Home Blog Page 111

Đức Phanxicô khuyến khích các cận vệ Thụy Sĩ nên lập gia đình

Đức Phanxicô khuyến khích các cận vệ Thụy Sĩ nên lập gia đình

cath.ch, Raphaël Zbinden, 2025-01-19

Khoảng hai mươi cận vệ Thụy Sĩ lập gia đình. / Ảnh Thánh lễ Hồng y Kurt Koch dâng với 23 Tân cận vệ Thụy Sĩ tháng 5 năm 2023 © Vatican Media

Ngày thứ bảy 18 tháng 5, khi tiếp Hiệp Hội các Cận vệ Thụy Sĩ, Đức Phanxicô tuyên bố: “Tôi trân trọng việc họ lập gia đình và có con.”

Hiệp Hội là cơ cấu hỗ trợ tài chính được thành lập năm 2000, năm nay họ kỷ niệm 25 năm thành lập. Tiếp các Cận vệ hành hương về Rôma, Đức Phanxicô ca ngợi tinh thần trung thành phục vụ Giáo hoàng và các lối vào Vatican. Ngài nói vài lời ngoài bài diễn văn, đề cao lòng kiên nhẫn của họ khi họ tiếp các đoàn hành hương về Rôma. Một lòng kiên nhẫn vô biên không mệt mỏi: họ giải thích, họ lặp lại liên tục. Ngài phấn khích vì Hiệp hội tài trợ 745.000 âu kim cho việc giáo dục và đào tạo con cái của các Cận vệ. Năm 2018, ngài đã cử hành lễ kết hôn cho một Cận vệ Thụy Sĩ và một nhân viên của Viện bảo tàng Vatican.

 Đội cận vệ Thụy Sĩ có 20 người con

Sau 5 năm phục vụ, các Cận vệ Thụy Sĩ có thể kết hôn. Năm 2023, 24 Cận vệ lập gia đình và họ có 20 người có con. Các gia đình này được hưởng quy chế quốc tịch Vatican. Ngoài hỗ trợ tài chính để cải thiện trang thiết bị cho đội quân nhỏ nhất thế giới – 135 người -, Quỹ này còn hỗ trợ khi họ xong nhiệm vụ và về lại Thụy Sĩ.

Đức Phanxicô kể: “Tôi còn giữ liên lạc với một số Cận vệ. Thỉnh thoảng họ điện thoại cho tôi, họ gởi cho tôi quà, khi họ về Rôma, họ đến thăm tôi.” Từ năm 2016, một quỹ khác được thành lập để tài trợ cho công trình trùng tu trụ sở của Đội, dự kiến sẽ hoàn thành năm 2026.

Marta An Nguyễn dịch

Nói dối và tội phạm đến Thần Khí

Nói dối và tội phạm đến Thần Khí

Ronald Rolheiser, 2025-01-13

Không có gì nguy hiểm về mặt tâm lý lẫn luân lý cho bằng nói dối, phủ nhận sự thật. Chúa Giêsu cảnh cáo, chúng ta có thể phạm một tội không thể tha thứ (nguyên văn lời Ngài) khi phạm đến Thần Khí.

Đó là tội gì? Vì sao không thể tha thứ? Tội này liên kết như thế nào với việc không nói thật?

Và đây là bối cảnh khi Chúa Giêsu nói lời cảnh báo này. Ngài vừa trừ quỷ, có vài người chứng kiến chuyện này họ tin  theo giáo lý của họ, chỉ có những ai đến từ Thiên Chúa mới có thể trừ quỷ. Nhưng họ ghét Chúa Giêsu, nên việc Ngài trừ quỷ là một sự thật khó chịu với họ, khó chịu đến mức họ chọn phủ nhận những gì họ vừa tận mắt chứng kiến. Thế là, trái với mọi điều họ đã biết là có thật, họ khẳng định Chúa Giêsu trừ quỷ nhờ phép của quỷ vương Beelzebub. Họ dư biết không phải vậy. Họ biết mình đang phủ nhận sự thật.

Phản ứng đầu tiên của Chúa Giêsu là cố làm cho họ thấy họ nói dối. Ngài viện đến logic, Ngài lập luận nếu quỷ Beelzebub lại đi trừ quỷ, thì có phải là nhà Satan tự chia rẽ và cuối cùng nó sẽ sụp đổ. Nhưng họ cứ khăng khăng với lời phủ nhận của họ. Lúc đó, trong bối cảnh cụ thể này, Chúa Giêsu nói lời cảnh cáo về mối nguy phạm một tội không thể tha thứ: phạm đến Thần Khí.

Về căn bản, lời cảnh cáo này là gì?

Những người Chúa Giêsu nhắm đến đã phủ nhận một hiện thực mà họ vừa thấy tận mắt, chỉ vì quá khó để họ tiếp nhận sự thật ấy. Cho nên họ phủ nhận sự thật, họ hoàn toàn ý thức mình đang nói dối.

Lời nói dối đầu tiên của chúng ta không nguy hiểm đến vậy, vì chúng ta vẫn còn biết mình đang nói dối. Nguy cơ là nếu chúng ta cứ khăng khăng với lời nói dối ấy và tiếp tục phủ nhận (và nói dối), thì chúng ta đi đến mức độ tin vào lời nói dối, xem nó là sự thật, và xem sự thật là giả dối. Lúc đó, sự xuyên tạc được xem là nhân đức, và như thế tội này trở nên không thể tha thứ, không phải vì sự tha thứ không được ban nhưng vì chúng ta không còn tin mình cần được tha thứ, không muốn tha thứ hay mở lòng để đón nhận tha thứ.

Theo bất cứ cách nào, mỗi khi chúng ta nói dối, chúng ta phủ nhận sự thật là chúng ta bắt đầu nhốt lương tâm lại, và nếu chúng ta cứ nhất quyết làm, thì cuối cùng (không nói quá) chúng ta làm tâm hồn bị biến thái đến nỗi với chúng ta, giả dối trông như sự thật, bóng tối trông như ánh sáng, và địa ngục trông như thiên đàng.

Địa ngục chưa bao giờ là một bất ngờ kinh khủng với những người hạnh phúc và căn bản thành thật. Địa ngục chỉ phát triển trọn vẹn qua sự thiếu thành thật lâu dài, được duy trì khi chúng ta phủ nhận hiện thực quá lâu đến nỗi xem sự thiếu thành thật là sự thật. Không có ai trong địa ngục ăn năn và mong sao mình có một cơ hội khác để sống và chết đi cho tốt đẹp. Nếu có người ở trong địa ngục, thì người đó, bất kể bản thân đang thống khổ, lại cảm thấy xem thường và khinh thị sự ngây thơ của những người thành thật đang ở thiên đàng.

Và tại sao đó là tội “phạm đến Thần Khí”?

Trong thư Thánh Phaolô gởi tín hữu thành Galát, ngài đưa ra hai con đường căn bản để chúng ta sống. Chúng ta có thể sống ngoài Thần Khí. Và chúng ta sống như thế mỗi khi chúng ta sống dâm bôn, thờ quấy, hận thù, bất hòa, chia rẽ, và không thành thật. Chính nói dối đẩy chúng ta đến đó. Ngược lại, chúng ta sống trong Thần Khí khi chúng ta sống trong bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Và chúng ta được như thế mỗi khi chúng ta thành thật. Do đó, mỗi khi nói dối, mỗi khi phủ nhận hiện thực, mỗi khi phủ nhận sự thật, là chúng ta (hoàn toàn và thực tế) đang bước ra khỏi Thần Khí và phạm thượng vì khinh thị Thần Khí.

Satan là vua dối trá. Chính vì thế mà nguy cơ lớn nhất trong thế giới chúng ta chính là khối lượng lời nói dối, tin giả, tin sai sự thật, phủ nhận thẳng thừng mỗi khi chúng ta thấy sự thật không hợp với ý thích của mình, phủ nhận hiện thực hiện diện gần như khắp nơi. Chẳng có gì mang tính hủy hoại và nguy hiểm cho sức khỏe linh hồn, cho khả năng tạo cộng đồng giữa chúng ta, cho tương lai của hành tinh, cho ý thức của chính chúng ta cho bằng thẳng thừng phủ nhận sự thật.

Khi sự thật bị phủ nhận: khi sự thật lịch sử bị viết lại để xóa bỏ một sự thật đau lòng, khi có người cho rằng chuyện bạn tận mắt chứng kiến không xảy ra, khi có người bảo cuộc diệt chủng Do Thái không xảy ra, khi có người bảo ở đất nước này chưa hề có chế độ nô lệ, khi có người nói không có trẻ em chết ở Sandy Hook, thì như vậy không chỉ là không tôn trọng hàng triệu người, mà con nhạo báng với ý thức của cả một văn hóa.

Khi có chuyện gì đó xảy ra rồi sau đó bị phủ nhận, thì đó không chỉ là giễu cợt với sự thật, mà còn gieo tai họa cho ý thức chúng ta, đặc biệt với người nói dối.

J.B. Thái Hòa dịch

Đức tin công giáo của James David Vance sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vai trò Phó Tổng thống của ông?

Đức tin công giáo của James David Vance sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vai trò Phó Tổng thống của ông?

americamagazine.org, Kimberley Heatherington, 2025-01-17

Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump và Phó Tổng thống đắc cử JD Vance trong ngày đầu tiên của Đại hội toàn quốc Đảng Cộng hòa tại Diễn đàn Fiserv ở Milwaukee ngày 15 tháng 7 năm 2024. (Ảnh của OSV News/Brian Snyder, Reuters)

Bà Usha Chilukuri Vance, phu nhân Phó Tổng thống theo đạo Hinđu, bà nghĩ chồng bà trở lại đạo công giáo năm 2019 “là điều tốt cho ông”.

Năm 2020, ông nói trên tạp chí The Lamp về câu đánh giá của vợ ông: “Chính phần công giáo trong tâm trí tôi đòi hỏi tôi phải suy nghĩ về những gì thực sự là quan trọng.”

Rất nhiều điều sẽ quan trọng khi ông bước vào Nhà Trắng để tuyên thệ nhậm chức ngày 20 tháng 1. Đạo công giáo của ông có thể tác động như thế nào đến những gì ông sẽ mang lại cho tân chính quyền Trump và cho việc điều hành nước Mỹ?

Với những người cho rằng Giáo hội không có vị trí trong các vấn đề của quốc gia – họ viện dẫn đến bức tường ngăn cách Giáo hội và Nhà nước, được Tổng thống Thomas Jefferson nói đến trong “Thư gởi tín hữu đạo Baptist Danbury” năm 1802 – thì câu hỏi về quan điểm đức tin của Phó Tổng thống Vance có lẽ không liên quan.

Nhưng gốc rễ đạo đức và trí tuệ sâu sắc của truyền thống công giáo của ông – thực tế đó là những đòi hỏi của đức tin – chắc chắn là một yếu tố quan trọng trong thế giới quan chính trị của ông.

Chính ông đã lên tiếng về câu hỏi này. Năm 2019, ông nói trên tạp chí The American Conservative: “Quan điểm của tôi về chính sách công và hình ảnh nhà nước tối ưu nên thế nào để phù hợp với giáo lý xã hội của đạo công giáo.”

Giáo sư James Orr – phó giáo sư triết học tôn giáo tại Đại học Cambridge và là người sáng lập Phong trào Bảo thủ Quốc gia của Vương quốc Anh, bạn thân lâu năm của Phó Tổng thống Vance nói với OSV News: “Vance suy nghĩ rất kỹ về thế giới, về bối cảnh địa chính trị và những gì nước Mỹ có thể làm để đảm bảo đó là bối cảnh bình lặng nhất có thể.”

Vance gọi Orr là “người dẫn đường người Anh” của ông – người hướng dẫn đáng tin cậy để vượt qua địa hình đôi khi khó hiểu của bối cảnh bảo thủ Vương quốc Anh – một danh hiệu mà Orr nghĩ là bạn mình đã nói một cách bông đùa.

Những lần đi nghỉ hè chung, các tin nhắn thường xuyên giữa hai người, họ gặp nhau để đi ăn trưa tại phòng ăn của Thượng viện Hoa Kỳ ngay trước khi Vance chấp nhận để Đảng Cộng hòa đề cử ông là ứng viên Phó Tổng thống. Ông Orr nhớ lại: “Tôi đã nói với bạn tôi, cuộc sống của anh sắp mãi mãi thay đổi, bạn tôi mỉm cười. Tôi nghĩ bạn tôi đã vô cùng dũng cảm khi nêu ra những gì bạn tin tưởng và những gì bạn nghĩ có lợi cho người Mỹ. Nhìn vào chính sách họ đang áp dụng, chúng ta rất khó để xếp họ vào cánh tả hay cánh hữu theo nghĩa truyền thống của những gì chúng ta nhận thức về chính trị vào cuối thế kỷ 20. Đây là một loại tân chính trị cánh hữu xem trọng chủ nghĩa bảo thủ xã hội. Nhưng cũng có những thất bại ở cấp liên bang nên cần đưa trở lại cấp tiểu bang để có thể hợp hiến.”

Về đức tin công giáo của Vance, Orr mô tả đó là một tài sản, “một lợi thế không điều kiện” cho công cụ của Phó Tổng thống. Ông giải thích: “Tuy nhiên có sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước, và với tôi, dù đạo công giáo của Vance sẽ có tác động san bằng các đợt sóng lớn trong nền tảng chính sách của tân chính quyền, nhưng chắc chắn ông sẽ không điều hành mọi thứ theo đức tin công giáo riêng của ông.”

Nhưng, ông không hình dung ra xung đột ngay từ đầu. Ông nhấn mạnh: “Tôi nghi rằng, sẽ có những chính sách ông hỗ trợ mà không có lý do chính đáng công khai – ông không thể đưa ra một lập luận hoàn toàn hợp lý, bất khả tri, thế tục nơi công cộng. Nhưng như thế chúng ta sẽ có một Phó Tổng thống có quan điểm mạch lạc về thế giới – không phải quan điểm đơn thuần khuất phục trước trào lưu mới nhất xuất hiện từ một góc khuất nào đó của một chính trị bản sắc.”

Phó Tổng thống Vance sinh ra ở Ohio, khi còn nhỏ ông ít đi nhà thờ, ông được bà ngoại nuôi dạy, dù bà tin vào Chúa Giêsu, nhưng bà ghét “tôn giáo thể chế”. Quan điểm của thân phụ ông – theo giáo phái Ngũ Tuần nghiêm túc – đã ảnh hưởng đến những năm tháng tuổi vị thành niên của ông, ông viết trong The Lamp: “Khi tôi rời Thủy quân lục chiến năm 2007, tôi bắt đầu học đại học tại Đại học Tiểu bang Ohio, tôi đã đọc Christopher Hitchens và Sam Harris và tôi cho tôi là người vô thần.”

Sau đó ông gắn kết với giáo lý công giáo – nhưng vẫn còn do dự, ông thú nhận: “Trong nhiều năm, tôi ở trong tình trạng mập mờ, giữa hiếu kỳ về đạo công giáo và sự ngờ vực.” Tốt nghiệp Trường Luật ở Đại học Yale, ông hành nghề luật doanh nghiệp một thời gian ngắn trước khi gia nhập ngành công nghệ, ông là nhà đầu tư mạo hiểm.

Ông thu hút sự chú ý rộng rãi khi xuất bản quyển Hồi ký “Hillbilly Elegy” (Khúc bi ca của người miền núi), sau này được chuyển thể thành phim. Năm 2022, ông được bầu vào Thượng viện Hoa Kỳ, đại diện cho tiểu bang quê hương của ông.

Ông ghi nhận sự ủng hộ của các linh mục Dòng Đa Minh -và vợ ông – bà dần dần trở lại và cuối cùng theo đạo công giáo. Ông được rửa tội tại Tu viện Đa Minh, nhà thờ Thánh Gertrude ở Cincinnati, linh mục Đa Minh Henry Stephan, một nghiên cứu sinh tiến sĩ, cha tuyên úy của Đại học Notre Dame ở Indiana rửa tội.

Ông Stephen White, trong Chương trình Nghiên cứu Công giáo tại Trung tâm Chính sách Công và Đạo đức có trụ sở tại Washington, cho biết: “Tôi nghĩ, một cách nào đó, đức tin của ông sẽ định hình chính sách của ông. Trên thực tế, đức tin của ông sẽ có quyết định chính trị nhiều hơn.”

Ông White tìm thấy một phép loại suy trong các cuộc thăm dò ý kiến cử tri sau cuộc bầu cử gần đây: “Rõ ràng trong cuộc bầu cử này, người công giáo đã ủng hộ ông Trump nhưng không chắc chắn người công giáo bỏ phiếu cho ông Trump vì các lý do đặc biệt liên quan đến công giáo. Nếu đó là vì kinh tế và nhập cư, với một số thứ liên quan đến chiến tranh văn hóa, thì không nhất thiết phải là người công giáo hoặc người tín hữu để thấy những vấn đề này có thể có lợi cho họ như thế nào trong cuộc bầu cử này.”

Các vấn đề người công giáo đặc biệt quan tâm là vấn đề trục xuất hàng loạt người nhập cư và các công ty bảo hiểm hoặc tài trợ của chính phủ có trả tiền cho các phương pháp điều trị thụ tinh trong ống nghiệm hay không.

Lặp lại các văn bản của Công đồng Vatican II, Thánh Năm 1993, Gioan-Phaolô II nhấn mạnh tính nghiêm trọng về mặt đạo đức của việc trục xuất trong thông điệp “Veritatis Splendor, Ánh rạng ngời Chân lý”, ngài nêu lên các ví dụ về “cái ác nội tại” – dù với động cơ nào – đều bị cho là hành vi “không theo luật của Chúa và không vì lợi ích cho con người”.

Ngày 12 tháng 11, trong khóa họp khoáng đại thường niên mùa thu tại Baltimore, Hội đồng Giám mục Mỹ tuyên bố sẽ “lên tiếng mạnh mẽ” nếu các quyền cơ bản của người nhập cư bị vi phạm.

Giáo hội Công giáo phản đối việc thụ thai trong ống nghiệm (IVF) vì ngoài các vấn đề đạo đức và luân lý khác, nó còn tách biệt việc thụ thai khỏi quan hệ tình dục và thường liên quan đến việc phá hủy phôi thai.

Một số người công giáo còn thất vọng hơn khi Tổng thống đắc cử Donald Trump dường như không muốn ủng hộ việc khôi phục lệnh cấm phá thai trên toàn quốc. Ông đã nhận công lao chấm dứt quyền phá thai của liên bang với phán quyết Dobbs năm 2022 của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, lật ngược Roe kiện Wade ban hành các hạn chế hoặc bảo vệ quyền phá thai (Roe kiện Wade: một quyết định năm 1973, Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ quyền tự do của một phụ nữ mang thai được chọn phá thai mà không bị chính phủ hạn chế).

Năm 2022, ông Vance tuyên bố ủng hộ lệnh cấm phá thai trên toàn quốc, lặp lại lập trường của Trump về việc ủng hộ luật phá thai theo tiểu bang. Tháng 7 năm 2024, ông nói với bà Kristen Welker ông ủng hộ việc hợp pháp thuốc mifepristone, được dùng với misoprostol để gây ra cái gọi là phá thai bằng hóa chất, thường được gọi là thuốc phá thai bằng hóa chất hiện được dùng cho gần hai phần ba trường hợp phá thai ở Hoa Kỳ.

Và cũng ở Đại hội toàn quốc tháng 7, khi Trump và Vance được Đảng Cộng hòa chính thức đề cử, Đại hội nói với một ngôn ngữ nhẹ nhàng hơn về việc phá thai trong cương lĩnh của Đảng phản ánh quan điểm của Trump. Phó giáo sư chính trị James Patterson tại Đại học Ave Maria giải thích: “Trong khi các vấn đề chính sách gai góc này có vẻ như đặt một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Phó Tổng thống công giáo đắc cử. Sẽ có một số giới hạn khá cứng rắn với những gì ông Vance có thể làm dựa trên chức vụ của mình. Theo hiến pháp, Phó tổng thống không có nhiều thẩm quyền.”

Ông Patterson là một trong ba người ký bức thư ý kiến của Tạp chí Phố Wall tháng 7 năm 2024 cảnh báo Vance không nên quá bám chặt vào các lý thuyết và ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu tự do – một cách tiếp cận chính trị lấy cảm hứng từ đạo công giáo, nhấn mạnh vào lợi ích cộng đồng hơn là quyền tự do cá nhân – ông Patterson hình dung chung quanh ông Vance có nhiều người kiến nghị: “Có rất nhiều người muốn lắng nghe ông; hậu tự do chỉ là một trong số họ và không giống như trước đây, khi ông tuyên bố với tư cách là thượng nghị sĩ, bây giờ là Phó Tổng thống, rủi ro khá cao làm ông phải cẩn thận.”

Nhà báo Rod Dreher là người Mỹ sống ở Budapest, Hungary có quan hệ lâu năm với tạp chí The American Conservative, giống như Orr, ông là bạn của Vance. Năm 2019 ngay sau lễ rửa tội của ông Vance, ông đã có những lời lẽ gay gắt với những người nghi ngờ đức tin của ông Vance.

Nhà báo Dreher, đạo tin lành và đã trở lại đạo công giáo.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tổng thống Trump và nước Mỹ tương lai

Tổng thống Trump và nước Mỹ tương lai

Tổng thống Trump và nước Mỹ tương lai

osservatoreromano.va, Alessandro Gisotti, 2025-01-18

Không, lịch sử “không kết thúc” khi Bức tường Berlin sụp đổ và Liên Xô tan rã. Những gì từng là ảo tưởng của một số chính trị gia và nhà khoa học chính trị cuối thế kỷ trước đã trở nên hoàn toàn sai lầm. Rốt cuộc, điều này đã được hiểu ở đầu thế kỷ 21 với sự kiện “không thể tưởng tượng nổi” của vụ tấn công khủng bố vào Tòa tháp đôi, làm mọi người buồn bã thức tỉnh cho một kỷ nguyên ổn định toàn cầu dưới ngọn cờ của chủ nghĩa tự do kinh tế. Trong hơn 30 năm kể từ ngày lịch sử đó, khi Bức tường Berlin sụp đổ, một trong những chế độ toàn trị tàn phá tự do nhất trong lịch sử, nhân loại đã trải qua vô số cuộc xung đột ngày càng tăng, từ cục bộ đến khu vực, cho đến khi chúng trở thành hình ảnh đau thương về điều mà Đức Phanxicô đã tiên tri chính xác từ nhiều năm qua, ngài gọi đây là “Chiến tranh thế giới thứ ba diễn ra từng phần”. Vì thế lịch sử vẫn chưa kết thúc.

Trong một phần tư của thế kỷ này, một thế kỷ mà theo Đức Phanxicô là thế kỷ đánh dấu “sự thay đổi của thời đại”, thậm chí còn hơn cả “một thời đại thay đổi”, các thế lực của các cường quốc kinh tế, chính trị, quân sự đã được định hình lại. Ngày nay, chúng ta sống trong thế giới đa cực nên việc tìm kiếm thỏa thuận, đặc biệt trong các tình huống khủng hoảng, trở nên phức tạp và ít tuyến tính hơn. Tuy nhiên, đây là thế giới chúng ta sống và nguyên tắc thực tế đòi hỏi tất cả các nhà lãnh đạo (đặc biệt những người có quyền lực lớn) phải công nhận những thách thức lớn của thời đại phải được đối diện với các mô hình mới, với sáng tạo, không còn thái độ “xem thế giới luôn được thực hiện theo cách này”.

Trong bối cảnh lịch sử này, ngày thứ hai 20 tháng 1, Tổng thống Donald Trump sẽ tuyên thệ lần thứ nhì bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ và phục vụ người dân Mỹ. Một sự kiện, đã được nói và viết rộng rãi, có nhiều đặc điểm chưa từng có và được nhìn nhận với hy vọng và lo lắng, vì không ai là không thấy – ngay cả khi thế giới không còn một siêu cường nào – cách mà Hoa Kỳ và các quốc gia vẫn có thể tác động đến động lực chính trị và kinh tế quốc tế. Tổng thống đắc cử Trump đã nhiều lần tuyên bố ông sẽ nỗ lực chấm dứt chiến tranh Ukraine. Ông cũng tuyên bố dưới sự lãnh đạo của ông, Hoa Kỳ sẽ không tham gia vào bất kỳ cuộc xung đột mới nào. Chúng ta vẫn chưa biết ông sẽ có thái độ nào đối với các tổ chức quốc tế.

Nhập cư, môi trường, phát triển kinh tế (ngày càng được thúc đẩy bởi công nghệ) là một trong những vấn đề quan trọng mà không chỉ người dân Mỹ mà toàn thể cộng đồng quốc tế sẽ quan tâm đặc biệt ở chủ nhân thứ bốn mươi bảy của Nhà Trắng.

Trong lịch sử, Hoa Kỳ đã tận lực cống hiến khi mở cửa với thế giới (Liên Hiệp Quốc là “phát minh của người Mỹ”) và cùng với các đồng minh họ xây dựng một hệ thống – với tất cả những hạn chế của công việc con người – đảm bảo tự do, phát triển kinh tế và tiến bộ về nhân quyền. Điều này đã xảy ra với cả tổng thống của Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Do đó, một nước Mỹ quay lưng lại với chính mình sẽ là một mâu thuẫn.

Tổng thống Trump được kêu gọi để vượt qua chia rẽ và phân cực vốn đặc nét trong đời sống chính trị ở Mỹ nhiều năm qua, đã gây ra cuộc tấn công vào Điện Capitol ngày 6 tháng 1 năm 2021, một trong những ngày buồn nhất của lịch sử nước Mỹ. Chắc chắn đây là nhiệm vụ khó khăn. Nhưng lại cần thiết cho Chính quyền mới. Vì các tiểu bang “chia rẽ” của Hoa Kỳ sẽ là mối nguy hiểm nghiêm trọng trong một nước đã bị chia rẽ và phân mảnh.

Mười năm trước, Đức Phanxicô, Giáo hoàng đầu tiên đến từ Châu Mỹ đã có bài phát biểu trước Quốc hội Hoa Kỳ nhấn mạnh đến các giá trị nền tảng của quốc gia. Một can thiệp có thể có ích cho Tổng thống Donald Trump và Phó Tổng thống James David Vance.

Một bài phát biểu được hoan nghênh trên Đồi Capitol, đưa ra bốn nhân vật vĩ đại, bốn ngôi sao Bắc Đẩu của nước Mỹ cả trong thời đại hỗn loạn này, vẫn có thể giúp định hướng cho các nhà lãnh đạo chính trị. Đức Phanxicô kết luận: “Một quốc gia được cho là vĩ đại khi quốc gia đó bảo vệ tự do, như Tổng thống Lincoln đã làm; khi quốc gia đó thúc đẩy một văn hóa để mọi công dân có thể mơ một quyền lợi đầy đủ cho mọi người như Mục sư Martin Luther King đã cố gắng thực hiện; khi quốc gia đó đấu tranh cho công lý, cho những người bị áp bức như bà Dorothy Day đã làm không mệt mỏi; như đức tin là động lực đối thoại và gieo rắc hòa bình như tu sĩ Thomas Merton đã làm.” Đó là những giá trị làm nên sự vĩ đại của nước Mỹ. Và thế giới vẫn còn cơ hội để làm.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức tin công giáo của James David Vance sẽ ảnh hưởng như thế nào đến vai trò Phó Tổng thống của ông?

Thành phố Rôma luôn vĩnh cửu, hôm nay Thành phố trẻ trung hóa để chuẩn bị cho Năm Thánh

Thành phố Rôma luôn vĩnh cửu, hôm nay Thành phố trẻ trung hóa để chuẩn bị cho Năm Thánh

Kể từ các Năm Thánh bắt đầu từ năm 1300, Rôma luôn tận dụng cơ hội này để sửa chữa và cải cách làm thay đổi khuôn mặt thành phố. Năm Thánh đã được khai mạc ngày 24 tháng 12 nhưng các công trình sửa chữa vẫn tiếp tục, với trên 600 dự án và chi phí 4,8 tỷ âu kim.

lanacion.com.ar, Elisabetta Piqué, 2025-01-18

Roma caput mundi, Roma, thủ đô của thế giới”. Năm Thánh 2025, dự trù sẽ có 32 triệu người đến thủ đô. Ngoài việc bước qua Cửa Thánh của Đền thờ Thánh Phêrô và các thánh đường khác để nhận ơn toàn xá, du khách sẽ được thấy một thủ đô đã được biến đổi với nhiều nét đặc trưng mới.

Để chào đón “những người hành hương hy vọng”, Rôma thay đổi bộ mặt thành phố, sửa chữa, cải thiện phương tiện giao thông.

Đài phun nước Moro ở Piazza Navona được làm sạch. Elisabetta Piqué

Có nhiều công trình được được làm xong vào phút chót, vài giờ trước đêm khai mạc 24 tháng 12, nhưng nhiều công trình khác vẫn đang tiến hành. Đó là những nơi du khách sẽ thấy các tấm bảng lớn “Roma caput mundi” bao phủ hàng chục tác phẩm chưa làm xong: những nơi dành cho người đi bộ, ga xe lửa Termini.

Công việc vệ sinh và sửa chữa thành phố Rôma / Elisabetta Piqué

Tất cả gồm hơn 600 dự án và chi phí đầu tư 4,8 tỷ âu kim, một phần từ quỹ khổng lồ Liên minh châu Âu cho vay để kinh tế nước Ý hồi sinh sau đại dịch.

Đài phun nước Trevi mở cửa lại đón du khách sau ba tháng sửa chữa / Hình ảnh SOPA – LightRocket

Đường hầm “sottopasso” Piazza Pia, một trong những công trình mới mẻ khánh thành ngày 23 tháng 12, được xây dựng với tốc độ kỷ lục. Rôma là thành phố mà mọi thứ thường mất nhiều năm để làm vì khi đào xới sẽ thấy các tàn tích cổ làm tê liệt công việc – phải xoay đường hầm để định hướng lại, phải lấy các vật có trong đường hầm. Rôma không còn cảnh xe cộ đông đúc phiền phức (cả về hình ảnh và âm thanh) thay vào đó là một quảng trường lớn chào đón khách hành hương đến Vatican.

Rôma đã xong ác mộng giao thông năm ngoái vì phải tiến hành các công trình. Bây giờ Quảng trường Piazza Pia đã sửa xong, du khách có thể nhìn thấy hai đài phun nước hiện đại lớn, có trung tâm chào đón khách hành hương.

Nhờ công việc trùng tu và vệ sinh, các bức tượng tuyệt đẹp của cây cầu Castel Sant’Angelo, một trong những cây cầu lâu đời và nổi tiếng nhất Rôma có thể được nhìn thấy, tinh xảo hơn bao giờ hết. Cây cầu dành cho người đi bộ này tự hào có những tác phẩm điêu khắc rực rỡ của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô ở mỗi đầu, và tượng mười thiên thần do nhà thiết kế Gian Lorenzo Bernini dựng.

Piazza Navona, đài phun nước ỏ quảng trường cùng tên, cũng do Bernini thiết kế, tất cả đều trắng và sạch, được phủ kín trong nhiều tháng để giữ vệ sinh kỹ lưỡng. Cũng vậy với các đài phun nước ở quảng trường Piazza Farnese gần đó và Đài phun nước Trevi hùng vĩ.

Với Đài phun nước Trevi, muốn đến gần đài để ném đồng xu mong được may mắn, du khach phải đi theo một tuyến đường đặc biệt, phía sau hàng rào và xếp hàng chờ, hiện tại vẫn chưa thu tiền vào xem.

Các nơi khác như Đền thờ Thánh Phêrô và các đền thờ khác ở Rôma cũng được làm sạch bụi bẩn tích tụ.

Quảng trường Piazza del Risorgimento, chỉ cách Bảo tàng Vatican vài mét, và đường Via Ottaviano đã được dành cho người đi bộ. Nơi đây không còn là bến xe điện như trước nhưng là khu vực dành cho người đi bộ rộng lớn với những chiếc ghế dài và có cả trò chơi.

Các sửa chữa mới tại Quảng trường Pia / Elisabetta Piqué

Quảng trường trung tâm Piazza Venezia đã không thể nhận ra trong nhiều tháng vì phải sửa chữa, đây là phần mở rộng của một trong những tuyến tàu điện ngầm. Người dân La Mã đang chờ hoàn thành công trình vệ sinh và cải tạo đường dành cho xe đạp tuyệt đẹp chạy dọc theo Sông Tiber, nơi lý tưởng để tránh xa tiếng ồn không chỉ dành cho người đi xe đạp mà còn cho cả người đi bộ và chạy bộ.

Cuối cùng các thùng rác mới, hiện đại xuất hiện ở hầu hết mọi khu phố.

Và cả một đội quân mặc áo màu cam cầm chổi liên tục hốt rác, quét lá rụng, giấy vụn của các khách du lịch vứt bừa bãi trên đường phố và quảng trường La Mã.

Thành phố Rôma luôn vĩnh cửu.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Tổng giám mục Dominique Rey: “Vì sao tôi từ nhiệm mục vụ của tôi”

Tổng giám mục Dominique Rey: “Vì sao tôi từ nhiệm mục vụ của tôi”

Theo yêu cầu của Giáo hoàng, ngày thứ ba 7 tháng 1, Tổng giám mục Dominique Rey, giáo phận Fréjus-Toulon tuyên bố, mười bốn tháng sau khi Giám mục François Touvet được bổ nhiệm vào chức vụ này. Tổng giám mục Rey giải thích thích lý do và rút tỉa bài học từ 25 năm làm giám mục.

famillechretienne.fr, Olivia de Fournas, 2025-01-05

Tổng giám mục Dominique Rey, 72 tuổi, đứng đầu giáo phận Fréjus-Toulon từ 25 năm nay. Tháng 11 năm 2023, Đức Phanxicô bổ nhiệm Giám mục François Touvet làm Giám mục phụ tá giáo phận. – © Patrick Gherdoussi

Tổng giám mục từ chức sau 25 năm đứng đầu giáo phận Fréjus-Toulon. Cha có bị áp lực để từ chức không?

Tổng giám mục Dominique Rey: Sau khi thảo luận với các Hội Dòng Rôma và Giáo hoàng, tôi đã bàn giao trách nhiệm mục vụ của tôi. Tháng 11 năm 2023, ngài khuyên tôi nên ở lại sau khi bổ nhiệm Giám mục phụ tá François Touvet. Một năm sau, ngài hỏi liệu tôi có thể từ chức giám mục giáo phận Fréjus-Toulon hay không. Sứ mệnh của tôi không thuộc về tôi, như bất kỳ giám mục nào, tôi nhận sứ mệnh từ Giáo hoàng. Sứ mệnh ngài giao cho tôi, bây giờ ngài lấy lại. Vì vậy, ngày 31 tháng 12, qua bưu điện, tôi đã gởi đơn từ chức về Tòa Thánh. Ngày 7 tháng 1, tôi thông báo việc từ chức của tôi cho hàng giáo sĩ, và thông báo sẽ chính thức khi đơn từ chức được Giáo hoàng chấp nhận.

Cha bị trách cứ vì vấn đề gì?

Không có bằng chứng mới nào được thông báo cho tôi. Các lý do tôi từ chức cũng giống các lý do đã được đưa ra khi ngài bổ nhiệm Giám mục phụ tá tôi. Chủ yếu tôi bị chỉ trích vì đã quá đón nhận các cộng đồng hoặc ơn gọi linh mục và tu sĩ, đặc biệt từ giới truyền thống, cũng như những rối loạn chức năng trong việc quản lý kinh tế và tài chính của giáo phận. Khi làm việc, tôi có nhiều sáng kiến và các sáng kiến này đã có hoa trái nhưng khoảng 10% các sáng kiến có vấn đề. Khi làm kế hoạch, chúng tôi luôn chấp nhận rủi ro. Đôi khi tôi thiếu sáng suốt hoặc thiếu trợ giúp. Nhưng khi biết được các trục trặc, tôi luôn có các biện pháp hành chính và giáo luật cần thiết.

Tâm trạng của cha như thế nào khi nạp đơn xin từ chức?

Tôi sẵn sàng tiếp tục sứ mệnh của tôi. Sự thay đổi đột ngột này giúp tôi xét mình và nhìn lại bản thân. Tôi trải qua cảm giác khó hiểu hoặc bất công với công việc tôi đang triển khai. Nhưng tôi không bao giờ muốn chìm vào chán nản hay nổi loạn.

Sự hiện diện của các cộng đồng truyền thống có phải là lý do chính làm cha phải từ chức?

Tôi thực sự đã bị chỉ trích vì quá gần với giới truyền thống, tạo những yếu tố có các đường lối rất khác biệt, một số là “truyền thống” khép kín, bám vào các nghi thức một cách thiếu điều chỉnh, đi chệch khỏi Công đồng Vatican II. Một số lớn cởi mở hơn.

Lãnh vực truyền thống phải ở trong Giáo hội, không được tách rời. Trong giáo phận của tôi, tôi muốn đảm bảo giáo phận không bị trì trệ trong một thế giới song song. Sự hội nhập của giáo phận là một thách thức thực sự, nhưng những nhóm này phải là một phần của tầm nhìn rộng hơn về sứ mệnh và đời sống Giáo hội. Điều này đòi hỏi phải có giáo dục và giảng dạy. Nếu chúng ta muốn lãnh vực truyền thống trở thành một phần của mối quan hệ hài hòa với thế giới và Giáo hội, chúng ta phải tham gia vào logic đối thoại, vượt ra ngoài định kiến và thành kiến của chúng ta.

Việc bổ nhiệm Giám mục François Touvet làm Giám mục phụ tá sau chuyến tông du tháng 2 năm 2023, có góp phần vào quyết định này không?

Mối quan hệ của chúng tôi rất an hòa. Dù sao ba năm nữa, khi tôi 75 tuổi, tôi cũng phải rời chức vụ để Giám mục Touvet làm công việc này. Tôi ở trong giai đoạn phải chuyển giao dần dần trách nhiệm, chủ yếu quan tâm đến việc chăm sóc mục vụ và truyền giáo. Rôma có lẽ thấy ba năm này là quá dài và sự hợp tác còn nhiều hạn chế.

Cha đánh giá thế nào về chức vụ giám mục của cha?

Đánh giá nào cũng có nhiều tương phản. Tôi được đánh giá cao vì tôi đã khơi dậy động lực truyền giáo trong giáo phận, tiếp nối các Giám mục tiền nhiệm của tôi, đặc biệt là Giám mục Joseph Madec. Với gần 250 linh mục trải rộng trên 150 giáo xứ, ngoài công việc hành chính, tôi muốn khởi xướng một tiến trình truyền giáo. Tôi đặc biệt nghĩ đến việc đào tạo các linh mục kết hợp với giáo dân, thành lập các giáo xứ mới, cũng như việc đón nhận các đặc sủng mới. Nhiều giáo phận thường xuyên đưa các linh mục, đặc biệt là từ Châu Phi qua để bù đắp cho việc thiếu mục vụ. Tôi cũng tìm cách làm phong phú Giáo hội với những kinh nghiệm hiệu quả mà tôi đã xác định được. Một số cộng đồng không thể gắn bó với giáo phận và phải rời đi. Những người khác ở lại và sinh hoa trái.

Việc đình chỉ phong chức cho mười phó tế và linh mục tháng 6 năm 2022 có phải là một cách Rôma gây áp lực để cha từ chức không?

Việc ngăn cản việc phong chức cho sáu phó tế tương lai và bốn linh mục tương lai của Castile đã tạo nhiều khó hiểu trong giáo phận. Trên thực tế, tình trạng này bị cho là phương tiện của Rôma để gây áp lực. Biện pháp này phản ánh mối quan tâm về ơn gọi trong một giáo phận có lẽ đã chào đón quá rộng rãi. Theo lời chỉ trích của một số người, tôi thiếu sáng suốt và thiếu nghiêm túc. Ngày nay, trong số mười người được kêu gọi chịu chức có chín đã được chịu chức trong những tháng gần đây.

Bây giờ cha định làm gì?

Tôi không có ý định nghỉ hưu, đó là một từ tôi không biết, nhưng chắc chắn là một cuộc nghỉ hưu tinh thần. Xét mình lại sau 25 năm làm giám mục giúp tôi có được một chiều cao và chiều sâu. Các ưu tiên của tôi vẫn là hỗ trợ những nơi ươm mầm các sáng kiến truyền giáo theo năm trụ cột ưu tiên: tôn trọng và bảo vệ sự sống và gia đình, dấn thân cho những người dễ bị tổn thương, các vấn đề liên quan đến giáo dục và văn hóa, sự hiện diện của kitô giáo trên các phương tiện truyền thông, và cuối cùng, đào tạo tinh thần kitô giáo và mục vụ cho những người có trách nhiệm. Trong tinh thần liên đới với Cộng đoàn Emmanuel, tôi luôn phục vụ truyền giáo. Tôi sẽ không làm được công việc này ở Var nhưng tôi đang thảo luận xem tôi sẽ được giao nhiệm vụ nào.

Cha nhìn thấy tương lai của Giáo hội Pháp như thế nào?

Tôi vẫn lạc quan dù việc phi kitô giáo đang diễn ra ở Pháp. Tôi cũng nhận thấy thể chế kitô giáo đang bị suy yếu với các vụ lạm dụng đã tạo thành một thời kỳ thanh lọc như thế nào. Các thế hệ mới đang đảm nhận căn tính kitô giáo, đức tin của mình và muốn trở thành chứng nhân cho Tin Mừng. Họ là nguồn hy vọng. Sự hiện diện của họ được thể hiện qua tình liên đới, qua việc bảo vệ di sản văn hóa và tôn giáo, bảo vệ môi trường hoặc truyền giáo trên mạng xã hội. Điều quan trọng là phải hỗ trợ những dự án này để đưa vào đời sống Giáo hội. Đó là một dự án lớn.

Giáo hội công giáo ngày nay còn thiếu điều gì?

Giáo hội thường thiếu người lãnh đạo, thiếu mục tử tiên tri. Chúng ta không thể đơn giản duy trì hệ thống hiện có, như thể các giáo xứ đang được chăm sóc giảm nhẹ hoặc bị thu gọn thành logic quản lý thuần túy. Giáo hội cần tìm một sức sống mới, trân trọng những kinh nghiệm biệt lập và khuyến khích các dự án, chịu chấp nhận rủi ro. Những sáng kiến không phải lúc nào cũng đến từ cái đầu.

Giáo Hội không có mọi giải pháp, sự phát triển bao gồm việc lắng nghe những mong đợi của thế giới, được Chúa Thánh Thần thực hiện. Câu hỏi về Thiên Chúa gắn liền với thân phận con người, tìm kiếm sự siêu việt, ý nghĩa và tình huynh đệ, điều này giải thích sự đổi mới của thời kỳ dự tòng. Giáo hội truyền lại sự khôn ngoan hàng thế kỷ cũng như niềm hy vọng của chúng ta là Chúa Kitô. Giáo Hội cũng phải biết tạo nhiệt thành cho giới trẻ, một thái độ giúp họ tự tin hơn trong sứ mạng.

Một sắp xếp quá tham vọng?

Việc bổ nhiệm Giám mục François Touvet tháng 11 năm 2023 làm giám mục phụ tá cùng với Giám mục Dominique Rey giúp giáo phận Fréjus-Toulon thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Với sự quản lý của hai giám mục, mỗi người có nhiệm vụ chính xác và được phân định rõ ràng, Rôma hy vọng sẽ làm được hai việc: xoa dịu một giáo phận bị lay động vì việc đình chỉ truyền chức năm 2022 và những rối loạn bị đưa ra sau chuyến thăm tông tòa đã làm cho Giám mục Rey, theo cách nói của chính ngài, thiếu phân định về các vấn đề phức tạp. Nhưng sự sắp xếp chưa từng có này, kéo dài cho đến khi ngài nghỉ hưu năm 2027, có lẽ là quá tham vọng. Cả hai đều nổi tiếng với tính khí mạnh mẽ. Và nếu mối quan hệ của họ “hòa bình” và thân mật thì bộ áo có lẽ đã quá chật đối với hai thân hình oai vệ này, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Marta An Nguyễn dịch

Một kiến nghị ở Ba Lan đề nghị bãi bỏ việc xưng tội cho trẻ vị thành niên

Một kiến nghị ở Ba Lan đề nghị bãi bỏ việc xưng tội cho trẻ vị thành niên

fr.aleteia.org, Pascal Deloche, 2025-01-16

Bài xã luận

Một kiến nghị đề nghị các linh mục không nên cử hành bí tích hòa giải cho trẻ vị thành niên được đệ trình lên Hạ viện Quốc hội Ba Lan tháng 10 năm 2024. Các nghị sĩ có ba tháng để bỏ phiếu cho yêu cầu này và bây giờ là lúc quyết định về đề xuất này.

Liệu bí tích hòa giải có đang bị đe dọa ở Ba Lan không?

Một bản kiến nghị của diễn viên kiêm nhà hoạt động RafałBetlejewski khởi xướng tháng 10 năm 2024 đề nghị không được giải tội cho các trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi, kiến nghị đã thu được hơn 13.000 chữ ký.

Bản kiến nghị cho rằng việc xưng tội “làm cho trẻ vị thành niên phải đối diện sớm với các khái niệm về thiện và ác.” Theo diễn viên Rafa, xưng tội là sự kiện đau thương được các ông, các linh mục thực hiện, họ là những người không được đào tạo đầy đủ về mặt tâm lý.

Năm 2023, một bản kiến nghị tương tự đã được đệ trình lên Quốc hội nhưng đã bị bác bỏ vì không đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết để được xem xét.

Mọi bí tích đều giúp con người tiến triển

Số người ký thấp nên khả năng kiến nghị được thông qua thấp. Nhưng cách làm này không tránh khỏi việc gây ra phản ứng và đặt câu hỏi về chính sự hiểu biết bí tích hòa giải. Từ năm 2014 đến năm 2024, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ba Lan, Tổng giám mục Stanisław Gądeck giáo phận Poznan cho rằng kiến nghị này hoàn toàn vô lý: “Thật khó hiểu khi xưng tội đã tồn tại trong văn hóa kitô giáo từ gần 2000 năm, bây giờ đột nhiên có đề xuất cấm trẻ em xưng tội. Điều cần thiết là phải cho các em xưng tội vì hình thành con người bắt đầu từ khi mới sinh ra chứ không bắt đầu ở tuổi 16 hay 18. Tất cả các bí tích đều giúp con người tiến triển.”

Giáo hội ban phép rửa tội để tha tội, ban bí tích hòa giải để tha thứ những lỗi lầm đã phạm với lòng mong muốn của người xưng. Bí tích hòa giải là một trong những kho báu của Giáo hội. Một chuyên gia của trang Aleteia giải thích: “Khi chúng ta thú nhận những điểm yếu và hành động xấu của mình, chúng ta phát triển về mặt tâm linh, chúng ta có tầm vóc của một giáo dân trưởng thành và hoàn thiện. Xưng tội không phải là hạ thấp mình nhưng là trường học của đức tính can đảm, nhận trách nhiệm các việc chúng ta làm, đồng thời củng cố đức tin chúng ta, tầm quan trọng của chúng ta dưới mắt Chúa.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Nữ tu Véronique Margron: “Bà Gisèle Pelicot tặng cho chúng ta lòng dũng cảm của bà”

Nữ tu Véronique Margron: “Bà Gisèle Pelicot tặng cho chúng ta lòng dũng cảm của bà”

la-croix.com, thần học gia Véronique Margron, Chủ tịch Hội đồng Tu sĩ Pháp (CORREF)

Nữ tu Véronique Margron nhìn lại vụ hiếp dâm Mazan khi Tòa tuyên bố thủ phạm Dominique Pelicot 20 năm tù. Tòa ca ngợi lòng dũng cảm của bà Gisèle Pelicot, liên kết với các nạn nhân dám lên tiếng và làm chứng cho nạn bạo lực tình dục Giáo hội công giáo Pháp phải gánh chịu.

Bà Gisèle Pelicot trước tòa án Avignon ngày 26 tháng 11. CHRISTOPHE SIMON / AFP

Phán quyết đưa ra ngày 19 tháng 12, tuyên bố Dominique Pelicot phạm tội “hiếp dâm vợ nghiêm trọng” trong nhiều năm, kết án ông 20 năm tù. Ông đã đánh thuốc mê vợ và để vợ bị những người đàn ông lạ ông đưa đến để cưỡng hiếp vợ ít nhất 200 lần và quay phim tội ác bẩn thỉu này. 51 người trong số là hàng xóm, nhân viên cứu hỏa, luật sư, công nhân, tài xế xe tải, nhà báo… Các ông “bình thường” này từ 26 đến 74 tuổi. Là một trong hai luật sư của bà Gisèle Pelicot đã nói: “Nếu tất cả đàn ông không phải là người đi hiếp dâm thì những kẻ hiếp dâm này có thể là bất kỳ ai.” Với sự bất hạnh tuyệt đối của bà, một mình bà đã làm nhiều việc nhất trong cuộc chiến chống hiếp dâm hơn tất cả các chính trị gia cộng lại.

Vụ hiếp dâm ở Mazan: “Định nghĩa pháp lý về hiếp dâm phải được làm rõ”

Là tín hữu công giáo, là thần học gia, da thịt của tôi dính đến vụ bê bối khủng khiếp – cũng như bạo lực tình dục trong Giáo hội Công giáo, tôi có thể nói gì đây? Trước hết là ảo tưởng: những kẻ hiếp dâm có thể là bất kỳ người đàn ông nào có đời sống xã hội hoàn toàn bình thường. Chúng tôi muốn họ trở thành những con quái vật dễ nhận biết hoặc người bị bệnh nặng. Nhưng không: họ là những người đàn ông dường như bình thường, đã cưỡng chiếm cơ thể của một phụ nữ trơ trọi, khách quan.

Vụ hiếp dâm ở Mazan: “Có phải tất cả đàn ông đều có tiềm năng là kẻ hiếp dâm không?

Như một bị cáo cho biết, người chồng có thể làm bất cứ điều gì ông muốn với vợ “của ông”. Tôi tin đây là điểm trọng tâm: trước vấn đề tính dục, trước vấn đề quyền lực. Như trong bạo lực tình dục trong Giáo hội Công giáo, hay trong các trường hợp loạn luân, đó là quyền lực, đó là ảo tưởng mình toàn năng, biến người khác thành đối tượng của mình. Ham muốn thống trị mà tình dục là công cụ.

Bạo lực tương tự trong Giáo hội

Chúng ta có thể hiểu theo lời của nhà xã hội học người Đức Jan Philipp Reemtsma trong quyển Đức tin và Bạo lực về cái mà tác giả gọi là bạo lực “hung hăng”: bạo lực này muốn chiếm hữu cơ thể người khác, xem cơ thể này như con búp bê giẻ rách. Đó là điều ông Dominique Pelicot đã làm với vợ ông, giống như các đồng phạm của ông. Bạo lực tàn bạo tương tự này đang diễn ra trong nhiều tội ác tình dục do các thành viên của Giáo hội Công giáo phạm với trẻ em hoặc người lớn dễ bị tổn thương. Động cơ của các cuộc tấn công và hãm hiếp “người quen” là thống trị và kiểm soát. Tôi e rằng Giáo hội của tôi, cũng như xã hội, vẫn chưa nắm bắt được điều này, nguyên nhân và tác động của nó.

Phiên tòa xét xử vụ hiếp dâm ở Mazan: các ông bình thường

Yếu tố thứ hai khiến tôi khó chịu là điều mà triết gia Marc Crépon gọi là “đồng ý giết người thụ động”, lấy cảm hứng từ công thức của văn hào Albert Camus “đồng ý giết người” hay cách để nó xảy ra, chấp nhận bạo lực xảy ra trước cửa nhà mình mỗi ngày. Tất cả đồng phạm, những người thực hiện hành vi sai trái của chính họ, đều để Dominique Pelicot làm việc này và không một ai đi tố cáo ông.

“Sự đồng ý giết người thụ động”

 Nhưng toàn bộ môi trường chung quanh cũng tham gia. Dường như không ai lo lắng về tình trạng sức khỏe của bà Pelicot, cơn đau phụ khoa hay bất kỳ triệu chứng nào khác. “Sự đồng ý giết người thụ động” này là câu hỏi dành cho mỗi chúng ta với những người thân yêu, hàng xóm, đồng nghiệp về mặt tình cảm. Chắc chắn bạo lực xảy ra trong Giáo hội Công giáo là như vậy; hầu hết những kẻ tấn công đều được cấp trên, người thân và cộng đồng họ thuộc về bảo vệ, những người này không bị trừng phạt.

Phiên tòa xét xử vụ hiếp dâm ở Mazan: Tất cả cùng kết hợp

“Sự đồng ý giết người thụ động” này không phân biệt người có tội và người vô tội, nhưng phản ánh một chiều kích cấu thành việc chúng ta thuộc về thế giới. Chúng ta sống với bạo lực làm  chúng ta phẫn nộ, nhưng chúng ta không làm gì để chống lại nó. Triết gia Marc Crépon mô tả nhiều cấp độ: thờ ơ, lương tâm cắn rứt, thụ động, khuyến khích, tham gia. Tác giả không quên tầm quan trọng của ngôn ngữ vì sự tầm thường hóa và uyển ngữ hóa đã hợp pháp hóa bạo lực và góp phần vào sự đồng thuận này. Báo cáo Ciase tiết lộ cũng đề cập đến nó.

 Trách nhiệm của việc cứu các nạn nhân

 Triết gia Crépon đặt câu hỏi: “Làm thế nào chúng ta có thể suy nghĩ và sống trong cộng đồng với nguyên tắc đạo đức thiết yếu, rằng mối quan hệ dựa trên trách nhiệm chăm sóc, hỗ trợ và quan tâm mà sự dễ bị tổn thương và tử vong của người khác đòi hỏi ở mọi người, mọi nơi phải đảm nhận trách nhiệm của mình. Chúng ta không thể xem mối quan hệ của mình với người khác ngoài nền tảng trách nhiệm này. Chúng ta có thể run rẩy hy vọng các cộng đồng kitô giáo, nói chung là các nơi thờ phượng phải là những nơi đầu tiên mà nghĩa vụ đạo đức này mang lại  hiệu quả, sau không biết bao nhiêu tai họa, tan nát sinh mạng, chết chóc.

Cuối cùng, làm sao chúng ta có thể không nhận ra với tất cả lòng dũng cảm bà Gisèle Pelicot đã chịu ở mức độ khủng khiếp của các tội ác và tác động của những tội ác này. Cũng như chúng ta không nhận ra lòng dũng cảm nổi bật không kém của các nạn nhân bạo lực tình dục trong Giáo hội Công giáo và những nơi khác.

Sự dũng cảm của các nạn nhân

Như triết gia Vladimir Jankélévitch nói, người dũng cảm là người bắt đầu lại. Đây chính xác là những gì bà Pelicot đã làm khi bà nạp đơn khiếu nại và từ chối xử kín. Đây là điều mà mỗi nạn nhân trở thành nhân chứng, họ sẽ làm dù nói hay không nói, họ chiến đấu từng ngày để sống sót và để nó cuộc đời trôi đi. Lòng can đảm đó phải trả giá đắt, không bao giờ tự nhiên mà có. Mỗi lần là mỗi bắt đầu. Đây chính xác là những gì người phụ nữ này làm, mỗi nạn nhân đều được biết đến hoặc không được nhìn thấy ngay cả trong sự thân mật và bí mật về sự tồn tại đầy vết bầm tím và đứng vững của họ. Cần có can đảm để nói, không phải “tôi, tôi”, mà là “tôi cũng vậy”, tôi cũng vậy, me too.

Đây là ngày khai trương, ngày dân tộc này đang được hình thành. Hơn cả sức mạnh ý chí, đó là sự chính trực: không chối bỏ bản thân, nhưng mang theo những gì chúng ta tin tưởng, không phải không sợ hãi, không phải không có giông bão trên biển cả. Sự sợ hãi và lòng dũng cảm luôn đi đôi với nhau, các nạn nhân dạy chúng ta mỗi ngày. Tôi tin từ tận đáy lòng tôi, mỗi người chúng tôi, những người có trách nhiệm trong Giáo hội cũng như trong xã hội chúng ta, chúng ta phải học hỏi can đảm của các ông, các bà này. Bà Gisèle Pelicot, mọi nạn nhân đứng lên như bà đã đứng lên, mang lại cho chúng ta can đảm, trí thông minh của trái tim giúp chúng ta bám neo vào hiện tại để hành động cho một tương lai khác. Một lòng dũng cảm bình thường, ngày qua ngày không biết sẽ thành công hay không, nhưng lại bắt đầu lại.

Những ghê tởm bà Pelicot phải chịu đựng, nỗi đau của nạn nhân  bạo lực tình dục là không thể khắc phục được. Nhưng nếu chúng ta sẵn sàng đặt câu hỏi cho bản thân thì có lẽ trách nhiệm chăm sóc là nền tảng của các mối quan hệ xã hội và mọi mối quan hệ cuối cùng sẽ trở nên cấp thiết với chúng ta.

Marta An Nguyễn dịch

Nữ nghệ sĩ Trung Quốc Weng Yirui trở lại đạo công giáo nhờ tác phẩm Gloria của Vivaldi

Nữ nghệ sĩ Trung Quốc Weng Yirui trở lại đạo công giáo nhờ tác phẩm Gloria của Vivaldi

Nữ nghệ sĩ Weng Yirui © Weng Yirui Linkdin

fr.aleteia.org, Anna Ashkova, 2025-01-15

Nghệ sĩ dương cầm tài ba Weng Yirui, 31 tuổi, lớn lên trong một gia đình cộng sản vô thần ở Trung Quốc. Qua âm nhạc, cô tìm được Chúa đặc biệt qua bài Gloria của nhạc sĩ Vivaldi.

Cô học piano từ khi còn nhỏ, nhưng cô chưa bao giờ nghĩ cô sẽ gặp Chúa qua âm nhạc. Lớn lên trong gia đình vô thần ở Trung Quốc, cô thường đặt cho mình các câu hỏi hiện sinh, nhưng cha mẹ khuyên cô nên tin vào bản thân và làm việc chăm chỉ. Mẹ là giáo sư vật lý trung học, cha là giáo sư tâm lý học, họ có một triết lý sống duy nhất: vị lợi. Cô chia sẻ trên tạp chí Ý Tempi số tháng 1 năm 2025: “Cha mẹ tôi không tin vào bất cứ gì.”

Cô không diễn tả được bằng lời, ở Trung Quốc, không có nhiều tự do giữa cha mẹ và con cái, còn nhỏ Yirui học nói qua âm nhạc với các bài học piano. Giáo sư chỉ tập trung vào kỹ thuật, nhưng cô tin chắc có điều gì đó hơn thế nữa trong loại nhạc này, dù cô không hiểu đó là gì, cô nói: “Nhưng hôm nay tôi biết nếu không có Chúa, những giai điệu này sẽ không bao giờ tồn tại. Chúng tồn tại, nhưng ở Trung Quốc, chủ đề này không được phép thảo luận.”

Agnus Dei, Con Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian

Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hàng Châu, cô dạy hát và piano. Vì yêu âm nhạc, cô đến Ý năm 2016 để tiếp tục học và thành người đệm đàn cho dàn hợp xướng. Lúc đó cô 22 tuổi, lần đầu tiên cô đến một nhà thờ công giáo: “Một trong những nơi đầu tiên giáo sư Ý đưa chúng tôi đi thăm là Duomo, vương cung thánh đường Milan. Tôi không nói nên lời: Tôi chưa bao giờ thấy một cái gì đẹp đến như vậy, tôi tự hỏi vì sao một tòa nhà tráng lệ như vậy lại được xây.”

Khi rảnh rỗi, cô đi thăm những nhà thờ khác ở các thành phố Ý: “Tôi ngạc nhiên vì sự thinh lặng. Tôi thấy giáo dân đứng hoặc ngồi trên băng ghế, họ không nói gì. Tôi không biết họ đang làm gì. Sau đó, tôi thấy mọi người đều nhìn vào cây thánh giá, tôi không hiểu tại sao.” Những câu hỏi này âm ỉ cháy trong cô như than hồng dưới đống tro tàn, năm 2018 những câu hỏi này bùng cháy khi cô học thánh ca năm thứ hai tại Nhạc viện Milan. Cô nghiên cứu tác phẩm Gloria của Vivaldi, thắc mắc về ý nghĩa câu “Agnus Dei, Filius Patri” (Chiên Thiên Chúa, Con của Chúa Cha). Tác phẩm này đã khơi dậy trong cô một loạt câu hỏi hiện sinh về Chúa và cái chết của Chúa Giêsu. Sau đó cô nghe giáo sư nói về Chúa Giêsu. Cô mê thánh ca nhưng chưa hiểu hết chiều sâu thiêng liêng của các bài này, cô bắt đầu được ánh sáng kitô giáo soi sáng hướng dẫn.

“Việc gặp Chúa thực đã thay đổi cuộc đời tôi, vì bây giờ tôi không còn sợ bất cứ điều gì nữa”.

Nhưng chính cuộc gặp với Cha Francesco Zhao, người đứng đầu cộng đồng Công giáo Trung Quốc tại Milan đã thực sự thay đổi cuộc đời cô năm 2020: “Chưa bao giờ linh mục tìm cách hoán cải tôi. Lúc đầu tôi cũng không muốn trở lại. Tôi thấy được nét đẹp của cầu nguyện qua linh mục và bắt đầu đi học giáo lý. Thật khó để hiểu vì sao Chúa Giêsu dạy tha thứ, vì ở Trung Quốc tôi không được học tha thứ. Tôi nghĩ: “Nếu ai làm tổn thương tôi, vì sao tôi phải tha thứ cho họ? Nếu là tôi, tôi sẽ không tha thứ. Làm sao tôi có thể tha thứ cho họ được? Tôi có thể tha thứ cho chính tôi không? Cha mẹ tôi dạy tôi cách phải tự bảo vệ, không nên quá tốt vì mọi người lợi dụng người tốt. Nhưng Giáo hội lại xem những người tha thứ là những người mạnh mẽ và can đảm.”

Một hôm, trước buổi hòa nhạc, cô cố gắng cầu nguyện, cô đọc kinh Kính Mừng, cô xin Đức Mẹ bảo vệ cô trong buổi hòa nhạc, cô tâm sự: “Tôi ngạc nhiên khi thấy tôi trình diễn suôn sẻ không mắc lỗi nào. Từ ngày đó, tôi thường xuyên cầu nguyện.”

Hy vọng các bạn trẻ Trung Quốc lấy lại được niềm tin

Ngày 8 tháng 4 năm 2023, cô được rửa tội tại Milan, tên thánh của cô là Eleanor. Từ đó Yirui cầu nguyện thường xuyên và đức tin thành rường cột trong cuộc sống cá nhân và nghề nghiệp của cô. Cô nghiên cứu tình trạng các bạn trẻ Trung Quốc, đức tin của họ bị đàn áp, cô hy vọng một ngày nào đó, họ sẽ khám phá sự thật vượt ra ngoài phạm vi vật chất, các giá trị do chế độ áp đặt. Cô nói: “Tôi cầu nguyện cho các bạn trẻ nhìn thấy và đi theo sự thật, chứ không đi theo xã hội.”

Khi về Trung Quốc, cô đến nhà thờ ở Hàng Châu, nhà thờ thường xuyên đóng cửa, chỉ mở lúc 6 giờ sáng cho thánh lễ trong tuần và một số lễ ngày chúa nhật. Cô chia sẻ đức tin với cha mẹ, cô nói: “Cha mẹ thấy tôi vui như vậy, họ ủng hộ tôi như họ đã ủng hộ tôi qua âm nhạc. Tôi vui mừng thấy cha mẹ tôi quan tâm đến Công giáo. Cha tôi bắt đầu làm dấu thánh giá.” Nhưng mọi thứ cần có thời gian, cô cho biết: “Cha mẹ tôi vẫn còn dạy ở trường công, vì thế không nên nói nhiều về tôn giáo, đặc biệt là qua điện thoại, vì họ có thể bị nghe lén.”

Cô háo hức kể vẻ đẹp tráng lệ của Nhà thờ ở Milan cho cha mẹ trong chuyến đi Ý của họ, cô kết luận: “Gặp Chúa đã thay đổi cuộc đời tôi, vì bây giờ tôi không còn sợ bất cứ điều gì nữa.”

Marta An Nguyễn dịch

Các tân hồng y nhận nhiệm vụ trong Giáo triều La Mã

Các tân hồng y nhận nhiệm vụ trong Giáo triều La Mã

Các tân hồng y được bổ nhiệm năm 2024 sẽ làm việc ở các Bộ khác nhau trong Giáo triều.

cath.ch, I.Media, 2025-01-13

Ngày 11 tháng 1 năm 2025, Vatican công bố 20 tân hồng y dưới 80 tuổi được phong trong Công nghị ngày 7 tháng 12 năm 2024 đã nhận sứ vụ ở Giáo triều Rôma.

Bộ Giáo lý Đức tin có thêm bốn tân hồng y: Hồng y Pablo David (Phi Luật Tân), Hồng y Ignace Bessi Dogbo (Bờ Biển Ngà), Hồng y Roberto Repole (Ý) và Jaime Spengler (Brazil). Hồng y Spengler còn đảm nhận nhiệm vụ ở Bộ Phụng tự, ngài là người duy nhất đảm nhiệm hai chức vụ.

Thánh bộ Truyền giáo đón nhận Hồng y Vicente Bokalic Iglic (Argentina) trong Ủy ban Các vấn đề cơ bản về Truyền giáo trên thế giới và Hồng y Domenico Battaglia (Ý) trong Ủy ban Truyền giáo đầu tiên và các Giáo hội địa phương mới.

Các Giáo Hội Đông Phương

Bộ các Giáo hội Đông phương có Hồng y George Jacob Koovakad (Ấn Độ) lo các chuyến tông du. Hồng y Bỉ Dominique Mathieu, Tổng Giám mục Tehran-Isfahan của Cộng đồng Latinh (Iran) đảm nhiệm trách vụ ở Bộ Phong thánh. Hồng y Rolandas Makrickas, Phó tế của đền thờ Đức Bà Cả vào Bộ Giám mục.

Hồng y Baldassare Reina, đại diện giáo phận Rôma, vào Bộ Giáo sĩ. Hồng y Luis Gerardo Cabrera Herrera (Ecuador) vào Bộ Đời sống Thánh hiến và Đời sống Tông đồ.

Hồng y Fabio Baggio, phó thư ký bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện hỗ trợ Palazzo San Callisto ở quận Trastevere của Rôma.

Theo phạm vi chuyên môn của mình, Hồng y Ladislav Nemet, Tổng giám mục Belgrade ở Serbia, xuất thân từ một quốc gia Chính thống giáo gia nhập Bộ Thúc đẩy sự Hiệp nhất Kitô giáo, và Hồng y Jean-Paul Vesco, Tổng giám mục Algiers, quốc gia chủ yếu theo đạo Hồi, tham gia Bộ Đối thoại Liên tôn.

Hồng y người Ukraina Mykola Bychok của Úc, thành viên trẻ nhất của Hồng y đoàn gia nhập Bộ Văn hóa và Giáo dục. Hồng y Carlos Gustavo Castillo Mattasoglio (Peru) vào bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện.

Hồng y Canada Frank Leo được bổ nhiệm vào Bộ Văn bản Lập pháp, Hồng y Tarcisio Isao Kikuchi (Nhật Bản) được bổ nhiệm vào Bộ Truyền thông và Hồng y Fernando Chomali (Chi-lê) được bổ nhiệm vào Ủy ban Giáo hoàng về Châu Mỹ Latinh.

Đại diện của các Giáo hội địa phương trong Giáo triều

Theo nguyên tắc, các bổ nhiệm này có hiệu lực trong năm năm. Các Hồng y của các Bộ không phải là những cộng tác viên hàng ngày, nhưng thông qua một số cuộc họp, đặc biệt là trong các phiên họp toàn thể, họ đại diện cho các Giáo hội địa phương trong các cơ quan của Vatican.

Ngoài các tân hồng y, ngày 11 tháng 1 năm 2025, Đức Phanxicô bổ nhiệm bốn thành viên mới vào Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích: Đức ông Diego Ravelli, Trưởng ban Nghi lễ Phụng vụ Giáo hoàng, và ba nhân vật người Mỹ: Dom Jeremy Driscoll, Viện phụ của Tu viện Biển Đức Núi Angel ở Oregon, Mary Healy, giáo sư tại Đại Chủng viện Thánh Tâm ở Detroit, và Donna Lynn Orsuto, giáo sư thần học tại Gregorian và giám đốc Trung tâm Giáo dân tại Foyer Unitas ở Rôma.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất