Đời sống tu viện: Một sự vắng mặt lớn của Giáo hội Trung Hoa

191

cath.ch, Grégory Roth, 2016-11-04

Ở Trung Hoa, cho đến bây giờ, các tu viện kín vẫn còn chính thức bị cấm. Chỉ có Nhà thờ của địa phận là được phép. Vậy mà đan viện Dòng Trappe đầu tiên của Á châu được xây tại Trung Hoa vào thế kỷ 19.

Ông Michel Chambon giải thích cho hãng tin Giáo hội Á châu biết, “việc không có các dòng tu chiêm niệm tại Trung Hoa là một dấu hỏi. Đó là một sự thiếu thốn của một Giáo hội công giáo mong muốn mang Tin Mừng đến cho 99% người Trung Hoa không công giáo”. Ông Chambon là tiến sĩ về nhân chủng học ở Đại học Boston, Mỹ. Ông vừa ở một năm ở lục địa Trung Hoa, nơi ông đến nghiên cứu ở các bang Phúc Kiến, Chiết Giang và cả ở Quảng Châu.

“Đó là việc của các địa phận và các giám mục”

Rất nhiều phân tích và thống kê về Giáo hội Trung Hoa quan tâm trước hết về số lượng các giám mục, linh mục, chủng sinh, nữ tu, việc cắt các địa phận, các giáo xứ hay việc phát triển và tác động của các dịch vụ xã hội trên Giáo hội. Tuy nhiên các thông tin này không nhắc đến sự có mặt của các tu viện, một bộ phận quan trọng trong Truyền thống Giáo hội. Nhà nghiên cứu trình bày: “Với việc chỉ chú tâm đến việc bổ nhiệm các giám mục ở Trung Hoa làm cho người ta nghĩ, Giáo hội chỉ duy nhất lo việc của các địa phận và các giám mục”.

Đa số các suy tư về Giáo hội ở Trung Hoa xem Nhiệm thể Chúa Kitô chỉ dưới khía cạnh thế tục. Các tu sĩ duy nhất nêu lên vấn đề này là các nữ tu tông đồ, những người lo việc quản trị các giáo xứ và các dịch vụ xã hội (nhà hưu dưỡng, vườn trẻ). Vì thế Giáo hội có bộ mặt như một cơ quan quản trị cho dân chúng vào khuôn, điều này chỉ làm cho chính quyền Trung Hoa lo ngại.

Một sự thiếu quan tâm của hàng giáo sĩ Trung Hoa

Từ Công đồng Trente thế kỷ 16, Giáo hội công giáo định hướng các cơ cấu của mình trên cơ sở vùng miền và quản trị, thay thế “Giáo hội Gregoria”, một Giáo hội  đặt ưu tiên cho các tu viện. Tuy nhiên, sự tái cấu trúc công giáo ở Âu châu không làm cho các tu viện biến mất. Ở thời điểm mà các tu sĩ địa phận bị khủng hoảng trầm trọng thì các tu viện lại tỏa sáng và phong phú ngoài hàng rào phạm vi của họ.

Ở Trung Hoa, gần như hàng giáo sĩ địa phận là điểm mốc duy nhất. Một vài người còn thấy đó là hành động của chính quyền: về mặt lịch sử, Đảng cộng sản rất chống đối các tu viện công giáo. Nhưng bây giờ, ở một vài nơi trong nước, các nhà cầm quyền địa phương nhận biết và tôn trọng sự có mặt của các tu viện. Các tu viện thì rất hiếm nhưng cũng có. Cũng có vài cộng đoàn không đăng ký với nhà cầm quyền dân sự, nhưng họ không gây sự chú ý cho các nhà phân tích và bình luận về tương lai của Giáo hội công giáo ở Trung Hoa.

Dù hàng giáo sĩ Trung Hoa gần như ít quan tâm đến đời sống tu viện. Đôi khi một vài linh mục địa phận còn khẳng định: “Chúng tôi tất cả đều mang lời chiêm niệm trong lòng, chúng tôi không cần các tu sĩ chiêm niệm”. Một tuyên bố như vậy, chứng tỏ họ không hiểu đặc nét của truyền thống tu viện, như thế phản ảnh một cách nhìn có thể xem là “tin lành” của Giáo hội, nhà nghiên cứu nhận xét. Quả vậy, nếu mỗi người công giáo là người mang trong mình đời sống chiêm niệm, thì qua phép rửa tội, mỗi người công giáo cũng là một linh mục. Vậy thì, nhà nghiên cứu hỏi,  ích gì để thiết lập thể chế giáo sĩ khác với giáo dân?

Lẫn lộn giữa tu sĩ công giáo và phật giáo

Giống như nhiều nước có phật giáo là tôn giáo chính, Trung Hoa có rất nhiều tu viện phật giáo. Dù tiến trình thiêng liêng khác nhau, sự gần nhau về bề ngoài giữa các tu viện công giáo và phật giáo làm cho người công giáo Trung Hoa coi thường các tu viện này, họ thấy giống phật giáo mà họ không thích. Trong bối cảnh này, rất nhiều người công giáo Trung Hoa không thích khuyến khích và nâng đỡ các tu viện.

Có rất nhiều yếu tố giải thích việc không chú tâm đến truyền thống tu viện. “Cho dù các lý do về mặt lịch sử và chính trị, cho dù hàng giáo sĩ địa phận chỉ lo củng cố sự hợp pháp của mình, hoặc xu hướng phát triển lâu dài cho Giáo hội, cho dù có khó khăn về mặt văn hóa địa phương, thì gió vẫn thổi ngược chiều cho việc phát triển các tu viện công giáo ở Trung Hoa”, nhà nhân chủng học Pháp phân tích.

Một lựa chọn không thể thay thế được

Trong khi các thành phố Trung Hoa phát triển trên một quy mô khổng lồ, tạo sự biến đổi tận căn các lối sống, thì luật tu viện tạo một lựa chọn không thể thay thế được cho cuộc hiện sinh giả tạo và thừa mứa của dân thành thị. Như thế hàng giáo sĩ công giáo phải cẩn thận trong cách cấu trúc và điều hành cho thích ứng với Giáo hội. Không thể chối cãi được giá trị quý báu mà các tu viện giúp để loan báo Tin Mừng cho nước Trung Hoa hiện nay lớn lao đến như thế nào. Các tiếp xúc và trao đổi thường xuyên giữa cộng đoàn Taizé và các trường thần học tin lành ở lục địa Trung Hoa là một bằng chứng cụ thể.

“Thương thuyết để có một tiến trình bổ nhiệm đúng đắn các giám mục là một chuyện quan trọng. Nhưng chăm sóc để có sự trường tồn và tự lập của các tu viện ở Trung Hoa cũng không phải là chuyện không chính yếu. Đặt hàng giáo sĩ hợp thức vào trọng tâm hơn, làm thuận lợi sự lan ra của họ trong Giáo hội Trung Hoa, sẽ có thể làm cho Giáo hội đáp ứng thích đáng hơn trong các việc thay đổi xã hội hiện nay. Sự kiên trì này, về mặt quản trị sẽ giúp cho Giáo hội ít bị xem là cạnh tranh với việc quản trị chính thức, nhưng Giáo hội được xem như một nguồn trợ lực thiêng liêng để phụng vụ cho lợi ích chung”, ông Michel Chambon kết luận.

Các dòng chiêm niệm ở Trung Hoa

Đan viện Đức Mẹ An Ủi là đan viện Dòng Trappe đầu tiên ở Trung Hoa, được xây dựng năm 1883 ở Yangjiaping, ở phía bắc-tây Bắc Kinh. Năm 1928, đan viện phân  ra với đan viện Đức Mẹ Hân Hoan để dọn về gần Zhengding ở bang Hà Bắc. Từ năm 1949, chế độ cộng sản đuổi các dòng chiêm niệm, xem họ là các cộng đoàn tu sĩ nhàn rỗi làm gánh nặng cho dân. Bị phân tán, các cộng đoàn này một phần về Hongkong, năm 1950, họ xây dựng tu viện Đức Mẹ Niềm Vui ở đảo Lantau, một tu viện được nâng lên hàng đan viện năm 1999. Gần đây, năm 2010, các tu sĩ Dòng Trappe ở Nam Dương đã đến xây dựng một cộng đoàn ở Macao.

 

Hình: Đan viện Đức Mẹ Niềm Vui, Lantau, Hong-Kong, được nâng lên hàng đan viện năm 1999. (Hình: Wikiwand Commons/CC BY-SA 3.0

 Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch