Home Blog Page 112

Đức Phanxicô bị té bầm cánh tay

Đức Phanxicô bị té bầm cánh tay

la-croix.com, Mikael Corre, 2025-01-16

Trong một thông báo sáng thứ năm 16 tháng 1, Văn phòng Báo chí Tòa Thánh cho biết: “Sáng hôm nay khi ngủ dậy Đức Phanxicô bị té và bị bầm ở cánh tay mặt, nhưng không bị gãy xương. Ngài phải mang băng quấn để phòng ngừa. Tình trạng của ngài đã ổn định.” Trong những tuần gần đây, đây là lần thứ nhì ngài bị thương. Tháng 12, khi ra khỏi giường, ngài bị trượt chân, đầu bị va vào tủ kê đầu giường và bị máu tụ dưới cằm.

Dù bị té và bị bầm cánh tay mặt, nhưng ngài vẫn giữ lịch làm việc như đã định. Ngài tiếp một nhóm cộng đồng Baktashi ở Albania, bà Nosipho Nausca-Jean Jezile, chủ tịch Ủy ban An ninh Lương thực Thế giới.

Đức Phanxicô mừng sinh nhật 88 ngày 17 tháng 12, ngài là một trong số ít giáo hoàng gần đây còn tại chức ở tuổi cao như vậy, từ năm 2021 ngài đã ngồi xe lăn, ngài không còn dùng gậy để đi vì bị đau lưng và đầu gối chân phải.

Ngày 9 tháng 1, ngài bị cúm không đọc được bài phát biểu, Đức ông thư ký Paolo Braida đọc thay ngài, mùa đông vừa qua ngài đã bỏ nhiều buổi tiếp kiến. Năm 1957 khi ngài 21 tuổi, vì bị viêm màng phổi nên ngài phải cắt một thùy phổi, vì thế ngài dễ bị nhiễm trùng đường hô hấp. Vì lý do này ngài không được đi Nhật để truyền giáo như lòng ngài mong muốn.

Trong quyển tiểu sử, ngài cho biết ngài không lo cho tình trạng sức khỏe của ngài, ngài không nghĩ đến việc từ nhiệm, ngài lặp lại câu ngài hay nói: “Cai quản Giáo hội bằng đầu óc và trái tim, chứ không bằng đôi chân.”

Marta An Nguyễn dịch

Hồng y Blase Cupich: “Đức Phanxicô rất ổn, tôi không có lý do gì phải lo cho ngài trong năm 2025 căng thẳng này”

Hồng y Blase Cupich: “Đức Phanxicô rất ổn, tôi không có lý do gì phải lo cho ngài trong năm 2025 căng thẳng này”

Trong một phỏng vấn với nhật báo La Nación, Hồng y người Mỹ Blase Cupich, Tổng giám mục giáo phận Chicago nói về sức khỏe của Đức Phanxicô, các vấn đề chờ ngài giải quyết và thách thức chính cho người kế vị ngài.

lanacion.com, Elisabetta Piqué, 2025-01-04

Năm 2025 vừa khai mạc sẽ là một năm rất bận rộn với Đức Phanxicô, sẽ có khoảng 30 triệu người hành hương về Rôma, vì thế lịch làm việc của ngài dày đặc hơn bình thường. Trong một phỏng vấn với nhật báo Argentina La Nación, Hồng y Blase Cupich, 75 tuổi, được Đức Phanxicô bổ nhiệm làm Tổng giám mục Chicago năm 2016, là một trong những giáo phận lớn nhất Hoa Kỳ, Hồng y cho biết: “Thể chất ngài khỏe, tinh thần ngài mạnh và minh mẫn, vì thế tôi không thấy có lý do gì phải lo cho ngài trong năm 2025 bận rộn này. Tôi thực sự vui mừng và phấn khích khi thấy sức sống này ở một người đã 88 tuổi.”

Tầm nhìn về Giáo hội của Hồng y phù hợp với tầm nhìn của Đức Phanxicô. Trong cuộc phỏng vấn, Hồng y đề cập đến nhiều chủ đề, ngài so sánh Thượng Hội đồng về tính đồng nghị gần đây với Công đồng Vatican II và Thượng Hội đồng sẽ có tác động đến mật nghị tương lai.

Đức Phanxicô tròn 88 tuổi ngày 17 tháng 12, ngồi trên xe lăn, ngài mở Cửa Thánh Đền thờ Thánh Phêrô đêm 24 tháng 12.

Hồng y nghĩ ngài sẽ như thế nào với Năm Thánh 2025 đầy căng thẳng này?

Hồng y Blase Cupich, Tổng Giám mục Chicago: Đêm 24 tháng 12, ngài ngồi xe lăn để mở Cửa Thánh, ngày 26 tháng 12, ngài đứng chống gậy mở Cửa Thánh ở nhà tù Rebibbia, vì thế tôi không lo. Thể chất ngài khỏe, tinh thần ngài mạnh và minh mẫn, vì thế tôi không thấy có lý do gì phải lo cho ngài trong năm 2025 bận rộn này. Tôi thực sự vui mừng và phấn khích khi thấy sức sống này ở một người đã 88 tuổi.”

Hồng y đã tham dự Thượng Hội đồng về tính đồng nghị kéo dài một tháng vào tháng 10 vừa qua, với sự tham dự của các hồng y từ khắp nơi trên thế giới: Hồng y có thấy đã có kế hoạch mật nghị bầu người kế vị Đức Phanxicô chưa?

Chưa. Điều tôi có thể nói là Thượng Hội đồng sẽ có tác động đến mật nghị tương lai vì Thượng Hội đồng đã thuyết phục được toàn thể Giáo hội và các hồng y tham dự có một tầm nhìn mới về Giáo hội, đây là điểm mấu chốt tham chiếu cho bất kỳ cuộc bầu Giáo hoàng nào trong tương lai, vì tất cả chúng tôi đều nhất trí tin vào sự cần thiết phải có một Giáo hội truyền giáo và đồng nghị. Chắc chắn đây sẽ là điều các hồng y trong tương lai sẽ ghi nhớ và cân nhắc trong bất kỳ mật nghị nào, không chỉ ở mật nghị tiếp theo. Tương tự như những gì đã xảy ra với Công đồng Vatican II (1962-65), Thượng Hội đồng này có tác động lâu dài đến đời sống của Giáo hội và đến các quyết định sẽ được đưa ra trong Giáo hội.

Đức Phanxicô tại một buổi lễ tại Vatican ngày thứ bảy vừa qua / Alessandra Tarantino – AP

Hồng y nghĩ thách đố lớn nhất của Giáo hội ngày nay là gì?

Theo tôi, thách thức lớn nhất hiện nay là tái tạo chính xác trải nghiệm này của Thượng Hội đồng trong các giáo phận và ở các quốc gia của chúng ta: tạo môi trường đồng trách nhiệm trong đời sống Giáo hội, trong đó mọi người, tất cả những ai đã rửa tội đều tham gia thực sự.

Hồng y có thất vọng vì cuối cùng vấn đề phụ nữ trong Giáo hội bị đưa vào một nhóm nghiên cứu riêng không?

Đức Phanxicô quyết định nghiên cứu một số chủ đề vì ngài nhận ra những vấn đề này phức tạp và cần nhiều thì giờ hơn để phân tích, ngài làm vậy vì không muốn Thượng Hội đồng quá tải hay bị cản trở vì vấn đề này. Hơn nữa, ngài nói rõ các thay đổi không diễn ra nhanh chóng như một số người mong muốn. Chúng ta không nên có thời gian biểu hoặc đồng hồ của thế giới để hoàn thành công việc. Khi chúng ta có một Giáo hội toàn cầu như Giáo hội của chúng ta, chúng ta phải tôn trọng sự thật mục tiêu chính là sự hiệp nhất trong đời sống Giáo hội. Đó không chỉ là việc hoàn thành một chương trình nghị sự theo một lịch trình nhất định, Đức Phanxicô muốn sự thống nhất phải được duy trì, vì vậy cần dành thì giờ cho việc này. Và tôi đồng ý với ngài. Tôi nghĩ chúng tôi đã đạt được tiến bộ vì vấn đề đã được đặt lên bàn thảo luận, tôi mong chờ kết quả của nhóm nghiên cứu.

Hồng y có nghĩ trong tương lai chúng ta sẽ thấy nữ phó tế hay không thể thấy?

Tôi nghĩ như Hồng y Argentina Víctor Manuel Fernández, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin nghĩ, vấn đề vẫn còn mở và có nhiều yếu tố cần phải tính đến. Tôi muốn nói phụ nữ phải có một vai trò quan trọng hơn trong đời sống Giáo hội. Và khi tổ chức lại giáo triều, Đức Phanxicô đã nói không chỉ những người được chịu chức mới có thể nắm giữ các vai trò quyền lực, chúng tôi muốn xem điều này tiến triển như thế nào: đã có các phụ nữ làm thư ký, tôi nghĩ cánh cửa đang mở để họ có thể là bộ trưởng một bộ.

Năm Thánh 2025 chính thức khai mạc ngày 24 tháng 12 với nghi thức mở Cửa Thánh ở Đền thờ Thánh Phêrô.

Tôi xin đổi chủ đề, Hồng y mong chờ gì ở nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump? Hồng y có lo lắng không?

