20 Minutes.fr, AFP, 2024-12-05

Đức Phanxicô gởi một thông điệp cho Tổng giám mục Eric de Moulins-Beaufort, chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp để đọc trước khi bắt đầu thánh lễ tại Nhà thờ Đức Bà ngày thứ bảy 7 tháng 12. Năm ngoái nước Pháp mời ngài đến dự lễ mở cửa này nhưng ngài từ chối. Ngày 15 tháng 12 ngài sẽ đến Ajaccio, đảo Corsica để dự Hội nghị về lòng mộ đạo bình dân. Trước quyết định của ngài, các giám mục Pháp cho biết ngài ưu tiên cho các vùng ngoại vi và ngài có những hạn chế về lịch trình làm việc của ngài ở Rôma.

Ngài đã đến thăm nước Pháp hai lần, năm 2014 ngài đi Strasbourg và năm 2023 ngài đi Marseille. Sứ thần Tòa Thánh tại Pháp, Celestino Migliore đại diện ngài trong buổi lễ này.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nhà thờ Đức Bà Paris: Hoa Kỳ đứng đầu trong số các nhà tài trợ nước ngoài

“Chúa Giêsu mà con người ngày nay đã mất.” Cuộc phỏng vấn chưa được công bố của Hồng y Joseph Ratzinger

“Chúa Giêsu mà con người ngày nay đã mất.” Cuộc phỏng vấn chưa được công bố của Hồng y Joseph Ratzinger

diakonos.be, Sandro Magister, Settimo Cielo, 2024-12-02

Tuần báo L’Espresso thực hiện cuộc phỏng vấn Đức Bênêđíctô XVI chưa được công bố của chuyên gia danh dự Sandro Magister

Quyển sách tiếng Ý “In Dialogo con il proprio tempo” (Đối thoại với thời gian) sắp được xuất bản tại Ý, dày hơn 500 trang gồm 39 cuộc phỏng vấn của triết gia Jürgen Habermas với Đức Joseph Ratzinger từ năm 1968 đến năm 2004, trong đó có nhiều bài chưa bao giờ được đăng bằng một ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Đức.

Được Thư viện Vatican cho phép, lần đầu tiên chúng tôi đăng một trong những cuộc phỏng vấn này bằng tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng Anh. Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại ba câu hỏi thiết yếu: lý do khủng hoảng đức tin trong thời đại chúng ta, sự xung đột giữa Chúa Giêsu của Tin Mừng và Chúa Giêsu “lịch sử” và sự hiểu biết kém cỏi về thực tại thực sự của Bí tích Thánh Thể. Cuối cuộc phỏng vấn, bắt đầu từ mùa thu năm 2003, một năm rưỡi trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng, ngài cho biết ngài sẽ viết một quyển sách về Chúa Giêsu và sẽ viết từ ba đến bốn năm.

Sau đây là phần tóm tắt của mỗi chương và hai đoạn trích về những cám dỗ của Chúa Giêsu trong sa mạc và nguồn gốc của Tin Mừng Gioan:

“Chúa Giêsu thật vẫn là Chúa Giêsu mà Tin Mừng mang đến cho chúng ta” Joseph Ratzinger

 Việc nói về một cuộc khủng hoảng đức tin trong Giáo hội là điều tốt cho người công giáo quan tâm đến truyền thống. Nhưng nó không luôn như thế này sao?

Hồng y Joseph Ratzinger: Tôi đồng ý với ông. Đức tin của mỗi tín hữu luôn có những khó khăn, những vấn đề, những giới hạn và chừng mực của nó. Chúng ta không thể đánh giá điều này. Nhưng có thể nói, trong lãnh vực tâm linh cơ bản, một điều gì đó khác đã xảy ra. Cho đến thời kỳ Khai sáng và tiếp theo đó, chắc chắn thế giới đã thấm nhuần Chúa, bằng một cách nào đó đằng sau thế giới này có một trí tuệ cao hơn, rằng thế giới với tất cả những gì nó chứa đựng – sự sáng tạo với sự phong phú, lý trí và nét đẹp của nó  – là phản ánh của một Thần linh sáng tạo. Ngoài mọi chia rẽ, còn có bằng chứng cơ bản rằng, trong Kinh Thánh, chính Thiên Chúa nói với chúng ta, rằng Ngài đã mạc khải khuôn mặt của Ngài cho chúng ta, rằng Thiên Chúa đến gặp chúng ta trong Chúa Kitô. Trong khi đó lại có một giả định tập thể là phải tuân theo đức tin bằng cách này hay cách khác – luôn có tất cả những giới hạn và điểm yếu của con người – và cần có một hành động nổi loạn có chủ ý để chống lại đức tin; sau thời kỳ Khai Sáng, mọi thứ đã thay đổi: ngày nay, hình ảnh về thế giới hoàn toàn đảo ngược.

Dường như mọi thứ đều bị giải thích ở khía cạnh vật chất; giả thuyết về Chúa, như tác giả Laplace đã nói, không còn cần thiết nữa, mọi thứ đều được giải thích qua yếu tố vật chất. Có thể nói, sự tiến hóa đã trở thành thần tính mới. Không có tài liệu nào đòi hỏi một Đấng Tạo Hóa. Ngược lại, việc nói về Thiên Chúa dường như mâu thuẫn với sự chắc chắn về mặt khoa học, do đó là không thể bào chữa được. Và Kinh Thánh bị lấy ra khỏi tay chúng ta, cho rằng chúng ta nên xem Kinh Thánh như một sản phẩm có nguồn gốc có thể được giải thích về mặt lịch sử, phản ánh các tình huống lịch sử và không cho chúng ta biết bất cứ điều gì mà chúng ta nghĩ có một cái gì đó hoàn toàn khác. Vì thế dựa trên hoàn cảnh khách quan của ý thức, có một điểm khởi đầu khác, đó là lý do vì sao đức tin đòi hỏi một cam kết lớn hơn và một lòng can đảm để chống lại những điều chắc chắn của bề ngoài. Đến với Chúa đã trở nên khó khăn hơn nhiều.

Lối chú giải Kinh Thánh hiện đại chắc chắn đã góp phần rất lớn vào việc làm các tín hữu mất phương hướng. Nhiều bài chú giải Kinh Thánh giải thích đức tin của các cộng đoàn tiên khởi, nhưng họ không nhìn đến Chúa Giêsu lịch sử và các hành động của Ngài. Đây có phải là kết quả của kiến thức khoa học vững chắc về Kinh Thánh hay quay lại với Chúa Giêsu lịch sử sẽ thuận tiện hơn?

Việc này phải được thực hiện trong mọi trường hợp. Vấn đề chú giải-phê bình-lịch sử đương nhiên là rất lớn. Từ hơn 100 năm nay, nó đã làm rung chuyển Giáo hội, chứ không chỉ Giáo hội Công giáo. Cả với Giáo hội Tin lành đây cũng là một vấn đề lớn. Điều có ý nghĩa là trong đạo Tin lành, các cộng đồng theo trào lưu chính thống đã được thành lập để chống lại những khuynh hướng tan rã như vậy và để tái khám phá đức tin một cách trọn vẹn qua việc bác bỏ phương pháp phê bình lịch sử. Ngày nay các cộng đồng theo trào lưu chính thống đang phát triển và thành công trên toàn thế giới, trong khi “các giáo hội chính thống” đang gặp khủng hoảng, cho chúng ta thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Về nhiều mặt, người Công giáo chúng ta khá hơn. Trên thực tế, những người theo đạo Tin lành từ chối chấp nhận dòng chú giải không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố là không thể chạm đến được Kinh Thánh. Có thể nói, Giáo hội Công giáo có một không gian rộng lớn hơn, theo nghĩa chính Giáo hội sống động là không gian của đức tin, một mặt đặt ra những giới hạn, nhưng mặt khác lại cho phép có rất nhiều khả năng biến đổi.

Sẽ là một sai lầm nếu lên án toàn bộ việc chú giải phê bình lịch sử một cách thuần túy và đơn giản. Nhờ nó mà chúng ta đã học được vô số điều. Kinh Thánh trở nên sống động hơn đối với chúng ta nếu chúng ta tính đến khoa chú giải với tất cả các kết quả: sự hình thành, tiến hóa của Kinh Thánh, sự thống nhất nội tại trong sự phát triển của nó, v.v. Và như vậy: một mặt, khoa chú giải hiện đại đã mang lại cho chúng ta rất nhiều nhưng nó sẽ trở nên có tính hủy diệt nếu chúng ta chỉ bằng lòng tuân theo mọi giả thuyết của nó, xem đặc tính khoa học được cho là của nó là tiêu chuẩn duy nhất.

Thực tế là các giả thuyết nổi trội bị tiếp thu kém đã lồng ghép vào việc dạy giáo lý và được cho là mới nhất trong “khoa học” cho thấy nó có sức tàn phá đặc biệt. Sai lầm của mười lăm năm qua là đã xem việc chú giải trong thời điểm này một cách có hệ thống là “khoa học”, trình bày nó một cách quá hào nhoáng, xem “khoa học” này là thẩm quyền duy nhất có giá trị, bây giờ không còn nữa, không còn uy tín. Hậu quả là bài giáo lý và thông báo tan rã: hoặc chúng ta tiếp tục tuân theo các truyền thống, nhưng không có đức tin chắc chắn, để cuối cùng mọi người thấy chúng ta nghi ngờ về đức tin hoặc chúng ta đã bỏ qua cái gọi là kết quả cho những chân lý khoa học.

Trên thực tế, lịch sử khoa chú giải là nghĩa địa của những giả thuyết, mỗi lần lại phản ánh tinh thần thời đại hơn là tiếng nói thực sự của Kinh Thánh. Những người xây dựng trên nền tảng này quá nhanh, quá liều lĩnh và nhầm nó với khoa học thuần túy, cuối cùng họ bị đắm tàu khi đi tìm kiếm chiếc phao cứu sinh, họ sẽ có thể bị chìm nhanh chóng. Chúng ta phải mong muốn một khuôn khổ cân bằng hơn.

Ngày nay lại có một sự căng thẳng đang diễn ra: khoa chú giải phê bình lịch sử là hỗ trợ cho việc giải thích và cho chúng ta tiếp cận với những kiến thức thiết yếu, và do đó, nó phải được tôn trọng nhưng cũng cần phải bị phê phán. Thật ra các nhà chú giải trẻ ngày nay cho thấy khoa chú giải ẩn chứa một lượng lớn triết học đáng kinh ngạc. Những gì dường như chỉ phản ánh những sự kiện cụ thể và được cho là tiếng nói của khoa học thì trên thực tế lại là biểu hiện của một quan niệm nào đó về thế giới, theo đó, chẳng hạn, không thể có sự sống lại từ cõi chết, hoặc Chúa Giêsu không thể nói như thế và theo cách như vậy, vân vân. Các nhà chú giải trẻ có khuynh hướng tương đối hóa việc chú giải lịch sử, một lối chú giải vẫn giữ nguyên tất cả ý nghĩa của nó nhưng lại chứa đựng trong đó những giả định triết học cần phê phán.

Vì vậy, cách giải thích ý nghĩa này của Kinh Thánh phải được tổng hợp thông qua các hình thức khác, đặc biệt là qua tầm nhìn của các tín hữu uy tín, những người đi một con đường hoàn toàn khác, đã chạm đến trái tim chân thực và sâu sắc của Kinh Thánh, trong khi rõ ràng khoa học làm sáng tỏ, nhưng chỉ muốn đi tìm sự thật, vẫn còn rất hời hợt và chưa đi xa đến lý do sâu sắc tác động và duy trì sự thống nhất của toàn bộ Kinh Thánh. Một lần nữa, chúng ta phải công nhận đức tin của tín hữu là một cách nhìn và hiểu biết đích thực, nhờ đó chúng ta có được một tầm nhìn rộng hơn.

Có hai điều quan trọng: luôn thận trọng trước mọi thứ được ban cho chúng ta như “khoa học” và trên hết là tin tưởng vào đức tin của Giáo hội, một đức tin vẫn là hằng số đích thực và cho chúng ta thấy Chúa Giêsu thực sự. Chúa Giêsu thực sự vẫn luôn là Chúa Giêsu mà Tin Mừng loan báo cho chúng ta. Tất cả các công trình xây dựng khác đều rời rạc và phản ánh tinh thần của thời đại hơn là nguồn gốc. Các nghiên cứu chú giải cũng tiết lộ rằng nhiều khi những hình ảnh khác nhau về Chúa Giêsu không phải là dữ liệu khoa học mà là sự phản ánh những gì của một cá nhân hoặc của một thời đại và được cho đó là kết quả của khoa học.

Trong tương lai gần, người công giáo và tin lành có cùng nhau trên cùng một bàn thờ không?

Về mặt con người thì tôi sẽ nói không. Lý do trước hết là sự chia rẽ nội bộ của chính các cộng đồng truyền giáo. Lấy ví dụ  chủ nghĩa Luther ở Đức, họ có những tín hữu có đức tin sâu sắc và được đào tạo theo Giáo hội nhưng họ cũng có một phe tự do, trong một phân tích cuối cùng, họ xem đức tin như một lựa chọn cá nhân và bỏ qua Giáo hội.

Nhưng ngay cả khi bỏ qua những chia rẽ nội bộ này trong thế giới Phúc âm, vẫn có những khác biệt cơ bản giữa các cộng đồng xuất phát từ cuộc Cải cách thế kỷ 16 và Giáo hội Công giáo. Nếu chúng ta xem tập sách nhỏ chính thức về “Bữa Tiệc Ly” của Giáo hội Tin lành Đức, chúng ta thấy có hai điểm thực sự cho thấy một sự rạn nứt rất sâu sắc.

Một mặt, họ cho rằng về cơ bản, mọi tín hữu kitô được rửa tội đều có thể chủ tế Bí tích Thánh Thể. Như thế ngoài rửa tội sẽ  không có cơ cấu bí tích trong Giáo hội. Điều này có nghĩa chúng ta không công nhận việc kế nhiệm tông truyền với các chức vị giám mục và linh mục, dù chúng ta đã thấy trong Kinh Thánh, đó là hình thức cấu thành cơ cấu của Giáo hội. Cấu trúc Kinh điển Tân Ước – các “bản văn” Tân Ước – theo bối cảnh này. Quy tắc này rõ ràng không hình thành một mình. Quy tắc đã được công nhận. Tuy nhiên, để làm được điều này, cần có một cơ quan có thẩm quyền quyết định. Quyền này chỉ có thể là quyền tông truyền và nó hiện diện trong chức năng kế vị. Quy tắc – Kinh thánh – Tông truyền, cũng như chức năng giám mục là chức năng không thể tách rời.

Yếu tố thứ hai làm tôi ngạc nhiên trong “tập sách nhỏ” này là tập sách chỉ đưa ra những phần thiết yếu của việc cử hành Bữa Tiệc Thánh. Nhưng không có dấu vết nào của “Thánh Thể”, lời cầu nguyện thánh hiến không phải do Giáo hội phát minh, nhưng bắt nguồn trực tiếp từ lời cầu nguyện của Chúa Giêsu – lời cầu nguyện chúc lành cao cả của truyền thống do thái – lời cầu nguyện khi dâng bánh và rượu tượng trưng cho lễ vật hiến tế của Chúa dành cho Giáo hội của Ngài. Qua đó chúng ta cầu nguyện trong lời cầu nguyện và qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu – đó là hành vi hy sinh thực sự được thực hiện một cách hữu hình trên thập giá – hy tế của Chúa Kitô hiện diện và Bí tích Thánh Thể không chỉ là một bữa ăn.

Đây là lý do vì sao tầm nhìn công giáo về Giáo hội, cũng như về Bí tích Thánh Thể rõ ràng rất khác xa với tất cả những gì được nói trong “tập sách nhỏ” của Giáo hội tin lành Đức. Nhưng đằng sau điều này là vấn đề trọng tâm của “sola Scriptura” (chỉ có kinh thánh) mà Jüngel, một giáo sư tại Tübingen đã tóm tắt trong công thức: chính Giáo luật là sự kế thừa tông truyền. Nhưng làm sao chúng ta biết được điều đó? Ai giải thích cho chúng ta? Mỗi người ở mỗi bên của mình? Hay các chuyên gia? Trong trường hợp này, đức tin của chúng ta sẽ chỉ dựa trên những giả định mà chúng ta không thể dựa vào trong khi sống hay sau khi chết. Nếu Giáo hội không có tiếng nói, nếu Giáo hội không thể khẳng định bất cứ điều gì có thẩm quyền về những vấn đề thiết yếu của đức tin, thì không có đức tin cộng đồng. Khi đó chúng ta có thể xóa từ “Giáo hội” vì một Giáo hội không bảo đảm cho chúng ta một đức tin chung thì không phải là Giáo hội.

Vì vậy, câu hỏi cơ bản liên quan đến Giáo hội và Kinh Thánh cuối cùng vẫn là một câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ và chưa được giải đáp. Tuy nhiên, tất cả những điều này không loại trừ thực tế là các tín hữu chân chính có thể gặp nhau trong sự gần gũi thiêng liêng sâu sắc, và tôi đã có thể liên tục làm với lòng biết ơn.

Ngài là trưởng Hồng Y đoàn, ngài còn thì giờ để làm các việc cá nhân không? Nếu có thì giờ, ngài muốn ưu tiên giải quyết vấn đề thần học nào, chủ đề của tác phẩm sẽ là chủ đề nào?

Trên hết, tôi phải ngày càng học cách tin tưởng vào Chúa, dù tôi còn thì giờ hay không vì tôi không còn trẻ nữa. Nhưng bằng cách nào đó, trong vài giờ rảnh dù hiếm hoi, tôi vẫn cố gắng làm điều gì đó, từng chút một. Tháng 8, tôi bắt đầu viết quyển sách về Chúa Giêsu. Theo hiện tại, tôi hy vọng có ba hoặc bốn năm để viết. Tôi muốn chứng tỏ từ Kinh Thánh có một nhân vật sống động và hài hòa đã đến gặp chúng ta như thế nào và Chúa Giêsu trong Kinh Thánh cũng là một Chúa Giêsu hiện diện tuyệt đối như thế nào.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Chiếc xe chạy điện mới của Đức Phanxicô

Chiếc xe chạy điện mới của Đức Phanxicô

fr.aleteia.org, I.Media, 2024-12-04

Đức Phanxicô nhận chìa khóa chiếc xe giáo hoàng mới của ngài!

fr.aleteia.org, I.Media, 2024-12-04

Chiếc xe điện mới của Đức Phanxicô, ngày 4 tháng 12 năm 2024.

Ngày thứ tư 4 tháng 12, Đức Phanxicô nhận chìa khóa chiếc xe giáo hoàng mới của ngài. Đây là chiếc xe điện của hãng Mercedes-Benz. Nhà sản xuất cho biết chiếc SUV này “được điều chỉnh để phù hợp với tốc độ thấp để đi trong các buổi tiếp kiến ở Quảng trường Thánh Phêrô. Chiếc xe “không phát thải”, mẫu xe độc đáo này được hãng Mercedes-Benz sản xuất để phù hợp với tinh thần Thông điệp Laudato si’. Xe mang bảng số Vatican SCV 1 (Stato della Città del Vaticano).

Năm 1930, hãng xe Mercedes-Benz cung cấp chiếc xe đầu tiên cho giáo hoàng. Ông Marc Langenbrinck, giám đốc điều hành hãng xe giải thích: “Đó là niềm tự hào và niềm vui của các đội chúng tôi. Kể từ khi bắt đầu dự án năm 2023, tổng cộng có 100 người đã làm việc trong quá trình sản xuất, nối tiếp một truyền thống lâu đời gần cả thế kỷ, chiếc xe đầu tiên chúng tôi làm các giáo hoàng là năm 1930.”

Xe được các chuyên gia làm tại ba nơi: Rôma, Graz ở Áo và Sindelfingen ở Đức. Dự án được quản lý ở Rôma, hệ thống điện được làm ở Graz, thân xe và bên trong xe được làm ở xưởng Sindelfingen. Các công nhân và chuyên gia của ba nhóm có mặt khi giao chìa khóa xe cho Đức Phanxicô.

Bốn động cơ điện

Bốn động cơ điện được lắp đặt để xe có thể di chuyển chậm nơi công cộng. Pin có thể dùng trong phạm vi 400 cây số, ghế ngồi và tay vịn được sưởi ấm để phù hợp với thời tiết mùa đông. Mái bằng mica có hệ thống chiếu sáng để giáo dân nhìn thấy Giáo hoàng rõ hơn. Lối vào xe được làm thuận tiện để Đức Phanxicô dễ lên xuống, ghế xoay và có thể điều chỉnh độ cao. Vì lý do bảo mật nên các chuyên gia không nói về các thiết bị an toàn. Sau vụ mưu sát Đức Gioan-Phaolô II ngày 13 tháng 5 năm 1981, khi đó ngài đi chiếc Fiat, từ đó các hình thức bảo mật quan trọng cho xe giáo hoàng đã được thiết lập.

Chiếc xe mới này không phải là chiếc xe điện đầu tiên của giáo hoàng, năm 2012, Đức Bênêđíctô XVI nhận chiếc xe hiệu Renault.

Tháng 11 năm 2023, hãng xe Volkswagen đã cung cấp 30 chiếc xe điện cho Vatican, nhằm khuyến khích quá trình chuyển đổi sinh thái.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Hình ảnh Đức Phanxicô nhận chìa khóa chiếc xe giáo hoàng mới của ngài!

https://x.com/i/status/1864342496043540522

Đức Phanxicô: “Bài giảng phải tập trung và không nên dài quá 10 phút”

Đức Phanxicô: “Bài giảng phải tập trung và không nên dài quá 10 phút”

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư 4 tháng 12-2024 tại Quảng trường Thánh Phêrô. Vatican – Media)

vaticannews.va, Francesca Merlo, 2024-12-04

Tiếp tục bài giáo lý hàng tuần về Chúa Thánh Thần, Đức Phanxicô khuyến khích các linh mục dựa vào Phúc âm và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần để giảng, bài giảng không nên dài quá 10 phút.

Ngài suy gẫm Thư thứ nhất của Thánh Phêrô về việc xác định tiêu chuẩn đầu tiên của người tông đồ: “Tông đồ là người rao giảng Tin Mừng qua Chúa Thánh Thần. Hai yếu tố cấu thành việc rao giảng là nội dung bài giảng: Phúc âm và phương tiện rao giảng: Chúa Thánh Thần.” 

Nội dung rao giảng

Trước tiên Đức Phanxicô nhắc lại từ “Phúc âm” trong Tân Ước. Từ này có hai nghĩa chính: bốn Phúc âm nhất lãm của Thánh Máttêô, Máccô, Luca và Gioan là Tin Mừng của Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế của Ngài.

Sau Phục sinh đầu tiên, từ “Phúc âm” có một ý nghĩa mới, đó là “mầu nhiệm Vượt qua về cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô”.

Thánh Phêrô viết: “Tôi không hổ thẹn về Phúc Âm. Đó là quyền năng của Thiên Chúa để cứu rỗi mọi người”.

Đức Phanxicô lưu ý: “Lời rao giảng của Chúa Giêsu và sau đó là của các Tông đồ bao gồm tất cả bổn phận đạo đức bắt nguồn từ Phúc Âm, từ Mười Điều răn cho đến Điều răn ‘mới’ về Tình yêu. Chúng ta không nên tái phạm vào sai lầm mà Thánh Phaolô đã lên án là đặt luật pháp lên trên ân sủng và việc làm lên trên đức tin, chúng ta công bố những gì Chúa Kitô đã làm cho chúng ta.” Chính vì lý do này nên Đức Phanxicô viết trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, Evangelii Gaudium về kerygma, ‘lời công bố’ mà mọi việc làm đạo đức đều phụ thuộc vào đó. 

Phương tiện rao giảng

Về phương tiện rao giảng, Phúc Âm phải được rao giảng qua Chúa Thánh Thần, rao giảng với dầu của Chúa Thánh Thần có nghĩa là truyền tải, cùng với các ý tưởng và giáo lý, cuộc sống và niềm tin sâu sắc, vì thế không phải là lời lẽ khôn ngoan thuyết phục nhưng phải được thể hiện qua tinh thần và sức mạnh. Đức Phanxicô xin các linh mục giảng tối đa 10 phút: “Sau 8 phút, bài giảng bị phân tán, giáo dân không còn tập trung để nghe.Xin anh em đừng bao giờ giảng quá 10 phút, không bao giờ! Điều này rất quan trọng. Quá 10 phút nhiều người ra ngoài hút thuốc lá!”

Ngài lưu ý, các linh mục phải cầu nguyện để Chúa Thánh Thần ban ơn khi giảng. Một điểm quan trọng khác, người rao giảng không được nói về mình, nhưng về Chúa Giêsu: “Không nói về mình có nghĩa không phải lúc nào cũng nhấn mạnh đến các sáng kiến mục vụ của mình, gắn tên tuổi của mình vào các công việc này nhưng hợp tác vào các sáng kiến của cộng đồng. Anh em cầu nguyện để Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta giảng Tin Mừng hiệu quả cho giáo dân ngày nay.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Carlo Acutis sắp được phong thánh: “người đam mê” của Chúa, vị thánh tài năng đầu tiên của Internet

Carlo Acutis sắp được phong thánh: “người đam mê” của Chúa, vị thánh tài năng đầu tiên của Internet

la-croix.com, Sybille d’Oiron, 2020-10-10

Carlo Acutis (1991-2006), được phong chân phước năm 2020 và sẽ sớm được phong thánh. Biệt danh là “người đam mê” của Chúa, Carlo qua đời khi 15 tuổi vì bệnh bạch cầu cấp tính, Carlo đã dùng kỹ năng máy tính của mình để phục vụ niềm đam mê Bí tích Thánh Thể.

Hồng y Angelo Scola, giáo phận Milan kết thúc tiến trình phong thánh cho Carlo Acutis năm 2016. Maurizio Maule / IPA Agency/Maxppp

Đức Phanxicô đã ban hành các sắc lệnh liên quan đến một phép lạ mới nhờ Carlo Acutis chuyển cầu, “người đam mê” Thiên Chúa. Carlo Acutis sẽ là thánh đầu tiên có “điện thoại di động và địa chỉ e-mail”. Carlo Acutis được phong chân phước ngày 10 tháng 10 năm 2020 tại Assisi.

Carlo Acutis sinh ngày 3 tháng 5 năm 1991 trong một gia đình người Ý có đạo nhưng ít giữ đạo. Carlo lớn lên ở Milan. Từ rất nhỏ Carlo đã rất thích đi thăm các nhà thờ, lần hạt Mân Côi, đọc hạnh các thánh và say mê Bí tích Thánh Thể đến mức Carlo xin rước lễ lần đầu trước khi đúng tuổi.

Giám mục Pasquale Macchi, cựu thư ký riêng của Giáo hoàng Phaolô VI đã cho phép Carlo rước lễ năm Carlo 7 tuổi. Cha mẹ xin cho Carlo được rước lễ và Giám mục đã chứng thực sự trưởng thành về mặt thiêng liêng của Carlo. Từ đó Carlo đi lễ rước lễ mỗi ngày, chầu Mình Thánh Chúa, lần hạt Mân Côi và làm chứng cho đức tin của mình. Với Carlo, Bí tích Thánh Thể là “con đường dẫn tới Thiên đàng”. Carlo tin và cảm nhận Chúa Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể như Ngài đã ở Galilê cách đây 2.000 năm, Carlo ngạc nhiên khi thấy nhiều người xếp hàng chờ xem các buổi nhạc rock hơn là vào nhà thờ. Với Carlo, khi đứng trước Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta trở thành thánh.

Thiên tài máy tính

Trong đời sống bình thường, Carlo là đứa trẻ như các đứa trẻ khác: Carlo thích đá banh, thích chơi game, yêu động vật. Gia đình Carlo có người giúp việc Ấn Độ là ông Rajesh, ông thuộc gia đình quý tộc Hinđu, ở gần Carlo qua đời sống hàng ngày và qua các câu chuyện Carlo nói cho ông nghe về Chúa Giêsu, ông cảm nghiệm và trở lại đạo công giáo. Carlo sống chan hòa với bạn bè, giúp bạn nào cần đến mình. Nhờ một bạn trong nhóm, Carlo biết được máy tính và nhanh chóng Carlo có năng khiếu phi thường: biên tập phim, làm trang web cho giáo xứ, cho trường học, ngoài ra Carlo còn làm việc tích cực trong ban tuyên úy.

Khi 12 tuổi, Carlo dùng kỹ năng máy tính để phục vụ niềm đam mê mãnh liệt Bí tích Thánh Thể. Carlo làm trang web minh họa và giải thích 136 phép lạ Thánh Thể đã được Giáo hội xác nhận. Được cha mẹ hỗ trợ, Carlo ghi lại tài liệu, đi nhiều nơi để chụp ảnh các địa điểm. Hai năm rưỡi làm việc và trước ngày qua đời, cuộc triển lãm đã được trình bày. Hiện nay nhiều giáo xứ, trong đó có 10.000 giáo xứ ở Mỹ và các nơi khác trên năm châu lục đã tổ chức các cuộc triển lãm.

“Con đã sống cuộc đời của con mà không lãng phí một giây phút nào và không có hành động nào làm mất lòng Chúa”

Tháng 10 năm 2006, chỉ sau mấy ngày bị bệnh bạch cầu ác tính, Carlo qua đời. Cho đến khi qua đời, Carlo luôn mạnh khỏe. Khi lâm bệnh, Carlo không buồn giận, luôn an ủi người thân yêu và dâng đau đớn của mình để cầu nguyện cho Giáo hoàng và Giáo hội.

Cả các em tuổi vị thành niên cũng được gọi để nên thánh!

Carlo rất trưởng thành, với một lòng mộ đạo hiếm hoi, Carlo nói: “Con hạnh phúc được chết vì con đã sống một cuộc đời không lãng phí phút nào và không có hành động nào làm mất lòng Chúa.” Carlo qua đời ngày 12 tháng 10 năm 2006, được chôn cất ở Assisi theo ước nguyện vì lòng kính mến Thánh Phanxicô. Ngày 6 tháng 4 năm 2019, thi thể của Carlo được đưa về Assisi, khi mở quan tài, thi thể Carlo còn nguyên, ít bị phân hủy.

Người tiên phong của thế hệ thánh mới

Linh mục Will Conquer, nhà truyền giáo ở Campuchia viết trong quyển sách của ngài về Carlo Acutis: “Carlo là người tiên phong. Là người ‘vào chuồng sư tử Internet’ vào thời điểm khi Carlo chưa biết sàng lọc tin tức. Được cha mẹ theo dõi giờ giấc, Carlo không bao giờ lang thang trên Web, Carlo trong sáng với Chúa, với người khác, với người lớn, với các cô. Tình bạn thực sự đã bảo vệ Carlo khỏi các nội dung khiêu dâm.”

Theo linh mục Will Conquer, Carlo Acutis là tấm gương cho giới trẻ: “Tôi biết các bạn trẻ mong chờ Carlo sẽ mở con đường cho thế hệ các thánh mới của những người ở thế kỷ 21, những người đi theo con đường đến với Chúa Kitô trong cuộc sống bình thường của mình.”

“Cùng với Carlo Acutis, nên thánh với chiếc điện thoại di động trong tay” – Gặp linh mục Will Conquer

Marta An Nguyễn dịch

Vì sao bây giờ chân phước Carlo Acutis lại quan trọng như thế?

“Phục vụ người nghèo là con đường duy nhất để trở thành người tín hữu kitô”

“Phục vụ người nghèo là con đường duy nhất để trở thành người tín hữu kitô”

la-croix.com, Jean de Saint-Cheron, người viết thời luận nhật báo La Croix, 2024-11-18

Hiệp hội Cứu trợ Công giáo (Secours catholique) vừa công bố báo cáo thường niên về tình trạng nghèo đói với dữ liệu đáng báo động, tác giả Jean de Saint-Cheron nhắc chúng ta về tầm quan trọng của việc hướng về người khác. Ông tin cách duy nhất để trở thành người tín hữu kitô là giúp đỡ những người thiếu thốn nhất, đó là việc khẩn cấp.

Mỗi buổi sáng trước khi đạp xe đạp đến sở làm tôi đều đeo  găng tay. Và mỗi tối khi kiểm các thư nhận trong ngày, tôi đều nhận thư của các Cơ quan từ thiện, Hiệp hội Cứu trợ Công giáo, Mẫu bánh, Anh em Người nghèo. Cái lạnh đã về, nó đang móc hầu bao của tôi và làm trái tim tôi nghẹn lại với hình ảnh người phụ nữ tôi gặp hàng ngày bây giờ cô nằm trong chiếc túi ngủ, với hình ảnh người vô gia cư co ro ngoài công viên, người hát dạo trên băng ghế công cộng, họ sẽ ngủ ngoài trời lạnh. Chúng ta trấn an lương tâm day dứt của mình: “Việc này Nhà nước sẽ lo”, “Chúng ta không thể lo hết mọi đau khổ trên thế giới”. Nhưng Tin Mừng và Truyền thống lại nhắc một chuyện khác. Vào ngày cuối cùng, chúng ta sẽ bị những người nghèo trong lịch sử phán xét. Chúa Giêsu đã nói. Tin Mừng và mọi Truyền thống đều dạy chúng ta đừng bao giờ rời mắt khỏi người anh em đang trần trụi, xa lạ và đói khát.

Người nghèo và Giáo hội

Vì vậy, phục vụ người nghèo không phải là một trong những cách để là người tín hữu kitô, nhưng là cách duy nhất. Chỉ cần xem lại Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo là rõ: “Thiên Chúa chúc lành cho những ai đến giúp đỡ người nghèo và khiển trách những ai quay lưng với họ. (…) Tình thương cho người nghèo là một trong những lý do buộc chúng ta phải làm việc để ‘có thể làm điều tốt bằng cách giúp đỡ người túng thiếu’” (Êp 4:28). Thánh Gioan Kim Khẩu Chrysostom mạnh mẽ nhắc: “Không chia sẻ với người nghèo là cướp của họ, là lấy mạng sống của họ. Chúng ta nắm giữ không phải của cải của chúng ta mà là của cải của họ.” Khi chúng ta cho người nghèo những thứ thiết yếu, chúng ta không cho họ của cải của mình nhưng chúng ta trả lại cho họ phần của họ. Chúng ta làm nghĩa vụ công lý nhiều hơn là làm bác ái (Thánh Gregory Cả 3, 21).” Việc cứu rỗi thế giới và an ủi người nghèo (cũng là một chuyện), chúng ta không có con đường nào khác ngoài con đường công lý và bác ái.

Linh mục François Odinet, tuyên úy của Cơ quan Cứu trợ Công giáo vừa xuất bản quyển sách Bây giờ, Nước Trời (Maintenant, le Royaume, nxb. Desclée de Brouwer, 2024), một tiểu luận rất hữu ích có phụ đề “Loại bỏ người nghèo, không có cứu rỗi”. Tác giả chứng minh người nghèo nắm giữ một quyền lực trong Giáo hội, điều này thật nghịch lý nhưng không thể tranh cãi được: “Giống như Nước Trời của Chúa đang đến, theo một nghĩa nào đó, Nước Trời đã ở đó, đã ở giữa chúng ta và chúng ta không thấy. Nhưng niềm tin Nước Trời đang đến, đến qua những kẽ hở vẫn tồn tại bất chấp việc con người dùng quyền lực, niềm tin này nuôi dưỡng hy vọng cho chúng ta. Sự sáng tạo của các môn đệ Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần khơi dậy mời gọi chúng ta xem sứ mệnh của Giáo hội, không chỉ là việc loan báo một thông điệp nhưng là một kinh nghiệm thực sự của con người, vừa cá nhân vừa mang tính quan hệ và xã hội.”

Nếu có một nơi mà người tín hữu kitô phải là dấu hiệu của mâu thuẫn cũng như của hiệp thông, thì đó là nơi của tình yêu và sự phục vụ người nghèo.

Mỗi chúng ta đều phải cởi mở với người mà nỗi đau khổ của họ làm chúng ta băn khoăn, đau khổ đến mức đôi khi chúng ta ước mong mình đừng chứng kiến. Những đợt sương giá đầu tiên là dịp để chúng ta thực hiện một trong nhiều sáng kiến của giáo xứ, của giáo phận đã lên chương trình để làm những việc này.

Marta An Nguyễn dịch

Bài mới nhất