Home Blog Page 1431

Đức Phanxicô điện thoại cho ông Christian Estrosi, cựu thị trưởng thành phố Nice

cath.ch, 2016-07-17

Đức Phanxicô trong buổi tiếp kiến ngày thứ bảy 20160514

Hai ngày sau vụ thảm sát ở Nice, chiều 14 tháng 7-2016, Đức Phanxicô đã gọi điện thoại cho ông Christian Estrosi, cựu thị trưởng thành phố Nice. Chủ tịch vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur đăng trên trang mạng xã hội Twitter của mình: “Xúc động vì Đức Phanxicô gọi điện thoại cho tôi để nhờ tôi chuyển lời cầu nguyện và suy nghĩ của ngài cho người dân Nice và cho gia đình các nạn nhân», ông viết vài hàng ngắn.

Trước đó, ngài cũng gọi điện thoại cho ông Paolo Celi, chủ tịch Hiệp hội thân hữu Pháp-Ý: “Chiều nay tôi đã có một cuộc điện thoại riêng với Đức Phanxicô», ông giải thích cho nhật báo địa phương  Nice Matin vào chiều 16 tháng 7. “Ngài xin tôi chuyển lời hỏi thăm của ngài đến tất cả các gia đình liên hệ xa hay gần với thảm kịch bi đát này, với tất cả người dân thành phố Nice và dân tộc Pháp, ông nói. Ngài quá kinh hoàng bởi các biến cố này và khẩn cầu xin có hòa bình giữa con người của mọi chủng tộc, mọi tôn giáo, mọi thuộc về.»

Đức Phanxicô “không hiểu vì sao người ta có thể tấn công vào trẻ em và các gia đình họp nhau lại để chia sẻ một giây phút hạnh phúc», ông Paolo Celi nhắc lại. “Ngài xin tất cả cầu nguyện cho các nạn nhân và cho ngài để ngài có sức mạnh hoàn thành công việc của mình», ông chủ tịch Hiệp hội thân hữu Pháp-Ý nói thêm. Ông Paolo Celi cho biết, sau đó Đức Phanxicô xin “chuyển tin nhắn này đến ông Estrosi, và tôi đã làm, và hai người cũng đã điện thoại cho nhau».

Chiều 14 tháng 7, Mohamed Lahouaiej-Bouhel, một tài xế-giao hàng 31 tuổi đã đâm xe tải vào đám đông tụ tập để xem buổi đốt pháo bông truyền thống, giết hại 84 người, trong số này có hàng chục trẻ em và các em vị thành niên, và hơn 200 người bị thương. Nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng tự nhận mình chủ mưu cuộc tấn công này.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Chiến thắng mà chúng ta không bao giờ tặng cho quân khủng bố

 

lavie.fr, Jean-Pierre Denis, chủ biên, 2016-07-15

Hoa cẩm chướng, lỗ đạn trên kính ở Paris

Hình ảnh các xác chết nằm la liệt dưới các cây cọ ở quảng đường đi dạo dọc bờ biển Nice sẽ còn in mãi trong đầu chúng ta. Sự lặp đi lặp lại kinh hoàng không làm giảm nhẹ kinh hoàng. Lòng trắc ẩn với những người vô tội bị thương hay bị cán nát vượt tất cả những gì có thể viết ở đây.

Ba lần nước Pháp bị tấn công, đó là không kể các vụ Merah, các vụ của những người «loạn óc», những «con sói đơn độc», những người «mất thăng bằng». Không kể các vụ được khám phá kịp thời. Không kể đến các vụ ở ngoài biên giới chúng ta: Orlando, Bruxelles, Bagdad, Tunis, Istanbul, Dacca… Bây giờ ai còn nghĩ đến việc tỏ tình đoàn kết «Tôi là Charlie» và thắp sáng Tháp Eiffel? Ai dám lên tiếng «Không bao giờ có chuyện này nữa»? Chúng ta cảm nhận cần phải im lặng, cần phải khóc, cần phải ôm nhau trong tay, cần phải cúi đầu mặc niệm. Nếu trước đây chưa hiểu, thì bây giờ hiểu. Bây giờ chúng ta biết là phải sống với, là còn một thời gian nào đó nữa.

Nhưng đương nhiên câu hỏi sẽ trở lại là: Làm gì? Trước hết, hy vọng. Dù phải cẩn thận về lý lịch và các động lực chính của kẻ giết người, vì chúng ta chưa biết nhiều khi tôi viết những dòng này, thì chuyện hiển nhiên, là sự quốc tế hóa của các vụ tấn công khủng bố của hồi giáo cực đoan đã đi vào trong kỷ nguyên của những «bản quyền của sự dữ». Rất khó để phát hiện ra những cơ sở nhỏ đê tiện bỗng dưng đi phục vụ cho họ, đôi khi một mình, nhưng thường thường là với sự hỗ trợ của những người chung quanh, cha mẹ, bạn bè, phe đảng vặt hay những người buôn ma túy. Chúng ta khó mà phá các tổ chức tội phạm ủng hộ họ, phát hiện các mạng gia đình, những người đồng lõa ẩn giấu. Và còn cả đạo binh cuồng tín vây chung quanh nhiều nguyện đường hồi giáo, có ảnh hưởng trên quá nhiều người trẻ trong quá nhiều khu vực – tất cả các hiện tượng này mà đứng trước nó, chúng ta thường đi lui. Ngoài ra, chúng ta phải thẳng thắn chấp nhận: có thể chúng ta sẽ không tránh khỏi các chiếc xe gài mìn khác, những chiếc xe tải điên khác, những thành phố Nice khác. Tuy nhiên, dù nó mang hay không mang cái tên gọi là Nhà nước Hồi giáo Tự xưng thì chủ nghĩa khủng bố sẽ bị thất bại như tất cả các chủ nghĩa toàn trị khác. Ở Irak, ở Syrie, nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng đã mất đất. Đến bây giờ, dù phải lặp lại trong đau buồn khi thành phố Nice bị thảm sát, các vụ rút lui của quân ngụy-lãnh tụ hồi giáo vẫn mang hy vọng: ít tiền, ít lôi cuốn, một «tính vô địch» đã bị giải mã, không còn mang tính huyền thoại. Nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng đã không còn sức mạnh tất yếu mà chiến dịch tuyên truyền của họ huyên hoang cách đây không lâu. Các hành động mù quáng nhân lên gấp bội, các nước bị nhắm để tấn công làm chúng ta ấn tượng. Nhưng dù vậy, đúng, chủ nghĩa khủng bố sẽ bị phá tan. Từ đây đến mười năm nữa. Có thể. Không ai biết. Nhưng phải cần thời gian và nước mắt, nhưng nó sẽ đến.