Khi có một tổng thống mới được bầu, chúng ta phải chờ xem. Chúng tôi chúc ông những điều tốt đẹp nhất và thành công vì lợi ích đất nước. Nhưng, Hội đồng Giám mục và tôi đã bày tỏ mối quan tâm về vấn đề trục xuất những người không có giấy tờ, một điều làm chia rẽ gia đình và làm cho nhiều người xem những người mới đến là kẻ thù. Tôi nghĩ đó là điều không thể chấp nhận, đặc biệt ở một đất nước mà tất cả chúng ta đều là người nhập cư. Tôi cũng là người nhập cư! Vì vậy, tôi nghĩ các giám mục chúng tôi sẽ phải là ngôn sứ và tố cáo bất kỳ hành vi lạm dụng phẩm giá con người nào có thể xảy ra. Chúng tôi sẽ chú ý và chúng tôi sẽ bảo vệ phẩm giá con người của những người nhập cư.

Hồng y đã xem phim Conclave chưa?

Chưa, tôi cũng chưa xem phim Barbie, nhưng theo những gì tôi nghe thì hai phim này có nhiều điểm chung, đó là sự kết hợp giữa giả tưởng và viễn tưởng…

Hồng y hình dung như thế nào về mật nghị?

Dường như bất cứ điều gì tôi hình dung sẽ không bao giờ phù hợp với thực tế, rất giống với những gì Đức Phanxicô đã viết: “Thực tế vượt trội hơn ý tưởng”.

Người ta thường nói không thể có một giáo hoàng Bắc Mỹ vì giáo hoàng đó đến từ một trong những siêu cường thế giới… Hồng y nghĩ gì về giáo hoàng kế nhiệm Đức Phanxicô, ngài là giáo hoàng đầu tiên đến từ tận cùng thế giới, giáo hoàng kế tiếp có thể đến từ đâu?

Thành thật mà nói, khi được phong hồng y năm 2016, tôi đã chúc mừng cho cuộc sống dài lâu nhưng tôi không nghĩ đến việc dự một mật nghị. Tôi mong còn nhiều năm nữa với Đức Phanxicô. Nhưng trong tương lai, với các Giáo hội Châu Á, Châu Phi và Nam bán cầu phát triển, tôi sẽ không ngạc nhiên khi có một Giáo hoàng ở những vùng này. Đồng thời, Giáo hội phải đối diện với những thách thức thực sự, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm như các vụ bê bối lạm dụng trẻ em, vấn đề tài chính, về việc loại bỏ bất kỳ hình thức giáo sĩ trị nào. Chúng ta cần nhiều ơn gọi hơn, chúng ta cần đến với người trẻ hơn và phải tìm cách để phụ nữ cảm thấy được tham gia chứ không bị loại trừ. Dù sao giáo hoàng tiếp theo sẽ phải có kinh nghiệm, cũng như có kỹ năng để lãnh đạo Giáo hội, giải quyết các vấn đề khác nhau này theo cách thức đồng nghị. Đây là một nhiệm vụ lớn lao, nhưng chúng ta cũng cần một người có nhân cách tốt, khôn ngoan, có đời sống thiêng liêng mạnh mẽ như Đức Phanxicô. Như tôi đã nói, tôi hy vọng lời chúc mừng khi tôi được phong hồng y sẽ thành hiện thực.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô mang tâm trạng hướng nội và tự kiểm trong quyển tiểu sử của ngài

Đức Phanxicô mang tâm trạng hướng nội và tự kiểm trong quyển tiểu sử của ngài

lactualite.com, Nicole Winfield, Hãng thông tấn AP, 2025-01-14

Ảnh AP/Andrew Medichini

Trong quyển tiểu sử phát hành ngày thứ ba 14 tháng 1 năm 2025, Đức Phanxicô tiết lộ các chi tiết bên trong mật nghị bầu ngài năm 2013 và những phản kháng ngài gặp phải kể từ đó, ngài cũng nói đến một số quyết định gây tranh cãi nhất trong triều của ngài.

Hy vọng” dự định phát hành sau khi ngài qua đời, nhưng theo yêu cầu của chính ngài, quyển sách đã có mặt ở các tiệm sách trên hơn 80 quốc gia trùng với thời điểm bắt đầu Năm Thánh 2025.

Các nhà xuất bản cho biết đây là quyển tiểu sử đầu tiên của một Giáo hoàng đương nhiệm viết, dù trước đây ngài đã cộng tác viết nhiều quyển sách theo kiểu hồi ký, phần lớn triều và lịch sử cá nhân của ngài đã được biết đến nhiều.

Nhưng quyển tiểu sử “Hy vọng” có cái nhìn sâu sắc về cách ngài nhìn tuổi thơ của ngài ở Buenos Aires và cách tuổi thơ này đã ảnh hưởng đến các ưu tiên của ngài với tư cách là Giáo hoàng.

Đúc kết từ những buổi nói chuyện kéo dài sáu năm với nhà báo người Ý Carlo Musso, “Hy vọng” đưa ra những phân tích đôi khi không mấy hay ho về ngài và những quyết định ngài đã làm hoặc những điều ngài hối tiếc – ít nhất là trước khi ngài làm Giáo hoàng.

Đó là lần ngài bắt người bạn cùng lớp trả tiền sửa chiếc xe đạp người bạn làm hư của ngài, hay khi ngài đánh một người bạn cùng lớp gần bất tỉnh, ngài rất xấu hổ về tuổi trẻ của mình, ngài không nghĩ ngài xứng đáng với chức giáo hoàng.

Ngài viết: “Nếu tôi nghĩ ơn lớn nhất mà tôi muốn Chúa ban và để tôi trải nghiệm thì đó là ơn xấu hổ.”

Vẫn còn những bí ẩn

Thật kỳ lạ, nhiều người vẫn còn chưa biết hai giai đoạn trong quá khứ của ngài, ngài nhắc lại một lần nữa trong quyển tiểu sử. Một giai đoạn liên quan đến thời gian ngài ở Córdoba, Argentina từ năm 1990 đến năm 1992. Ngài chưa bao giờ giải thích lý do bên trong của các tu sĩ Dòng Tên đã đưa ngài “đi đày” như một cha giải tội tại nhà thờ Dòng Tên trong hơn một năm, mười năm sau khi ngài đã là Giám tỉnh. Giai đoạn này chỉ được nhắc đến thoáng qua, ngài chỉ nói đây là “đêm đen tối ở Córdoba”.

Một giai đoạn khác chưa được biết giai đoạn ngài đi Đức để nghiên cứu về thần học gia Romano Guardini cho luận án mà ngài chưa bao giờ hoàn thành.

Tác động của các vụ bê bối lạm dụng tình dục của giáo sĩ, làm rung chuyển triều của ngài trong nhiều năm cũng ít được thảo luận. Ngài chỉ đề cập ngắn gọn vụ tai tiếng xảy ra trong chuyến đi Chi-lê năm 2018. Nhưng ngài dành nhiều thời gian hơn để ghi lại kỷ niệm ấm lòng trong chuyến đi này, khi ngài làm lễ cưới cho một cặp vợ chồng trên chuyến bay đến Iquique.

Con đường đi đến chức vụ giáo hoàng

Phần sau quyển sách, ngài tập trung vào triều của ngài, ít tự chỉ trích hơn, ngài mạnh mẽ bảo vệ các quyết định đôi khi gây tranh cãi của ngài. Ngài chia sẻ cảm xúc khi số phiếu bắt đầu có lợi cho ngài trong ngày thứ nhì bỏ phiếu bầu ngài làm giáo hoàng tháng 3 năm 2013.

Đức Phanxicô tiết lộ ngài ở trong số các hồng y nhận được “nhiều phiếu tạm thời” ở vòng đầu tiên khi bỏ phiếu để xem hướng đi của cuộc bầu cử. Ngài cho biết ngài không biết phiếu ở vòng đầu tiên, nhưng nhận ra số phận của mình đã được định đoạt khi ngài có 69 phiếu ở vòng thứ tư, trong số 77 phiếu cần thiết để có hai phần ba trong số 115 hồng y.

Vòng thứ năm – vòng ngài trở thành Giáo hoàng – thực ra đã phải làm hai lần. Một lá phiếu dư dính vào lá phiếu của một hồng y đã điền, vì vậy khi kiểm có 116 phiếu thay vì 115. Các lá phiếu bị đốt, không được mở ra và phải bỏ phiếu lại.

Ngài viết: “Khi tên tôi được gọi lần thứ 77, mọi người đã vỗ tay nhưng việc kiểm phiếu vẫn tiếp tục. Tôi không biết chính xác cuối cùng có bao nhiêu phiếu, tôi không nghe được nữa vì tiếng ồn đã lấn át giọng của người kiểm phiếu.”

Một trong những việc ngài làm sau cuộc bỏ phiếu là ôm hôn Hồng y Angelo Scola, Tổng giám mục giáo phận Milan, người được đánh giá cao trước mật nghị đến nỗi Hội đồng Giám mục Ý đã ra thông  cáo báo chí để công bố việc bầu ngài. Đức Phanxicô viết: “Ngài xứng đáng được ôm như thế này.”

Trang phục đúng cho ngài

Khi vào phòng thánh, còn gọi là “phòng nước mắt” để mặc trang phục Giáo hoàng, ngài cho biết ngài có trong túi chiếc nhẫn giám mục cũ ngài đã dùng, cho thấy khi buổi sáng mặc trang phục, ngài đã có trực giác ngài sẽ được bầu.

Ngài viết về trang phục tối hôm đó: “Đôi giày đỏ ư? Không, tôi mang đôi giày chỉnh hình vì bàn chân tôi bị bẹt.” Ngài không muốn mặc chiếc áo choàng ngắn nhung đỏ, gọi là mozzetta, được người tiền nhiệm của ngài ưa chuộng. Ngài nói: “Những thứ này không hợp cho tôi. Hai ngày sau họ bảo tôi nên mặc quần màu trắng. Họ làm tôi cười. Tôi nói: ‘Tôi không muốn làm người bán kem, tôi giữ quần đen của tôi.’”

Những ai đi tìm thông tin đồn đại hiện nay về Vatican trong quyển sách này sẽ thất vọng, vì Đức Phanxicô chỉ viết ngắn gọn những phần gây tranh cãi nhất trong triều của ngài. Ngài tin chắc về các quyết định của ngài, ngài chỉ trích các linh mục công giáo theo truyền thống là cứng nhắc và không cân bằng về mặt tinh thần. Ngài viết: “Sự cứng nhắc này thường đi kèm với những trang phục hào nhoáng đắt tiền với ren, với các trang trí lạ mắt. Đây không phải là thích truyền thống nhưng là thói thích phô trương của một số giáo sĩ. Những cách ăn mặc này đôi khi che giấu sự mất cân bằng về tinh thần, sự lệch lạc về cảm xúc, những khó khăn về hành vi, một vấn đề cá nhân có thể bị lợi dụng.”

Những quyết định khó khăn

Ngài viết: “Việc cải cách bộ máy hành chính của Vatican, đặc biệt là việc áp dụng các tiêu chuẩn kế toán và ngân sách quốc tế vào tài chính của Tòa Thánh là nhiệm vụ khó khăn nhất và là công việc tạo nhiều phản kháng lớn nhất cho sự thay đổi.”

Ngài khẳng định: “Tôi được gọi để ra trận”

Ngài kiên quyết bảo vệ quyết định xét xử mười người ở cấp cao, trong đó có một hồng y bị cáo buộc có hành vi sai trái về tài chính liên quan đến khoản đầu tư vào một bất động sản ở London. Phiên tòa đã đưa ra một số bản án, nhưng đã làm tổn hại đến danh tiếng của Tòa thánh; nhiều người đặt câu hỏi về vai trò của Đức Phanxicô trong vụ này và liệu những người bị cáo buộc có được xét xử công bằng hay không.

Ngài viết: “Những quyết định đưa ra liên quan đến vấn đề này không dễ dàng chút nào, tôi chắc chắn sẽ có vấn đề, nhưng tôi hiểu, không bao giờ được che giấu sự thật và việc không minh bạch luôn là một quyết định xấu nhất”.

Sau khi các giám mục châu Phi nhất trí bác bỏ Tuyên ngôn Fiducia supplicans về mục vụ chúc phúc cho người đồng tính, Đức Phanxicô vẫn giữ nguyên quyết định của ngài, ngài nhấn mạnh chúc phúc là dành cho con người, chứ không dành cho mối quan hệ. Ngài lặp lại cuộc phỏng vấn với hãng tin AP năm 2023: “Đồng tính không phải là một tội ác.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

“Hy vọng”, Hồi ký Đức Phanxicô, Carlo Musso

“Ồ, xin lỗi, tôi không nhận ra ngài…”: Những câu nói đùa của Đức Phanxicô

“Ồ, xin lỗi, tôi không nhận ra ngài…”: Những câu nói đùa của Đức Phanxicô

Đức Phanxicô tháng 9 năm 2015 tại New York, Mỹ. © Erik S. Lesser/AP/SIPA / Erik S. Lesser/AP/SIPA

parismatch.com, Caroline Mangez, 2025-01-15

Chưa bao giờ có một Giáo hoàng tâm sự nhiều như vậy và cũng chưa bao giờ có Giáo hoàng nào đăng một bản tường thuật đầy đủ về cuộc đời của họ như vậy. Đức Phanxicô cởi mở hơn bao giờ hết, ngài tiết lộ khí cụ bí mật của ngài: tinh thần hài hước.

Trong quyển tiểu sử “Hy vọng“ (Nxb. Albin Michel) xuất bản ngày 15 tháng 1, ngài giải thích tinh thần hài hước có thể cứu chúng ta khỏi tuyệt vọng. Ngài kể câu chuyện về giáo dục gia đình, về tính tự trào, về tính châm biếm của các tu sĩ Dòng Tên.

Ngài trích định nghĩa thông minh của nhà văn Romain Gary: “Hy vọng cũng là một đứa bé tinh nghịch. Hy vọng biết tinh thần hài hước và nụ cười chính là chất men cho cuộc sống, là công cụ để đối diện với khó khăn, kiên cường vượt qua thử thách. Tinh thần hài hước là lời tuyên bố về phẩm giá, một khẳng định về sự vượt lên của con người trước những gì xảy ra với mình.”

***

Trong gia đình, cha mẹ dạy chúng tôi phải có khiếu hài hước. Tất cả anh chị em tôi được giáo dục về niềm vui, tự trào lành mạnh, đùa cợt, đó là chuyện quan trọng. Gia đình tôi trải qua nhiều khó khăn, đau khổ, nước mắt, nhưng ngay cả trong những lúc khó khăn nhất, tôi nhận ra một nụ cười, một tiếng cười có thể cho chúng tôi thêm năng lượng để đi đúng hướng. Đặc biệt, cha tôi dạy chúng tôi rất nhiều điều. Vấn đề không phải là kềm nén, giả vờ như không có chuyện gì xảy ra, hay làm giảm thiểu vấn đề, nhưng giữ tâm hồn vui vẻ, nơi chúng ta đối diện và vượt lên các khó khăn này.

***

Đức Phanxicô viết:

“Để nhắc lại mối dây liên kết không thể tách rời giữa hy vọng và niềm vui trong những ngày trước khi mở Cửa Thánh, tôi muốn gặp nhóm nghệ sĩ hài hước của nhiều chuyên ngành, nhiều quốc gia từ khắp nơi trên thế giới về đây. Một số người cho đây là một thay đổi lớn lao so với thời mà các diễn viên, nhạc công không được đến nơi thánh hiến. Nhưng nếu tôi chọn tên Phanxicô, tên của một “nghệ nhân của Chúa” thì tôi mong, đây là điều tối thiểu các bạn vì thế mong chờ ở tôi. Nhưng có người tế nhị nói với tôi, thật tốt đẹp khi cố gắng làm cho Chúa cười… nhưng với sự toàn năng của Ngài, Ngài đã làm tất cả những chuyện đùa này thay cho chúng ta, ngài làm mất mất hiệu ứng của chúng ta. Nhưng đó là hài hước hữu ích cho quả tim. Chắc chắn cuộc sống sẽ mang đến những nỗi buồn, đó là một phần của mọi con đường hy vọng và trở lại. Tuy nhiên, chúng ta không nên chìm trong nỗi buồn và không để nó làm hại tâm hồn.

“Những người tận hiến không tránh khỏi những cám dỗ này, không may có một số người cay đắng, u sầu, độc đoán, họ không là người tạo ảnh hưởng, họ là ‘bà cô già’, họ không phải là hiền thê của Giáo hội, họ là công chức chứ không mục tử, họ hời hợt chứ không vui tươi, và như thế thì không tốt. Nhưng nhìn chung, các linh mục chúng tôi có khiếu hài hước, quen kể chuyện cười, biết kể chuyện cười và thường là đối tượng của những chuyện cười này.

***

“Các giáo hoàng cũng vậy. Đức Gioan XXIII nổi tiếng vui vẻ, ngài nói: ‘Ban đêm, tôi thường hay suy nghĩ những vấn đề nghiêm trọng, tôi định ngày mai lấy hết can đảm, dứt khoát tôi sẽ nói chuyện với Giáo hoàng về vấn đề này. Sáng ngủ dậy, tôi vã mồ hôi khi nhớ ra mình là Giáo hoàng.’

***

“Đức Gioan-Phaolô II cũng có tinh thần hài hước. Trong các phiên họp chuẩn bị mật nghị, hồng y lớn tuổi và khá cứng nhắc trách ngài vì ngài trượt tuyết, leo núi, đạp xe, bơi lội: ‘Tôi không nghĩ các sinh hoạt này phù hợp với chức vị của ngài.’ Giáo hoàng tương lai trả lời: ‘Anh biết ở Ba Lan, đây là sinh hoạt chung của ít nhất năm mươi phần trăm các hồng y không?’ Lúc đó, Ba Lan chỉ có hai Hồng y.”

Tinh thần hài hước không chỉ là liều thuốc giúp giải tỏa và khai sáng cho người khác mà còn cho chính mình. Hạ mình là khí cụ hữu hiệu để vượt qua cám dỗ của tính tự mê. Những người mắc chứng tự mê liên tục nhìn vào gương, họ trang điểm rồi lại trang điểm, nhưng lời khuyên tốt nhất khi đứng trước gương là luôn tự trào. Tự trào luôn làm chúng ta cảm thấy vui vẻ, nhắc chúng ta nhớ câu tục ngữ Trung Quốc: “Chỉ có hai loại người hoàn hảo: người đã chết và người chưa sinh ra.

Giáo hội có kho sưu tập chuyện cười theo từng lãnh vực, cá nhân, các Dòng. Các câu chuyện cười về Dòng Tên là một thể loại riêng, những câu chuyện này chỉ có thể so sánh với những câu chuyện cười về quân cảnh Ý hay những chuyện cười về các bà mẹ Yiddish Do thái.

Về chuyện tự trào, tôi nghĩ đến câu chuyện của một tu sĩ Dòng Tên hơi “chảnh”, ông nhập viện vì bệnh tim. Trước khi vào phòng mổ, tu sĩ hỏi Chúa: “Lạy Chúa, giờ của con đã đến chưa?” Chúa trả lời: “Chưa, con sẽ sống ít nhất là bốn mươi năm nữa.” Ngay sau khi bình phục, ông cấy tóc, căng da mặt, hút mỡ, cắt mí mắt, làm lại bộ răng… Tóm lại, ông là một con người hoàn toàn mới. Sau đó ông bị xe tông chết. Khi gặp Chúa, ông phản đối: “Lạy Chúa, Chúa nói con sẽ sống thêm bốn mươi năm nữa!” Chúa phán: “Ồ, xin lỗi, ta không nhận ra con…”

Tôi nghe một câu chuyện khác liên quan đến Đức Phanxicô ở Mỹ. Vừa mới xuống máy bay ở New York, Đức Phanxicô thấy chiếc xe limousine sang trọng to lớn đang chờ ngài. Ngài hơi xấu hổ vì sự xa hoa này, nhưng ngài nghĩ đã lâu rồi mình không lái xe, nhất là với chiếc xe này, biết khi nào mình mới có cơ hội lần nữa. Ngài nhìn chiếc xe và hỏi anh tài xế: “Anh cho tôi lái được không?” Anh tài xế trả lời: “Tôi xin lỗi Đức Thánh Cha, tôi không thể, các thủ tục, nghi thức…” Nhưng ngài cứ khăng khăng cho đến khi người tài xế nhượng bộ. Và thế là Giáo hoàng lái xe trên một trong những con đường rộng lớn… Ngài nhấn ga: năm mươi, tám mươi, một trăm hai mươi cây số/giờ… cho đến khi ngài nghe tiếng còi xe cảnh sát. Một cảnh sát trẻ đến gần cửa sổ kính màu. Giáo hoàng hơi sợ hãi, hạ kiếng xuống, người kia tái mặt.

”Xin lỗi ngài”, anh nói rồi về xe gọi tổng đài.

– Sếp… Tôi nghĩ là tôi gặp vấn đề.

– Vấn đề gì vậy?

– Tôi vừa chận một chiếc xe chạy quá tốc độ… nhưng đó là một người rất rất quan trọng.

– Có phải ông ta là Thị trưởng không?

– Không, thưa sếp, còn quan trọng hơn ông Thị trưởng.

– Quan trọng hơn ông Thị trưởng sao? Vậy thì ông Thống đốc?

– Không, còn hơn vậy nữa…

– Vậy có phải Tổng thống không?

– Tôi nghĩ còn hơn thế nữa…

– Ai có thể quan trọng hơn Tổng thống?

– Nghe này sếp, tôi không biết ông là ai, nhưng tài xế của ông là Giáo hoàng!

***

Phúc Âm khuyên chúng ta nên giống trẻ em để được vào Nước Chúa (Mt, 18:3), nhắc chúng ta khả năng cười của trẻ em, khả năng này rất mạnh ở trẻ em.

Không gì làm tôi vui hơn là được gặp trẻ em: khi còn nhỏ, tôi đã có các bậc thầy của nụ cười; bây giờ tôi già, trẻ em thường là cố vấn của tôi. Đó là những cuộc gặp làm tôi xúc động nhất, tôi cảm thấy hạnh phúc. Cũng như người lớn tuổi: họ ban phúc cho cuộc sống, họ không còn oán giận, họ có niềm vui của rượu vang lâu năm. Giống như trẻ con, họ có vẻ đẹp của nước mắt và nụ cười. Khi tôi bồng các em trong các buổi tiếp kiến ở Quảng trường Thánh Phêrô, gần như tất cả các em đều cười. Có những em thấy tôi mặc áo trắng, tưởng tôi là bác sĩ chích thuốc, các em khóc. Trẻ em là nhà vô địch của hồn nhiên, của lòng nhân đạo. Các em nhắc, nếu chúng ta bỏ lòng nhân, chúng ta bỏ tất cả mọi thứ, và khi chúng ta không còn khóc, không còn cười, lúc đó chúng ta bắt đầu suy tàn. Chúng ta thành vô cảm, và ai vô cảm thì họ không làm được gì tốt đẹp cho chính họ, cho Giáo hội, cho nhân loại.

Trích đoạn từ quyển tiểu sử Hy vọng (Espère, nxb. Albin Michel)

Marta An Nguyễn dịch

Hồi ký của Đức Phanxicô: một Giáo hoàng ra đời

Hồi ký của Đức Phanxicô: một Giáo hoàng ra đời

Đức Phanxicô và thân sinh của ngài. © AFP / AFP

parismatch.com, Caroline Mangez, 2025-01-14

Hy vọng”: Quyển tiểu sử Đức Phanxicô cùng viết với tác giả Carlo Musso, nxb. Albin Michel © DR

Ngày 15 tháng 1, nhà xuất bản Albin Michel phát hành quyển tiểu sử Hy vọng của Đức Phanxicô. Báo Paris Match độc quyền trích một số đoạn. Trong quyển tiểu sử Hy vọng, Đức Phanxicô kể chuyện khi ngài sinh ra, chuyện các em của ngài và hình ảnh khi ngài vài tháng tuổi.

* * *

Ngài kể: “Tôi thích đúng giờ, đó là đức tính tôi rất trân trọng. Tôi xem việc đúng giờ là một trong những bổn phận của tôi, dấu hiệu của lịch sự và tôn trọng. Nhưng đó là lần đầu tiên, tôi đi trễ! Dù đã quá một tuần, tôi vẫn chưa quyết định. Tôi thích ở với mẹ tôi. Nhưng may mắn tôi có được bà đỡ Palanconi, bà là bà đỡ rành nghề đã đỡ đẻ cho hàng ngàn em bé ra đời. Khi bà biết bà không thể chờ lâu hơn, bà gọi bác sĩ gia đình. Khi bác sĩ đến, mẹ tôi đang nằm trên giường: bác sĩ Scanavino nhìn mẹ tôi, bà còn tĩnh táo… và đây là câu chuyện lý thú thường được kể trong gia đình mỗi khi chúng tôi gặp nhau: ông ngồi trên bụng mẹ tôi, ấn xuống và “nhảy” để mẹ tôi chuyển dạ. Đó là cách tôi ra đời, vào ngày lễ Thánh Ladarô, Bêtania 17-12-1936, người được Chúa Giêsu đem từ cõi chết sống lại. Khi mới sinh, tôi nặng gần năm kílô, còn mẹ tôi khoảng bốn mươi bốn kí: một cố gắng phi thường của bà…

Bà Maria Luisa Palanconi “đỡ” cho các em tôi, sau này bà còn đỡ cho người con của em gái tôi.

* * *

Đức Phanxicô và mẹ. © Hình ảnh gia đình

Tôi không nhớ gì về ngày sinh của em trai Oscar Adrián, 30 tháng 1 năm 1938, tôi mới một tuổi. Tuy nhiên tôi nhớ ngày 24 tháng 8 năm 1940, ngày em gái Marta Regina ra đời. Và đặc biệt là em thứ tư, tôi còn nhớ như in, như mới ngày hôm qua. Lúc đó ba anh em tôi bị cúm. Oscar và tôi ở trong phòng chúng tôi, em Marta ở phòng của em. Bác sĩ Rey Sumai đến và khám cho cả ba chúng tôi, sau đó ông vào phòng mẹ tôi, ông đặt tay lên bụng và kêu lên: “Ồ, nó sắp ra rồi!” Vài giờ sau, bà Palanconi đến với một chiếc túi lớn. Cha tôi và chú tôi ở trong bếp. Cánh cửa phòng mẹ tôi đóng lại, mẹ tôi và bà đỡ ở trong phòng. Chúng tôi đứng gần cánh cửa, dán chặt tai vào cửa để nghe, để bắt lấy khoảnh khắc em trai tôi khóc chào đời. Người lớn kể cho chúng tôi nghe về con cò, loại cò bay từ Paris đem em bé đến, nhưng Oscar và tôi đã hiểu rồi, chúng tôi biết biết trẻ sơ sinh được sinh ra như thế nào. Và buổi tối hôm đó, ngày 16 tháng 7 năm 1942, Alberto Horacio chào đời.

Đội quân chúng tôi đã thành lập xong. Một gia đình bình thường, đàng hoàng. Giáo lý về phẩm giá là kim chỉ nam trong lời nói và hành động của cha mẹ chúng tôi.

* * *

Từ năm 20 đến năm 21 tuổi, tôi sống ở 531 phố Calle Membrillar. Ngôi nhà một tầng với ba phòng ngủ, một phòng tắm, một nhà bếp, một phòng ăn lớn và một sân thượng. Cha mẹ tôi một phòng, chúng tôi chia nhau hai phòng. Ngôi nhà và con phố này là gốc rễ của tôi ở Buenos Aires, Argentina. Nhà đơn sơ trong khu phố khiêm tốn, các nhà đều thấp; bầu khí khu phố yên bình, thanh thản, an toàn. Nếu mẹ tôi về nhà trễ không đón chúng tôi được, bà sẽ gởi chìa khóa cho cảnh sát địa phương ở góc phố, thật ra thì chúng tôi có thể về nhà, nhà không đóng cửa. Một khu phố trung lưu ở một thành phố luôn náo động. Kiểm tra dân số của thành phố năm 1869 chưa đến 2 triệu, khi tôi sinh ra năm 1936, dân số đã là mười hai triệu, một con số tăng theo cấp số nhân và sau đó tăng gấp ba lần. Buenos Aires là một trong những đô thị lớn nhất hành tinh. Một đất nước trẻ, sinh ra trên một đồng bằng rộng lớn, lạc lõng trên biên giới của đế chế Tây Ban Nha rộng lớn – không có sức hấp dẫn lấp lánh của kim loại quý – nhưng có một lịch sử phức tạp, bi thảm và kỳ diệu chỉ trong hơn hai thế kỷ với một vài thế hệ. Tôi luôn yêu quê hương với một tình yêu bất biến, mãnh liệt và sâu đậm. Tôi cầu nguyện mỗi ngày cho người dân quê tôi, cho cha mẹ tôi, những người chuẩn bị hành trình cho tôi…

Đức Phanxicô, mẹ và các em. © Hình ảnh của gia đình

Khi Maria Elena chào đời ngày 17 tháng 2 năm 1948, chúng tôi vẫn ở ngôi nhà Membrillar. Tôi không thể không nhắc đến Churrinche, một chú chó nhỏ con thuộc giống chồn, chúng tôi đặt tên để vinh danh một loài chó ở vùng đồng cỏ pampas.

Mẹ tôi thường nói năm chúng tôi giống như các ngón tay của một bàn tay: tất cả đều khác nhau, nhưng tất cả đều là con của bà vì nếu một ngón bị chích thì bà cảm thấy như các ngón khác cũng bị chích.

* * *

“Hy vọng”: Quyển tiểu sử Đức Phanxicô cùng viết với tác giả Carlo Musso, nxb. Albin Michel © DR

Marta An Nguyễn dịch

Bài học về tình yêu triệt để của Tôi Tớ Chúa Dorothy Day  

Bài học về tình yêu triệt để của Tôi Tớ Chúa Dorothy Day

americamagazine.org, Connor Hartigan, 2024-11-15

Tôi Tớ Chúa Dorothy Day trong một bức ảnh không ghi ngày tháng. (Ảnh OSV News/Ảnh của Journey Films, CNS)

Suy niệm Tuần thường niên thứ 33

Khi họ thấy vậy, họ bắt đầu lẩm bẩm: “Ngài đã đến ở trong nhà một kẻ tội lỗi.” Nhưng Chúa Giêsu nói: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, vì người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”

Suy tư này tôi viết ngày thứ sáu 8 tháng 11, kỷ niệm 127 năm ngày sinh  Tôi Tớ Chúa Dorothy Day. Bà là một trong những anh hùng hàng đầu của tôi, trong tuần qua, tôi đã nghĩ rất nhiều về bà, về sự cống hiến triệt để của bà cho Tin Mừng, cũng như sự tận tâm không mệt mỏi của bà với người nghèo, người bị gạt ra ngoài lề xã hội của thế giới chúng ta. Một cái nhìn sâu sắc đặc biệt của bà đọng lại trong tâm trí tôi, câu trích của tu sĩ Dòng Tên Mỹ gần đây nhắc tôi: “Chúa là người tôi thực sự yêu ít nhất.”

Ồ, đó không phải là một vấn đề lớn lao chút nào.

Chúa Giêsu cho chúng ta mẫu mực về tình yêu này trong bài Tin Mừng hôm nay. Để hiểu ý nghĩa này, chúng ta nên bước vào hoàn cảnh của đám đông. Theo quan điểm của họ, Giakêu không chỉ là người khó tính, ông là người thu thuế cho Đế quốc La Mã, góp phần tích cực trong việc đàn áp người Do Thái (Dorothy Day chắc chắn sẽ không chấp nhận việc này). Ông bị đám đông nghi ngờ và thù nghịch là điều hết sức bình thường. Tôi cũng sẽ giống họ.

Nhưng Chúa không làm việc theo những điều kiện này. Ân sủng của Chúa thường làm chúng ta bối rối và thất vọng. Con có thực sự phải yêu người này không, Chúa ơi? Người này đã làm hại rất nhiều người con yêu quý và quan tâm. Tại sao con không có được một chút hận thù chính đáng?

Gương của Chúa Giêsu với ông Giakêu cho chúng ta một câu trả lời rõ ràng: Chúng ta không bao giờ có thể ghét một ai đó, vì chúng ta không bao giờ biết liệu Thiên Chúa có hành động qua họ hay không. Yêu Chúa  như người chúng ta yêu ít nhất không có nghĩa là tha thứ cho những gì chúng ta ghê tởm ở người đó. Điều đó không có nghĩa là nhượng bộ dù chỉ một phần nhỏ cho những hành vi và niềm tin có hại. Có nghĩa là cởi mở cho sự cứu chuộc cuối cùng của họ và nhớ rằng, theo lời Chúa Giêsu, người mà tôi ít yêu thương nhất – kẻ tội lỗi độc ác, người thu thuế bị khinh miệt, kẻ bắt nạt độc ác – cũng là hậu duệ của Áp-ra-ham, cũng là con cái của Chúa Giêsu. Trong trường hợp này, đám đông đã hiểu sai về ông Giakêu; người thu thuế giàu có đã trở lại thực sự để yêu mến Thiên Chúa và người nghèo, và Chúa Giêsu đã mời gọi ông tiến xa hơn vào ân sủng này.

Con Người đến để tìm và cứu những gì đã hư mất, chứ không phải để đẩy những gì hư mất vào vực thẳm diệt vong. Nếu quên điều này, liệu tôi có tốt hơn người mà tôi không thể chịu đựng được không? Trở lại quan điểm của Dorothy Day: Nếu chúng ta không cởi mở với khả năng – dù xa vời – về việc một người nào đó có thể chuyển từ ác sang thiện, thì chúng ta yêu mến Chúa đến mức nào?

Tôi không tuyên bố tôi tìm ra điều này trong chính cuộc sống của tôi. Thật khó để tôi sống theo gương Chúa Giêsu. Tôi thường cảm thấy tôi cũng như đám đông. Thành thật mà nói, tôi không biết làm thế nào để vượt lên. Tôi không có lời khuyên rõ ràng. Tôi thấy rất nhiều Giakêu không có dấu hiệu nào bên ngoài cho thấy họ sẽ trở lại. Đôi khi tôi ước gì đời sống theo Chúa Kitô dễ dàng hơn thế nhiều. Nhưng khó khăn trong việc sống Tin Mừng không ngăn được Dorothy Day. Thực tế tình yêu triệt để này dành cho mọi người đi ngược lại với sự thúc đẩy của chúng ta, có nghĩa điều này có thể xảy ra với Thiên Chúa.

Marta An Nguyễn dịch

Giữa đống tro tàn, chứng từ đức tin của gia đình Kristen Halpin

Giữa đống tro tàn, chứng từ đức tin của gia đình Kristen Halpin

 

Gia đình Halpins cầu nguyện trên đống tro tàn của ngôi nhà bị thiêu rụi trong vụ cháy rừng ở Los Angeles.

fr.aleteia.org, Cerith Gardiner, Cécile Séveirac, 2025-01-12

Khi vụ hỏa hoạn vẫn còn hoành hành với mức độ dữ dội chưa từng có ở Los Angeles, một đoạn video đăng trên Instagram ngày 10 tháng 1 cảnh gia đình ông Halpins đứng giữa đống tro tàn của ngôi nhà mình hát một bài hát Đức Mẹ, bức tượng Đức Mẹ của gia đình vẫn còn nguyên.

Một tuần sau khi vụ hỏa hoạn bùng phát ở Los Angeles, thành phố này vẫn còn bị cháy dù các nhân viên cứu hỏa được huy động tối đa để dập tắt ngọn lửa. Số người thiệt mạng đã lên đến con số 16 và ngọn lửa chưa được dập tắt, mỗi ngày nó thiêu rụi thêm nhiều hecta đất để lại cảnh tượng hoang tàn ngày tận thế. Hàng ngàn ngôi nhà, xe cộ, nhà thờ, cơ sở hạ tầng bị thiêu rụi. Giữa cơn ác mộng chưa kết thúc này, đôi chút âm thanh hy vọng vẫn vang lên.

Gia đình Halpins đã làm chứng cho điều này

Ngôi nhà của họ nằm ở phía bắc Los Angeles, ngày thứ năm 9 tháng 1, họ đã có thể về nhà, nhưng chẳng còn gì ở nhà, tất cả đã thành tro bụi. Nhưng giữa cảnh đổ nát này, Peter Halpin cùng vợ và sáu người con đã vô cùng kinh ngạc khi thấy tượng Đức Mẹ Guadalupe vẫn còn nguyên vẹn. Dù đau buồn, ngay lập tức cả gia đình cất lên tiếng hát ngợi khen.

Một đoạn video của người bạn gia đình chia sẻ cho thấy cảnh gia đình Halpins giữa đống tro tàn của ngôi nhà họ, bầu trời vẫn còn phản chiếu màu sắc của ngọn lửa. “Regina Caeli, laetare, alleluia“, họ hát bằng nhiều giọng khác nhau bài Nữ Vương Thiên đàng trong một khoảnh khắc đặc biệt cảm động. Một bài thánh ca được gia đình yêu thích vì chính mẹ của Peter Halpins đã dạy bài thánh ca này cho chín người con của bà. Lời chứng sống động về đức tin này đã được hơn 2 triệu người xem trên Instagram, làm dấy lên phản ứng ngưỡng mộ trước thông điệp hy vọng mà vợ chồng Halpin làm chứng.

Anh Andrew Halpin, 36 tuổi con trai của gia đình Halpins, là nhà soạn nhạc, anh nói với National Catholic Register: “Ngay bây giờ, tôi muốn mạnh mẽ vì cha mẹ tôi, vì gia đình tôi. Khi chúng tôi bắt đầu hát, tôi cảm thấy tất cả chúng tôi mạnh mẽ vì nhau. Chúng tôi là một gia đình rất yêu âm nhạc, âm nhạc đã thấm vào chúng tôi ngay từ đầu đời. Sau đức tin, âm nhạc là một trong những yếu tố gắn kết nhất của gia đình tôi. Không một khoảnh khắc vui buồn nào mà âm nhạc không đóng vai trò quan trọng trong gia đình tôi.”

Khi anh em Andrew mất ngôi nhà thời thơ ấu, nơi cha mẹ họ vẫn sống ở đây, anh Andrew nói: Chúng tôi phải trao mọi thứ cho Chúa. Và nếu đó là ngôi nhà của chúng tôi bây giờ, tôi tin rằng chúng tôi đang ở trong lòng bàn tay của Ngài.”

Lời cầu nguyện của Đức Phanxicô

Sau giờ Kinh Truyền Tin ngày chúa nhật 12 tháng 1, Đức Phanxicô đã bày tỏ nỗi đau của ngài trước những mất mát này: “Tôi rất gần gũi với người dân Los Angeles. Tôi cầu nguyện cho tất cả mọi người.” Một ngày trước đó, ngài gởi điện chia buồn với Tổng giám mục Los Angeles, José H. Gómez, ngài phó các nạn nhân cho lòng thương xót vô biên của Chúa.

https://www.instagram.com/nicole_tittmann/reel/DEntgRIzg9w/

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nước Ý tranh luận về việc chấp nhận người đồng tính vào chức linh mục

Nước Ý tranh luận về việc chấp nhận người đồng tính vào chức linh mục

cath.ch, Raphael Zbinden, 2025-01-13

Ở Ý, các ứng viên chức linh mục không còn phải che giấu tình trạng đồng tính của họ | Ảnh minh họa © Ivan Radic/Flickr/CC BY 2.0

Ngày thứ năm 9 tháng 1-2025, Hội đồng Giám mục Ý (CEI) công bố bản hướng dẫn trong đó có điều kiện chấp nhận các ứng viên đồng tính vào chức linh mục. Công bố này tạo tranh cãi ở Ý và nhiều nơi khác.

Các định hướng và chuẩn mực được Hội đồng Giám mục Ý lần thứ 78 tổ chức tại Assisi từ ngày 13 đến ngày 16 tháng 11 năm 2023 đã được thông qua.

Hội đồng Giám mục Ý nêu rõ trên trang web: “Văn bản được Tòa thánh xác nhận qua sắc lệnh của Bộ Giáo sĩ, trình bày tiến trình đào tạo linh mục được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu mang tính khai tâm để xây dựng sự gắn kết nội tại. Giai đoạn hai là khám phá Dân Chúa và để cộng đồng Kitô giáo tham gia nhiều hơn vào việc đào tạo các ứng viên chức linh mục.”

Văn bản này được đưa ra để thử nghiệm trong ba năm, có lẽ sẽ không được chú ý nếu không có câu “sự phân định không được giới hạn ở khuynh hướng đồng tính, nhưng là tầm nhìn toàn bộ về nhân cách ứng viên”. Tuy nhiên, Hội đồng Giám mục Ý nhắc lại, “sự khiết tịnh trong đời sống độc thân là điều kiện thiết yếu”. Các ứng viên được yêu cầu không ủng hộ “văn hóa đồng tính”.

Một tiến bộ “giả tạo”?

Một mở đầu không thể không gây tranh cãi, đặc biệt trên báo chí ở Ý và nhiều nơi khác. Một số cơ quan truyền thông hoan nghênh sự phát triển được cho là tích cực, hướng tới sự hòa nhập rộng hơn trong Giáo hội. Tuy nhiên, nhiều người chỉ trích các ”điều kiện” đặt ra cho các ứng viên đồng tính, họ xem đây là “đạo đức giả”.

Nhật báo Le Monde ngày 10 tháng 1-2025 lưu ý: “Những quy tắc gợi nhớ đến chính sách ‘không hỏi, không nói’ được quân đội Mỹ áp dụng trong nhiều năm, buộc các quân nhân đồng tính sống trong sợ hãi sẽ “bị trục xuất khỏi quân đội nếu bị phát hiện”.

Trang tin tức Ý ilsussidiario.net mỉa mai: “Trên thực tế, vấn đề không hề tồn tại: từ xa xưa, những người đồng tính đã là linh mục, họ giữ những vị trí quan trọng trong cộng đồng và không ai ngạc nhiên”. Một thực tế Đức Phanxicô xác nhận trong một câu nói đùa không phù hợp (sau đó ngài đã xin lỗi) ám chỉ có “bầu khí “frocciagine” tiếng lóng của người La-mã nói về người đồng tính, một từ ngữ mang tính xúc phạm khi nói về họ.

Những nhận xét “xúc phạm” của giáo hoàng có đúng lúc không?

Có mâu thuẫn trong các văn bản?

Trang ilsussidiario.net nhấn mạnh: “Vì vậy, những gì chúng ta thấy trên bàn của Hội đồng Giám mục Ý chắc chắn không phải là điều mới mẻ, dù chúng hoàn toàn mới khi tuyên bố khuynh hướng tình dục này phù hợp với chức thánh.”

Điều này trái ngược với thực tế năm 2006, khi Bộ Giáo dục Công giáo với sự chấp thuận của Đức Bênêđíctô XVI đã quy định: “Nếu một ứng viên đồng tính hoặc có khuynh hướng đồng tính sâu đậm, vì lương tâm, linh hướng cũng như cha giải tội có nhiệm vụ thuyết phục họ không nên đi tiếp con đường chịu chức.” Những tuyên bố này có vẻ mâu thuẫn với nhau và chắc chắn sẽ tạo tranh cãi trong Giáo hội.

Trang web tiếng Pháp Tribune chrétienne nhấn mạnh: “Trước các câu hỏi này, không chỉ giáo dân nhưng cả linh mục đều chờ lời giải thích, vì đằng sau những tiêu chuẩn mới này không chỉ là tương lai của việc đào tạo linh mục mà còn là tương lai của nhận thức về Giáo hội trong một thế giới đang đi tìm điểm quy chiếu.”

Linh mục thần học gia Nicolas Glasson, phụ trách ơn gọi tại giáo phận Lausanne, Geneva và Fribourg (Thụy Sĩ) khẳng định với trang Công giáo Thụy sĩ, các chỉ thị tương tự như chỉ thị của Giáo hội Ý không nằm trong chương trình nghị sự. Đây là vấn đề tế nhị, cần được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể. Nguyên tắc phân định của các nhà lãnh đạo chủng viện trước hết là xem xét con người trên cơ sở tài liệu của Bộ Giáo dục Công giáo năm 2006, linh mục Glasson lưu ý: “Điểm cần chú ý là xác định những gì có thể là khuynh hướng đồng tính ăn sâu như Văn bản năm 2006 của Bộ Giáo dục Công giáo đã mô tả. Liệu người đó có thể sống với khuynh hướng của mình mà không gây nguy hiểm không?”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Những điều cần nhớ từ quyển tiểu sử “Hy vọng” của Đức Phanxicô

Những điều cần nhớ từ quyển tiểu sử “Hy vọng” của Đức Phanxicô

Trong quyển tiểu sử, Đức Phanxicô chân thành và hài hước kể lại câu chuyện đời mình. Ngài cùng viết với tác giả Carlo Musso. © STR / AP

parismatch.com, Arthur Herlin, 2025-01-14

Chưa có Giáo hoàng nào tâm sự nhiều như vậy và cũng chưa có Giáo hoàng nào tường thuật đầy đủ về cuộc đời mình như ngài. Ngài thích công việc ngài làm: kể những giai thoại nhẹ nhàng hoặc bi thảm, đôi khi thêm vào những câu chuyện hài hước.

Đức Phanxicô, tên thật là Jorge Bergoglio kể cuộc đời ngài trong quyển tiểu sử “Hy vọng”. Kể từ đầu triều, ngài đã xuất bản hàng chục tác phẩm thiêng liêng nhưng chưa bao giờ ngài viết một cách cá nhân như vậy, ngay cả trong các cuộc phỏng vấn đôi khi ngài lồng vào đó những ký ức riêng tư. Trên thực tế, chưa bao giờ có một Giáo hoàng nào tâm sự nhiều đến vậy; không Giáo hoàng nào kể câu chuyện đời mình. Quyển sách dự kiến sẽ xuất bản ngay sau khi ngài qua đời nhưng “Hy vọng” đã thúc đẩy ngài xuất bản ngay bây giờ. Ngài làm một công việc mà ngài rất giỏi: kể những giai thoại nhẹ nhàng hoặc bi thảm, đôi khi hài hước, để rút ra bài học hy vọng cho thời chúng ta. Vì thế quyển hồi ký có tên: “Hy vọng”.

Điều đáng chú ý là một số cuộc gặp gỡ là nguồn cảm hứng cho cách ngài quản lý công việc của ngài. Từ người giúp việc đến cô gái mại dâm trong khu phố, từ các bạn cùng lớp đến các mối tình thuở thơ ấu, từ các nạn nhân của chế độ độc tài ở Argentina, quê hương ngài sinh ra, lớn lên và ở đó cho đến khi làm giáo hoàng… Nhiều vị trí và các quyết định của ngài bắt nguồn từ câu chuyện đời ngài và có thể được giải thích do hoàn cảnh phổ biến, thậm chí là bất lợi từ nơi ngài xuất thân. Chắc chắn ngài là Giáo hoàng đầu tiên của thời hiện đại xuất thân từ một gia đình di cư Ý khiêm tốn.

Đức Phanxicô và cha mẹ của ngài. AFP / © AFP

Mở đầu quyển tiểu sử, ngài lập tức ngài nhắc lại người dân của ngài đã phải liều mạng chạy trốn khỏi cảnh nghèo đói. Ngài đặc biệt nhấn mạnh đến câu chuyện ông bà nội phải rời quê cha đất tổ ở Piedmont nước Ý đi Argentina để mong có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì thế ngài không ngừng bảo vệ người di cư, đến mức vấn đề người di cư như một ám ảnh của ngài, do đó chúng ta hiểu vì sao ngài không ngừng bảo vệ người di cư, vì ngài xem mình là người như họ. Từ trước đến nay. Vào những tuần đầu tiên của triều giáo hoàng, ngài đã đến hòn đảo nhỏ Lampedusa, ngài đã nghĩ đến câu chuyện của cha mẹ, họ đã có thể chết trên tàu khi vượt Địa Trung Hải để đi Argentina. Ngay từ chương đầu của quyển tiểu sử, ngài viết: “Vì sao là họ mà không là tôi?”.

Cuộc ẩu đả

Sau đó, ngài cho biết ngài gần gũi với người dân thuộc mọi tầng lớp xã hội trong các khu phố lao động ở Buenos Aires, nơi ngài lớn lên. Sự chung sống giữa các cộng đồng, tình đoàn kết đã tôi luyện ngài. Người lớn trong khu phố trông chừng trẻ em, ngài được tự do qua nhà ông bà nội, đến văn phòng cha làm việc… phá phách, ẩu đả nhau. Ngài kể khi còn nhỏ ngài đã đập bể kiếng nhà của một góa phụ có người đến ve vãn. Cùng với em trai Alberto, ngài bắt chước cảnh Chaplin cầm dù từ trên sân thượng nhảy xuống. Khi còn là thiếu niên, ngài đánh một bạn cùng lớp mà ngài coi thường. Trong lúc đánh nhau, ngài vật bạn té xuống đất, bạn bị bất tỉnh. Sự việc được thu xếp ổn thỏa nhưng thân phụ ngài bắt ngài phải xin lỗi. Bây giờ ngài vẫn còn bị mặc cảm tội lỗi, dù ngài đã chuộc lỗi, đã có tình bạn chân thành với bạn khi ngài là Tổng giám mục Buenos Aires và bạn đã là một mục tử truyền giáo. Từ đó, hai người là bạn thân không rời nhau.

Bạn ấy không phải là người duy nhất làm ngài hối hận. Khi còn là hiệu trưởng trường Colegio Máximo de San Miguel ở Córdoba, ngài lấy lý do “bất khả kháng” để không tiếp bà Concetta, người giúp việc cho cha mẹ khi ngài còn nhỏ. Ngài cho biết ngài đã khóc khi ý thức việc mình làm. Nhiều năm sau, khi là hồng y, tài xế của ngài không ai khác chính là con trai của bà Concetta. Vì thế ngài nối lại liên lạc với bà được mười năm trước khi bà qua đời.

Ngài vẫn còn giữ tượng Thánh Tâm bà đã cho ngài trong những giây phút cuối đời, mỗi tối ngài hôn tượng trước khi đi ngủ.

Mối quan hệ đáng ngạc nhiên với “La Porota

Trong một bài khác, ngài nhắc lại mối quan hệ của ngài với một cô gái mại dâm “sang trọng” có biệt danh là “La Porota”, bà sống trong khu phố thời thơ ấu của ngài và liên lạc với ngài khi ngài là hồng y. Ngài kể, bà chửi thề trong từng câu nói, nhưng không vì thế mà bà không muốn về lại với tôn giáo, đến mức một ngày nọ, bà điện thoại cho ngài biết, tất cả bạn bè của bà là gái mại dâm. Ngài nhớ lại, đó là buổi lễ đẹp nhất của ngài. Ngay sau đó, bà gọi ngài để xin xức dầu.

Trong hồi ký, ngài cho biết ngài có tình cảm sâu đậm với người phụ nữ này và cầu nguyện cho bà hàng năm trong ngày giỗ bà. Trong các trang sách, ngài kể mối liên hệ đặc biệt của ngài với đất nước Argentina và người dân ngài rất yêu thương ở đây. Ngài nhận ra ngài được hình thành bởi quê hương, nơi định hình cho ngài về mặt thiêng liêng và chuẩn bị để ngài thực hiện sứ mệnh toàn cầu của ngài. Ngài cầu nguyện mỗi ngày cho người dân Argentina, dưới mắt ngài, họ là điểm neo thiết yếu, đến mức gần đây ngài bày tỏ mong muốn sớm về thăm đất nước, sau khi dừng chân ở Cape Verde…

Marta An Nguyễn dịch

Thủ tướng Canada Justin Trudeau để lại một di sản chống Công giáo

Thủ tướng Canada Justin Trudeau để lại một di sản chống Công giáo

ncregister.com, Peter Laffin, 2025-01-06

Peter Laffin là biên tập viên của báo National Catholic Register và là cộng tác viên của Washington Examiner. Các bài viết của ông đăng trên The Catholic Herald, The Catholic Thing RealClearPolitics.

Thủ tướng Justin Trudeau và Đức Phanxicô trong chuyến đi Canada của Đức Phanxicô tháng 7 năm 2022

Thủ tướng Canada Justin Trudeau để lại một di sản chống Công giáo

 Các hành động của chính phủ của ông về phá thai, hỗ trợ tự tử và an tử, cũng như các tranh cãi chung quanh các trường nội trú của người bản địa đã bị các nhà lãnh đạo của Giáo hội Canada chỉ trích mạnh mẽ.

Trong suốt 9 năm ở ghế Thủ tướng Canada, Justin Trudeau đã đấu tranh cho những lý tưởng mâu thuẫn trực tiếp với những giáo huấn cơ bản của Giáo hội về sự sống con người và có những hành động khác gây tổn hại cho Giáo hội địa phương.

Tuy nhiên hàng loạt chính sách có hại kéo dài của ông dường như sắp kết thúc. Các cuộc thăm dò cho thấy Đảng Tự do của ông đang phải đối diện với những cơn gió chống đối gần như không thể vượt qua trong các cuộc bầu cử sắp đến, ngày thứ hai 6 tháng 12, nhà lãnh đạo công giáo tuyên bố từ chức lãnh đạo đảng, để lại một di sản bị đánh dấu bằng sự phản đối rõ ràng với giáo dục và các ưu tiên của công giáo. Đáng chú ý nhất là các chính sách và sự ủng hộ của ông trong việc thúc đẩy quyền phá thai và an tử đã đưa Canada trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về văn hóa chết. Ngoài ra, vai trò của ông trong vụ “mộ tập thể” ở Canada, liên quan đến những cáo buộc vô căn cứ cho rằng có hàng trăm trẻ em bản địa bị bí mật chôn trong các trường nội trú công giáo, đã dẫn đến sự gia tăng thù hận người công giáo và làn sóng đốt nhà thờ.

Thủ tướng Trudeau, 53 tuổi sẽ vẫn là thủ tướng cho đến khi Đảng Tự do chọn được lãnh đạo mới, điều này phải được làm trước khi Quốc hội họp ngày 24 tháng 3.

 

Các nhà lãnh đạo Giáo hội đã phản đối mạnh mẽ một số hành động này, đặc biệt liên quan đến việc chính phủ của ông đưa ra Chương trình hỗ trợ y tế trợ tử (AMM).

Tổng giám mục Richard Gagnon của thành phố Winnipeg, bang Manitoba viết trong một thư gởi Thủ tướng Trudeau năm 2020 về những nỗ lực của chính phủ nhằm mở rộng hơn nữa việc hỗ trợ an tử: “Đau khổ và cái chết thực sự đáng sợ và bản năng né tránh nỗi đau là điều phổ biến. Nhưng cái chết êm dịu và trợ tử không phải là giải pháp. Tại thời điểm này trong lịch sử Canada, với sự liêm chính và trung thực, chúng ta nên tự hỏi chúng ta sẽ để lại loại văn hóa nào cho thế hệ tương lai.”

Văn hóa cái chết

Sau quyết định của Tòa án Tối cao Canada năm 2015 phán quyết các luật hiện hành cấm hỗ trợ y tế khi hấp hối là vi hiến, Chương trình hỗ trợ y tế trợ tử được Quốc hội Canada thông qua năm 2016 với sự ủng hộ hoàn toàn của Thủ tướng Trudeau.

Năm 2016, Thủ tướng Trudeau nói về việc thông qua dự luật: “Một số người cho rằng lẽ ra chúng ta nên tiến xa hơn với dự luật này; nhưng cũng có những người cho rằng chúng ta đã đi quá xa. Chúng tôi đã tập trung nỗ lực thực hiện bước đầu tiên này một cách có trách nhiệm và cẩn thận, tìm ra sự cân bằng phù hợp giữa việc bảo vệ người dễ bị tổn thương và việc bảo vệ các quyền và tự do, tôi tin chắc rằng chúng ta đã đạt được sự cân bằng phù hợp.”

Dự luật đã thúc đẩy việc thực hành an tử được hỗ trợ về mặt y tế ở mức độ nào? Từ năm 2016 đến năm 2022, các trường hợp an tử bùng phát, mỗi năm tăng trung bình 31%. Năm 2021, Chương trình hỗ trợ y tế trợ tử được mở rộng để bao gồm những người mắc bệnh nan y nhưng không ở giai đoạn cuối.

Năm 2023, tự tử được hỗ trợ về mặt y tế là nguyên nhân của 1/20 trường hợp tử vong ở Canada. Kế hoạch mở rộng hỗ trợ y tế trong chương trình hấp hối dành cho những người mắc bệnh tâm thần đã bị hoãn lại, vì theo Bộ trưởng Y tế Mark Holland, hệ thống y tế Canada chưa sẵn sàng để thực hiện.

Bộ trưởng Holland nói với các phóng viên: “Hệ thống phải sẵn sàng và chúng tôi phải làm đúng. Hệ thống chưa sẵn sàng và chúng tôi cần thêm thời gian.”

Lãnh đạo đảng Bảo thủ Pierre Poilievre, đảng dẫn trước Đảng Tự do cầm quyền trong các cuộc thăm dò dư luận hiện tại, đã dẫn đầu cáo buộc chống lại nỗ lực mới nhất này nhằm mở rộng Chương trình hỗ trợ y tế trợ tử.

Ông Poilievre nói với các phóng viên: “Sau 8 năm dưới thời Justin Trudeau, mọi thứ dường như tan vỡ và mọi người cảm thấy tan vỡ. Đó là lý do vì sao nhiều người bị trầm cảm và mất hy vọng. Công việc của chúng tôi là biến nỗi đau của họ thành hy vọng, điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần hơn là chấm dứt cuộc sống của người dân.”

Phá thai

Thủ tướng Trudeau cũng là người bảo vệ quyền phá thai. Và dù phá thai thường được cho là vấn đề đã được giải quyết ở Canada do dân chúng ủng hộ rộng rãi do sự phản đối chính trị yếu ớt. Tháng 9 Thủ tướng Trudeau đã lên tiếng: “Chúng tôi tái khẳng định một cách dứt khoát, phụ nữ có quyền quyết định về cơ thể, cuộc sống và tương lai của họ. Chúng tôi suy nghĩ về những quyền tự do mà phụ nữ đã giành được. Chúng tôi tái cam kết đạt được tiến bộ mà chúng tôi không thể mạo hiểm đánh mất. Và chúng tôi đấu tranh quyết liệt để bảo vệ quyền lựa chọn của phụ nữ.”

Trong suốt nhiệm kỳ của mình, thủ tướng Canada đã nhắm mục tiêu vào các trung tâm mang thai cung cấp cái mà ông gọi là “lời khuyên không trung thực”. Tháng 11, ông đã đưa ra một dự luật sẽ thay đổi luật thuế của Canada để yêu cầu các trung tâm mang thai tiết lộ liệu họ có cung cấp dịch vụ phá thai hoặc tránh thai hay không, hoặc có nguy cơ mất tư cách miễn thuế từ thiện.

Thủ tướng Trudeau thường xuyên cho mình là nhà hoạt động vì nữ quyền, cũng thường can thiệp vào cuộc tranh luận về vấn đề phá thai ở Hoa Kỳ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Công dân Toàn cầu năm 2023 ở New York, ông lên án những nỗ lực ủng hộ sự sống sau vụ Roe v. Wade (Roe kiện Wade: quyết định năm 1973, Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ quyền tự do của một phụ nữ mang thai được chọn phá thai mà không bị chính phủ hạn chế quá đáng).

Ông hỏi: “Khi nào chúng ta sẽ không còn phải thực hiện các hành động pháp lý nữa? Phụ nữ vẫn phải bảo vệ những quyền cơ bản đáng lẽ phải được công nhận và đã được công nhận từ lâu.”

Trước đó trong thời kỳ ông làm Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công giáo Canada lúc bấy giờ là Giám mục Douglas Crosby đã viết một thư cho Thủ tướng Trudeau chỉ trích những nỗ lực của chính phủ ông nhằm thúc đẩy việc phá thai ở các quốc gia khác. Trong thư tháng 7 năm 2017, Tổng giám mục Crosby viết: “Chính sách như vậy là một ví dụ đáng trách về chủ nghĩa đế quốc văn hóa phương Tây và nỗ lực áp đặt các giá trị Canada lên các quốc gia và dân tộc khác. Chính sách này bóc lột phụ nữ khi họ cần được chăm sóc và hỗ trợ nhất, làm suy yếu một cách bi thảm việc săn sóc trước khi sinh sản.”

Những cáo buộc vô căn cứ liên quan đến mộ tập thể

Sau thông báo năm 2021 của Thổ dân bản địa ở miền nam British Columbia về việc phát hiện hơn 200 ngôi mộ không dấu vết của trẻ em bản địa trong một trường dân cư công giáo, nhiều cơ quan truyền thông ở Canada và các nơi khác đã đăng tải các bài báo cho rằng đây là một trong nhiều trường hợp “mộ chung” của các em bé bị chôn cất bí mật ở đó, bên cạnh những ngôi trường này, đã hoạt động hơn một thế kỷ ở Canada. Hơn ba năm sau, không có bằng chứng nào được tìm thấy khẳng định sự tồn tại của những “ngôi mộ tập thể” này.

Dù thiếu bằng chứng, Thủ tướng Trudeau đã nhanh chóng chỉ trích Giáo hội sau cáo buộc đầu tiên về những ngôi mộ không được đánh dấu ở miền nam bang British Columbia.

Ngoài việc ra lệnh treo cờ rủ, Thủ tướng còn yêu cầu Đức Phanxicô “với tư cách là người Công giáo” đến Canada để xin lỗi “người Canada bản địa trên đất bản địa” vì những gì đã xảy ra trong các trường nội trú này. Ông đã có chuyến đi đến một nghĩa trang bản địa được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông, trong đó ông chụp hình, buồn bã quỳ gối trước một ngôi mộ, tay cầm con gấu bông.

Sau đó công chúng phản đối kịch liệt nhắm vào người công giáo, đã dẫn đến tội ác căm thù chống Công giáo ở Canada tăng 260% năm 2021. Hơn 120 nhà thờ Công giáo bị phá hoại, đốt cháy hoặc thiêu rụi kể từ khi cuộc tranh cãi nổ ra.

Trước sự gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động chống Công giáo, ông gọi hành vi này là “không thể chấp nhận được” nhưng cũng “hoàn toàn có thể hiểu được”.

Nhà báo công giáo Canada nổi tiếng Terry O’Neill nói với hãng tin Register: “Các nhà thờ đã bị đốt cháy và phá hoại và Thủ tướng gọi điều này là ‘có thể hiểu được’. Đây rõ ràng là sự thiếu lãnh đạo. Đây là một giai đoạn u buồn trong lịch sử Canada.”

Mặc dù thực tế là không có ngôi mộ tập thể nào được tìm thấy dù đã có nhiều cuộc tìm kiếm, Thủ tướng Trudeau và chính phủ của ông chưa bao giờ xin lỗi hoặc thay đổi nhận xét ban đầu của họ.

Cố Giám mục Fred Henry, ngài là Giám mục của Calgary từ năm 1998 đến năm 2017 đã mạnh mẽ bác bỏ những cáo buộc vô căn cứ về “những ngôi mộ tập thể” chống lại Giáo hội trong một e-mail ngài gởi cho Catholic Register năm 2023: “Vì sao Giáo hội công giáo không yêu cầu chính phủ liên bang cung cấp bằng chứng cho thấy dù chỉ có một em bé nội trú bị mất tích, nghĩa là cha mẹ em không biết chuyện gì đã xảy ra với con mình vào thời điểm em qua đời?”

Theo cố giám mục, những tuyên bố sai trái như vậy chỉ nhằm mục đích làm suy yếu các nỗ lực của Canada nhằm thúc đẩy sự hòa giải với các dân tộc bản địa Canada.

Giám mục Henry viết: “Liệu có giúp người dân bản địa Canada cải thiện cuộc sống của họ không nếu Giáo hội Công giáo đi xa đến mức chịu trách nhiệm về vụ sát hại và chôn cất bí mật hàng ngàn học sinh bản địa dưới danh nghĩa hòa giải không?. Không, điều đó sẽ không xảy ra. Sẽ không cải thiện được cuộc sống của người dân bản địa dù chỉ một chút nếu sự phỉ báng khủng khiếp này chống lại các tu sĩ Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm, các Nữ tu Dòng Thánh Annà, Dòng các nữ tu Xám, và những người khác trở thành “sự thật” được chấp nhận ở Canada.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất