Ông Andrea Riccardi, sáng lập Cộng đoàn Sant’Egidio: “Chúng ta đã không thể xây dựng một nền hòa bình lâu dài, chúng ta đã thua!”

47

Ông Andrea Riccardi, sáng lập Cộng đoàn Sant’Egidio: “Chúng ta đã không thể xây dựng một nền hòa bình lâu dài, chúng ta đã thua!”

 Phỏng vấn độc quyền ông Andrea Riccardi, sáng lập Cộng đoàn Sant’Egidio: “Chúng ta đã không thể xây dựng một nền hòa bình lâu dài, chúng ta đã thua!” Ông Andrea Riccardi, người sáng lập Cộng đồng Sant’Egidio là một trong những chuyên gia tầm vóc nhất về địa chính trị quốc tế, và là một trong những người ủng hộ triệt để Đức Phanxicô về vấn đề này và các vấn đề khác.

religiondigital.org, Jesús Bastante, 2022-04-05

Trùng hợp với việc xuất bản ‘Giáo hội cháy’ (La Iglesia Arde, nxb Arpa), chúng tôi đã nói chuyện với ông Riccardi về cuộc chiến ở Ukraine, những xung đột giữa các Giáo hội và sự suy tàn của Giáo hội ở phần lớn các nước châu Âu. “Có một nỗi đau lớn trong tôi. Cho những người đau khổ, cho những người chạy trốn, cho nhiều người nghèo trên đất nước … nhưng cũng cho một nền hòa bình bị phí phạm.”

“Kitô giáo thay vì quản lý di sản của quá khứ, phải nhìn về tương lai”

Ông nói: “Ngày nay thế giới ít tín hữu kitô hơn, nhưng cũng ít người bài-kitô hơn” nhưng ông tự hỏi: “Thế giới sẽ mất gì nếu không có Giáo hội?” Câu trả lời không khích lệ mấy: “Ngày nay, chúng ta nhận ra nhiệt tình đã thành hiếm. Cơn khủng hoảng dường như dứt khoát. Trong suốt lịch sử, Giáo hội đã trải qua nhiều thời khó khăn, một phần do các cuộc tấn công từ bên ngoài: cuộc đàn áp cuối cùng là của cộng sản. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng hôm nay là từ nội bộ.”

“Giáo hội duy nhất chiếu sáng là giáo hội bùng cháy”

Sự kiên định của giáo hoàng và sự phản kháng

Ông Riccardi ngạc nhiên thấy nước Tây Ban Nha, “lần đầu tiên trong lịch sử, số người vô thần vượt hơn số người công giáo giữ đạo ở Tây Ban Nha”, đặt việc ấu dâm như tấm nền để hiểu được cuộc khủng hoảng. Giáo hoàng này có làm được gì không? Ông Riccardi nghĩ: “Chúng ta  mang ơn giáo hoàng Bergoglio rất nhiều, mặc dù một số nhà quan sát nhấn mạnh đến sự lâu dài của hiện tượng lạm dụng hoặc bê bối tài chánh của Vatican.” Nhưng cẩn thận: “Vì sự kiên định của ngài với những vấn đề này gặp phản kháng. Liệu ngài có thành công? Một Giáo hội không tự bào chữa cho mình, nhưng biết xin tha thứ và đồng thời tự đề xuất mình như nơi chốn tuyệt vời cho việc nhân bản hóa xã hội.”

Về tương lai, ông Riccardi cho rằng “trong thế giới ngày nay, Giáo hội phải tự suy nghĩ lại một cách sâu sắc. Tôi không chắc đó là về việc cải tổ khía cạnh này hay khía cạnh kia của tổ chức. Có lẽ cần phải khám phá lại “tâm hồn” của đời sống mình” và bảo vệ rằng “Giáo hội của giáo hoàng Phanxicô không chỉ là của những công trình kiến trúc (thừa nhận rõ ràng giá trị của các thể chế): đó là một “dân tộc” tỏa rộng ra trên nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là một dân tộc ngài hướng dẫn, đồng hành và theo dõi”.

Về các cuộc tranh luận khác như vai trò của phụ nữ trong Giáo hội, ông nhắc lại, một sự thay đổi về nhân chủng học đòi hỏi một phong cách mới, tích hợp hơn, bình đẳng và có tính thượng hội đồng”, bình tĩnh trước nguy cơ ly giáo trong Giáo hội, ông cảnh báo: “Giáo hội công giáo là đối tượng của sự phân cực mạnh mẽ. Đây là nơi mà khả năng giữ cho các mặt đối lập thống nhất đang bị đe dọa.

Chúng ta sống trong một giai đoạn đặc biệt khó khăn. Đầu tiên, với coronavirus. Và bây giờ là với chiến tranh ở Ukraine. Ông sống thế giới ngày nay như thế nào?

Ông Andrea Riccardi: Cuộc khủng hoảng là vô cùng lớn. Hàng đoàn người Ukraine rời khỏi vùng chiến tranh. Họ ẩn náu ở Lviv và Galicia, nơi các sứ quán được bảo vệ. Vùng này gần như là hậu phương an toàn, dù thực tế phi trường đã bị người Nga làm vô hiệu hóa. Nhiều người đã vượt biên giới sau nhiều ngày chờ đợi: nhiều nhất là đến Ba Lan, rồi đến các nước Slovakia, Hungary, Romania… Một làn sóng lớn người tị nạn sẽ tiếp tục đến. Dự trù con số người ra đi sẽ lên đến 6 triệu người.

Có một nỗi đau rất lớn trong tôi. Trước hết cho những người đau khổ, cho những người chạy trốn, cho những người đã ngã xuống, cho những người trẻ đang gặp nguy cơ. Những người cư trú trong Cộng đoàn Sant’Egidio ở Ukraine đa số là người nghèo. Nhưng cũng có một hòa bình bị lãng phí. Sau khi bức tường Bá Linh sập đổ năm 1989, có vẻ như một thời kỳ hòa bình vĩ đại sẽ đến thế chỗ  Chiến tranh Lạnh. Một thế kỷ hòa bình được cho là sẽ xuất hiện, ít nhất là ở châu Âu, nơi mà một phần quan trọng của Thế chiến thứ hai đã diễn ra. Nhưng trên các đồng bằng Ba Lan, Belarus và Ukraina, nhiều người do thái đã bị tiêu diệt; nhiều thường dân vô tội chết vì đói và bạo lực.

Nỗi kinh hoàng ở Bucha /The Guardian

“Chúng ta đã không thể xây dựng một nền hòa bình lâu dài. Một lần nữa, chiến tranh tái đánh giá nó là công cụ để giải quyết xung đột (…) Ở châu Âu, chủ nghĩa dân tộc đã lan rộng, mỗi quốc gia có những đặc điểm khác nhau, nhưng điều này luôn làm cho mọi người cảm thấy người kia là kẻ chiếm đoạt và mình là nạn nhân. Mỗi người đều cố gắng tìm lợi ích riêng của mình chứ không tìm hòa bình cho tất cả. Và chúng ta đã thua cuộc!”

Người kitô giáo chúng ta làm gì để ngăn chặn chiến tranh? Có nguy cơ thực sự của một Thế chiến thứ ba không?

Sau hơn nửa thế kỷ của chủ nghĩa đại kết, các tín hữu kitô ở Ukraine nhưng cũng ở khắp nơi – bị chia rẽ, và cuối cùng là không còn liên hệ với nhau. Kể từ sau Thế chiến thứ nhất, các cha đẻ của chủ nghĩa đại kết đã tự hỏi sự phân chia của các tín hữu kitô ủng hộ chiến tranh ở mức độ nào, và nó đã loại đi động lực cho sự thống nhất. Thượng phụ Athenagoras của tòa thượng phụ Constantinople, người lớn lên tại ngã tư đẫm máu Balkan vào đầu thế kỷ, nói: “Các Giáo hội anh em, các dân tộc anh em”. Tuy nhiên, một chủ nghĩa cộng sản chỉ bao gồm các đại hội giữa các chuyên gia, hoặc trao đổi xã giao giữa các giáo hội, đã cho thấy bản thân họ không nhận thức được vấn đề hòa bình và đã tự để mình bị lừa bởi chủ nghĩa dân tộc. Ngày nay, chúng ta thấy một cuộc chiến giằng xé giữa các dân tộc, cả hai đều sinh ra từ giếng rửa tội Dniepr, Kyiv. Sau bao nhiêu chia rẽ giáo hội, chiến tranh giữa anh em đã đến. Chiến tranh luôn là huynh đệ tương tàn, nhưng cuộc chiến này thậm chí còn hơn thế nữa. Không một Giáo hội ở Âu châu nào có thể nói họ không chịu trách nhiệm về hòa bình. Nhiều năm chiến tranh bị lãng quên đã tạo ra cái mà Đức Phanxicô gọi là “toàn cầu hóa của sự dửng dưng.” Sự thức tỉnh cay đắng của cuộc chiến này có thể và nên nhận ra, tất cả chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau.

Đêm Nhà thờ Đức Bà Paris cháy

Ông đưa ra một bối cảnh song song giữa tình trạng Giáo hội và vụ Nhà thờ Đức Bà bị cháy. Giáo hội bị cháy ở mức độ nào ở châu Âu?

Trong đêm 15-16 tháng 4 năm 2019, Nhà thờ Đức Bà Paris bị cháy, gây thiệt hại nghiêm trọng. Thế giới trực tiếp nhìn ngọn lửa bốc cháy rừng rực: cả hàng triệu người trên thế giới xem. Nhà thờ Đức Bà có cấu trúc chắc chắn như con voi ma-mút, cho chúng ta cảm tưởng trường cửu. Mọi người đau đớn nhìn và cảm thấy bất lực. Trong nỗi sợ hãi nhà thờ sẽ bị tiêu hủy, một liên hệ tình cảm với di tích được thấy rõ, ở cả những người không giữ đạo hoặc thờ ơ với Giáo hội. Hình ảnh nhà thờ chính tòa Đức Bà bốc cháy trở thành biểu tượng: Nhà thờ Đức Bà cháy và đạo Thiên chúa tắt. Người công giáo cảm nhận cảm giác này, họ lo lắng cho các vụ bê bối, tình trạng thiếu giáo sĩ, tình trạng nhà thờ đóng cửa. Rất nhiều người quan tâm, kể cả những người ngoài công giáo. Bức tường giữa thế tục và giới công giáo đã không còn. Ngày nay thế giới ít kitô giáo hơn nhưng cũng ít bài-kitô hơn. Thế giới sẽ mất gì nếu không có Giáo hội? Câu hỏi vẫn còn sau cuộc khủng hoảng Covid 19. Fourquet, tác giả của một phân tích về tình trạng kitô giáo, cảnh báo có “một loại vô thức tâm linh và thần học gặp khó khăn trong việc tìm ra sợi dây lịch sử của nó, nhưng nó có”. Tôi cũng được thuyết phục về điều này.

Người tín hữu kitô chúng ta có tội lỗi gì với “báo chí xấu” của Giáo hội ở Lục địa?

Sau Công đồng Vatican II có rất nhiều văn bản phê bình Giáo hội công giáo. Ngày nay, chúng ta nhận ra nhiệt tình đã thành hiếm. Cơn khủng hoảng gần như dứt khoát. Trong suốt lịch sử, Giáo hội đã trải qua nhiều thời khó khăn, một phần do các cuộc tấn công từ bên ngoài: cuộc đàn áp cuối cùng là của cộng sản. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng hôm nay là từ nội bộ: chúng ta đang chứng kiến sự suy giảm các thông số quan trọng của “cơ thể giáo hội”. Và ở đây, có nhiều lý do, có trách nhiệm của tín hữu kitô.

Hồng y Juan José Omella và các nạn nhân của các vụ lạm dụng

Giáo hội, có bị đàn áp ở châu Âu không?

Không. Nhưng cuộc khủng hoảng trong Giáo hội đã làm bối cảnh cho cuộc khủng hoảng ở Châu Âu và sự tái kích thước của nó trên thế giới. Đã có nhiều cuộc thảo luận về sự suy tàn của châu Âu hoặc phương Tây. Rõ ràng là có hai suy giảm, kitô giáo và châu Âu, cả hai có mối liên hệ với nhau. Cuộc khủng hoảng của kitô giáo thách thức châu Âu nhiều hơn chúng ta nghĩ.

Tuy nhiên, qua nhiều thế kỷ lịch sử đã chứng kiến những thay đổi mang tính lịch sử trong vai trò của kitô giáo. Trong thiên niên kỷ đầu tiên, với cuộc xâm lược của người Ả Rập vào thế kỷ thứ 7, sự biến mất của các Giáo hội lớn: Giáo hội Bắc Phi, Augustine ở Hippo hay của Cyprian ở Carthage, những Giáo hội đã đóng góp rất nhiều cho tư tưởng kitô giáo. Ngày nay, chúng ta nghĩ đến sự tàn lụi tín hữu kitô ở Trung Đông, những người cho đến thế kỷ 20 vẫn là một thiểu số hữu hình và có gốc gác. Việc Hagia Sophia trở lại đạo hồi, một năm sau vụ cháy Nhà thờ Đức Bà có giá trị biểu tượng. Các nhà thờ có thể biến mất. Năm 1977, nhà sử học người Pháp Delumeau xuất bản quyển sách với tiêu đề đầy khiêu khích: Liệu kitô giáo có sắp chết không? (Le christianisme est-il sur le point de mourir?) Tuy nhiên, các phân tích gần đây cũng ghi nhận sức sống của kitô giáo (không còn chủ yếu là công giáo) ở các lục địa khác được thúc đẩy mạnh nhờ các cuộc di cư và các hiện tượng như phái tân Ngũ tuần ở châu Phi và châu Mỹ Latinh.

Đức Giáo hoàng chào mừng ông Andrea Riccardi, người sáng lập Cộng đoàn Sant’Egidio  

Trong quyển sách Giáo hội cháy’, ông nói về sự biến đổi của Giáo hội ở Tây Ban Nha và Ý. Đây có phải là hai ví dụ về các Giáo hội cự lại với thay đổi, hy vọng các nước này vẫn là các “quốc gia công giáo” không?

Tôi dành một chương để nói về những khó khăn trong Giáo hội Âu châu và tôi cũng nói nhiều về Tây Ban Nha. Ở đây, đã có một sự biến đổi nhanh chóng về xã hội, phong tục, gia đình, và về sự thù địch chống công giáo đã tái xuất hiện trong một số môi trường. Một số thống kê rất ấn tượng: lần đầu tiên trong lịch sử, số người vô thần vượt quá số người theo đạo công giáo ở Tây Ban Nha, một hiện tượng thấy ở giới thanh thiếu niên qua số rửa tội và hôn nhân giảm trong nhà thờ. Tuy nhiên, kinh nghiệm của đại dịch đã cho thấy có một chấn thương thực sự nơi một số dân tộc châu Âu như Ý, Pháp, Đức, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, mặc dù đã thế tục hóa, nhưng được đánh dấu qua ý thức về giá trị cuộc sống mang đậm dấu ấn nguồn gốc kitô giáo.

Vụ bê bối ấu dâm có thể đánh dấu một trước và một sau trong cách Giáo hội tương quan với thế giới không?

Đức Phanxicô giữ vững quan điểm của người tiền nhiệm liên quan đến ấu dâm và nhiều thứ đang thay đổi. Chúng ta mang ơn giáo hoàng Bergoglio rất nhiều, mặc dù một số nhà quan sát nhấn mạnh đến sự lâu dài của hiện tượng lạm dụng hoặc bê bối tài chánh của Vatican.” Nhưng cẩn thận: “Vì sự kiên định của ngài với những vấn đề này gặp phản kháng. Liệu ngài có thành công không? Một Giáo hội không tự bào chữa cho mình, nhưng biết xin tha thứ và đồng thời tự đề xuất mình như một nơi chốn tuyệt vời cho việc nhân bản hóa xã hội.”

Đức Phanxicô và Tông hiến Niềm vui Tin mừng

Liệu một Giáo hoàng đến từ tận cùng thế giới có thể thay đổi mọi thứ không?

Ở châu Âu, lục địa kitô giáo lâu đời nhất, tương lai của kitô giáo nằm ở khả năng thiết lập mối quan hệ với truyền thống, hướng về tương lai và sống một đức tin trở thành một nền văn hóa chia sẻ và đối đầu với các nền văn hóa khác. Tất cả những điều này vừa tôn trọng sự đa dạng nhưng cũng hướng đến sự thống nhất, vượt qua chủ nghĩa dân tộc và sắc tộc.

Tôi cảm thấy Đức Jorge Bergoglio, với kinh nghiệm của ngài ở thành phố Buenos Aires đa văn hóa mang trong mình một cảm giác phức tạp cho phép ngài đối diện với những thách thức mới. Ngài là giáo hoàng không có mặt ở Công đồng, không như các tiền nhiệm của ngài trong các thập kỷ gần đây, nhưng ngài mang tinh thần và sự mới mẻ của Công đồng Vatican II theo ngài.”

Trung tâm chích ngừa Sant Egidio ở Rôma không bỏ sót ai

Cộng đoàng Sant’Egidio định vị mình như thế nào khi đối diện với những cải cách của triều Đức Phanxicô? Những điều chính gì sẽ xảy ra?

Toàn cầu hóa thách thức sâu sắc Giáo hội. Chúng ta không thể nói đến cải cách mà không tính đến môi trường sống của con người trên toàn cầu với những đi xuống về mặt nhân chủng học và tôn giáo của nó. Chỉ cần nghĩ đến các đô thị khổng lồ. Nhiều khi chúng ta đi sau trong việc hiểu và trong các quyết định, vì chúng ta nghĩ, chúng ta di chuyển và chúng ta bị chi phối bởi các thông số và chiều kích quá khứ.

Đối mặt với các thực tế ma thuật và các phong trào như tân-kitô giáo hay chủ nghĩa chính thống, với tính di động của các thông điệp và về số lượng dân cư, sự phức tạp của những thuộc về, chúng ta cần phải đặt câu hỏi về sự rõ ràng của Giáo hội trong lãnh thổ, một phần được mô hình hóa trên tầm nhìn cũ về các quy chế: đó là một cách sống, suy nghĩ và điều hành Giáo hội liên kết với thế giới của quá khứ. Cần phải suy tư về các thể chế địa phương và lãnh thổ trong mối quan hệ với không gian, không phải để nhổ bỏ chúng nhưng để giải phóng chúng khỏi tầm nhìn giới hạn trong các giáo phận và giáo xứ. Trong thế giới ngày nay, Giáo hội phải suy nghĩ lại một cách sâu sắc về chính mình. Tôi không chắc đó là về việc cải tổ khía cạnh này hay khía cạnh kia trong tổ chức của chúng ta. Có lẽ cần phải khám phá lại “tâm hồn” của đời sống mình.

Có thể cải tổ một bộ máy khổng lồ như bộ máy Giáo triều được không?

Trong một thế giới đang thay đổi đầy rẫy những vấn đề, Đức Phanxicô không muốn và không phải là hoàng tử cải cách Giáo triều, nhưng ngài muốn một Giáo triều phục vụ một Giáo hội trong những khoảng trống mênh mông do toàn cầu hóa mở ra. Thách thức của ngài, được nêu trong Tông hiến Niềm vui Tin mừng Evangelii Gaudium là thách thức của một nhà truyền giáo, một Giáo hội có lòng thương xót và thu hút, bắt đầu từ những người nghèo nhất và từ việc bảo vệ “ngôi nhà chung”.

“Giáo hội của Đức Phanxicô không chỉ là Giáo hội của những kiến trúc (thậm chí còn nhận rõ giá trị của các thể chế): đó là một “dân tộc” tỏa lan ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đó là một dân tộc mà Đức Phanxicô hướng dẫn, đồng hành, theo dõi và tiếp nối. Vị tân giáo hoàng nhận thức về “dân tộc giáo dân”, một dân tộc có cảm thức đức tin, có nguồn lực con người và tinh thần để thể hiện, để có các hành trình đưa ra và năng lượng để cung cấp.

Ý kiến của ông về cuộc sống độc thân, vai trò phụ nữ và con đường thượng hội đồng là gì?

Ở châu Âu, sự thống trị của nam giới đã tắt mà ít người cảm thấy cần phải quay lại quá khứ: “Như nhà xã hội học người Pháp Marcel Gauchet dự báo, thật ra nó là một giới hạn ghê gớm đối với mọi người, bắt đầu từ những người được cho là được hưởng.” Tiến trình này đã phá ngầm thứ trật bất bình đẳng trong đó Giáo hội đã tồn tại trong nhiều thế kỷ, mặc dù trong lịch sử, nó đã góp phần đặt vấn đề trong quá khứ. Điều này ảnh hưởng đến Giáo hội, một thể chế do nam giới điều khiển, với một vài ngoại lệ nữ giới. Trong nửa thế kỷ mọi thứ đã thay đổi. Đây là một thay đổi nhân học với sự kết thúc của các hình mẫu về quyền lực và nam tính. Một thay đổi nhân học đòi hỏi một phong cách mới, toàn diện hơn, bình đẳng và đồng quyền.

Ly giáo trong Giáo hội

 

Có nguy cơ ly giáo trong Giáo hội công giáo không?

Tôi không nghĩ có lúc này. Tất nhiên, Giáo hội công giáo là đối tượng của sự phân cực mạnh mẽ. Ở đây khả năng giữ các mặt đối lập của họ với nhau được phát huy. Chúng ta phải trở lại đối thoại trong tình bạn và trong hiệp thông.

Giáo hội mà ông mơ ước là Giáo hội nào?

Tôi nghĩ kitô giáo thay vì quản lý di sản của quá khứ, phải nhìn về tương lai. Nhà thần học Karl Rahner không nói về một kitô giáo cố thủ, mà là “cởi mở”, sẵn sàng đương đầu. Tôi thích trích dẫn lời của Cha Aleksander Men, một linh mục chính thống giáo ở Mátxcơva, nạn nhân mới nhất của KGB, ngài đã viết: “Kitô giáo chỉ mới đi những bước đầu tiên… lịch sử kitô giáo chỉ mới bắt đầu.”  Những gì kitô giáo đã làm trong quá khứ, mà ngày nay chúng ta gọi là lịch sử kitô giáo, chẳng qua là tổng những nỗ lực để đạt được nó.

Marta An Nguyễn dịch, theo Google Translate