Các người hồi giáo muốn thiết lập ảnh hưởng của họ trên đời sống chúng ta, cuộc sống hàng ngày, tư tưởng chúng ta

Trong lúc chờ đợi, đương nhiên, chuyện tăng cường  an ninh là điều không thể tránh. Những năm dưới thời tổng thống Sarkozy là những năm có hại: ít cảnh sát, biến mất các chỉ dẫn chung. Những năm của tổng thống Hollande thì không đề cập đến.  Mặc dù có những thất bại, nhưng cũng có thành công, đôi khi không thấy rõ: các vụ khủng bố được báo trước, các tên tội phạm bị vô hiệu hóa. Và không một nước nào có thể tự cho mình tránh được. Dù vậy, các lần tổng thống xuất hiện, tiếp tục và đều giống nhau, rất nhiều đề nghị được đưa ra ầm ầm. Tổng thống ban hành lệnh khẩn trương trơn trợt, hướng sự kiện thành tấn công và tấn công thành sự kiện. Ông bắt đầu có vẻ như khốn cùng, u ám, lạc hướng. Một vài người đòi giữ tình trạng khẩn trương liên tục. Ít nhất một năm trong năm bầu cử, nhiều ứng viên còn muốn nhiều hơn. Một loại «trump-hóa» đáng sợ, kiểu mặc cho quyền Quốc gia, chủ trương «tất cả chống tất cả» hay «tôi còn  đánh mạnh hơn». Nếu chính quyền không còn quyền uy, như trường hợp bây giờ, thì ích gì để giữ tình trạng khẩn trương? Nhưng nếu chính quyền có quyền uy thì làm sao ngăn được sự trượt dốc? Còn về các biện pháp an ninh rõ rệt, nó không bắt buộc phải luôn luôn là yếu tố quyết định. Bắt mở xắc khi vào các cửa hàng sẽ không ngăn được thế hệ của những cái đầu bị cháy này. Để thêm cửa ở các xe lửa Thalys, như đã làm, cũng không ngăn được vụ thảm sát ở Nice. Vậy ai có thể còn tin được nó?

Nghiêm trọng hơn, một bản báo cáo gần đây của nghị viện cho biết có những điểm yếu trong hệ thống lấy tin tức. Các kết luận của bản báo cáo này thật sự đã không được đưa ra tranh cãi, nhưng nó bị gạt ra một cách kỳ lạ. Các «dịch vụ» phải được tái cơ cấu, đồng loạt và phong phú như người Mỹ đã làm sau vụ 11 tháng 9. Tình trạng của các lực lượng tái lập trật tự cũng đáng lo. Họ thường xuyên sống trong căng thẳng. Các quân số của họ có vẻ không đủ để đi từ cơn khủng hoảng này đến cơn khủng hoảng khác lặp lại thường xuyên như vậy, rồi đến cơn khủng hoảng gần đây. Các quân số của cảnh sát, của quân đội, của hiến binh phải được tăng cường, cũng như của tòa án. Nhưng lấy tiền đâu? Chúng ta không không tránh né cuộc thảo luận chính trị này.

Cuối cùng, chúng ta lập lại ở đây với một hy vọng mong manh nó được nghe, câu trả lời cũng là câu trả lời tâm lý và tùy thuộc vào từng người. Các người hồi giáo muốn mặc kệ chúng ta, họ thiết lập ảnh hưởng của họ trên đời sống chúng ta, trên cuộc sống hàng này, trên tư tưởng chúng ta. Họ cố gắng chứng tỏ họ có khả năng đánh bất cứ ai, bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Cho đến bây giờ, có vẻ như họ đã đạt được. Nhưng dù gì chăng nữa, như sau vụ đánh vào tòa báo Charlie, và sau mỗi lần họ giết người, chúng ta phải cẩn thận: chiến thắng trên các giá trị, trên đời sống cụ thể của chúng ta, chúng ta không muốn tặng cho họ. Tôi đã viết sau vụ Charlie, tôi vẫn còn viết: chúng ta không nhường một cái gì. Không nhường đất, cũng không nhường tư tưởng. Chúng ta đừng rơi vào cuồng hoảng. Sức mạnh của chính quyền, sức mạnh của luật pháp, sức mạnh của các giá trị sẽ duy trì lợi ích chung. Đoàn kết, các sức mạnh này sẽ đập dồn dập chủ nghĩa hồi giáo trong các sự kiện vì chúng ta kháng cự lại trong đầu chúng ta.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Alain Bauer: «Chúng ta ít tưởng tượng hơn các tên khủng bố»

famillechretienne.fr, Samuel Pruvot, 2016-07-18

Cuộc tấn công khủng bố ở Nice ngày 14 tháng 7 dìm chúng ta trong kinh hoàng, nhưng kỹ thuật của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng dùng không phải là mới. Nhà tội phạm học Alain Bauer bày tỏ quan điểm.

 

Binh lính Pháp canh giữ Paris sau vụ khủng bố
Binh lính Pháp canh giữ Paris sau vụ khủng bố

Tại sao quân khủng bố muốn tấn công Nice vào ngày 14 tháng 7?

Ngày 14 tháng 7 là một ngày tượng trưng của chúng ta chứ không phải của quân khủng bố. Nhưng đặt tầm quan trọng quá cao vào ngày này, đó là cách nhìn của người Phương Tây. Điều quan trọng ở Nice, không phải là ngày nhưng là sự kiện có nhiều người tụ họp ở đường Promenade des Anglais. Các tên khủng bố rất thực tiễn và mục đích của chúng là giết được càng nhiều người càng tốt.

Có nên nghĩ đây là cách khủng bố mới, dùng xe vận tải như vũ khí giết người hàng loạt?

Chúng ta đã biết cách làm tương tự như thế này ở Dijon năm 2014. Một ông lái xe cán lên khách bộ hành và theo các nhân chứng cho biết, ông hét lên «Allah akbar!» Ở Israel, theo các con số cho biết, có cả năm chục vụ tấn công khủng bố kiểu này và có vài vụ quân khủng bố dùng xe vận tải nặng của công trường… Chúng ta ít tưởng tượng hơn các tên khủng bố và nhất là ít ký ức. Với nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng, cái mới là họ có khả năng làm nhiều kiểu hành động rất khác nhau. Nhưng họ không làm gì hết mà không thử nghiệm trước và ở chỗ khác.

Đến một lúc, người Pháp phải dùng con đường cam chịu. Cả đến kháng cự.

Làm sao kháng cự được với các tên khủng bố mà với họ, mạng sống con người không còn một giá trị nào, kể cả mạng sống của trẻ con?

Chúng ta đã biết điều này. Ở London, vào những năm 1944-45, các hỏa tiễn V1 và V2 bị lực lượng Đức bắn bất cứ đâu. Mục đích là để khủng bố tinh thần. Không phải vì lúc nào chúng ta cũng quên mà nghĩ mọi sự luôn mới! Ở Pháp, chúng ta đã có những cuộc Tấn công Quân sự Bí mật (OAS). Đến một lúc, người Pháp sẽ phải dùng con đường cam chịu. Cả đến kháng cự. Chúng ta đã nghĩ chiến tranh là một trò chơi video không hệ quả. Nhưng không, chiến tranh ở tại nhà chúng ta! Đi con đường kháng cự là phải dự trù một tiến trình lâu dài. Chúng ta phải chiến đấu với Nhà nước Hồi giáo Tự xưng bằng mặt quân sự nhưng cũng cả về mặt dân sự.

Tại sao Chúa lại cho phép có các cuộc tấn công?

famillechretienne.fr, linh mục Nicolas Buttet, 2016-07-15

Đức Phanxicô cầu nguyện bên bức tường than khóc, Jerusalem
Đức Phanxicô cầu nguyện bên bức tường than khóc, Jerusalem

Trước hết phải khẳng định là Chúa chỉ muốn điều tốt. Trước các thảm kịch của loài người, Chúa đã trả lời một cách tối hậu qua Con Thiên Chúa, Chúa Giêsu bị đóng đinh và sống lại. Đấng Vô Tội bị tử đạo và chiến thắng sự dữ bằng sự điên rồ của lòng thương xót.

Chúng ta biết rằng, từ thập giá Chúa Kitô, số phận của con người và của Chúa gắn kết với nhau: ai đụng đến con người là đụng đến Chúa; ai đụng đến Chúa là nhất thiết đụng đến con người. Chúng ta phải nhớ lại «chúng ta không có cách nào dò tìm được bí mật của Thiên Chúa, chúng ta chỉ thấy từng mẫu đoạn và sẽ sai lầm khi muốn phán xét Chúa và Lịch sử», Đức Bênêđictô XVI đã nói ở trại tập trung Auschwitz như trên. Bà Etty Hillesum, người tử đạo ở trại tập trung này đã viết: «Thiên Chúa không phải trả lời cho chúng ta về các việc điên cuồng mà con người phạm».

Điều này cho biết, các cuộc tấn công buộc chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc. Một cách lý tính và một cách thiêng liêng.

Trước hết, một cách lý tính. Triết gia người Pháp René Girard đã đặt một ánh sáng cho «trào lưu của những thái cực» trong các bạo lực trên thế giới, được thể hiện đáng kể qua hiện tượng khủng bố và chống khủng bố, nhưng cũng qua các cuộc chiến tranh kinh tế và khủng hoảng môi sinh. Suy niệm về các thảm kịch này, Đức Phanxicô đã nói: «Chúa Giêsu khóc! Vì chúng ta thích nhìn con đường của chiến tranh, hận thù và sỉ nhục. Chúng ta sắp gần lễ Giáng Sinh: sẽ có đèn sáng, sẽ có máng cỏ… Nhưng tất cả đều sai: thế giới không hiểu con đường của hòa bình».

Triết gia Jean-François Mattei nói đến sự bùng lên của những chuyện man rợ mới. Triết gia Roger Pol-Droit định nghĩa man rợ như «người ở nơi khác, không biết phong tục tập quán chung của loài người. Các người man rợ là những người đi vào cuộc đời mà cắt đứt giữa chính mình và các người khác». Đứng trước sự man rợ, các lời thần chú của giới truyền thông sẽ không đủ để nhân loại hóa thế giới chúng ta. Chúng ta hãy nghe văn sĩ hồi giáo Abdennour Bidar nói: «Cơn khủng hoảng chính của chúng ta […] là cơn khủng hoảng thiêng liêng của sự thiếu gốc rễ – nơi những người ưu tú và nơi đám đông – của một tầm nhìn của một điều cao cả nơi con người. Và đó là bộ mặt thật của chủ nghĩa toàn trị ngày nay: đó là âm mưu thầm kín của mọi sức mạnh trí tuệ và xã hội dìm con người vào một sự hiện hữu không có một chiều dọc nào».

Về phần mình, Đức Bênêđictô XVI nêu lên hai thể hiện «sự làm thành man rợ» (Thérèse Delpech) của thế giới: lạm dụng danh Chúa để biện minh cho sự hung bạo mù quáng chống người vô tội; và tính yếm thế không nhận biết Chúa và còn nhạo báng đức tin vào Ngài.

Qua một tai họa như vậy, nhận định để chọn một sự thiện hơn là sự dữ.

Cái nhìn thiêng liêng mời gọi chúng ta kéo dài suy tư này. Mỗi lần Chúa Giêsu nói các tai ương cho những người thời của Ngài, là Ngài nhắc để họ hoán cải. Ngài cũng nhắc nơi cất giữ di tích Lịch sử nằm trong tâm hồn mỗi người: chúng ta được gọi để chọn giữa huyền bí của điều bất chính (2 Th 2, 7), là không tuân phục Chúa, và huyền bí của lòng hiếu thảo (1 Tm 3, 16), là sự tuân phục của người con đối với Người Cha.

Auschwitz, Đức Bênêđictô XVI đã kết luận như sau: «Chúng ta dâng lên một tiếng khóc hướng về Chúa để Ngài thúc đầy con người ăn ăn hối cải». Với bà Etty Hillesum, chúng ta có thể thêm: «Lạy Chúa, con nhìn thế giới của Chúa ở tận đáy mắt và con vẫn say sưa ca tụng Tạo Dựng của Chúa, mặc dù cho tất cả, Chúa ơi!»

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Hocine Drouiche, phó chủ tịch Hội đồng các giáo sĩ imam Pháp từ chức để tố cáo sự im lặng của các thể chế hồi giáo

 

cath.ch, Pierre Pistoletti, 2016-07-16

Hocine Drouiche
Ông Hocine Drouiche, đứng giữa đang nói, đến kính viếng các nạn nhân trong vụ khủng bố

Ngay ngày hôm sau vụ thảm sát ở Nice, nước Pháp, ông Hocine Drouiche, phó chủ tịch Hội đồng các giáo sĩ imam Pháp từ chức để tố cáo sự im lặng của các thể chế hồi giáo, mà theo ông các thể chế này “bất lực”.

“Tôi sẽ tuyên bố từ chức”, ông viết trên trang Facebook của mình để chống những thể chế này, mà theo ông họ “chẳng làm gì để bảo đảm hòa bình và không ngừng lặp lại rằng cực đoan là không có”.

Giáo sĩ người Pháp-Algêria phẫn nộ chống sự im lặng của những đồng nghiệp như ông và các nhà rao giảng hồi giáo trước cái mà ông xem như một “tấn công khủng bố”.

Hồi giáo ngày nay không còn lòng nhân

Từ tháng 7 năm ngoái, trong bài diễn văn đọc trong cuộc gặp gỡ liên tôn giáo ở Bruxelles nói về sự bách hại các tín hữu kitô, ông đã tố cáo về việc “không một giáo sĩ hồi giáo nào đến mặc niệm ở  trụ sở tòa báo Charlie Hebdo hay trước siêu thị của người Do thái trong lần họ bị khủng bố tàn sát”. Đối với ông, “hồi giáo ngày nay không có lòng nhân”.

“Sự vắng thiếu các khái niệm lớn về các nền văn minh xưa cổ của hồi giáo đã làm hại cho người hồi giáo ngày nay, ông Hocine Drouiche nhấn mạnh. Các giá trị như đối thoại, bao dung, lý tính và tiếp đón người khác không cự lại được với các tấn công của một chủ nghĩa hồi giáo theo từ chương, phân chia bạn và thù của Chúa, người tin người không tin, người hồi giáo người bất trung. Trong một bối cảnh như thế, thì sự nổi lên của chủ nghĩa cuồng tín là điều không thể nào tránh”.

“Xin quý vị đi ra khỏi khu bảo tồn của mình!”

Đối với giáo sĩ, “các cuộc tấn công vừa qua ở Phương Tây và trong thế giới hồi giáo chứng tỏ cuộc cải cách tôn giáo trở nền cần thiết đến độ nào  cho sự tồn tại của đạo Hồi và của người hồi giáo. Những sự kiện như vậy chứng tỏ tầm quan trọng cho một sự cải cách vì hòa bình thế giới”.

Ngày hôm qua, trên trang Facebook của mình, ông Hocine Drouiche đã lặp lại lời kêu gọi các giáo sĩ hồi giáo Pháp phải “đi ra khỏi khu bảo tồn của quý vị”, nhắc nhở rằng, nếu “hồi giáo vô tội, thì phải có những người can đảm chứng minh điều này”. Theo ông, đây là một công việc gay go, “ngày nay rất khó để phân biệt hồi giáo tôn giáo và hồi giáo ý thức hệ”.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Cơ quan tình báo Mỹ FBI tiên đoán một «viễn cảnh khủng bố» khi nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng bị đánh bại

Lacroix.com, 2016-07-15

 U.S. Air Force F-15E Strike Eagles from the 48th Fighter Wing taxi after landing at Incirlik Air Base, Turkey

Vào đúng ngày tấn công khủng bố ở Nice, 14 tháng 7-2016, giám đốc FBI James Comey tiên đoán «một viễn cảnh khủng bố» sau sự thất bại của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng

Vụ khủng bố đã xảy ra ở Nice ngày 14 tháng 7, cho đến lúc này chưa được nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng tự nhận mình là tác giả (lúc bài báo viết, người bây giờ đã được nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng nhận mình là tác giả, lời người dịch). Tuy nhiên tổng thống Pháp François Hollande đã tuyên bố «không thể chối cãi, đây là một cuộc tấn công có tính cách khủng bố», và ông đã kéo dài tình trạng khẩn trương ở Pháp.

Một sự trùng hợp đau buồn, giám đốc FBI James Comey tiên đoán vào đúng ngày này, 14 tháng 7, sẽ có một «viễn cảnh khủng bố» sau sự sụp đổ của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng ở Irak và Syria, và các cuộc thảm sát và tấn công của những người cực đoan hồi giáo sẽ càng lên cao khi sự thất bại này đương nhiên sẽ đến.

«Chúng ta tất cả đều biết sẽ có một viễn cảnh khủng bố (…) khi các lực lượng quân sự dẹp tan chế độ thủ lãnh hồi giáo», ông tuyên bố trước một ủy ban của cuộc Hội thảo về Nhà nước Hồi giáo Tự xưng.

Nhóm khủng bố «sẽ sẵn sàng tất cả»

Sự thất bại của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng ở Irak và Syria sẽ làm cho nhóm càng cực đoan hơn «sẵn sàng làm tất cả để chứng minh mình vẫn còn rất mạnh, và điều này sẽ có thể mang hình thức của những cuộc tấn công không đối xứng hơn, tăng cường cố gắng khủng bố hơn», ông tuyên bố.

Vào giữa tháng 6, giám đốc CIA, ông John Brennan đã lượng định con số những người chiến đấu cho Nhà nước Hồi giáo Tự xưng lên khoảng từ «18 đến 22 000» người ở Irak và Syria. Sau sự thất bại, điều không thể nào tránh được, vấn đề họ đi về đâu sẽ được đặt ra. «Hàng ngàn người chiến đấu» của nhóm «sẽ đi về một chỗ nào và công việc của chúng ta là phát hiện họ, bắt họ trước khi họ đến Mỹ tấn công những người vô tội», ông nói thêm trước ủy ban an ninh nội bộ của những người đại diện. Các nghĩa vụ này cũng là nghĩa vụ của công việc thâu thập tin tức của Pháp.

Đàng sau sự suy giảm quân sự của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng và nhóm khủng bố là sự đi lui đặc biệt ở Irak nơi họ mất kiểm soát thành phố của Fallouja, một thành phố của người sunnit, dù họ vừa chiếm một căn cứ không quân quan trọng ở Qayyarah, cách thành phố Mossoul sáu mươi cây số, đầu não chính của nhóm khủng bố Irak.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Nhảy “thể dục thể thao theo nhạc đạo” để rao giảng Tin Mừng ở Trung quốc

cath.ch, Raphael Zbinden, 2016-06-30

Nhảy thể dục ở Trung Quốc

Một tín hữu kitô giáo ở Đài Loan có sáng kiến “nhảy thể thao” như phương tiện rao giảng Tin Mừng đã rất thành công ở Trung quốc lục địa. Từng nhóm nhảy ngoài trời đã giúp cho tín hữu kitô ở Trung quốc có một phương cách mới để có mặt ở các nơi công cộng.

Từ những năm 1980, một hiện tượng xuất hiện ở các đường phố, các ngõ hẻm ở Trung quốc: các nhóm nhảy thể dục thể thao. Một số không nhỏ dân chúng có thói quen mỗi khi chiều xuống, ra vĩa hè, ra vườn, ra bất cứ chỗ nào trống để nhảy. Mùa hè thì khoảng 8 giờ tối, mùa đông thì 6 giờ chiều, từng nhóm năm, mười, hai mươi có khi cả trăm người họp nhau lại để nhảy đủ loại thể điệu.

Tin Mừng theo Bà Wu

Ngày 30 tháng 6, hãng tin Giáo hội Á châu, một hãng tin của Sứ mệnh Truyền giáo nước ngoài của Paris cho biết, cách đây vài năm, một phiên bản mang tinh thần kitô xuất hiện ở Đài Loan.

Năm 2010,  Giáo hội Tin lành lớn nhất ở Phúc Châu, miền Đông-Nam Trung quốc, đã mời bà Wu Meiyun, “Bà Wu” đến bày kỹ thuật và suy nghĩ của bà. Bà là người nhảy thể dục thể thao nổi tiếng ở Đài Loan, tương đối lớn tuổi nhưng dáng người mạnh khỏe, bà tạo ngưỡng phục nơi những người gặp bà. Bà Wu được giáo dục trong một trường của giáo xứ và sống lâu năm ở Mỹ, cũng năm 2010 bà thành lập một nhóm các bạn nhảy kitô hữu, với mong muốn làm thành nhóm rao giảng Tin Mừng.

Về mặt kỹ thuật, đây chỉ là những bước đi theo nhịp điệu của các bài hát đạo, các bài hát ca ngợi. Mới đầu là mỗi buổi sáng nhảy ở các công viên công cộng ở Đài Loan và những ai thích thì vào nhóm nhảy của bà. Chỉ sau một thời gian, khi tình bạn, tình thân thuộc đã có giữa những người mới đến và Bà Wu thì bà mới bắt đầu nói đến Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng. Loại nhảy theo nhạc đạo này bây giờ khá phổ biến ở Đài Loan. Các người theo các nhóm này dễ nhận diện qua đồng phục của họ mà chúng ta thường thấy ở các cộng đoàn công giáo.

Sự hâm mộ

Từ khi Bà Wu đến Phúc Châu, các “Bước nhảy Ngợi khen” phát sinh nhanh chóng ở Trung quốc lục địa. Chỉ ở thành phố Phúc Châu có đến 70 nơi gặp gỡ và hơn 3000 người nhảy thể dục thể thao; mỗi ngày họ họp từng nhóm nhỏ sáng hoặc chiều để nhảy. Không phải hiện tượng của chỉ một Giáo hội (có 32 cộng đoàn Tin lành khác nhau ở Phúc Châu), các bài nhảy đã nhanh chóng trở thành một phong trào kitô hữu tương đối tự lập, nhằm chính yếu là truyền bá Tin Mừng qua các động tác của cơ thể.

Những người qua đường nhập vào nhóm rất thích sự kết hợp giữa các bài hát đạo và thể dục thể thao một cách thoải mái ở ngoài đường, giữa ban ngày.

Đa số là người không có đạo

Bây giờ có hơn 200 phối hợp viên của các nhóm ở Phúc Châu điều hành 70 nơi gặp gỡ. Những người này biết rằng, không có sáng kiến táo bạo của Bà Wu, họ không bao giờ dám ra đường để công khai vừa tập thể dục vừa rao giảng Tin Mừng như thế này.Nếu những người điều hành nhóm là tín hữu kitô giáo và thường cùng nhau cầu nguyện thì đa số những người đến tập không có đạo. Theo hãng tin Giáo hội Á châu, các bài tập thể dục trên nền nhạc đạo là dịp của thời gian và nơi chốn cho sự gặp gỡ Tin Mừng qua cơ thể.

Phát triển trong khắp cả Trung quốc

Bắt đầu từ Phúc Châu, các “Bài tập ngợi khen” được lan truyền trên chín tỉnh khác của bang Phúc Kiến và một hiệp hội đã được thành lập để tích lũy các kiến thức và khuyến khích việc rao giảng Tin Mừng. Ngoài Phúc Kiến, các tỉnh khác như Thượng Hải, Bắc Kinh, các bang khác như Hà Nam, Quảng Đông, Chiết Giang, Sơn Đông vv… cũng đã bắt đầu áp dụng loại nhảy này.

Chuyện buồn cười là bây giờ các nhóm nhảy này phát triển nhiều ở Trung quốc hơn là ở Đài Loan, quê hương đầu tiên của nó. Các nhóm này làm cho tín hữu kitô ở Trung quốc có một phương tiện mới hơn để có mặt, để được thấy, để được nghe ở nơi công cộng, ngoài các nơi rao giảng truyền thống trong các cộng đoàn.

Elie Wiesel: “Tôi phản đối sự công chính của Chúa, nhưng tôi không bao giờ chối Ngài”

lavie.fr, Charles Wright, 2012-01-25

Elie-Wiesel-in-1985.-Neal-Boenzi-The-New-York-TimesNhà Văn Elie Wiesel qua đời ngày 2 tháng 7-2016, ông thoát khỏi trại tập trung nazi và được Giải Hòa Bình năm 1986. Năm 2012 Báo Đời Sống ghi lại lời chứng về đức tin của ông. Khi còn trẻ con, ông chỉ sống cho Chúa và mơ mình là nhà thông thạo kinh Talmud. Năm 15 tuổi, ông bị vào trại hỏa ngục Auschwitz, rồi Buchenwald, nơi Chúa gần như vắng mặt, dù vậy ông không bao giờ chối đức tin. Năm 2012, báo Đời Sống chúng tôi ghi lại chứng từ đức tin của ông; hôm nay chúng tôi đăng lại để vinh danh ông.

«Tôi 15 tuổi. Trong hoảng hốt, bị mất định hướng, trong bóng mờ giữa các bóng mờ khác, tôi bị tống lên toa dành cho súc vật, hôi thối khủng khiếp. Bị cơn đói hành hạ, tôi tìm khuôn mặt của cha mẹ tôi, tim tôi đập thình thình. Tôi nghe tiếng thở đứt đoạn của em gái Tzipora tôi và tiếng hét cuồng loạn của một bà sau đó bị điên. Sau bốn ngày đường, xe lửa đi chậm lại. Qua cửa sổ nhỏ, tôi thấy hàng rào dây thép gai dài đến vô tận. Chúng tôi đang ở Auschwitz. Tiếng hét của quân nazi dội lên tứ phía. Mẹ tôi nói, «mình phải ở chung với nhau». Chúng tôi nắm chặt tay nhau. Một lệnh ngắn gọn vang lên: Đàn ông ở một bên, đàn bà ở một bên. Tôi ở lại với cha tôi, trong khi mẹ và các em gái đi qua một hướng khác. Tôi còn thấy họ xa dần về hướng các ống khói mênh mông được đốt lên bằng sinh mệnh sống con người, khi đó, tôi không biết là mình sẽ không bao giờ còn thấy được mẹ và em tôi.

Bóng của những con tàu đêm đi qua vùng châu lục bị hoang tàn vẫn còn tiếp tục ám ánh tôi. Chúng tượng trưng cho sự tiến lần đến cái hấp hối, cái chết cay nghiệt của nhiều người Do Thái. Mãi đến bây giờ, mỗi lần tôi nghe tiếng còi xe lửa, có một cái gì trong lòng tôi tê cứng lại.

«Tôi không bao giờ ngưng cầu nguyện»

Tôi lớn lên ở Sighet, một thành phố nhỏ của Transylvania, nơi cha mẹ tôi có một tiệm tạp hóa. Từ nhỏ, tôi học tiếng hêbrơ cổ, tôi đắm mình trong kinh Torah, kinh Talmud và kinh Midrash. Năm tôi 13 tuổi, tôi đã viết các lời chú giải Thánh Kinh. Tôi còn nhớ các lời cầu nguyện xuất thần đầu tiên của tôi, khi cùng với các bạn của lớp yeshiva, các thầy giáo đưa cho chúng tôi các chìa khóa để mở các cánh cửa bí mật của suy niệm thần nghiệm. Vào tuổi đó, tôi mơ được đi dạy và làm sáng tỏ các bản văn thiêng liêng. Nếu tôi không bị vào trại tập trung, chắc chắn đương nhiên tôi sẽ là một nhà thông thạo kinh Talmud. Từ cuộc tỉnh thức của tôi, tôi chỉ sống cho Chúa. Chính Ngài là neo của tôi, Ngài mở và tháo các chuyện, các sự kiện, các con người. Ngài là ý nghĩa của cuộc đời tôi, là biện bạch cho tất cả.

Đoạn tiếp theo, tôi đã kể trong quyển Ban Đêm. Tuy nhiên chữ nghĩa có đủ sức mạnh để tả cái vũ trụ phủ nhận và lạnh lẽo, nơi trẻ con ngơ ngác và người già đến đó để chết không? Và sự ra đi của em tôi, bị giết cùng với mẹ tôi ngay đêm mới đến? Và mùi thịt cháy nhiễm cả không gian? Và trẻ sơ sinh bị ném sống vào các lò lửa nóng cháy? Và những tiếng thở hấp hối như đến từ thế giới bên kia, dội lên từ những cái lán, nơi xác người chất đống không?

Làm sao tôi đã không điên khi ở trong phòng chờ địa ngục này, chìm trong nỗi sợ với những cú đấm, những tiếng hét của lính canh, tiếng chó sủa của họ? Dù sống trong kinh hoàng, tôi không bao giờ ngừng cầu nguyện. Ngày thứ bảy, vừa khiêng đá tt vừa ngân nga các bài thánh vịnh của ngày xa-bát. Có phải vì tôi muốn làm vui lòng cha tôi, để chứng tỏ cho cha tôi thấy, tôi vẫn là người do thái trong vương quốc khốn khổ chỉ muốn mình biến mất? Khi đó tôi không còn sức để đắm mình trong các suy niệm thần học: phần bánh mì mỗi ngày sẽ dày hơn hay mỏng hơn, đó là trọng tâm của các lo lắng của tôi. Cái sợ của những cú đấm thế gian vượt cái sợ của những cú đấm từ trời. Về điểm này, kẻ thù đã thắng: đó là chung quanh những người lính nazi, chứ không phải chung quanh Chúa mà vũ trụ chúng ta theo lệnh.

«Yêu Chúa, chất vấn Chúa, than phiền Chúa…»

Sự phản kháng của tôi đến sau chiến tranh, khi tôi học triết ở Paris. Đối với bạn Primo Levi của tôi, vấn đề của đức tin sau trại tập trung Auschwitz được đặt đơn giản như sau: hoặc Chúa là Chúa, như thế Chúa toàn năng, như thế Chúa có tội trong việc đã để cho các kẻ sát nhân hành động; hoặc sự toàn năng của Ngài có giới hạn, như vậy Chúa không phải là Chúa. Lập luận này chất vấn tôi. Trọn con người tôi phản kháng: vì Chúa ở khắp nơi, vậy Chúa ở đâu khi có nạn diệt chủng người do thái? Khi còn nhỏ, tôi chỉ đặt Chúa duy nhất trong các điều tốt, trong điều thánh thiêng, trong những gì làm con người xứng đáng được cứu rỗi. Sau khi sống sự ác tuyệt đối, tại sao tiếp tục thánh hóa danh Ngài? Vì Ngài đã thiêu hàng ngàn trẻ em trong lò? Vì, trong sự toàn năng của Ngài, Ngài đã tạo nên trại tập trung Auschwitz và bao nhiêu lò giết người khác?

Nếu tôi phản đối sự công chính của Chúa, nhưng tôi không bao giờ chối Chúa. Cơn giận của tôi luôn ở bên trong đức tin. Tuy nhiên, tôi không ngừng tìm để biết vì sao Chúa im lặng. Thần nghiệm do thái cũng nói đến các vắng bóng của Chúa, Ngài rút lui để cho tạo dựng của Ngài khẳng định. Một ngày nọ, một trong các thầy dạy kinh Talmud chỉ cho tôi thấy một viễn cảnh khác: phải yêu Chúa. Chất vấn Chúa và cả than phiền Chúa. Thầy hỏi tôi: «Con có biết nhân vật nào trong Thánh Kinh thê thảm nhất không? Chính Chúa, ông nói, chính Ngài mà các tạo vật của Ngài hay đè bẹp Ngài và làm Ngài thất vọng.” Thầy chỉ cho tôi một đoạn trong kinh Midrash nói về cuộc nội chiến đầu tiên trong lịch sử do thái bắt đầu chỉ bằng một vụ gây gỗ bình thường trong gia đình; và trên cao, Chúa khóc cho dân Ngài, như muốn nói: “Các con đã làm gì với công trình của Ta?” Vậy, đến thời của Treblinka và của Auschwitz thì nước mắt của Chúa phải gấp đôi – và chúng ta có thể cầu khấn Ngài không những chỉ phẫn nộ mà còn cả buồn bã và trắc ẩn. Tất cả những câu hỏi này vẫn còn mở. Nếu có một câu trả lời thì tôi không biết. Hơn nữa: tôi không muốn biết. Sáu triệu con người chết trong trại tập trung, chuyện này mãi mãi vẫn là một câu hỏi!»

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Không có nghỉ hưu với một tu sĩ, linh mục Lombardi khẳng định

fr.zenit.org, Anne Kurian, 2016-07-12

Bản tổng kết 10 năm làm giám đốc Văn phòng báo chí Vatican của linh mục Lombardi

Fr. Lombardi

Sau 10 năm ở chức vụ giám đốc Văn phòng báo chí Tòa Thánh, ngày 1 tháng 8-2016, linh mục Federico Lombardi sẽ được ông Greg Burke người Mỹ thay thế. Nhưng với tu sĩ Dòng Tên người Ý sắp mừng sinh nhật 74 tuổi vào tháng tới, thì không có chuyện về hưu, ngài cho biết, «khái niệm hưu không có trong đầu của một tu sĩ».

Ngay ngày hôm sau ngày loan báo mình ra đi, 11 tháng 7, linh mục Lombardi đã nói về những năm phục vụ ở máy vi âm của Radio Vatican. «Sớm hay muộn, chắc chắn công việc của tôi cũng có ngày chấm dứt», ngài tuyên bố, ngài giữ chức vụ này từ năm 2006. «Tôi đã nói nhiều lần với Đức Giáo hoàng (…) tôi hoàn toàn sẵn sàng phục vụ ở công việc này, ngài nói thêm, nhưng mọi quyết định dựa trên việc luân lưu nhiệm vụ này».

Nhưng sự ra đi của ngài không có nghĩa là ngài không còn phục vụ: «Loại phục vụ thay đổi, nhưng tôi không nghĩ mình sẽ về hưu! Chữ này không có trong đầu một tu sĩ, người luôn sẵn sàng phục vụ Chúa và Giáo hội trọn đời của mình, trong mỗi ngày». Như vậy linh mục Lombardi sẽ có «những tiếng gọi khác hay các quan hệ khác» mà ngài mong muốn trả lời «với cả tâm hồn».

Tiến bước đến sự thật

Linh mục Lombardi nhắc đến những giai đoạn khó khăn nhất trong công việc «phát ngôn viên» của Vatican, đặc biệt trong việc theo dõi «rất đau đớn» các vấn đề liên quan đến việc lạm dụng tình dục của các giáo sĩ: «Tôi đã tham dự với cả một tấm lòng mãnh liệt sâu đậm, biết rằng đây là con đường thanh tẩy Giáo hội, mà Đức Bênêđictô XVI đã nói».

Nhất là hợp tác «để bước những bước đi tới đàng trước trong tinh thần rõ ràng, minh bạch, sự thật để đối diện với các vấn đề, để làm sao những việc này sẽ không bao giờ xảy ra nữa».

Linh mục Lombardi là giám đốc Radio Vatican và Trung tâm truyền hình Vatican nhắc lại các vụ rò rỉ tài liệu riêng hay «các căng thẳng nội bộ Vatican». Những giây phút đau đớn buộc người đưa tin phải «tiến bước đến sự thật và đến tầm nhìn các vấn đề một cách thích ứng hơn, hoàn toàn hơn và bình tâm hơn». Tất cả trong tinh thần giúp các ký giả có ý thức vừa các «yếu đuối» của con người vừa «sứ mệnh tích cực» của Giáo hội

Linh mục Federico Lombardi và Đức ông Dario Vigano trên chuyến bay đi Quito,  Ecuador ngày 5 tháng 7-2015
Linh mục Federico Lombardi và Đức ông Dario Vigano trên chuyến bay đi Quito,
Ecuador ngày 5 tháng 7-2015

Lời khuyên cho người kế nhiệm

Khi rời chức vụ, linh mục Lombardi chúc người kế nhiệm mình và nữ phó giám đốc người Tây Ban Nha được bình tâm. Ông Greg Burke tỏ ra e ngại đứng trước công việc mới: «Rất nhiều chuyện phải học… phải đi, phải dò con đường của mình, (…). Đối với ông Greg Burke cũng như với bà Paloma Garcia Ovejero bắt đầu khá trẻ (40 tuổi) thì đây là sẽ là một kinh nghiệm rất đẹp».

Linh mục khuyên họ nên cảm thấy «ở trong bầu khí tin tưởng», ngài bảo đảm với họ, ngài «luôn sẵn sàng cho tất cả mọi người, trong thế giới Vatican này (…). Người ta không tiến triển trong một thế giới mà các  người khác chĩa súng vào mình!».

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Bangladesh: «Nhờ Mẹ Têrêxa, các phật tử giúp người hồi giáo

cath.ch, Raphael Zbinden, 2016-06-26

Đức Phanxicô đến thăm một ngôi chùa Phật giáo
Đức Phanxicô đến thăm một ngôi chùa Phật giáo

Được cảm hứng qua lời nói và việc làm của Mẹ Têrêxa, từ 6 năm nay, các tu sĩ Phật giáo của chùa Bengladesh tặng thức ăn cho các người hồi giáo nghèo để họ có thể ăn khi ngưng chay ramadan.

“Chúng tôi có sáng kiến này trong một tinh thần đặc biệt”, tu sĩ Buddhapriya Mohathero giải thích, ông là phó của ban giám đốc trị sự chùa Dharmarajika ở Dacca, thủ đô của Bangladesh. “Mẹ Têrêxa nói chúng ta tìm thấy Chúa khi phục vụ tha nhân, và chúng tôi được cảm hứng từ lời nói này của Mẹ”, ông trả lời với hãng tin công giáo Asia News như trên vào ngày 26 tháng 6-2016.

Các hộp đựng thức ăn cần thiết được phát cho những người hồi giáo nghèo nhất khi họ ngưng thời gian ăn chay (iftar), những người này sống chung quanh chùa. Vị sư cho biết, chùa phát 500 phần ăn mỗi ngày.

Số phật tử giảm trong nước

Tu sĩ Shuddhananda Mahathero tin “hòa bình là kết quả của đời sống thuận hòa”. Vị sư cho biết, ở Bangladesh, các nhóm thiểu số tôn giáo càng ngày càng thấy mình bị kỳ thị, một số lớn dân chúng là người hồi giáo nhưng phong trào hồi giáo tận căn lại bành trướng. Các phật tử chỉ chiếm 0,7% de dân số mà con số này ngày càng giảm.

Tu viện Dharmarajika được xây năm 1960 và nổi tiếng ở Dacca qua các công việc xã hội. Các tu sĩ coi sóc một trung tâm lo cho các trẻ mồ côi, một trường học và một bệnh viện.

Marta An Nguyễn

Bài mới nhất