Home Blog Page 1430

Ở Irak, các cây thập giá được thắp sáng suốt đêm để trừ nỗi sợ

aleteia.org, Sylvain Dorient, 2016-07-13

Dân làng thắp các cây thập giá sáng suốt đêm trên các chỗ ráp nối với nhà của họ

Làng Alqosh của tín hữu kitô ở phía bắc Mossoul gần chiến tuyến đã phải chịu đựng cơn bão tố của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng.

Đó là hai cột trụ cho sự hiện diện của tín hữu kitô ở Alqosh. Linh mục Haram cao hẳn hơn người đối diện mình, cha mặc áo chùng đen không xếp li, hợp với tóc và râu đen, cha có nét giống một chiến binh ba-tư. Người kia thì đúng là một chiến binh. Nhỏ con hơn, mập thấp, râu xám, tóc xám ngược, với đôi mắt đen đầy uy quyền. Nhưng với sự hiện diện của linh mục Haram, ông tỏ ra nhã nhặn. Ông nồng nhiệt ôm người đối diện mình giống như các bạn hữu ở Phương Đông vẫn hay làm, đại tá chỉ huy trưởng của những người Peshmergas trấn an: «Linh mục này là anh họ của tôi».

Giải hòa đứng trước nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng

Người này là người Kurde, đảm trách hàng phòng ngự ở chiến tuyến giữa quân khủng bố và lực lượng Alqosh. Người kia là người Assyria, qua uy quyền và sự hiện diện của mình gần với dân làng, để các tín hữu kitô có chỗ của họ trong chính đất của tổ tiên mình, rằng không được bỏ trốn. Trước đây, người Kurde và người Assyria là kẻ thù của nhau. Tại đây, cách phía bắc Mossoul 45 cây số, các tín hữu kitô vẫn còn nhớ người Kurde đã tham dự vào nạn diệt chủng năm 1915. Nhưng năm 2014, người Peshmergas Kurde cũng đã cứu tín hữu kitô khỏi tay Nhà nước Hồi giáo Tự xưng, ngăn những tên khủng bố điên cuồng này gieo rắc chủ nghĩa kinh hoàng của họ trên người Kurdistan Irak.

Tình bạn Đông phương

Đại tá chỉ huy trưởng cho biết, thân sinh của linh mục Haram là giáo sư của cha mình. «Chính nhờ ông, mà cha tôi mới là người có học, ông nói. Chính nhờ ông mà hôm nay tôi mới là chỉ huy trưởng!» Người, đảm trách tuyến đầu, một tuyến thường hay bị quân khủng bố ấn công, «tự hào mình bảo vệ các tín hữu kitô». Cách đây vài tháng, nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng đã mưu toan mở một cuộc tấn công và đã chiếm Telskuf một thời gian ngắn, Telskuf là một làng kitô, hiện nay làng này là một đống vụn hoang tàn, các quân sĩ rút lui đóng ở đây.

Làng Alqosh dựa lưng một dãy đồi chạy dài cho đến hết phía bắc thung lũng Ninive. Dưới chân đồi là ruộng ngũ cốc đã được gặt, bây giờ gốc cháy dưới ánh nắng mặt trời như một sa mạc rơm vàng, mà cảnh đơn điệu này chỉ bị giao động bởi đống gạch vụn và các binh đoàn kurde. Từ trên ngọn đồi của họ, dân làng chịu các trận bom; một vài người trong số họ tham dự vào đội quân của các tín hữu kitô để bảo vệ đất đai của mình. Họ thắp các cây thập giá sáng suốt đêm trên các chỗ ráp nối với nhà của họ. Họ cho biết, họ đã làm cho các quân khủng bố hồi giáo điên: chúng có thể thấy nhưng chúng không thể hạ. Chúng hình dung kẻ thù đang nhạo mình, «những kẻ ngoại đạo» sống với biểu tượng Chúa Giêsu, Đấng cứu rỗi, Hoàng tử của hòa bình, chỉ cách cơn tức giận và vũ khí của họ vài cây số.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Những nút thắt và những mối dây, Đức Phanxicô vào việc

rome-vatican.blogs.la-croix.com, Sébastien Maillard, 2016-07-07

Pope Francis Mary Untied Knots

Trang blog này chuẩn bị đi nghỉ hè và người viết blog thì chuẩn bị khăn gói về lại Paris sau ba năm theo Đức Thánh Cha. Bây giờ là lúc «Nhìn từ Rôma» 360 độ. Từ toàn cảnh, sẽ tách ra được gì? Triều giáo hoàng thì còn quá ngắn để đưa ra một bản tổng kết, còn giáo hoàng thì có quá nhiều điều ngạc nhiên để dám liều nói đến các phối cảnh. Nhưng đi gần như liên tục theo các sự kiện, các cử chỉ của Đức Phanxicô, ở Vatican cũng như trong các chuyến đi, thì không thể không thấy gì tách ra.

Nếu xem lại trọn cuốn phim triều giáo hoàng của Đức Phanxicô, thì vào thời điểm này, các đoạn phim dài nhất, lặp đi lặp lại nhiều nhất, nhưng cũng thống thiết nhất – theo nghĩa đen của nó – sẽ là tất cả những cảnh Đức Phanxicô bắt tay, cái này tiếp cái kia, nụ cười nở rộng, với những vuốt ve và ôm choàng. Một tiếp xúc cá nhân, bình đẳng, dù thoáng qua, nhưng đã là bắt đầu cho một cuộc gặp gỡ.

«Tôi muốn gõ cửa từng nhà, nói một lời chào, xin một ly nước mát, uống một tách cà phê», Jorge Bergoglio nói trong một khu phố nghèo ở Rio cách đây ba năm, ngài lấy làm tiếc «không tự tay gõ tất cả các cánh cửa». Dù vậy, mỗi ngày trong triều giáo hoàng của ngài, ngài đã có thể gõ. Sau các  buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư ở Quảng trường Thánh Phêrô; bên cạnh những người khuyết tật hay các cặp vợ chồng mới cưới; bên cạnh các em bé bệnh ở Axixi hay ở Mêhicô; bên cạnh các tù nhân ở mọi vĩ tuyến; với mỗi người trong 892 người tị nạn của một trung tâm gần Rôma vào một Thứ Năm Tuần Thánh; hay chỉ đơn giản, tại Vatican, bắt tay một Cận vệ Thụy Sĩ, tạm ngưng một chút tư thế bất động đứng gác của anh. Mỗi lần, ước muốn truyền giáo «gõ tất cả các cánh cửa» này bung ra là với cả một tấm lòng trìu mến. Ngài làm chứng cho quả tim mục tử của một giáo hoàng, mà chữ anh em không phải chỉ là một khái niệm quảng đại, nhưng diễn tả một mối dây, có thật, mối dây làm mình sống.

Đức Phanxicô là giáo hoàng của những mối dây. Người muốn tái tạo lại quan hệ cá nhân, quan hệ đích thực. Ngài hãi sợ lối sống cá nhân chủ nghĩa, quan hệ ảo, liên kết xa xa, những mối quan hệ khô héo. Trong ba năm qua, cuộc đấu tranh của ngài là cuộc đấu tranh chống sự «chai cứng tâm hồn». Đức Bênêđictô XVI gắng sức chứng tỏ, đức tin và lý tính không ngược nhau. Còn Đức Phanxicô, ngài làm chứng rằng đức tin và quả tim nuôi dưỡng nhau. Nói cách khác, lòng trắc ẩn, lòng thương xót, xấu hổ, nước mắt, trìu mến và yêu thương đều có chỗ trong đời sống thiêng liêng. Người ta còn nhớ ngài hỗ trợ việc chống khí hậu nóng lên, đáng kể trước cuộc họp COP21 ở Paris (Thông điệp Chúc tụng Chúa), nhưng công trình rộng lớn triều giáo hoàng của ngài là cuộc đấu tranh chống sự lạnh giá tâm hồn con người, thể hiện qua Năm Thánh Lòng Thương Xót. Đặc biệt chống sự dửng dưng đối với người nghèo. Thực chất, Đức Phanxicô không nghĩ mình có công thức kỳ diệu để biến đổi một «nền kinh tế giết người», theo lời tố cáo nổi tiếng của ngài trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng. Ưu tiên hàng đầu của ngài là: báo động, gây ý thức, thúc đẩy thay đổi, đưa ra vấn đề, để, người nghèo không phải là những con số hay một thực tế xa xuôi, nhưng số phận của họ dính với số phận của chúng ta, và chỗ đứng của họ phải được chỉnh đốn lại cụ thể. Các cơ sở nhằm giúp người vô gia cư, người nghèo chung quanh Vatican là một dấu hiệu. Sự đón nhận người tị nạn của Vatican cũng là một dấu hiệu. «Tầm mức cao lớn của một xã hội là ở cách xã hội đối xử với những người thiếu thốn nhất», «giáo hoàng của người nghèo» đã nói như trên ở khu phố nghèo ở Rio, Ba Tây cách đây ba năm. «Tầm cao cả» triều giáo hoàng của ngài chắc chắn cũng sẽ được đo với sự việc này.

Và cũng được mến chuộng một cách rộng lớn, qua các mối dây khơi ra giữa những người không biết, những người đi tới một cách tách biệt hoặc xa lánh. Đức Phanxicô muốn thắt lại các quan hệ Giáo hội của mình với xã hội. Các quan hệ của các gia đình trong giáo xứ. Các quan hệ của người kitô với các tín ngưỡng khác. Các quan hệ của những cộng đoàn cùng chia sẻ mối quan tâm về công chính xã hội cũng như các «phong trào bình dân» xa Giáo hội. Các quan hệ giữa các thế hệ. Các quan hệ với chính các kẻ thù của mình, mà ngài giữ trong tầm tay của mình.

Toàn cảnh này sẽ không đầy đủ nếu không đề cập đến các mối dây khác, những mối dây căng thẳng, thậm chí rất khó gỡ mà Jorge Bergoglio muốn gỡ. Như trong bức tranh Đức Bà Tháo Gỡ Nút Thắt, Đức Mẹ tháo gỡ cuộn dây rối rắm, ngài cũng dùng ba năm này để tháo gỡ các tình trạng xung đột.

Giữa các quốc gia kẻ thù. Ngài đã giúp để Cuba và Mỹ xích lại gần nhau. Ngài cũng làm như vậy trong vùng Caucase giữa Armênia và các nước láng giềng của mình. Trong tương lai, cũng có thể ngài sẽ đi Colombia để giúp đỡ các cuộc đàm phán hoặc đi Bắc Ai Len. Vấn đề thời sự Âu châu bây giờ buộc ngài phải quan tâm đến các nút thắt bị kẹt trong chương trình thống nhất.

Nhưng trước tiên là trong Giáo hội, có rất nhiều nút thắt phải gỡ. Ở Ý, ngài tìm cách để cắt sợi dây giữa Vatican và quyền lực chính trị. Và cũng với mafia. Giữa Rôma và các Giáo hội trên khắp thế giới, ngài chủ trương «giải khỏi trung tâm», các mối dây có thể ít bị bắt buộc hơn, nhưng vẫn giữ nền tảng của sự làm việc chung. Ngài giải tán sự tây phương hóa chính Giáo hội hoàn vũ của mình. Với Maxcơva và Bắc Kinh, ngài mong san bằng được các tranh chấp.

Tuy nhiên các nút thắt vẫn còn mong chờ được giải nhất vẫn là nút thắt liên hệ đến giáo triều. Trong vòng ba năm, sự uyển chuyển trong dây chuyền quản trị, sự chia đều các tài năng và sự phối hợp trong guồng máy vẫn còn là một chương trình lớn, mà kỳ hạn lên công việc, sự thiếu hoàn thành, không kể đến các vụ rò rỉ (Vatileaks 2) đã làm cho Vatican ở trong tình trạng lưỡng lự khó chịu.

Nút thắt hay mối dây, công việc còn dài và phức tạp. Đòi hỏi phải thẳng thắn, kiên nhẫn và kiên trì. Jorge Bergoglio đã 79 tuổi, ngài luôn sẵn sàng. Ngài là người của công việc, người không nghỉ ngơi. Triều giáo hoàng của ngài, ngoại trừ có sự cố thì chưa gần xong.

Blog này cũng vậy. «Nhìn từ Rôma» sẽ được Nicolas Senèze tiếp nối. Trong tức thì bây giờ, xin chúc cho tất cả có một mùa hè đẹp, đặc biệt với những người đã kết một mối dây trung thành với trang viết này.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Vũ khí của điên cuồng

lavie.fr, Jean-Pierre Denis, chủ biên báo Đời sống, 2016-07-20•

vũ khí của điên cuồng

Người ta nói đó là những thằng điên. Ai có thể hoang tưởng trên cái chết của đại đa số những người vô tội? Ai, có thể lạnh lùng lên kế hoạch cho những hành động khủng khiếp, không lý do mà cũng là phi lý như thế? Ai, có thể làm được như súc vật giữa một buổi lễ vui của dân chúng vào một ngày lễ như ngày 14 tháng 7 ở Quảng đường Promenade des Anglais? Những thằng điên… Như người ta đã nói khi tên điên Andreas Breivik thảm sát các chiến sĩ trẻ làm việc ở một đảo ở Na Uy. Hay khi một tên giết người mang súng tự động đến khuôn viên một trường đại học Mỹ. Để làm một hành động ác độc như vậy, thì phải mở một lỗ hỗng quái dị. Ma quỷ. Quá tự mê. Nhưng dù cho những hành vi quái quỷ này lẫn lộn với ước muốn lộn xộn, khó phân biệt, đâu là muốn nổi tiếng, đâu là muốn giết người hàng loạt thì những tên điên này cũng không làm một cách có hệ thống. Chúng không có trong lịch làm việc có tính cách chính trị-tôn giáo của khủng bố hồi giáo toàn cầu hóa. Rõ ràng là khác nhau.

Cái «tài tình» của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng là họ dùng các xung năng bệnh hoạn này như vũ khí. Đốn ngã tất cả các rào cản tâm lý. Tại hiện trường, dàn cảnh chặt đầu cận cảnh, chợ nô lệ, phá hủy nhà thờ. Để gây ấn tượng cho những người họ muốn người đó quy phục mình (các người hồi giáo khác, các tín hữu kitô giáo ở Trung Đông, «Phương Tây»…). Đây cũng là một cách lôi cuốn! Vì sự dữ làm quyến rũ, quyền lực của nó tác động như một người tình. Những tên vô lại lũ lượt ở đó, chúng tiếp tục dương oai ở nhà chúng ta. Giết người như một ưu đãi. Từ tên nhà quê trở thành con «sư tử».

Nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng không sáng chế ra khủng bố hồi giáo – loại khủng bố này bắt đầu ở nước Pháp năm 1995 với Khaled Kelkal, rồi vụ 11 tháng 9, đó là không nói đến trào lưu dâng cao của chủ nghĩa chính thống trong các nước hồi giáo chung chung từ khoảng ba mươi năm nay. Ngược lại, sự tổ chức đã được đổi mới. Sau vụ thảm sát ở tòa báo Charlie và siêu thị của người Do Thái Hypercasher, sau vụ thảm sát Bataclan, cũng như vụ Merah, vụ Orlando ở Mỹ, cũng như vụ giết hai vợ chồng cảnh sát Pháp ở Magnanville, và bây giờ là Nice. Và sau nước Pháp, bây giờ đến nước Đức. Sau khi dùng xe tải, bây giờ dùng dao rựa. Nhưng luôn luôn một lôgic. Chiến thuật này có tác động, dưới hình thức cùng khai thác một nhãn hiệu hoặc hình thức tự tung tự tác. Mỗi người tự có sáng kiến dùng vũ khí của mình, chọn cách làm việc: cứ việc giết bao nhiêu tùy ý, khi nào cũng được, muốn làm sao cũng được và cuối cùng thì chúng sẽ có «nhãn hiệu» Nhà nước Hồi giáo Tự xưng. Tổ chức khủng bố đã làm những hố thẳm của tâm hệ thành vũ khí làm mất thăng bằng hàng loạt. Trong chiến tranh, ai phát minh một vũ khí mới là có được một lợi thế đáng kể. Quý vị thấy đó, trước là bom pháo kích V2 của nazi, sau đó là bom nguyên tử của Mỹ. Cho đến khi nào chúng ta chưa tìm ra cách chống đỡ thì, khổ thay, hiện tượng này sẽ còn tiếp tục.

Một yếu tố quyết định khác của cuộc chiến tranh này là tâm lý tập thể. Chủ nghĩa khủng bố là có hiệu quả. Nó làm cho chúng ta có cảm giác mình không còn được bảo vệ, mình không còn có thể sống, mình bị đe dọa mỗi ngày, cho đến trong đời sống bình thường của chúng ta – một cảm giác được củng cố bởi truyền thông và chính trị thổi phồng lên. Khi đẩy các ý kiến quần chúng đến tâm lý chiến tranh, Nhà nước Hồi giáo Tự xưng đã lấy điểm và sẽ còn lấy điểm mà không tốn một xu. Các chính trị gia của chúng ta phải giữ bình thản và chỉ dẫn cho chúng ta cách nào để không bị sụm, cách nào để cự lại trong nhân phẩm. Từ sự điên cuồng cá nhân của tội ác không được đáp ứng lại bằng cuồng hoảng tập thể của việc trả thù. Chúng ta buồn, chúng ta để tang. Nhưng về phần mình, chúng ta đừng vì giận mà thành điên.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Nhà Gammarelli, sáu thế hệ làm thợ may của giáo hoàng

 

CNA – Elise Harris

Gammarelli papal tailors

Đã năm thế hệ nhà Gammarelli đã may áo và giày cho Đại diện Chúa Kitô, tại cửa hiệu lịch sử Ditta Annibale Gammarelli ở Roma.

Bây giờ, sau khi giám đốc Annibale Gammeralli qua đời, việc kinh doanh sẽ được giao lại cho thế hệ thứ sáu.

Được Giovanni Antonio Gammarelli thành lập năm 1798, cửa hiệu được Đức Piô X lập, xem như là thợ may cho hàng giáo sỹ Roma. Sau khi ông Giovanni qua đời, việc quản lý được giao lại cho người con Filippo, rồi tiếp đó là con trai ông, Annibale.

Năm 1874, ông Annibale dời cửa hiệu từ địa điểm gốc đến địa điểm bây giờ, số 34 Via Santa Chiara, chỉ cách đền Pantheon vài bước. Nó nằm bên trong Học viện Giáo hoàng, nơi đào tạo các nhà ngoại giao tương lai của Giáo hội.

Khi ông Annibale qua đời, các con trai ông là Bonaventura và Giuseppe quyết định giữ cái tên “Ditta Annibale Gammarelli” để tưởng nhớ cha mình, một cái tên nổi tiếng trong hàng giáo sỹ khắp nước Ý lẫn thế giới.

Trong mỗi Mật nghị Hồng y, nhà Gammerelli đều chịu trách nhiệm may áo chùng trắng theo ba kích cỡ, nhỏ vừa và lớn, để chờ sẵn cho người kế vị mới của thánh Phêrô.

Có một điểm thú vị là các giáo hoàng thường đổi áo khoảng hai tháng một lần, bởi thánh giá bạc thường đeo bị oxy hóa và để lại vết ố trên áo chùng trắng.

Năm 2000, Ditta Annnibale Gammarelli được đưa vào danh sách các cửa hiệu lịch sử của Roma, và có lẽ là cửa hàng lâu đời nhất vẫn được điều hành bởi con cháu trực hệ của người sáng lập.

Cửa hàng đã phục vụ cho hàng ngàn linh mục và hàng trăm giám mục hồng y. Nhất là đã lo phần trang phục cho các Đức Giáo hoàng kể từ thời Đức Piô X vào năm 1846.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Canada: 3.750 người trẻ đi dự Ngày Thế Giới Trẻ ở Cracovia

 

zenith.org, Marina Droujinina, 2016-07-07

Ngày Thế Giới Trẻ ở Cracovia

3750 người trẻ Canada sẽ đi dự Ngày Thế Giới Trẻ ở Cracovia, trong số đó có 200 người trẻ ở Québec. Một buổi lễ quốc gia Canada sẽ được tổ chức ngày 26 tháng 7.

Ngày thứ tư 6 tháng 7, Hội đồng Giám mục công giáo Canada cho biết, có gần 3 750 người trẻ Canada ghi tên tham dự Ngày Thế Giới Trẻ lần thứ 31 tổ chức từ ngày 25 đến 31 tháng 7-2016 tại Cracovia. Trong số này có 200 người trẻ Québec tham dự.

Sẽ có chín giám mục đi theo phái đoàn Canada. Hội đồng giáo hoàng về Giáo dân đã mời ba giám mục Canada phục vụ với tư cách là hướng dẫn giáo lý cho các thanh niên trẻ đi hành hương. Đó là Hồng y Gérald Cyprien Lacroix, chủ tịch hội đồng Giám mục Canada, Tổng giám mục địa phận Québec; Giám mục Albert LeGatt, tòa giám mục địa phận Saint-Boniface, Manitoba, giám mục Bryan Bayda, giám mục địa sở Ukraina của Saskatoon.

Như các ngày Ngày Thế Giới Trẻ năm 2011 ở Madrid, năm 2013 ở Rio de Janeiro, các giáo dân hành hương Canada sẽ có buổi lễ quốc gia ngày 26 tháng 7 lúc 13 giờ, ngày lễ Thánh Anna và Thánh Gioankim, thân sinh của Đức Mẹ. Sự kiện sẽ được tổ chức ở sân vận động Tauron, Cracovia, là nơi chính dành cho các khách hành hương nói tiếng Anh trong những ngày đại hội.

Đức hồng y Lacroix  sẽ chủ sự giờ cầu nguyện của các giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ, những người có đời sống thánh hiến, các thừa tác viên trẻ, các nhạc sĩ và các nghệ sĩ.

Từ 20 đến 25 tháng 7, trước ngày khai mạc chính thức, nhiều người trẻ Canada sẽ tham dự các sinh hoạt khác nhau trong các địa phận của Ba Lan.

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Dị ứng với Đức Phanxicô, một chỉ dẫn ô nhục của một vài môi trường công giáo

letempsdypenser.fr, Louis Charles, 2017-06-30

 Image: Pope Francis Holds Weekly Audience

Khi Đức Phanxicô ghi nhận đa số các cuộc hôn nhân công giáo không hợp lệ, ngài làm một chẩn đoán, nhưng ngài không thay đổi một dấu phẩy nào trong tín điều công giáo. Vậy mà đã gây một phản ứng cuồng hoảng nơi một số tín hữu.

Thật là lạ lùng, vì người ta không chịu đọc những gì ngài đã thật sự tuyên bố, chứ không phải trích ngắn cụt ra ngoài ngữ cảnh mà chúng ta thấy trong phản ứng của họ, chúng ta ghi nhận, những gì ngài tuyên bố là ở trong đường thẳng của Giáo hội về bí tích hôn nhân: hôn nhân là bất khả phân ly, khi hôn nhân được hợp thức qua bí tích, thì tất nhiên phải có một vài điều kiện hợp lệ đã được phối hợp trước. Điều này giải thích vì sao trong một vài trường hợp, Giáo hội về sau biết rằng, một vài hôn nhân mà mới đầu nghĩ là hợp lệ đã không hợp lệ. Cái người ta gọi đó là tiêu hôn (chứ không phải là hủy đám cưới).

Sự ghi nhận về tình trạng chưa trưởng thành về mặt cảm xúc, tâm lý, thiêng liêng của nhiều người công giáo thật sự không có gì ngạc nhiên khi chịu khó mở mắt ra nhìn thực tế. Nếu không phải như vậy, thì chúng ta đã không có những cuộc tranh luận về người ly dị tái hôn. Không có gì mới lạ về điểm này.

Dù vậy khi Đức Phanxicô nói lên những gì ai cũng thấy mà không dám nói to, nói rõ thì một vài người công giáo tức tối. Có người còn chê bai và tỏ ra kinh ngạc công khai.

Nhưng có phải điều đáng kinh ngạc là có một số người công giáo dị ứng với tính thẳng thắn của Đức Phanxicô không?

Cũng như khi Đức Phanxicô tuyên bố, “Giáo hội phải xin lỗi những người đồng tính mà Giáo hội đã xúc phạm”, thì ngài chỉ nhắc lại lời Phúc Âm: mời gọi những người cư xử không có đức ái với những người đồng tính hoán cái, trong đó có cả chính ngài. Ngược lại, ngài không thay đổi gì quan điểm về người đồng tính. Trong nghĩa này, ngài không thay đổi gì từ ngày ngài còn ở Buenos Aires, ngài đã chống đối dự luật hôn nhân cho người đồng tính ở đó…

Dù vậy một vài người công giáo cảm thấy bất ổn. Nhưng chính xác có phải phản ứng của họ mới bất ổn không?

Có gì bất ổn khi giảng cho người công giáo sự hoán cải tâm hồn và hoán cải cái nhìn không? Có gì bất ổn khi nói với người công giáo là khi họ làm tổn thương người anh em mình thì họ phải xin lỗi không? Những gì Đức Giáo hoàng nói thì phù hợp với tinh thần Phúc Âm. Trách cứ ngài, trong khi mình là tín hữu của một tôn giáo tình yêu thì vừa tỏ ra cho thấy mình vừa mâu thuẫn, vừa lố bịch.

Nhưng nhất là, đó là dấu chỉ của một cái gì trục trặc. Ít nhất ở trong một vài môi trường. Vì các thành kiến chống Đức Phanxicô thì không được mọi người đồng tình, cả ở trong lẫn ở ngoài Giáo hội…

1/ Các phản ứng cuồng hoảng của một vài nhóm công giáo

Một vài môi trường công giáo bám riết để chỉ trích giáo hoàng nhân danh căn tính công giáo mà họ lầm với toàn bộ các thói quen xấu, các định kiến, các thành kiến họ thừa hưởng từ môi trường, từ gia đình… Chính trong di sản này mà họ để đức tin vào, rồi họ tố cáo Đức Phanxicô muốn bán tống bán tháo nó đi.

Họ không tha cho ngài khi ngài nhắc, căn tính duy nhất của kitô hữu là theo Chúa Kitô và từ đó mà thay đổi rất nhiều chuyện của chính mình và chung quanh mình…  và như vậy là phải cắt đứt các định kiến và các liên kết với môi trường gốc của mình.

Một số người công giáo đạo gốc từ chối trở thành người kitô hữu do mình tự chọn. Họ làm như cái mà người ta gọi trong thuật cưỡi ngựa, từ chối một trở ngại, để thử vượt lên cái cứng ngắc, cái chai cứng tâm hồn mình để trung thành với giáo huấn của Giáo hội.

Từ đó là nghịch lý của những người công giáo này, họ thà đi theo tư tưởng quá khích của Charles Maurras và Pierre Gattaz hơn là đi theo tư tưởng của các Tổ phụ Giáo hội, họ muốn mình công giáo hơn cả giáo hoàng, đến mức tự cho mình có quyền cho ngài bài học về đạo công giáo. Khi họ không thẳng thừng tố cáo ngài phản bội di sản đức tin!

Lấy lý do tố cáo các lỗi lầm, có thật của hàng tu sĩ và hội đồng giám mục Pháp đã dùng chiêu đề Công đồng Vatican II để biện minh cho những hoảng tưởng riêng của mình (mục vụ thần học, phụng vụ và luân lý) và cuối cùng là sự phản đạo của chính mình, một vài môi trường công giáo muốn đổ trách nhiệm này lên giáo hoàng Argentina, một chuyện mà ngài không có trách nhiệm gì!

Sự mâu thuẫn giữa những gì họ nói – là người công giáo là phải trung thành với uy quyền của Giáo hội vì Giáo hội được Thần Khí hướng dẫn – và thái độ ứng xử tin lành của họ – phủ nhận uy quyền của giáo hoàng về mặt trí tuệ, thiêng liêng và đạo đức – thì ai cũng thấy trừ chính họ. Gần như họ là những người duy nhất không ý thức chuyện này.

Nhưng chuyện phi lý nhất trong loại ứng xử này, là họ cố tình xúc phạm và họ không lùi bước trước bất cứ một phương cách bất lương, vô lễ, ác ý nào: chửi rủa, vu khống, nói bóng nói gió, trích cắt xén hay ngoài ngữ cảnh, tố cáo không bằng chứng… Tất cả bộ sưu tập nhỏ này là của người mưu mô hoàn toàn (hay đúng hơn là cả một mưu toan).

Các cách cư xử này là đi ngược với những gì Chúa Kitô đòi hỏi (yêu người như mình vậy). Những ai dùng những loại phương cách này, họ từ chối không những không để cho Đức Phanxicô được giả định là vô tội, mà nhất là họ từ chối không chấp nhận long khoan dung nơi ngài. Đó là những người làm chứng ngược đối với người ngoài kitô giáo. Họ làm nản lòng những người có thiện chí và làm cho những người khác bỏ đi.

Một thái độ như vậy phản ảnh (phản bội?) nơi những người có một ác ý sâu đậm, không thể tách rời khỏi một hình thức kiêu ngạo, xem mình là hội đồng quản trị Giáo hội và Đức Phanxicô như giám đốc điều hành công ty, phải thường xuyên báo cáo cho họ và nhất là phải làm cho họ hài lòng.

Thật không may cho họ, Giáo hội đã do Chúa Kitô mong muốn và dựng lên và giáo hoàng được chính Thần Khí chỉ định. Không thể hạ được ngài, họ tự an ủi mình bằng cách đặt ngài thành vấn đề, tựa như khi chính trị gia công giáo Pháp Alain Juppé đã nói về Đức Bênêđictô XVI, rằng ngài đã bắt đầu tạo “một vấn đề thật sự” và ngài sống “trong tình trạng tự kỉ hoàn toàn”,

2/ Chống đối Giáo hoàng và từ chối Tin Mừng

Những gì Đức Gíáo Hoàng chỉ trích, thực chất là ngài đòi hỏi người công giáo trung thành với Phúc âm.

Đức Phanxicô cảnh giác để chúng ta tránh nguy cơ hay đúng hơn tránh cám dỗ thích bảo vệ hình thức (văn hóa kitô) hơn là sống theo nội dung (Chúa Kitô).

Một vài người công giáo trách ngài, vì ngài đã nhắc họ Chúa Giêsu-Kitô không đòi có người bảo vệ mình nhưng Ngài đi tìm các chứng nhân, và hai chuyện này không phải là một (nếu là một thì ngài đã nhờ đạo binh thiên thần bảo vệ để ngài khỏi chịu sự Thương Khó).

Một vài người vô thần sùng kính chỉ trích ngài, vì ngài đã nói to lên rằng các người công giáo Âu châu đừng đến đây để nhắc cho đám đông ngu dốt các vẻ đẹp của nghệ thuật La Mã, nhưng để báo cho họ Tin Mừng Chúa Giêsu-Kitô đã cứu chuộc chúng ta, bắt đầu hết là chính họ phải sống nhất quán với Tin Mừng.

Một vài người ghét ngài, vì ngài nhắc họ có một sứ mệnh: làm chứng bằng chính cuộc sống của mình và bằng lời, rằng Chúa là Chúa của tình yêu và chỉ có Ngài mới lấp đầy khát vọng căn bản của con người là được yêu («Ai có thể lấp đầy được các ước muốn của tâm hồn tôi, đáp trả được một đòi hỏi có được một tình yêu trọn hảo của tôi? Ai, nếu không phải là Chúa, Chúa trọn lành, Chúa của tình yêu tuyệt đối của mọi thời gian»).

Những gì họ ghét ngài trên hết, là khi Đức Phanxicô nhắc họ trách nhiệm, bao gồm cả họ là những người đã được rửa tội, họ có bổn phận làm gương, vì thánh thiện không phải là một chọn lựa mà họï có thể chọn tùy tiện nhưng đó là ơn gọi duy nhất, lý do chính duy nhất của họ ở trần thế này và là điều kiện cho sự cứu rỗi của họ.

Một vài người căm ghét ngài, vì họ không muốn nghe rằng, đức tin kitô là đức tin vào Chúa toàn năng, Đấng quyết định cần chúng ta để thực hiện chương trình cứu chuộc nhân loại. Họ thích Chúa của họ là một Chúa hồi giáo, ra lệnh cho họ được dùng vũ lực.

Sự ám ảnh của họ về hồi giáo là phản ảnh sự mong muốn và tiếc không thể kích động được ý muốn quyền lực riêng của mình, theo hình ảnh của những người hồi giáo này, những người có thể biện minh ý muốn thống trị của họ bằng cách đưa ra khủng bố và áp đặt một chế độ khắt khe (dhimmi) cho những người không phải là hồi giáo…

Tình yêu làm thông minh thì ác ý làm mù quáng. Cứ muốn làm cho Đức Giáo hoàng nói những chuyện mà ngài không nói, chẳng hạn cáo buộc ngài nói tất cả các hôn nhân là vô hiệu thì các kẻ thù của ngài tự cho mình là những người không hiểu gì.

Vì khi đưa ra một chẩn đoán không được ưng ý, trên thực tế của một vài hôn nhân được cử hành theo hình thức, ngài chỉ đưa ra các hệ quả của sự phản đạo và khoan hòa của một số người có trách nhiệm trong hàng giáo sĩ, đã bỏ không làm sáng tỏ lương tâm, khi không từ chối cử hành bí tích hôn nhân khi thấy có những điều kiện hợp lệ không được phối hợp!

Khi từ chối không muốn nghe những gì Đức Giáo hoàng đích thực nói mà chỉ thích vu khống, thích ghét ngài, thì những người công giáo này tự cho mình có mắt mà không ngươi.

Sự cuồng hoảng mà một số người gợi lên về Đức Phanxicô không làm cho chúng ta biết thêm về những gì Đức Phanxicô làm hay nghĩ, nhưng lại làm cho chúng ta biết nhiều về đời sống nội tâm của những kẻ gièm pha.

Trên quan điểm này, sự dị ứng với Đức Phanxicô là một chỉ dẫn tốt cho những rời rạc và ô nhục của một vài môi trường công giáo. Theo một nghĩa nào đó, đó cũng là một tin tốt: các mặt nạ được rơi xuống!

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Điều gì thúc đẩy hàng ngàn người tị nạn hồi giáo theo kitô giáo

 

aleteia.org, Salvador Aragones, 2016-07-12

Họ khám phá thấy Chúa là tình yêu và chân lý và thấy đó là «cách mạng»

Vòng tay hòa bình của người Do Thái và Hồi giáo chung quanh nguyện đường Oslo

Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, hàng ngàn người tị nạn hồi giáo đến Âu châu đã trở lại đạo kitô giáo ở nhiều nước định cư khác nhau. Khi đến được các nước Âu châu, nhiều người hồi giáo Syria, Irak, Iran và Afghanistan khám phá trong kitô giáo, «Thiên Chúa là tình yêu, một tình yêu của lòng thương xót», có thể tha thứ đến vô tận cho những người ăn năn hối cải và họ thấy đây là «cách mạng”, ký giả người Liban  Camille Eid, tùy viên của báo Ý Tempi ở Trung Đông cho biết như trên.

Khám phá Thiên Chúa của Phúc Âm

Trong một phỏng vấn gần đây của báo Ý Tempi, ký giả Eid đã triển khai quan điểm của ông: cách đây mười mấy năm, rất nhiều người hồi giáo sống chung với người kitô giáo ở xứ của họ, nhưng họ không đọc Thánh Kinh. Với việc khám phá Tin Mừng, họ tìm được câu trả lời ở nơi khác chứ không ở một hồi giáo càng ngày càng trấn áp. Được hỏi về nghịch lý, vì sao ở Phương Tây lại có những vụ trở lại hồi giáo, trong khi thống kê cho biết, có hàng ngàn người hồi giáo trở lại kitô giáo (công giáo và các giáo hội kitô khác), ông  Camille Eid trả lời:

«Đó là nghịch lý của hai chuyện: người Phương Tây bị lôi cuốn bởi ý thức hệ của sự chết, đến mức bỏ tất cả để đi chiến đấu bên cạnh những người hồi giáo cực đoan của nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng, trong khi những người chịu đựng sự hung bạo của trào lưu chính thống hồi giáo và sự phục tùng mù quáng theo luật lệ của kinh Coran, thì lại thay đổi khi họ khám phá các điều răn của tình yêu. Nhưng chính xác là có rất nhiều người trở lại khởi đi từ kinh Coran. Quả vậy, khi nhận ra Giêsu không phải chỉ là một nhà tiên tri và được thúc đẩy bởi mong muốn tìm tòi học hỏi, họ khám phá ra “Chúa của Tin Mừng”. »

Những con số

Như thế, ở địa phận Hambourg, nước Đức, vào dịp lễ Phục Sinh có 196 người rửa tội, ở Áo có 46. Ở Pháp, theo Hội đồng Giám mục cho biết, 4% số người lớn được rửa tội (trong số 5 000 người mỗi năm) là người hồi giáo.

Cha Pierre Humblot, linh mục truyền giáo người Pháp ở Iran từ 45 năm nay khẳng định, dù có lệnh cấm đoán, có 300 000 người trở lại ở nước này. «Một hiện tượng không thể tưởng tượng!», cha vui mừng nói. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (Interdisciplinary Journal of Research on Religion) cho biết, chỉ riêng ở Mỹ, hàng năm có khoảng 20 000 người hồi giáo rửa tội, họ tin vào Chúa Kitô. «Trong Hồi giáo, chúng tôi luôn sống trong hãi sợ: sợ Chúa, sợ tội, sợ hình phạt. Nhưng Chúa Kitô là Chúa của tình yêu», một cặp vợ chồng trẻ người Đức cho biết.

Điều đáng nhấn mạnh, trong tất cả các nước có người tị nạn và di dân đến từ các nước có đa số người dân là hồi giáo, thì đều có các cuộc trở lại. Các nước Bắc Âu có truyền thống tôn giáo Luther cũng có hàng trăm vụ rửa tội. Theo báo Tribune de Genève cho biết, vào cuối năm ngoái, có cả trăm người Iran đã rửa tội ở Đan Mạch, ngoài ra có từ 250 đến 300 người chờ học xong giáo lý để được rửa tội. Còn ở Phần Lan, từ tháng 10 năm ngoái, có 235 người được rửa tội trong các giáo hội Luther và Hiện xuống….

Cuối cùng được tự do chọn kitô giáo

Rất nhiều người hồi giáo đến Pháp mong muốn biết kitô giáo, họ gần như hoàn toàn không biết gì về kitô giáo, vì ở nước họ, chỉ có duy nhất và độc nhất một đạo là đạo Hồi, vì thế họ không thể nào ra khỏi đạo… Một mục sư người Phần Lan lo cho người tị nạn cho biết, người hồi giáo đã quá ngán đạo Hồi. Bây giờ họ được ra nước ngoài, họ được tự do theo kitô giáo. Nhưng mục sư nói thêm, nếu có một vài gia đình chấp nhận việc trở lại của người thân trong gia đình, thì cũng có những gia đình ruồng bỏ người thân rửa tội của họ.

Người ta không thể đưa ra hết tất cả các con số ở các nước khác: Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Malta, Đảo Chypre, Roumania, Hongria, Bulgaria, Ba Lan, Cộng hòa Tiệp, vv. Các con số thống kê thường thường thiếu, vì các vụ rửa tội không nói «xuất xứ» tôn giáo của các tân tòng, hoặc vì các vụ rửa tội này không được ghi sổ. Trường hợp ở Đức và Áo, các nhà cầm quyền tôn giáo thường cẩn thận trước các vụ trở lại của người hồi giáo, vì những người này phải chứng thật họ thật lòng, chứ không phải một cách để họ hội nhập vào đất nước.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Vì sao tôi bảo vệ luật tối thượng quốc gia và vì sao tôi ủng hộ Đức Phanxicô

 

Suy nghĩ hậu-Brexit và sự phá sản chính trị và đạo đức của những Quốc gia Âu châu.

aleteia.org, Louis Charles, 2016-07-13

Người tị nạn ở châu Âu

Thế nào là một Quốc gia đang suy sụp?

Một Quốc gia không thể nào bảo đảm được an toàn cho những người có quốc tịch mình vì họ không có phương tiện vật chất, tài chính và pháp luật để phạt và ngăn chặn những kẻ phạm tội.

Một Quốc gia không còn tìm cách để làm cho người dân tôn trọng luật trong một vài vùng thành thị và ngoại vi-thành thị, mà trên thực tế đó là những vùng xung đột mạnh như dưới thời Chế độ cũ.

Một Quốc gia không còn cổ động được cho việc làm, cho tình đoàn kết quốc gia, cho sự thịnh vượng vì rõ ràng nó đã bỏ việc cổ động cho việc làm nhân danh cạnh tranh, từ bỏ đoàn kết nhân danh mất điều hòa chung và từ bỏ thịnh vượng chung nhân danh luật thị trường, Quốc gia đó muốn rằng trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, có kẻ thắng người thua.

Một Quốc gia chính mình cắt đứt sự trao truyền những gì là văn hóa và căn tính quốc gia: ngôn ngữ, lịch sử, ký ức, văn hóa – nó san bằng kiểu tự đánh roi trước công chúng một cách có hệ thống.

Một Quốc gia từ bỏ thi hành các đặc quyền tối thượng của mình, có nghĩa là đóng vai trò của mình: độc quyền dùng bạo lực một cách hợp pháp để chống lại những người phạm tội và cổ động cho lợi ích chung để chống lại các lợi ích cá thể (vận động hành lang tài chánh và nghiệp đoàn, các tổ chức nghiệp đoàn công chúng, các kiểu cộng đoàn chủ trương ăn nói phải hợp lòng dân và thiếu ý thức công dân).

Chính trong bối cảnh của một Quốc gia đang suy sụp mà làn sóng người di dân đến hàng loạt, đó là những gia đình kitô hữu bị bách hại, những gia đình hồi giáo cũng bị bách hại và cả những người khủng bố trà trộn nhảy vào, những thanh niên trẻ mạnh cũng là những người di dân kinh tế, họ cố gắng hết sức, đôi khi họ phải để đàng sau cha me, vợ con mình để ra đi.

Như thế chúng ta có thể hiểu phản ứng phẫn nộ của những người Pháp – nhất là người công giáo – với ý tưởng là họ phải gánh làn sóng người di dân không rõ hành tung này vào một đất nước đã bị thất nghiệp, không an ninh, suy thoái, nghèo khổ và gần như không có viễn cảnh gì cho chính họ và cho con cái họ.

Sự phẫn nộ của họ đạt tới cao điểm khi những người được bầu có khuynh hướng tự do-vô chính phủ dạy cho họ bài học và đe dọa luân lý: các ký giả và tầng lớp chính trị gia, những người sát cánh nhau từ bao nhiêu năm nay. Theo nghĩa đen của chữ: người dân không còn trông ở những ký giả nổi tiếng, họ đã vào phe hay sống với các chính trị gia…

Nhưng vì đơn thuần lo lắng cho sự nhất quán và tính trung thực, người ta không thể nào gán cho Đức Phanxicô trách nhiệm của các vụ từ nhiệm liên tiếp nhau của những nhà cầm quyền chúng ta… từ bốn mươi năm nay.

Các chính trị gia cầm quyền không còn đóng vai trò của họ nhưng Đức Phanxicô, ngài đóng vai trò của ngài.

Điểm chung giữa Đức Giáo hoàng và các chính trị gia cầm quyền – ít nhất là về mặt lý thuyết – là họ phục vụ vì lợi ích chung, mỗi người ở tầm mức của mình: người thì ở tầm mức hoàn vũ, các người khác thì ở tầm mức quốc gia.

Trên quan điểm này, lẽ tự nhiên, Đức Giáo hoàng nhắc phải yêu thương người anh em mình, yêu thương người đang ở đó, đang ở trong tầm tay của chúng ta.

Yêu thương người anh em là yêu thương người mà Chúa đã đặt trên đường đi của chúng ta, chứ không phải người mà bỗng nhiên mình chọn. Yêu thương người anh em như Chúa yêu thương chúng ta, đó là yêu thương tha nhân không phải vì họ xứng đáng – tôi không xứng đáng tình yêu của Chúa – nhưng yêu thương tha nhân bởi vì họ đang thiếu thốn. Yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương, đó là lấy sáng kiến yêu thương. Nếu không, đây không phải là tình yêu của Chúa, nhưng do cảm tính chúng ta và chúng ta không hành động thuận theo ý Chúa nhưng thuận theo ý chúng ta. Trong Kinh Lạy Cha, Chúa Kitô đã dạy chúng ta đọc “xin Nước Chúa trị đến” chứ không phải  “xin ý tôi được trọn”. Hợp lẽ, Đức Phanxicô không thể nào làm khác hơn là lên tiếng những gì ở trọng tâm đức tin của chúng ta: một Thiên Chúa của tình yêu đòi chúng ta phải yêu thương người khác như Chúa đã yêu thương chúng ta.

Ngược lại, điều không bình thường là nước Pháp và các nước Âu châu đã tuyên bố đảm trách đặc quyền tối thượng của mình là kiểm soát biên giới, quyền tối thượng quốc gia là kiểm soát các làn sóng đi vào và có những chọn lựa thận trọng được sắp xếp vì lợi ích chung.

Nhưng các Quốc gia và tầng lớp chính trị gia đã không làm công việc của mình từ bốn mươi năm nay và đã dồn chúng ta vào những tình huống không thể chịu đựng được, đó không phải là lỗi của Đức Phanxicô! Ước mong tất cả những ai đã bầu cho hiệp ước Maastricht, cho dự thảo Hiến pháp châu Âu, cho đảng Xã hội, cho Liên hiệp Phong trào Bình dân, cho đảng Xanh, cho Trung tâm và các nghị viện bị mổ não bởi các vận động hành lang làm cho họ tỉnh thức lương tâm. Nhưng họ đừng bất lương đổ cho Đức Giáo hoàng trách nhiệm về các trọng tội riêng của họ!

Đức Giáo hoàng không được ủy nhiệm, cũng không có phương tiện để thế các chính trị gia từ nhiệm của chúng ta và các Quốc gia Âu châu suy sụp. Ngài cũng không được ủy nhiệm và cũng không có phương tiện để giải quyết các vấn đề gần đây của các nước Âu châu. Thật thất vọng nhưng cũng không phải mới: cách đây 2000 năm, Chúa Kitô cũng làm cho nhiều người Do Thái thất vọng khi Ngài nói, Nước Ngài không ở thế gian này. Đức Phanxicô, đồ đệ của Chúa cũng không thể hơn Thầy mình, Chúa Giêsu!

Và cũng là bình thường, không phải chỉ duy nhất, cũng không phải trước hết những chuyện mất quân bình nội bộ là do nguy cơ làn sóng người tị nạn gây ra. Trước nhất là vì mạng sống con người đang gặp nguy hiểm. Sau đó vì các người tị nạn là những nạn nhân đầu tiên của các tình trạng địa chính trị do sự thúc đẩy của Mỹ và các đồng minh Âu châu – ít nhất cũng đừng là chư hầu của họ –  và người ta không thấy nhân danh gì cho các nước Âu châu này. Chúng tôi, chúng tôi chỉ là thành phần thứ nhì của nạn nhân. Chúng tôi không (hay chưa?) còn là những người than phiền họ. Vậy, ưu tiên của những ưu tiên.

Các làn sóng người di dân là kết quả của 15 năm của nền chính trị Mỹ ở Trung Đông, qua đó các chính quyền Âu châu chỉ đồng minh để có thể bán vũ khí, và để buôn bán với các đồng minh địa phương của Mỹ, mà cũng là những người ủng hộ và những người tiếp tay cho nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng: Ả Rập Xauđi, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ.

Rằng Đức Giáo hoàng xem số phận của những người tị nạn thì ít bi thảm hơn số phận của chúng ta, và số phận của họ thì ưu tiên hơn mọi trạng huống nào, thì không dễ chịu để nghe nhưng cũng bình thường. Ngày mà người Pháp và người Âu châu bỏ hết tất cả mọi sự sau lưng mình để cứu mạng sống mình, để di dân, dù một cách bất hợp pháp, qua Syria hay Irak, thì khi đó chúng ta sẽ ở thành phần thứ nhất. Nói vậy, tôi không chắc sự thay đổi thể loại này thật sự là một sự cổ động.

Dù ngài cho tình trạng khẩn cấp phải đặt lên hàng đầu và ưu tiên phải đi thẳng vào thảm kịch chứ không phải chỉ nhắm vào việc làm nhân đạo mà thôi, nhưng nhân đạo cũng là bình thường.

Dù ngài cho rằng, các quân bình nội bộ riêng, sự nhất quán riêng của chúng ta bị suy yếu, đối với chúng ta thật khó mà chấp nhận, nhưng không phải là bất hợp pháp.

Dù ngài cho rằng: dù giáo hoàng không phải là chủ tịch của một câu lạc bộ của các nước hậu hiện đại của cựu kitô nhưng là vị đại diện của Chúa Kitô cho toàn thế giới.

Cho toàn thế giới chứ không phải duy nhất cho tín hữu kitô. Có phải vì muốn loan báo Tin Mừng cho toàn thế giới mà ưu tiên là bắt đầu bằng yêu thương những người mình muốn loan báo. Loan báo một Chúa của tình yêu mà không thể cung cấp một mẫu tình yêu thì không thuyết phục được ai. Các tín hữu kitô chỉ có thể loan báo Chúa Kitô: họ không có đóng góp nào mang đến. Họ còn phải loan báo theo phương cách tốt. Vì loan báo Chúa Kitô là loan báo Tin Mừng, chứ không phải ưu tiên là hoạt động cộng đoàn. Để làm khả tín cho tình yêu của Chúa đối với chúng ta, phải bắt đầu bằng chính mình, rọi sáng sự dịu dàng, lòng nhân hậu, lòng hy vọng mà Chúa thổi cho chúng ta.

Rằng, Đức Phanxicô cho rằng số phận của những nước Âu châu thì đáng mong muốn hơn số phận của những người di dân là chuyện bình thường. Ưu tiên là con người, vì chính con người mà Chúa Kitô đến để cứu. Chứ không phải các quốc gia. Các quốc gia đi qua và sẽ không sống lại, ngược với con người.

Một cách cụ thể chúng ta phải làm gì?

Một cách cụ thể, lần sau chúng ta sẽ bầu cho một đảng chủ trương bênh vực quyền tối thượng của một quốc gia, và chúng ta bầu cho họ, biết vì sao mình bầu, không hứng khởi cũng không bịt mũi.

Chính khi Quốc gia tái tạo được sự kiểm soát lãnh phận và biên giới của mình, thì nó mới có thể lọc giữa những người di dân, ai là người di dân thật, ai là người đi vì cơ hội và họ có thể ở lại nhà họ.

Để làm được vậy, Quốc gia phải tìm lại các dụng cụ lèo lái của mình, tìm các phương tiện để phân tích tình trạng, độc lập với các vận động hành lang ở Bruxelles, chung quanh các thể chế Âu châu, và trở thành những người đưa ra chỉ dẫn các chuẩn mực cho quốc gia.

Cho đến khi nào sự lưu động dòng vốn và nhân công – ít mê hoặc hơn là nói tự do đi và đến, nhưng đích thực hơn – được dựng lên thành giáo điều không thể xâm phạm mà Quốc gia và các nhà cầm quyền chưa bao giờ có được trong tay.

Chưa bao giờ người Pháp cũng như người Syria, sẽ có thể hy vọng sống lại, làm việc lại trong nước, dù đó chỉ là khát vọng của những người chỉ đơn giản muốn sống, sống một cách đơn giản. Sống và làm việc ở nước mình, đó là ước muốn tự nhiên của đa số, dù cho họ ở châu lục nào. Đó là một cái gì được ghi nhận chứ không phải bị cấm. Và không phải chỉ cho tín hữu kitô ở Trung Đông.

Ngược lại, di dân hàng loạt không phải là một hiện tượng tự nhiên: đôi khi là một vũ khí địa chính trị và thường là một hiện tượng được tổ chức có lợi của một thiểu số các lợi ích kinh tế. Đây là một hiện tượng có tổ chức nhưng không có lợi ích chung.

Ngày nay việc di dân hàng loạt dùng để cạnh tranh trên thị trường việc làm của những sắc dân thiều số sống bấp bênh và những người vô sản được nhập vào để đánh ván bài hạ thấp lương bổng. Đó là vì bà Angela Merkel trước tiên đã hài lòng khi nghe giới chủ nhân Đức – cần nhiều nhân công giá rẻ  – nên trong thời gian đầu bà tuyên bố mở cửa biên giới của mình.

Sự nhập hàng loạt những người vô sản bị bứng gốc làm thiệt cho những sắc dân thiểu số có hoàn cảnh bấp bênh thì không dính gì đến tình yêu cho người anh em. Đó là một hình thức hiện đại của con người khai thác con người. Nó chỉ có lợi cho những người tổ chức việc buôn người vô nhân đạo này (các công ty lớn, các tổ chức mafia, các hiệp hội chống-kỳ thị được nhà nước trả lương) nhưng không có lợi cho ai khác, và chắc chắn không phải các nước gốc của những người di dân.

Sự ưu đãi siêu quốc gia chịu trách nhiệm một phần lớn trong sự xuống dốc của họ, vì người ta lấy cắp nguồn thực phẩm dồi dào của họ dưới cặp mắt hài lòng của các nhà cầm quyền của họ. Sự hài lòng của những người cầm quyền được bảo đảm, vì nó được định giá, định suất. Các ngân quỹ đổ vào nhân danh sự hợp tác và phát triển, rồi cuối cùng, một cách bất di bất dịch nạp vào túi các nhà độc tài «những người bạn của nước Pháp» hay «những người ủng hộ Phương Tây» và khách hàng của họ.

Hệ thống này là hệ thống người nghèo của nước giàu trả cho người giàu của nước nghèo là cái vòng thối nát cho việc di dân hàng loạt sẽ không bao giờ dứt. Vì đây chính là một hệ thống thối nát, hay, để dùng lại chữ của Đức Gioan-Phaolô II, là «cơ cấu của tội lỗi». Quả vậy, làm sao một nước có thể hy vọng phát triển khi mỗi năm họ không còn những người trẻ nhất của mình, những người can đảm nhất và đôi khi là những người có học nhất, những người này tìm vận may ở nước Pháp, nghĩ rằng có thể tìm được cõi thần tiên chỉ có trong giấc mơ của họ?

Đó chính là điều mà Đức Phanxicô tố cáo khi ngài tố cáo chủ trương ích kỷ của những nước giàu, có nghĩa các chọn lựa địa-kinh tế vẫn tiếp tục được các nhà cầm quyền ưu tú của họ điều khiển. Tất cả các ông các bà chính trị gia, những người, mà qua xác quyết hoặc qua sự từ nhiệm của họ, đã phê chuẩn hay áp dụng các thỏa hiệp của Schengen, từ nay cấm Quốc gia Pháp quyết định ai có quyền đến ở trên đất của mình và ai phải đi, họ phải chịu trách nhiệm cho làn sóng không kiểm soát được của người di dân, tị nạn hay tị nạn kinh tế, vì chính họ đã lát đường đi và đã kết nối các bàn tay của các quốc gia.

Sự lên án này, ngài có lý để làm: ngài bảo vệ lợi ích chung ở tầm mức hoàn vũ.

Còn chúng ta thì phải nhất quán và bảo vệ lợi ích chung ở tầm mức quốc gia, bằng cách bầu cho một đảng quyết tâm bảo vệ quyền tối thượng quốc gia, sẽ cho phép, để  cuối cùng, đề cập được đến vấn đề lợi ích chung trong khuôn khổ các biên giới của chúng ta.

Nhưng không được trách Đức Phanxicô là ngài không làm giùm cho chúng ta…

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Ở Nice, Hơn một phần ba nạn nhân là người hồi giáo

laroix.com, Jean-Baptiste François, 2016-07-18

Nice' attack 20160715

Trong số 84 nạn nhân thiệt mạng ở Nice ngày 14 tháng 7, có 30 người hồi giáo, ông Otmane Aïssaoui, giáo trưởng của Đại Nguyện Đường của thành phố cho biết.

Trong số đông đảo người đến xem pháo bông ở quảng đường Promenade des Anglais ngày 14 tháng 7 vừa qua, có rất đông người hồi giáo và họ cũng bị thiệt hại nặng trong thảm kịch này tối hôm đó. Ba mươi trong số những người bị chiếc xe tải 19 tấn do tài xế khủng bố Mohamed Lahouaiej-Bouhlel cán nát.

Trên con đường kinh hoàng này, nạn nhân đầu tiên là bà Fatima Charrihi, 62 tuổi người gốc Maroc. «Bà là tín hữu trung thành của nguyện đường chúng tôi. Tôi biết bảy đứa con của bà, tất cả đều đã trưởng thành bây giờ», ông Otmane Aïssaoui nói, ông là chủ tịch Hiệp hội các tín hữu hồi giáo ở Alpes-Maritimes (Umam) và là giáo sĩ của thành phố. Bà Charrihi đến Nice lúc bà 20 tuổi để đoàn tụ với chồng là thợ nề. Rất mộ đạo, bà mang khăn voan, bà có bạn ở nhiều tín ngưỡng khác nhau và bà trao truyền cho con cái mình các giá trị của lòng tôn trọng và bao dung.

Trong số các nạn nhân có các trẻ em.

Trong số các nạn nhân có nhiều trẻ em, em Mehdi, 12 tuổi người ở thành phố Nice, con của một trọng tài bóng đá và người em gái song sinh của mình còn hôn mê, Mohamed Toukabri, một thợ cơ khí người gốc Tunisia, ngoài 50 tuổi. Em Kylian, 4 tuổi và mẹ của em là Olfa, đến từ Lyon để xem pháo bông.

Trong số những người thiệt mạng, có khoảng hai mươi người Tunisia. «Chúng tôi đang liên lạc với các sứ quán để đưa thi hài của họ về nước», giáo sĩ  Otmane Aïssaoui giải thích. Việc đưa thi hài về nước sẽ làm sau khi xong nghi thức tẩm liệm và sau buổi lễ dự trù tổ chức vào ngày thứ năm ở Đại Nguyện Đường Ar-Rahma («Lòng thương xót»), ở phía bắc-đông thành phố, buổi lễ sẽ có sự hiện diện của nhiều đại biểu địa phương.

«Người dân cùng chết chung, dù họ thuộc tôn giáo nào»

Trong khi chờ đợi, ông Otmane Aïssaoui và giáo sĩ Boubekeur Bekri tháp tùng các gia đình bị tang trong nhà quàn tạm thời ở Acropolis, trụ sở các hội thảo ở gần quảng đường Promenade des Anglais.

Chỉ ở khu phố Madeleine, phía bắc thành phố cũng đã có mười mấy người chết. Một vài gia đình mất cha mẹ và con cái. «Tất cả mọi người đều đau khổ, thật khó để có thể thấy người chết», bà Kawthar Ben Salem cho biết, bà là chủ tịch các sinh hoạt ở Umam.

Phản ứng trước thảm kịch, các giáo sĩ mong muốn đưa ra lời kêu gọi vào tháng 9 này, trong các buổi  «hội thảo suy tư và hành động» sẽ thảo luận để «phá vỡ hận thù» trong các khu phố nhạy cảm và ở các trường học. «Để cổ động cho đời sống chung, chống thu mình vào trong sắc tộc của mình và để chống các mưu toan chính trị cục diện, thì phải kêu gọi, rằng người chết họ chết chung, dù họ ở bất cứ tôn giáo nào», ông Otmane Aïssaoui giải thích.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Văn phòng báo chí: ngạc nhiên và vui mừng đối với nữ phó giám đốc văn phòng báo chí

 

zenit.org, Constance Roques và Anne Kurian, 2016-07-18

Phỏng vấn bà Paloma Garcia Ovejero

18-7-2016

Bà Paloma García Ovejero gặp Đức Phanxicô

Từ 1 tháng 8-2016, nữ ký giả Tây Ban Nha Paloma García Ovejero sẽ là phụ nữ đầu tiên làm phó giám đốc Văn phòng báo chí  Tòa Thánh. Trong một phỏng vấn với trang báo Zenit, tùy viên đài truyền thanh tại Rôma của Hội đồng giám mục Tây Ban Nha Cope, bà Ovejero nhắc đến sự bổ nhiệm ngạc nhiên này và cho biết mình «rất vui».

Bà sẽ là phụ tá cho ký giả người Mỹ Greg Burke, người kế nhiệm linh mục Federico Lombardi ở chức vụ giám đốc, bà cho biết mình rất «ngạc nhiên»: «Tôi biết tin ba ngày trước khi loan báo chính thức, có nghĩa là thứ sáu 8 tháng 7. Sáng hôm đó, tôi nhận một cuộc gọi không biết tên (…), đó là thư ký của Đức ông Angelo Becciu (phó Quốc vụ khanh), ông mời tôi đến Phủ Quốc vụ khanh. Lúc đó, tôi không nghĩ gì hết cũng không hình dung chuyện gì xảy ra. Tôi đến và người ta cho tôi biết, Đức Giáo hoàng muốn đề nghị với tôi một việc. Tôi trả lời «vâng» liền… Đương nhiên, lời đề nghị này làm tôi hoảng, nhưng cùng một lúc cũng làm tôi vui và làm tôi cảm thấy mình có trách nhiệm cao.»

Ngay ngày hôm sau cuộc gặp gỡ này, nữ ký giả Paloma Garcia Ovejero lấy «chuyến bay đầu tiên» đi Madrid để thăm gia đình: «Tôi là chị cả của gia đình có bảy người con và dì của 9 đứa cháu (…). Chúng tôi cùng ăn trưa với nhau, buổi chiều tôi quay về Rôma lại. (…) Gia đình tôi rất ngạc nhiên, nhưng cùng một lúc họ bằng lòng, vì họ hiểu đây chỉ là thay đổi sứ vụ. (…) Trước là cho Giáo hội Tây Ban Nha, qua đài truyền thanh của các giám mục; bây giờ là Giáo hội hoàn vũ.»

Nữ ký giả 40 tuổi vinh danh linh mục Lombardi, người sẽ rời nhiệm sở sau Đại hội Giới trẻ Thế giới ở Cracovia: «Tôi luôn ngưỡng phục sự minh triết, khiêm tốn, kín đáo và nhất là khả năng bình thản trước bất cứ trạng huống nào của linh mục Lombardi. Tôi thật sự mong muốn có – hoặc với thời gian học hỏi – ít nhất có 5% tất cả các đức tính của ngài.»

Trong nhiệm vụ mới, bà mong mang kinh nghiệm ký giả của mình vào văn phòng báo chí: «Tôi đã hiểu các đòi hỏi đích thực của các bạn đồng nghiệp ký giả của tôi». Phụ nữ đầu tiên ở chức vụ phó giám đốc từ chối mọi vấn đề liên hệ đến nữ quyền: «Theo tôi, đúng hơn là các thể loại (…) của một sự bình thường hóa hợp lý mà tôi nghĩ, là sự bình thường mà Đức Giáo hoàng đi theo». Bà Paloma Garcia Ovejero cũng cho rằng, «sự bổ nhiệm ông Burke và tôi chỉ là một phần nhỏ của cuộc cải cách truyền thông Vatican được đưa ra cách đây vài tháng và sẽ còn đi tới trong vài năm nữa».

«Nhân vật số 2» được Đức Giáo hoàng tiếp vào sáng ngày bổ nhiệm chính thức đã nói với Radio Vatican: «Đức Phanxicô đòi hỏi sứ mệnh của ngài phải đến được khắp nơi. (…) Ngài biết rõ truyền thông là một trong các trụ của triều giáo hoàng và của Giáo hội. Ngài nói với chúng tôi rất nghiêm túc và đòi hỏi chúng tôi phải quân bình, trung tín và trong sáng, kể cả với ngài.»

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Bài mới nhất