Lễ phong chức của Hội Thánh Thánh Piô X SSPX: như Đức Gioan-Phaolô II, Đức Lêô chống lại những người theo phái Lefebvrist

33

Lễ phong chức của Hội Thánh Thánh Piô X SSPX: như Đức Gioan-Phaolô II, Đức Lêô chống lại những người theo phái Lefebvrist

la-croix.com, Mikael Corre , 2026-07-02

Đức Lêô trong thánh lễ ngày 29 tháng 6 tại Vatican. Isabella Bonotto / Anadolu – AFP

Bất chấp lời kêu gọi cá nhân của Giáo hoàng về việc “trở lại con đường cũ”, ngày thứ tư 1 tháng 7, tại Écône, Thụy Sĩ, Hội Thánh Thánh Piô X (SSPX) đã phong chức cho bốn giám mục nhưng không có ủy quyền của Giáo hoàng. Sự ly khai này đã đưa Đức Lêô trở lại con đường của Đức Gioan-Phaolô II, khác với thái độ cởi mở của Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô.

Nhưng không vì vậy mà ngăn cản các lễ tấn phong. Ngày thứ tư 1 tháng 7, tại Écône, Thụy Sĩ, Hội Thánh Pius X đã phong bốn giám mục, không có ủy quyền của Giáo hoàng, bất chấp lời kêu gọi cuối cùng của Đức Lêô. Ngày 29 tháng 6 trong thư gởi bề trên Davide Pagliarani của SSPX, Đức Lêô viết: “Xin quý vị trở lại con đường của quý vị!” Đức Lêô không chọn ngôn từ lạnh lùng của một sắc lệnh. Ngài thừa nhận sự gắn bó của phong trào với phụng vụ, việc đào tạo linh mục và lòng nhiệt thành tông đồ, với lòng thương xót của người cha ngài xin họ từ bỏ hành động ly giáo đã lên kế hoạch.

Giọng điệu nhắc lại giọng điệu của Đức Phaolô VI. Năm 1976, sau khi đình chỉ chức vụ “a divinis” của Marcel Lefebvre, người sáng lập SSPX – một hình phạt cấm ông thực hiện chức vụ của mình – Đức Phaolô VI vẫn gọi ông là “người anh em đáng kính”. Nhưng ngài xác định trọng tâm cuộc tranh luận, vượt xa việc cải cách Thánh lễ đơn thuần: “Quý vị đã không tuân phục thẩm quyền của Công đồng Vatican II và Tòa Thánh – điều này đã thành mấu chốt của vấn đề.”

Cơ sở kỷ luật và giáo lý

Đức Lêô đặt hai cơ sở kỷ luật và giáo lý vào trung tâm của chuỗi sự kiện dẫn đến cuộc ly giáo năm 2026. Về kỷ luật: việc phong giám mục không được Giáo hoàng ủy quyền, theo quan điểm của ngài, là hành vi bất tuân nghiêm trọng. Về giáo lý: hành động đó tương đương với việc thách thức khả năng của ngài, và của các giám mục hiệp thông với ngài, trong việc giải thích truyền thống.

Sự nhấn mạnh kép này thể hiện rõ ngay từ khi các lễ tấn phong được công bố vào tháng 2. Người được đặt lên hàng đầu không phải là Hồng y Arthur Roche, phụ trách phụng vụ tại Vatican, nhưng là Hồng y Victor Manuel Fernandez, Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin. Với sự chấp thuận của Đức Lêô, ngày 12 tháng 2, Hồng y Fernandez đã tiếp  bề trên Davide Pagliarani của SSPX, đề xuất cuộc đối thoại về việc tuân thủ các văn bản của Công đồng Vatican II, với điều kiện là đình chỉ các lễ tấn phong. Hội dòng đã từ chối. Ngày 13 tháng 5, Hồng y Fernandez nhắc lại cụm từ Đức Gioan-Phaolô II đã dùng: “Hành động ly giáo”.

Năm 1988, sau khi các cuộc đối thoại được tiến hành “đến giới hạn cuối cùng của khả năng” thất bại, Đức Gioan-Phaolô II đã xem các lễ tấn phong của Marcel Lefebvre là sự bác bỏ cụ thể quyền tối cao của Rôma. Tuy nhiên, ngài phân biệt giữa những người chịu trách nhiệm của sự chia rẽ và các tín hữu gắn bó với phụng vụ cũ, họ là những người ngài mở ra con đường hiệp thông. Logic tương tự cũng được áp dụng dưới thời Đức Lêô XIV: ranh giới đỏ không phải là Thánh lễ theo nghi thức cũ, nhưng là việc thiết lập sự kế vị giám mục tự trị. Hội dòng SSPX có thể thảo luận về những diễn biến hậu Công đồng với Rôma, nhưng không thể biến cuộc thảo luận này thành điều kiện tiên quyết cho sự phục tùng của họ.

Đây chính là điều phân biệt giữa Đức Lêô với Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô. Đức Bênêđíctô XVI hy vọng vào chính sách hòa giải: mở rộng việc dùng sách lễ năm 1962 (nghi thức cũ) năm 2007. Năm 2009, dỡ bỏ án phạt tuyệt thông với bốn giám mục được phong năm 1988. Ngài hy vọng cách giải thích của ngài về Công đồng Vatican II như một cải cách “tiếp nối” sẽ giúp hòa giải và giải quyết tranh chấp. Ngài đã không thành công.

Đức Phanxicô mở rộng chính sách hòa giải này bằng cách trao cho các linh mục SSPX quyền giải tội và, trong một số điều kiện nhất định, cử hành hôn lễ. Đồng thời, ngài hạn chế nghi thức cũ trong các cộng đồng hiệp thông với Rôma: trong thông điệp Cử hành thánh lễ theo phụng vụ tiền Công đồng Traditionis custodes, ngài lập luận các nhượng bộ được thực hiện kể từ năm 1988 đã làm gia tăng thách thức đối với Công đồng Vatican II. Trước những người theo phái Lefebvre, Đức Lêô XIV không áp dụng cả những cử chỉ lớn lao của Đức Bênêđíctô XVI lẫn sự linh hoạt mục vụ của Đức Phanxicô. Trong thư ngày 29 tháng 6, ngài gợi ý các nhượng bộ của Giáo hoàng tiền nhiệm không thể tồn tại sau các cuộc tấn phong ngày 1 tháng 7.

Báo cáo của ngài gởi Công đồng đã làm rõ hơn cách tiếp cận của ngài. Từ tháng 1, ngài đã công khai xem xét các văn bản trong các buổi tiếp kiến thứ tư hàng tuần. Vào mùa xuân, ngài nhắc lại đường lối được Sacrosanctum Concilium – hiến pháp của Công đồng về phụng vụ đặt ra: bảo tồn “truyền thống lành mạnh và cho phép tiến bộ chính đáng”. Theo ngài, Công đồng không phải là một vết thương, một tranh luận về cách giải thích cần được mở lại, hay một thỏa hiệp cần được đàm phán dưới áp lực: đó là khuôn khổ mà trong đó Giáo hội phải tiếp tục tiến về phía trước. Ngày 16 tháng 6, tại Castel Gandolfo, lần đầu tiên phát biểu về những người theo phái Lefebvre, Đức Lêô thẳng thắn nói: “Quý vị bác bỏ một số yếu tố cơ bản của Giáo hội, bắt đầu từ một số điểm của Công đồng Vatican II. (…) Tôi rất tiếc, nhưng chúng ta phải tiến về phía trước.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Lêô, xin ngài đến Thung lũng Silicon!

Nỗi đau của sự rạn nứt

Lễ phong chức của Hội Thánh Thánh Piô X SSPX: như Đức Gioan-Phaolô II, Đức Lêô chống lại những người theo phái Lefebvrist