Home Blog Page 183

Những điều tốt lành đức tin mang lại

Những điều tốt lành đức tin mang lại

fr.aleteia.org, Mathilde de Robien, 2024-04-07

Theo Thánh Tôma Aquinô có bốn điều tốt lành đức tin mang lại cho chúng ta: hiệp nhất với Chúa Kitô, nhận biết Chúa, hướng dẫn đời sống chúng ta và vượt lên cám dỗ.

Thánh Tôma Aquinô được mệnh danh là “bác sĩ thiên thần” đặc biệt vì trí thông minh sáng chói của ngài. Trong tự sắc Doctoris Angelici, Đức Piô X gợi lên “phẩm chất gần như thiên thần của trí tuệ ngài”. Cho đến ngày nay, các tác phẩm của nhà thần học lỗi lạc thế kỷ 13 vẫn còn được áp dụng, từ cấu trúc đến trình bày đức tin và lý trí một cách thông minh tuyệt vời. Những suy tư thần học của ngài được gom lại trong Tổng luận Thần học, nhưng cũng có trong các bài giảng được những người nghe thời đó ghi nhận và tường thuật.

Đó là trường hợp Bài giảng giáo lý về Kinh Tin Kính của các

Tông đồ, giảng vào đầu Mùa Chay năm 1273, một năm trước khi ngài qua đời ở nhà thờ tu viện của ngài ở Naples. Nói với tầng lớp nông dân và giới thượng lưu Napolitan, ngài bình luận từng điểm của Tín điều. Các tu sĩ dóng Đa Minh đã ghi chép và dịch sang tiếng Latinh.

Trong phần mở đầu, Thánh Tôma đã phân biệt bốn điều tốt lành đức tin mang lại: “Đức tin là điều tốt đầu tiên cần thiết cho người tín hữu kitô. Không có đức tin, không ai xứng đáng với danh hiệu người tín hữu kitô. Đức tin mang lại bốn điểm tốt lành.”

1. Hiệp nhất với Chúa

Điều tốt đẹp đầu tiên: đức tin mang lại là sự kết hợp giữa Thiên Chúa và thụ tạo của Ngài. Không thể không có đức tin: “Chính nhờ đức tin mà linh hồn được kết hợp với Thiên Chúa. Qua đó, tâm hồn ký kết với Thiên Chúa như một hiệp ước hôn nhân, phù hợp với lời Chúa nói với dân Israel: “Ta sẽ cưới ngươi trong đức tin” (Hs, 2:22).”

Một hôn nhân giữa linh hồn và Thiên Chúa được thực hiện qua phép rửa tội. Theo Thánh Tôma, đức tin không thể tách rời khỏi bí tích rửa tội. “Rửa tội trước hết là bí tích đức tin. Chính Chúa đã phán: Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu” (Mc 16:16). Vì không có đức tin thì phép rửa tội là vô ích.

2. Biết Chúa

Điều tốt đẹp thứ hai: đức tin mang lại đời sống vĩnh cửu trên trái đất này. Ngài giải thích: “Vì đời sống vĩnh cửu không gì khác hơn là nhận biết Thiên Chúa. Sự hiểu biết về Thiên Chúa được khai mở trên trái đất này bằng đức tin sẽ đạt đến mức hoàn hảo trong đời sống tương lai, khi chúng ta biết Ngài với chính con người thật của Ngài.” Đức tin được tuyên xưng trên trần gian là bước đầu tiên hướng tới sự hiểu biết trọn vẹn về Thiên Chúa: “Không ai có thể có hạnh phúc vĩnh cửu, nhận biết Thiên Chúa, trừ khi họ biết Ngài trước hết qua đức tin.”

3. Đức tin định hướng cuộc sống của chúng ta

Điều tốt thứ ba: Thánh Tôma nhận xét: “Đức tin điều khiển cuộc sống hiện tại, dạy cho chúng ta những điều cần thiết để sống khôn ngoan. Nếu không có đức tin hướng dẫn các nhân đức, con người sẽ khó có thể phân biệt được chúng và vì thế khó tìm được chúng. Theo ngài, đức tin mạc khải sự hiểu biết cần thiết để con người làm điều thiện và tránh điều ác.”

4. Vượt qua cám dỗ

Điều tốt thứ tư: đức tin giúp chiến thắng cám dỗ. Thánh Tôma dựa vào Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Do Thái: “Các thánh nhờ đức tin đã chiến thắng các vương quốc” (Dt 11:33). Chính đức tin thúc đẩy con người đẩy lùi sự dữ: “Ma quỷ cám dỗ chúng ta làm chúng ta không vâng lời và phục tùng Thiên Chúa. Giờ đây, chính nhờ đức tin mà chúng ta loại bỏ đề nghị của ma quỷ, vì qua nó, chúng ta biết Thiên Chúa là Chủ mọi sự và vì thế chúng ta phải tuân phục Ngài.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Thánh Philiphê Nêri và những người buôn chuyện

Thánh Philiphê Nêri và những người buôn chuyện

fr.aleteia.org, Anne Bernet, 2024-05-25

Nổi tiếng với tính hài hước dễ lây lan, nhưng nhà sáng lập dòng Giảng thuyết luôn lo sợ cho sự yếu đuối của mình khi đối diện với tội lỗi. Cuộc chiến chống tội lỗi này đã làm cho ngài trở thành người hướng dẫn lương tâm xuất sắc. Lễ kính ngài ngày 26 tháng 5.

Khi còn nhỏ, người thân đặt cho ngài biệt danh “bé Philiphê tốt bụng, Pippo buono” vì không có gì có thể làm dao động lòng tốt này nơi Thánh Philiphê Nêri. Ngài giữ cái nhìn ngây thơ này trước các thử thách và những người ác, với ngài, ngây thơ này không phải là ngây thơ ngu ngơ hay không có khả năng đo lường sự tàn phá của cái ác. Phần số đời đời của kẻ có tội, những cám dỗ, cạm bẫy của cuộc sống có thể dẫn đến địa ngục, với họ là nguồn gốc của đau khổ: đau khổ vì người có tội bị mất đời sống vĩnh cửu, đau khổ khi thấy sự hy sinh của Chúa trên đồi Canvê bị họ xem thường. 

Hãy tỉnh thức để không phạm tội

Với nguy cơ này, Thánh Philiphê Nêri không bao giờ nghĩ mình thánh thiện, ngài xem mình là kẻ có tội cuối cùng, sợ phải đối diện với tội mỗi ngày. Lời cầu nguyện nổi tiếng của ngài: “Chúa ơi, xin Chúa canh chừng Philiphê hôm nay, xin Chúa cẩn thận nếu không, trước tối nay con có thể là người theo môhamét giáo!”, và chúng ta thường xem đây chỉ là câu nói đùa danh tiếng của người thích pha trò. Nhưng ẩn giấu sau tính hài hước là nỗi sợ về sự yếu đuối bản thân, ngài luôn nghĩ mình không xứng đáng với chức linh mục, dù nhận được ân sủng, ngài vẫn nghĩ mình có thể phạm sai lầm bất cứ lúc nào.

Luôn cảnh giác để không phạm tội, trông cậy vào tình yêu Thiên Chúa giúp đỡ, đó là đường lối của ngài được hun đúc trong tòa giải tội, sau này khi là linh mục, ngài dành nhiều thì giờ để giải tội. Ngài là cha linh hướng xuất sắc, vì ngài biết điều ngài đang nói, ngài đã chịu đau khổ. Hai giai thoại giúp chúng ta hiểu rõ lời khuyên của ngài.

Chiếc ghế đẩu của cô gái mại dâm

Phép lạ do lời khuyên khôn ngoan của ngài xảy ra ở Rôma ngày 26 tháng 5 năm 1595 sau khi ngài qua đời. Ngài nổi tiếng khiết tịnh làm cho các bạn, kể cả các thần học gia khó chịu. Nhiều lần họ trả tiền cho các cô gái mại dâm để các cô dụ ngài. Trò đùa dừng lại sau khi một trong những cô này tức giận khi thấy “khách hàng” thờ ơ trước những quyến rũ của mình, cô dùng chiếc ghế đẩu ném làm ngài bị thương ở mặt, nhưng ngài không phàn nàn hay trách móc, ngài cho mình xứng đáng nhận. Ngài không nghĩ đến quyến rũ xác thịt dù nhỏ nhất, cho thấy trước đây ngài không phải là đá… vì vậy ngài biết những gì xảy ra trong lãnh vực này.

Không lâu trước khi qua đời, ngài tặng chiếc khăn tay của ngài cho một thanh niên đi xưng tội với ngài, anh giữ như một thánh tích. Rất lâu sau khi thủ tướng Nêri qua đời, một buổi tối, anh đứng trước một cô gái có sức quyến rũ không cưỡng lại, lúc sắp đầu hàng, anh nghe rõ giọng ngài nói: “Chạy đi, thằng khốn khổ!” và anh chạy đi, tránh dịp phạm tội.

Những chuyện vu khống thấp hèn

Một câu chuyện khác nhắc đến một giai đoạn đau khổ trong cuộc đời của ngài. Khi đó ngài đã làm linh mục được vài năm, danh tiếng thánh thiện của ngài đã rõ. Các thánh thường cảm thấy xấu hổ khi nhân đức của họ, mà họ không nhận ra, làm cho những người người kém trong sạch thấy đó như sự lên án và phán xét đạo đức họ…

Khi cân nhắc việc tham gia vào sứ mệnh của Dòng Tên ở Viễn Đông, ngài nghe Chúa Kitô nói với ngài trong lời cầu nguyện: “Hãy ở lại đây! Có khá nhiều kẻ ngoại đạo cần hoán cải ở Rôma…” Nhưng những kẻ ngoại đạo này không muốn hoán cải, họ tấn công ngài, ngài không chùn bước trước những vu khống hèn hạ, những cáo buộc xấu xa làm mất uy tín của ngài, dẫn đến vụ điều tra giáo luật, xem xét hành động của ngài, thậm chí ngài còn bị cấm giải tội. Ngài chịu đựng tất cả, không phàn nàn hay biện minh cho mình, xem đó là dịp xét mình và cảm tạ Chúa, Đấng đã để chuyện này xảy ra. Hành vi đáng ngưỡng mộ nhưng ngoài ra ngài còn có một giai thoại nổi tiếng khác.

Con gà mái buôn chuyện

Một ngày nọ, một cô lắm lời đi xưng tội, thay vì trách cứ, ngài nói: “Con gái của cha, làm việc đền tội con mua một con gà mái, đến ngày chúa nhật con nhổ lông và để lông bay đi”. Sung sướng được làm việc đền tội quá nhẹ, nhưng sau đó ngài nói với cô: “Bây giờ con gái của ta, con đi lượm lại tất cả các lông này, lượm xong cha sẽ giải tội!”, cô phản đối vì đây là chuyện cô không thể làm được! Ngài trả lời: “Con không thể xóa bỏ tổn hại đến danh tiếng người khác khi con nói xấu họ, cũng như những chiếc lông vũ này đã theo gió bay con không thể gom được.”

Chỉ những người từng bị vu khống mới có thể tìm thấy sự so sánh công bằng như vậy và nhấn mạnh đến mức độ cực kỳ nghiêm trọng của nó. Vì thế nếu chúng ta bị rơi vào cám dỗ nói xấu người khác, chúng ta hãy nghĩ đến Thánh Philiphê Nêri.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô: “Xin Chúa ban cho con tính hài hước”

Đức Phanxicô: “Xin Chúa ban cho con tính hài hước”

Đức Phanxicô: “Xin Chúa ban cho con tính hài hước”

Ngày thứ sáu 14 tháng 6, Đức Phanxicô sẽ gặp các diễn viên hài, ngài thấy nghệ thuật hài hước là một giá trị của Tin Mừng.

la-croix.com, ban biên tập, 2024-06-08

“Chúng ta phải cười…”, đó là câu Đức Phanxicô sẽ nói với các nghệ sĩ hài từ khắp nơi trên thế giới về Rôma ngày thứ sáu 14 tháng 6-2024. Bộ Văn hóa và Giáo dục phối hợp với bộ Truyền thông tổ chức cuộc gặp nhằm mục đích thiết lập sự hợp tác giữa Giáo hội công giáo và các nghệ sĩ hài.

Cầu nguyện với Thánh Thomas More

“Lạy Chúa, xin ban cho con tính hài hước,” ngài lặp lại lời cầu nguyện của Thánh Thomas More. Trong cuộc phỏng vấn ngày 20 tháng 11 năm 2016 với đài truyền hình TV2000, ngài nói: “Đây là ơn tôi xin mỗi ngày.” Tính hài hước làm lên tinh thần, làm cho chúng ta thấy được bản chất tạm thời của đời sống và giúp chúng ta vượt lên thử thách để sống thoải mái trong tinh thần của một tâm hồn được cứu chuộc. Đó là thái độ của con người, nhưng gần gũi với ơn Chúa.

Hơn nữa, hài hước là nghệ thuật sống đức tin, Đức Phanxicô viết trong tông huấn Vui mừng và Hân hoan Gaudete et exultate: “Hài hước không đánh mất hiện thực nhưng làm chúng ta nghĩ với một tinh thần tích cực và tràn đầy hy vọng.” Vì thế ngài luôn thừa nhận tác động của nghệ thuật hài trong nền văn hóa đương đại. Nói chuyện với các nghệ sĩ ngày 23 tháng 6 năm 2023, Đức Phanxicô nhận xét: “Qua tài năng của các diễn viên hài, chúng ta thấy được những suy tư khác nhau về thân phận con người, về hoàn cảnh lịch sử và xã hội. Nghệ thuật hài có thể góp phần tạo nên một thế giới đoàn kết hơn. Kinh thánh đầy những hoàn cảnh trớ trêu, trong đó sự tự phụ, quanh co, bất công, vô nhân đạo bị chế giễu khi chúng mang bộ mặt quyền lực và đôi khi cả bộ mặt thiêng liêng.”

Đức Phanxicô tin tưởng các diễn viên hài – diễn viên, nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà văn, v.v. – có khả năng sáng tác các phiên bản mới của thế giới và họ thường chế giểu, đó là một tính cách tuyệt vời.

Cuộc gặp giữa Đức Phanxicô và các diễn viên từ khắp nơi trên thế giới nhằm tôn vinh vẻ đẹp đa dạng của con người và quảng bá thông điệp về hòa bình, tình yêu và tình liên đới, hứa hẹn buổi gặp sẽ là khoảnh khắc đối thoại liên văn hóa và chia sẻ niềm vui.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô: đức tin là gia tài tốt đẹp nhất chúng ta để lại cho con cái

Đức Phanxicô: đức tin là gia tài tốt đẹp nhất chúng ta để lại cho con cái

Tôi để lại gia tài gì cho con cháu tôi?

pildorasdefe.net, Qriswell Quero, 2024-06-06

Đức Phanxicô trong thánh lễ tại Nhà nguyện Thánh Marta ngày 4 tháng 2 năm 2016: “Gia tài đẹp nhất, di sản lớn nhất cha mẹ để lại cho con cái là đức tin vì đây là ơn của Chúa, từng chút một đức tin sẽ lớn lên và để lại hoa trái.” Đức Phanxicô hướng suy nghĩ của ngài vào đoạn Kinh thánh nói về cái chết của Vua Đavít (I V 2,1- 4.10-12)

Cái chết là một thực tế của tất cả mọi người

Mỗi cuộc đời đều có một kết thúc. Đây là việc chúng ta không mấy ưa thích nhưng lại là thực tế mỗi ngày. Nghĩ đến bước đi cuối cùng sẽ là ánh sáng soi rọi cho cuộc đời chúng ta, đó là sự thật chúng ta luôn phải có trước mắt.

Trong buổi tiếp kiến chung hàng tuần ngày thứ tư 5 tháng 6, Đức Phanxicô gặp một bà lớn tuổi có khuôn mặt bình an, bà tỏa một nét sáng rạng ngời: “Xin lỗi bà, bà bao nhiêu tuổi?” Với nụ cười trên môi, bà trả lời: “Tôi 83 tuổi, tôi sắp kết thúc cuộc đời này để bắt đầu một cuộc sống khác với Chúa, vì tôi bị ung thư tuyến tụy.”

Trong bình an, bà đã sống mạnh mẽ cuộc sống thánh hiến, bà không sợ chết: “Tôi đang kết thúc cuộc đời này để bắt đầu một cuộc sống khác.” Đó là điều làm chúng ta vững mạnh và tốt đẹp.

Đức tin là gia tài tốt đẹp nhất chúng ta để lại cho con cái

Vua Đavít trị vì 40 năm ở Israel và nhà vua sắp qua đời. Trong cuộc đời, ông đã phạm tội rất nhiều, nhưng ông xin Chúa tha thứ, Giáo hội gọi ông là “Vua thánh David. Kẻ có tội nhưng thánh thiện!” Giờ đây, trước giờ chết, ông để lại cho người con là vua Salômôn di sản đẹp đẽ và lớn nhất mà người cha, người mẹ có thể để lại cho con cái: đức tin.

Khi làm di chúc, chúng ta thường nói: “Tôi để lại cái này, tôi để lại cái kia.” Tốt, nhưng di sản lớn nhất chúng ta để lại cho con cái chính là đức tin. Vua Đavít nhớ đến lời hứa của Chúa, tin vào lời hứa của Chúa, ông để lại di sản cho con là đức tin. Trong bí tích Rửa tội, cha mẹ được trao ngọn nến thắp sáng, tượng trưng cho ánh sáng đức tin: “Xin anh chị em trao ngọn nến cho con, ngọn nến sẽ lớn lên trong con cái anh chị em như một gia tài”. Để lại đức tin là để lại di sản, đó là điều vua Đa-vít dạy chúng ta, và ông chết đơn giản như mọi người. Nhưng ông biết phải khuyên con mình điều gì và di sản tốt nhất ông để lại là đức tin, không phải vương quốc!

Chúng ta nên tự hỏi: “Gia tài tôi để lại là gì? Tôi có để lại gia tài của một người cha, người mẹ có đức tin không? Tôi có để lại gia tài đức tin cho người thân yêu tôi không?”

Chúng ta xin Chúa hai điều:

Thứ nhất, không sợ bước đường cuối cùng này, giống như bà trong buổi tiếp kiến chung: “Tôi đang kết thúc hành trình trần thế và bắt đầu một hành trình khác.”

Thứ hai, tất cả chúng ta có thể để lại đức tin như di sản tốt đẹp nhất: tin vào một Chúa trung thành, luôn ở bên cạnh chúng ta. Đấng là người cha không bao giờ làm chúng ta thất vọng.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô: “ Sự đào tạo ở chủng viện là chưa đủ”

Đức Phanxicô: “ Sự đào tạo ở chủng viện là chưa đủ”

vaticannews.va, Adriana Masotti, Vatican, 2024-06-06

Đức Phanxicô nói với các thành viên tham dự Phiên họp toàn thể của bộ Giáo sĩ tại Phòng Clementine ngày thứ năm 6 tháng 6-2024: “Sự đào tạo ở chủng viện là chưa đủ. Linh mục cần một mạng lưới các quan hệ huynh đệ vững chắc.” Vatican Media

Sáng thứ năm 6 tháng 6, Đức Phanxicô đã tiếp những người tham dự Phiên họp toàn thể của bộ Giáo sĩ. Ngài nhấn mạnh vào ba khía cạnh: thường huấn, chú ý đến ơn gọi và thừa tác vụ phó tế. Ngài nhắc phải luôn chú ý đến các dấu chỉ của Chúa Thánh Thần, trưởng thành về mặt nhân bản và thiêng liêng, tìm ra những ngôn ngữ thích hợp để truyền giáo. Các linh mục phải sống trong tình huynh đệ vì hành trình này không đi một mình, ngài cám ơn lòng quảng đại của họ trước những thách thức mục vụ và thiêng liêng đôi khi không hề dễ dàng.

Lòng biết ơn của Đức Phanxicô

Ngài tỏ lòng biết ơn các linh mục và phó tế từ khắp nơi trên thế giới: “Tôi thường cảnh báo về sự nguy hiểm của chủ nghĩa giáo sĩ trị và tinh thần thế tục, nhưng tôi biết, đại đa số các linh mục làm việc với một tấm lòng quảng đại, một tinh thần đức tin cao vì lợi ích giáo dân, gánh vác cho gánh nặng của rất nhiều người trước những thách thức mục vụ và thiêng liêng đôi khi không hề dễ dàng.”

Sự đào tạo ở chủng viện là chưa đủ

Đức Phanxicô nói vài lời về từng chủ đề trong số ba chủ đề của phiên họp, ngài bắt đầu với chủ đề trọng tâm: đào tạo linh mục. Ngài nhấn mạnh: “Việc đào tạo phải mang tính lâu dài, thậm chí còn hơn thế nữa trong thế giới không ngừng thay đổi ngày nay. Vì vậy, không thể nghĩ việc đào tạo nhận được trong chủng viện là đủ.

Đúng hơn, chúng ta được mời gọi để củng cố và phát triển những gì chúng ta đã nhận ở chủng viện, trên hành trình giúp chúng ta trưởng thành trong chiều kích nhân bản, trưởng thành về mặt thiêng liêng, tìm ra ngôn ngữ thích hợp để truyền giáo, đào sâu hơn những gì chúng ta cần để giải quyết thỏa đáng những vấn đề mới của thời đại.”

Nhiều linh mục quá cô đơn

Theo Đức Phanxicô, vấn đề cô đơn của các linh mục là vấn đề cơ bản: “Hành trình này chúng ta không đi một mình. Có nhiều linh mục đã không thể trông cậy vào ân sủng đồng hành, không có phao cứu giúp để họ có cảm nhận thuộc về. Dệt mạng lưới vững chắc trong quan hệ huynh đệ là nhiệm vụ ưu tiên thường huấn cho các giám mục, linh mục, các cộng đồng, các tu sĩ nam nữ, các hiệp hội, các phong trào: điều thiết yếu là các linh mục cảm thấy thoải mái như ở nhà mình. Với tư cách là một Bộ, tôi xin chúng ta nên làm mọi điều có thể để làn sóng này được tiếp tục và sinh hoa trái trên khắp thế giới.”

Đừng cam chịu trước sự suy giảm ơn gọi

Ngài nói: “Sự suy giảm ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến là một trong những thách thức lớn, khủng hoảng này cũng tác động đến ơn gọi hôn nhân. Vì thế trong các thông điệp mới nhất của Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi, tôi kêu gọi mở rộng ơn gọi kitô giáo, đặc biệt ơn gọi cơ bản làm môn đệ, hiệp nhất tất cả những người đã được rửa tội. Chúng ta không thể cam chịu khi thấy nhiều người trẻ đã không thấy  cần phải có một cuộc sống dấn thân. Chúng ta cần cùng nhau suy nghĩ và để ý đến các dấu chỉ của Chúa Thánh Thần, một nhiệm vụ chúng ta có thể thực hiện qua lời kêu gọi về ơn gọi trong các bậc sống. Tôi xin anh chị em sống lại thực tế này theo cách phù hợp với thời đại chúng ta.”

Đóng góp vào việc suy tư cho chức phó tế vĩnh viễn

Sau đó, ngài đề cập đến chủ đề thứ ba của Phiên họp khoáng đại: chức phó tế vĩnh viễn mà ngày nay “căn tính cụ thể” của chức này thường bị đặt vấn đề. Lời mời gọi đóng góp suy tư cho vấn đề này đã được đề xuất trong Báo cáo tổng hợp của Phiên họp đầu tiên của Thượng hội đồng Giám mục thường lệ tháng 10 năm ngoái, tập trung trước hết vào việc phục vụ bác ái và phục vụ người nghèo. Đồng hành cùng những suy tư và diễn biến này là nhiệm vụ hết sức quan trọng của bộ. Ngài khuyến khích các thành viên nỗ lực triển khai tất cả các phương tiện cần thiết.

Lời mời gọi cuối cùng của ngài: luôn làm việc để giáo dân có những mục tử theo trái tim của Chúa Kitô, đồng hành với Đức Mẹ, là khuôn mẫu của mọi ơn gọi.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Ảnh minh họa: Năm 2016, Đức Phanxicô gặp hơn 300 chủng sinh và giáo sư của Chủng viện Piô XI ở Puglia, Ý, nơi quy tụ các linh mục tương lai của các giáo phận vùng này. Servizio Fotografico OR/CPP/CIRIC International

Đức Phanxicô nói với Israel và Palestine: “Chúng ta tiếp tục mơ giấc mơ hòa bình”

Đức Phanxicô nói với Israel và Palestine: “Chúng ta tiếp tục mơ giấc mơ hòa bình”
Mười năm sau, ngày thứ sáu 7 tháng 6-2024, Đức Phanxicô kỷ niệm buổi cầu nguyện cho hòa bình của Tổng thống Israel Shimon Peres và người đồng cấp Palestine Mahmoud Abbas năm 2014. Ngài tiếp tục kêu gọi hai bên ngừng bắn.
la-croix.com, Loup Besmond de Senneville, Rôma, 2024-06-07
Thượng phụ Bartholomew, Đức Phanxicô, tổng thống Mahmoud Abbas và Shimon Peres trong vườn Vatican ngày 8 tháng 6 năm 2014. MAX ROSSI/POOL / EPA/MAXPPP
Ở cuối bãi cỏ được cắt tỉa hoàn hảo, cây ô liu nằm dưới ánh nắng chói chang của thành phố Rôma gần 10 năm trôi qua, ngay trung tâm vườn Vatican, trong số ba người trồng, hôm nay chỉ có một người ngồi vào chiếc ghế bành lớn màu trắng.
Gần mười năm sau, cây vẫn còn sống. Nhưng nền hòa bình mà cây là biểu tượng bị nghẻn lối trầm trọng. Đức Phanxicô lên tiếng: “Ngày nay, việc ghi nhớ sự kiện này là điều quan trọng, đặc biệt trước những biến cố đáng tiếc đang xảy ra ở Israel và Palestine. Từ nhiều tháng qua, chúng ta đã chứng kiến làn sóng thù nghịch gia tăng, chúng ta thấy nhiều người vô tội chết trước mắt chúng ta.”
“Ảo tưởng chiến tranh có thể giải quyết vấn đề”
Trước khoảng hai mươi hồng y và khoảng năm mươi đại sứ, họ đối diện nhau trong khu vườn, như để tạo hàng danh dự dẫn đến cây ô liu, một lần nữa Đức Phanxicô lên tiếng kêu gọi chống chiến tranh: “Thay vì tự ru mình trong ảo tưởng chiến tranh có thể giải quyết các vấn đề và dẫn tới hòa bình, chúng ta phải phê phán và cảnh giác trước hệ tư tưởng đáng tiếc đang thống trị thế giới: xung đột, bạo lực và rạn nứt là một phần hoạt động bình thường của xã hội.”
Trong những tháng gần đây, các bài phát biểu của ngài ngày càng trực tiếp nói đến hòa bình: “Với những ai có đức tin, với những ai thiện tâm, tôi muốn nói: chúng ta tiếp tục mơ về hòa bình và xây dựng các quan hệ hòa bình! Mỗi ngày tôi đều cầu nguyện xin cho cuộc chiến này kết thúc.”
“Những sáng kiến này giúp ích cho chúng tôi, tất cả chúng tôi đều hy vọng”
Nhắc lại lời kêu gọi ngừng bắn, Đức Phanxicô xin thả các con tin Israel và xin viện trợ nhân đạo cho người dân Palestine. Ở hàng ghế đầu, cách ngài vài mét, các đại sứ Israel và Palestine chăm chú lắng nghe.
Vài phút sau, cùng với đại diện của Giáo hội hồi giáo và cộng đồng người do thái ở Rôma, những người đã tưới nước cho cây ô liu được trồng cách đây 10 năm. Một cử chỉ mang tính biểu tượng vừa rất mạnh vừa rất nhỏ bé trước thảm kịch ở Đất Thánh.
Khi kết thúc buổi lễ tưởng niệm, giáo sĩ do thái Alberto Funaro, một nhân vật trong cộng đồng do thái Ý giải thích: “Những sáng kiến này giúp ích cho chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều hy vọng.” Cách đó vài bước, giáo sĩ hồi giáo Abdallah Redouane từ chối bình luận.
Buổi lễ diễn ra trong bối cảnh tế nhị, vì từ ngày 7 tháng 10, Vatican như bước đi trên sườn núi cheo leo. Kể từ khi Hamas tấn công khủng bố vào Israel, Vatican chưa bao giờ từ bỏ đường lối lịch sử của mình: ủng hộ sự cùng tồn tại của hai quốc gia Palestine và Israel, cũng như đặt thành phố Giêrusalem theo quy chế quốc tế.
Sự khó chịu của Israel
Nhưng trong những tháng gần đây, quan hệ giữa Vatican và Israel thường xuyên bị căng thẳng. Vài ngày sau vụ tấn công khủng bố của Hamas, Tòa Thánh thông báo với chính phủ Israel, Vatican không chấp nhận việc “đáp trả khủng bố bằng khủng bố”.
Sau đó, hồng y Pietro Parolin đã nhiều lần lên tiếng về phản ứng “không cân xứng” của quân đội Israel. Về phần giáo hoàng, ngài tiếp tục kêu gọi thả các con tin Israel ngày 7 tháng 10, nhưng ngài luôn bị Tel Aviv nghi ngờ là nghiêng về phía người Palestine.
Họ đặc biệt chỉ trích Đức Phanxicô vì ngài luôn gọi cho giáo xứ công giáo ở Gaza. Phía Israel nói: “Ngài không làm bất cứ điều gì như vậy cho phía bên kia”. Nhưng ở Rôma, hai quốc gia ít nhất có một điểm chung: lời mời chung của tổng giám mục ngoại giao Paul Gallagher. Tổng giám mục có thể can thiệp sau mùa hè.
Một ngày trước buổi lễ ở Vatican, trong một buổi tiếp tân nhân lễ Quốc khánh Israel, tổng giám mục Gallagher nhấn mạnh: “Những xung đột rất nguy hiểm trên quy mô khu vực, nhưng Vatican không đóng cửa với bất cứ ai”. Một cách để biện minh cho việc đối thoại với tất cả các bên. Ngài cầu xin: “Có thể đối thoại và hiểu biết. Có một nhu cầu rất lớn cho hòa bình. Hòa bình, hòa bình và hòa bình.”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Lào có 60.000 giáo dân, một hồng y và các tu sĩ dòng Phanxicô nhiệt thành

Lào có 60.000 giáo dân, một hồng y và các tu sĩ dòng Phanxicô nhiệt thành

cath.ch, Lucienne Bittarr, 2024-06-05

Nhà thờ Thánh Têrêxa Savannakhet, miền nam nước Lào | © Flickr/Philip Roeland/CC BY-NC-ND 2.0

Linh mục Campuchia Paul Chatsirey Roeung, linh mục đại diện của Phnom Penh giải thích với hãng tin Fides: “Giáo dân của cộng đồng công giáo nhỏ bé Lào có một tinh thần truyền giáo nhiệt thành, họ hoạt động đắc lực cho tương lai Giáo hội địa phương. Theo các quy định hiện hành, chính phủ không cho các nhà truyền giáo nước ngoài lưu trú lâu dài trong nước.”

Lào là nước xã hội chủ nghĩa có 7,5 triệu dân, đa số theo phật giáo và chỉ có 60.000 người công giáo. Giáo hội công giáo được Mặt trận Phát triển Quốc gia Lào chính thức công nhận năm 1979 và mối quan hệ của Giáo hội với chính phủ dần dần được cải thiện. Năm 1991, tự do tôn giáo được Hiến pháp công nhận dành cho bốn tôn giáo chính: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo và Bahai

Mới đầu Giáo hội là một phần của Đại diện Tông tòa Đông Xiêm. Ngày nay Giáo hội có bốn hạt đại diện, Vientiane, Paksè, Luang Prabang và Savannakhet. Kể từ năm 2017, Lào có hồng y Louis-Marie Ling Mangkhanekhoun, đại diện tông tòa Vatican, hiện nay ngài đã 80 tuổi.

Để thực hiện công việc mục vụ, Giáo hội công giáo Lào chủ yếu dựa vào giáo dân. Cha Chatsirey Roeung cho biết, công việc mục vụ truyền giáo được thực hiện theo từng bước nhỏ: “Các giáo lý viên đi theo các linh mục khắp các làng và cử hành các bí tích. Đôi khi, tùy theo nhu cầu, các giáo lý viên đi một mình, làm chứng cho đức tin, rao giảng Tin Mừng và rửa tội cho tân tòng.”

Giáo hội lo ơn gọi cho linh mục bản địa, tu sĩ thánh hiến và giáo dân.  Cha Chatsirey Roeung, người Campuchia cho biết, dù gặp khó khăn nhưng người trẻ vẫn đến với ơn gọi, hiện nay Lào có 50 chủng sinh.

Linh mục Roeung là giám đốc Hiệp hội Truyền giáo Giáo hoàng Lào và Campuchia, ngài thường đến thăm cộng đồng công giáo Lào. Ngài cho biết, sinh hoạt mục vụ diễn ra một cách hòa bình, nhưng với các cuộc họp đông người hoặc những sáng kiến đặc biệt thì phức tạp hơn, Giáo hội phải xin phép chính quyền. Tuy nhiên, tùy theo lãnh đạo tỉnh địa phương, mối quan hệ giữa Giáo hội và Nhà nước ít nhiều được linh động dễ dàng.

Một cộng đoàn nhỏ Anh em hèn mọn hoạt động tích cực

Ở miền nam Lào, hạt Paksè có 22.000 giáo dân, 8 linh mục giáo phận và các tu sĩ dòng Phanxicô. Họ sống trong ngôi làng ban đầu dành cho người cùi của một linh mục truyền giáo Pháp. Họ lo mục vụ cho năm ngôi làng và bốn cơ sở truyền giáo trên lãnh thổ. Giám đốc Hiệp hội Truyền giáo Giáo hoàng cho biết: “Trong mười năm qua, các tu sĩ đã hoàn thành việc xây dựng năm nhà thờ bằng gạch và bốn nhà nguyện bằng gỗ, các nhà tĩnh tâm và đào tạo của hạt đại diện”. Họ đứng đằng sau các dự án phát triển để cung cấp điện và nước uống cho các cộng đồng nông thôn rất nghèo, ngoài ra họ còn quản lý hai ký túc xá sinh viên.

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô lo ngại có những nơi không còn ơn gọi

Đức Phanxicô lo ngại có những nơi không còn ơn gọi

fr.aleteia.org, I.Media, 2024-06-06

Ngày thứ năm 6 tháng 6-2024, khi tiếp các thành viên tham dự phiên họp toàn thể của Bộ Giáo sĩ, Đức Phanxicô lo ngại về sự sụt giảm số lượng ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến, có những nơi không còn ơn gọi.

Trong những năm gần đây, số lượng chủng sinh giảm rõ rệt, có những nơi đã không còn ơn gọi, tình trạng này ảnh hưởng đến toàn thế giới trừ châu Phi. Ngày thứ năm 6 tháng 6, khi tham dự phiên họp toàn thể của bộ Giáo sĩ, cơ quan phục vụ khoảng 407.000 linh mục công giáo trên thế giới, ngài xin họ không bỏ cuộc, tìm giải pháp cho thách thức lớn lao này của người công giáo: “Một trong những thách thức lớn của chúng ta là ở nhiều vùng trên thế giới, ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến giảm rất mạnh, ở một số nước gần như không còn.”

 

Theo ngài, cuộc khủng hoảng không chỉ ảnh hưởng đến chức linh mục mà còn ảnh hưởng đến “ơn gọi hôn nhân, với ý thức cam kết và sứ mệnh đòi hỏi của đời sống gia đình”. Ngài nhấn mạnh: “Chúng ta không thể cam chịu trước thực tế này, rất nhiều người trẻ không còn cống hiến cho đời sống gia đình.” Cách đây vài ngày, trong bài phát biểu trước các nữ tu Ý, Đức Phanxicô đã nói lên lo ngại của ngài về sự thiếu hụt ơn gọi ở Ý.

Năm 2021, theo dữ liệu của một báo cáo của Hội đồng Giám mục Ý, chỉ trong 10 năm ơn gọi đã giảm 28%. Trong 50 năm, số chủng sinh ở Ý đã giảm hơn một nửa: năm 1970 có 6.337 chủng sinh, năm 2019 chỉ còn 2.103.

Theo dữ liệu năm 2023, ở châu Âu trong vòng 10 năm, lục địa này đã mất khoảng 27.000 linh mục, 6.000 chủng sinh và gần 80.000 nữ tu. Ngoài Châu Phi, chủng sinh ở các châu lục khác đều giảm.

Các linh mục bị kiệt sức

Trong bài phát biểu sáng nay, ngài nhắc lại, trong suốt triều giáo hoàng của ngài, ngài luôn nói về nguy cơ của chủ nghĩa giáo quyền và tinh thần thế tục: “Nhưng tôi biết rõ, đại đa số các linh mục quảng đại làm việc với tinh thần đức tin vì lợi ích giáo dân đã bị mệt mỏi và phải đối diện với những thách thức mục vụ và thiêng liêng không hề dễ dàng.”

Ngài nhấn mạnh đến việc thường huấn cho các linh mục, một yếu tố thiết yếu do sự thay đổi quá nhanh chóng. Về chủ đề phó tế, ngài nhắc lại, Công đồng Vatican II đã đề cập và vẫn cần suy nghĩ về căn tính cụ thể của thừa tác vụ này. Ngài không đề cập đến chức phó tế nữ mà ngài đã loại trừ rõ trong cuộc phỏng vấn với kênh CBS của Mỹ, phát sóng ngày 21 tháng 5.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bệnh viện Gemelli Rôma giúp trẻ em bị chứng phiền muộn giới tính

Bệnh viện Gemelli Rôma giúp trẻ em bị chứng phiền muộn giới tính

fr.zenit.org, Valentine di Giorgio, 2024-06-05

Ngày 14 tháng 3, bệnh viện Gemelli mở dịch vụ tư vấn đa ngành, dịch vụ này giúp các thanh thiếu niên bị xáo trộn vì bản sắc cá nhân và tình dục (chứng phiền muộn giới tính). Ông Gabriele Sani, trưởng khoa tâm thần giải thích: “Dịch vụ này không chỉ trị liệu nhưng còn nghiên cứu, lắng nghe để hiểu và giảm bớt nỗi đau của các thanh thiếu niên.”

Sáng kiến này nhằm đáp ứng số lượng xin trợ giúp ngày càng tăng. Ông Sani là giáo sư tại Đại học Công giáo, giám đốc một số đơn vị tâm thần của bệnh viện Gemelli cho biết: “Dịch vụ mới dành cho chứng phiền muộn giới tính được thành lập để hỗ trợ toàn diện và cá nhân hóa, bao gồm việc đánh giá để xác định loại và thời gian điều trị thích hợp nhất, với sự tham gia của các chuyên gia về tâm thần học, tâm thần kinh và tâm lý học lâm sàng.”

Một khóa học trị liệu thích ứng

Quá trình này bắt đầu bằng cuộc phỏng vấn, sau đó các người trẻ và gia đình có thể chọn cách điều trị cá nhân hoặc theo nhóm. Khi kết thúc khóa trị liệu, họ sẽ được cấp chứng chỉ nêu chi tiết về tính chất và thời gian điều trị cũng như tình trạng lâm sàng của họ.

Bà Maria Luisa Di Pietro, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu về Sức khỏe Sinh sản tại Đại học Công giáo nhấn mạnh đến tầm quan trọng trong việc hỗ trợ cá nhân từ thơ ấu để xây dựng bản sắc. Bà lưu ý, chứng phiền muộn về giới tính là phản ánh của sự thay đổi văn hóa xã hội sâu sắc do thời đại kỹ thuật số mang lại.

Thế nào là chứng phiền muộn giới tính? Nghiên cứu gia khoa tâm thần Federico Tonioni và là bác sĩ tại Bệnh viện Gemelli lưu ý: “Chứng phiền muộn giới tính cũng như các vấn đề khác như hội chứng cô lập và rối loạn học tập ở giới hạn giữa tiềm năng tiến hóa của con người và nguồn gốc của các bệnh tâm lý mới, cần phải hiểu những hiện tượng này một cách không thành kiến, trong một thế giới ngày càng phức tạp của giới trẻ.”

Xây dựng bản sắc một cách lành mạnh ngay từ khi còn nhỏ

Ông Eugenio Maria Mercuri, giám đốc phân khoa Phụ nữ, Trẻ em và Sức khỏe Cộng đồng của bệnh viện Gemelli nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định và điều trị những vấn đề này ngay từ khi còn nhỏ, nhằm xây dựng bản sắc một cách lành mạnh.

Bà Daniela Chieffo, trưởng khoa Tâm lý học lâm sàng của bệnh viện Gemelli giải thích, chứng phiền muộn giới tính là sự không phù hợp giữa giới tính khi sinh và giới tính được nhận thức, tạo ra sự khó chịu đáng kể và ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của đương sự. Bà nhấn mạnh bản sắc giới là một quá trình phức tạp chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý và môi trường, có thể phát triển trong suốt cuộc đời.

Marta An Nguyễn dịch

Dịu ngọt tâm hồn

Dịu ngọt tâm hồn

Có ai nếm được mùi vị dịu ngọt của tâm hồn, nghĩ về ai, có lúc nào chúng ta cảm thấy tâm hồn mình được dịu ngọt như ướp mật không? Sống là có va chạm, nghĩ cho cùng, cuộc sống không thể là tuần trăng mật vĩnh viễn được! Người xưa đã chẳng nói có người hiểu mình, chết không ôm hận! Có bao giờ bạn nghĩ cha mẹ đã hiểu mình đủ, đã cho mình những giây phút dịu ngọt?

Nếu tôi là đứa con đàng hoàng, mang vinh dự về cho cha mẹ, tôi sẽ không nếm được những giây phút dịu ngọt mẹ tôi cho tôi. Phải ở trong cảnh đáng bị la mắng mới hiểu được dịu ngọt tâm hồn là gì.

 

Tôi không thể nào nói hết các ngông cuồng tuổi thanh xuân của tôi. Các văn sĩ đã chẳng biện hộ cho những ngông cuồng của họ khi họ nói: “Những chuyện không bao giờ tiếc nuối là những chuyện ngông cuồng đã làm trong tuổi thanh xuân!” Cũng không xa thời thanh xuân bao nhiêu, nhưng giờ đây đó là những tài sản quý báu của tôi, làm sao tôi quên được những đêm thức trắng chén chú chén anh với các bạn, những lần nhấn hết ga thử máy xe, những nợ nần chi tiêu quá trớn, những phiêu lưu tán tỉnh, những lần nhận giấy phạt cảnh sát như các em bé học giỏi nhận giấy khen thưởng…

Tôi đứng trước chân tường với biên lai đến hạn trả, với giấy phạt phải trả trong 24 giờ! Mẹ tôi biết các chuyện này, bà chẳng ngạc nhiên.

Bà, người tôi vẫn cho là chẳng biết gì, người còn sống ở thời tiền sử, không truyền hình, không điện thoại cầm tay, không xe chiến; tất cả những gì bà không có, tôi có. Bà ví tôi như Trư Bát Giới, rượu thịt chưa no thì phải ăn cho no. Bà kệ tôi!

Bà kệ tôi nhưng bà không kệ tôi, vì mỗi lần tôi gặp vấn đề, bà như đứng trước mặt tôi, ôm tôi vào lòng, nhẹ nhàng giải quyết, nhẹ nhàng nói với tôi: “Mẹ thương con.” Lý ra tôi phải bị la mắng, đã có lần tôi xin bà cứ la tôi nhưng khi nào bà cũng nói: “Mẹ thương con.” Tôi không hiểu vì sao bà chỉ nói một câu đó. Không có cách nào biện hộ cho những ngông cuồng của tôi, tôi cũng nói với bà “Con thương mẹ”.

Tôi nói làu đến mức tôi có thể nói với bất cứ ai: “Con thương… ông ngoại, con thương bà ngoại, con thương…”, tôi nghĩ như tôi đang nói với mẹ tôi.

Gần như mẹ tôi chỉ chờ những dịp như vậy để nói “Mẹ thương con!”

Tôi không bao giờ có thể quên câu chuyện ngày thứ sáu đầu tháng bảy năm 2003. Tháng 6 là tháng sinh nhật tôi, trước đó mấy tháng, công ty Bảo hiểm xe gởi giấy tái hạn bằng lái, tôi không để ý… vì bận đi nghỉ hè! Tôi thản nhiên lái xe với bằng lái hết hạn. Ba giờ sáng thứ sáu, trên đường về nhà, tôi bị cảnh sát gọi kiểm tra giấy tờ… Tôi tái mặt với giấy phạt 410 đồng! Về nhà, thấy đèn phòng mẹ tôi còn sáng, tôi biết bà còn thức. Đưa giấy phạt cho bà xem, bà chẳng ngạc nhiên, bà nói: “Mẹ biết, con ở trên sổ đen của cảnh sát. Chẳng có gì khó khăn với họ, người trẻ này chưa tái hạn bằng lái, chiếc xe mang bảng số… tuần quanh khu vực đương sự ở thì sẽ túm được! Phải túm ngay mới làm cho đương sự vào khuôn phép, chờ đến thứ hai thì nó sẽ đi tái hạn!”

Lạ một điều, bà như thiên thần bảo vệ tôi, tôi chết điếng với giấy phạt thì bà đã biết trước, bà bảo nếu bà nói không có tiền để trả là chuyện không đúng sự thật, bà sẽ trả; điều bà muốn là tôi phải ý thức việc tôi làm.

Ý thức! Các cha mẹ thường hăm dọa con cái khi chúng bỏ học: “Cha mẹ nuôi con là để con đi học; nếu con đi làm thì con tự nuôi con, xin mời con ra riêng.” Bà không nói được câu đó vì bà không muốn hăm dọa tôi! Bà giải thích, vì ý thức của con cái chưa phát triển nên cha mẹ phải dùng biện pháp đó. Còn phần bà, bà không dùng, bà chờ ngày tôi mở mắt!

Nghe bà nói, lòng tôi quặn lên… những chuyện đáng lý tôi chôn giấu trong lòng, bỗng tôi nói ra một cách dễ dàng với bà. Ngay lập tức, tôi quyết định không đi làm nữa, tôi cần có thì giờ để sắp xếp lại cuộc sống, đầu óc thư giản nghĩ đến chuyện học, tôi dọn dẹp lại nhà cửa.

Tôi mở mắt! Làm sao tôi có thể mở mắt cho trọn được? Nhưng trước mắt, tôi không muốn làm nô lệ cho công việc. Tôi thấy rõ được quan hệ giữa tôi và ông chủ, giữa tôi và bạn gái, giữa tôi và cha mẹ, bạn bè. Tôi hiểu được quan hệ nào cho tôi dịu ngọt tâm hồn.

Tôi bắt đầu nếm vị ngọt tâm hồn của tình gia đình, tôi biết một khi đã nếm được thì mình sẽ muốn nếm hoài. Vì sao mẹ tôi nghĩ với lòng tốt có ngày bà sẽ chinh phục được tôi? Mẹ tôi không sợ tôi sẽ lợi dụng và bị mù mắt mãi sao? “Mỗi người phải đối diện với ý thức của mình, cần phải la mắng mới có ý thức sao, nó sẽ làm chai cứng ý thức,” mẹ tôi hay nói như vậy.

Tôi biết bà lo cho tôi rất nhiều, bà cầu nguyện cho tôi rất nhiều… dù bà hay nói bà phó thác mọi chuyện vào tay Chúa. Tôi mường tượng có một bàn tay kỳ dị nào đó làm những việc gì đó thật lạ lùng; những lúc mẹ tôi buồn về tôi nhiều nhất, lúc đó có một biến cố nguy hiểm xảy đến cho tôi, tôi cần đến bà và tôi có dịp chứng nghiệm tâm hồn dịu ngọt của bà.

Những dịu ngọt tâm hồn, tôi đã nếm và tôi biết càng ngày tôi càng nếm một cách thâm sâu hơn.

Marta An Nguyễn

Cứu tâm hồn…

Bài mới nhất