Những con người chúng ta đang cần

14

Những con người chúng ta đang cần

corrispondenzaromana.it, Roberto de Mattei, 2026-07-22

Trước khi có hỗn loạn về cấu trúc, thì đã có hỗn loạn về tư tưởng. Đây là chìa khóa để hiểu được thời điểm lịch sử chúng ta đang trải qua. Cuộc khủng hoảng hiện đang ảnh hưởng đến thế giới công giáo không chủ yếu là cuộc khủng hoảng về tổ chức hay chiến lược: đó là một cuộc khủng hoảng về tinh thần và văn hóa, ảnh hưởng đến chính cách suy nghĩ, phán đoán và phản ứng của chúng ta trước các sự kiện.

Trong nhiều thập kỷ, chủ nghĩa tiến bộ về chính trị và văn hóa đã thống trị gần như tuyệt đối phương Tây, kiểm soát các đảng phái chính trị, các phương tiện truyền thông lớn, các nhà xuất bản, giới học thuật, ngành công nghiệp giải trí, và cuối cùng, một phần đáng kể các thể chế giáo hội. Mục tiêu của nó là thiết lập một trật tự thế giới mới dựa trên việc xóa bỏ bản sắc tự nhiên và tôn giáo, giải tán mọi quyền lực truyền thống và thay thế trật tự Kitô giáo bằng một tôn giáo thế tục mới.

Cho đến vài năm trước, sự thống trị này dường như không thể đảo ngược. Bất cứ ai phản đối đều bị gạt ra ngoài lề, bị kiểm duyệt, hoặc đơn giản là bị phớt lờ. Tuy nhiên, mọi cấu trúc nhân tạo đều mang trong mình mầm mống của sự tan rã. Đầu thế kỷ 21 đánh dấu sự xuất hiện của một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong hệ thống này. Nhiều người cho rằng sự thay đổi này là do sự lan rộng của internetmạng xã hội. Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm nếu nhầm lẫn công cụ với nguyên nhân. Internet không tạo ra phản ứng; nó chỉ đơn giản đưa phản ứng đó ra ánh sáng, vì thế nó có hiệu quả. Thượng đế thường dùng những phương tiện bất ngờ để đạt được mục đích. Internet đã giúp phá vỡ sự độc quyền thông tin, phổ biến những ý tưởng bị kiểm duyệt, kết nối những người trước đây bị cô lập. Nhưng nguyên nhân thực sự và sâu xa của phản ứng này nằm ở trật tự tự nhiên, vốn có trước mọi cấu trúc ý thức hệ. Khi trật tự này bị vi phạm một cách có hệ thống, chính thực tại sẽ phản ứng. Bản chất con người sở hữu một sức mạnh kháng cự mà không một lực lượng tuyên truyền nào có thể tiêu diệt dứt điểm. Chân lý có thể bị che khuất, nhưng luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã khắc ghi trong lòng mỗi người không thể bị xóa bỏ hoàn toàn.

Khả năng phục hồi này đã thể hiện rõ nét nhất trong hai mươi lăm năm qua, đặc biệt trong thế giới Công giáo. Nhiều giáo dân đã cảm nhận được sự mất mát của một yếu tố thiết yếu và đã tìm cách tái khám phá phụng vụ truyền thống, giáo lý kitô giáo, triết học hiện thực, thần học cổ điển và di sản tinh thần của Giáo hội. Nhưng chính vào thời điểm dường như có sự hội tụ của các năng lượng này đang nổi lên, điều có thể được gọi là hơi thở cuối cùng của quá trình cách mạng đã xảy ra.

Trong những năm gần đây, một loạt các sự kiện đã làm bất ổn sâu sắc thế giới Công giáo. Đại dịch năm 2020-2021 đã tạo ra bầu khí sợ hãi tập thể và ngờ vực lẫn nhau. Cuộc chiến tranh Nga-Ukraine, bùng nổ năm 2022, đã làm trầm trọng thêm sự hoang mang và phân cực về cảm xúc. Những biến cố nội bộ trong Giáo hội trong thời kỳ chuyển giao giữa triều Đức Phanxicô và Đức Lêô đã làm nổi bật vừa nhiệt tình vừa chán nản, thường không tương xứng với tầm quan trọng thực sự của các sự kiện. Bầu khí tâm lý này đã bị lợi dụng để ngăn chặn bất kỳ hòa giải nào trong thế giới Công giáo gắn bó với Truyền thống, tạo chia rẽ có lẽ chưa từng có trong lịch sử.

Tác động nghiêm trọng nhất của tình trạng này không phải là về mặt tổ chức, mà là về mặt trí tuệ. Plinio Correa de Oliveira, trong tác phẩm “Cách mạng và Phản cách mạng” đã nhiều lần lên án sự suy thoái trí tuệ như một trong những hiện tượng đặc trưng của thế giới hiện đại. Tác giả Marcel De Corte đã dành một tác phẩm sâu sắc cho chủ đề này, Trí tuệ trong nguy hiểm chết người (L’Intelligence en danger de mort). Sự phát triển công nghệ đã đẩy nhanh quá trình này. Con người hiện đại sống trong trào lưu thông tin, hình ảnh, cảm xúc và tranh cãi không ngừng. Mạng xã hội – Facebook, Instagram, TikTok và các nền tảng liên tục xuất hiện – không chỉ đơn thuần truyền tải thông tin: chính chức năng của chúng được thiết kế để làm suy yếu việc vận dụng trí tuệ. Chúng khơi gợi các phản ứng tức thì, ưu tiên cảm xúc hơn phán đoán, tốc độ hơn chiều sâu. Chúng ta không còn đi tìm sự thật, mà chỉ đi tìm phản ứng tức thì.

Điều này dẫn đến một nghịch lý: sở hữu những nguyên tắc giáo lý vững chắc trong khi sống theo những khuôn mẫu của nền văn hóa cách mạng. Chúng ta dao động từ phẫn nộ này sang phẫn nộ khác, từ nhiệt tình sang  thất vọng, từ cuộc tranh luận này sang cuộc tranh luận khác, nhưng không giữ được bình an nội tâm, điều duy nhất giúp chúng ta phân định đúng đắn.

Những cuộc khủng hoảng lớn của Giáo hội luôn được giải quyết bởi những người, theo nghĩa sâu sắc nhất của từ này, là những người chiêm nghiệm trong hành động. Thánh Athanasius, Thánh Gregory VII, Thánh Pius V và Thánh Pius X không bị choáng ngợp bởi các sự kiện: các ngài làm chủ chúng, các ngài biết cách phán xét chúng dưới ánh sáng của những nguyên tắc cao hơn. Sức mạnh của các ngài đến từ cầu nguyện, kỷ luật trí tuệ và thói quen đặt sự kiện dưới sự chi phối của nguyên tắc, chứ không phải nguyên tắc dưới sự kiện. Mỗi phục hồi đích thực luôn bắt đầu bằng sự phục hồi các năng lực của tâm hồn.

Học tập, suy ngẫm và ưu tiên chiêm nghiệm hơn hành động là những điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển đời sống nội tâm và cho việc hình thành những nhân vật có khả năng phán xét đúng đắn các sự kiện của thời đại chúng ta. Trong tác phẩm nổi tiếng “Linh hồn của mọi hoạt động tông đồ”, Linh mục Jean-Baptiste Chautard nhắc chúng ta hạnh phúc của hành động nằm ở việc thay thế hoạt động cho đời sống nội tâm. Ngày nay, chúng ta có thể bổ sung thêm: có một hình thức hoạt động mới cũng tồn tại: hoạt động kỹ thuật số. Đó là sự xáo trộn liên tục tạo ra ảo tưởng về sự tận tâm trong khi từ từ làm suy yếu năng lượng tâm linh. Việc theo đuổi những chuyện giật gân thay thế lòng trung thành hằng ngày; những điều phi thường dường như hấp dẫn hơn những điều bình thường. Tuy nhiên, chính trong lòng trung thành với những điều nhỏ bé mà phẩm chất Kitô giáo được hình thành. Đôi khi, cần nhiều can đảm hơn để hoàn thành bổn phận hằng ngày hơn là đối diện với một tình huống phi thường. Giám mục Pier Carlo Landucci nhận xét, nhận thức khiêm nhường về sự nhỏ bé của chính mình có thể dẫn đến một cái nhìn thoáng qua về một vị trí khiêm tốn trong vinh quang của các thánh; nhưng tất cả đều được kêu gọi đến một sự thánh thiện anh hùng, vì, như Thánh Phaolô dạy: “Đó là ý muốn của Thiên Chúa, thánh hóa anh em” (1 Tx 4:3).

Cuối cùng, còn một cám dỗ cuối cùng, đặc biệt nguy hiểm. Đối đầu với những khó khăn nảy sinh trong Giáo hội, một số người bị cám dỗ tìm nơi nương náu bên ngoài. Chiến đấu bên ngoài dường như dễ dàng hơn là chịu đựng đau khổ do các cuộc khủng hoảng nội bộ gây ra. Tưởng tượng những cộng đồng hoàn hảo dễ hơn là giữ vững đức tin trong những lúc thử thách. Nhưng con đường này chắc chắn sẽ dẫn đến ngõ cụt.

Giáo hội vẫn là Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Kitô, ngay cả khi bị ảnh hưởng bởi những cuộc khủng hoảng sâu sắc. Các thành viên của Giáo hội có thể bất trung; các mục tử của Giáo hội có thể phạm sai lầm và thậm chí gieo rắc sự nhầm lẫn nghiêm trọng; trong một số trường hợp, sự phản kháng có thể là chính đáng, thậm chí cần thiết. Tuy nhiên, không có con đường Công giáo đích thực nào nằm ngoài các thể chế của Giáo hội, và sự phục hồi không thể đạt được thông qua sự chống đối liên tục và vĩnh viễn đối với những người đang thực thi quyền lực một cách hợp pháp.

Lịch sử dạy chúng ta tất cả các cuộc phục hồi vĩ đại của Công giáo đều được sinh ra từ những người biết cách kết hợp sự kiên quyết chống lại sai lầm với tình yêu bất diệt với Giáo hội hữu hình và có phẩm trật.

Đây là lý do vì sao cuộc đấu tranh quyết định của thời đại chúng ta không chủ yếu nằm ở việc lên tiếng, buộc tội người khác, hoặc nhân rộng các sáng kiến và chiến dịch truyền thông. Nhưng là về việc xây dựng lại các cá nhân có sức mạnh nội tại, có khả năng học tập, cầu nguyện, hy sinh và trên hết là sự cân bằng.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Khoa học cho rằng Chúa không tồn tại?

Những con người chúng ta đang cần

Hồng y Müller: “Họ tuyên bố đang tạo một Giáo Hội khác được truyền cảm hứng từ hệ tư tưởng thức tỉnh và chủ nghĩa nữ quyền.”