Giáo hội và Chế độ nô lệ: Vì sao Thông điệp Lỗi tại tôi của Đức Lêô lại quan trọng như thế
cath.ch, I.Media, 2026-05-27
Trong nhiều thế kỷ, tín hữu kitô và các dòng tu đã nuôi nô lệ, đặc biệt đến từ Châu Phi © Tim Brauhn/Flickr/CC BY-NC-SA
Trong Thông điệp Nhân loại tuyệt vời Magnifica humanitas công bố ngày 25 tháng 5 năm 2016, Đức Lêô viết: “Chúng ta không thể phủ nhận hoặc xem nhẹ sự chậm trễ mà Giáo Hội và xã hội đã lên án tai họa của chế độ nô lệ. Nhân danh Giáo hội, tôi thành tâm xin được tha thứ.”
Một cái nhìn tổng quan ngắn gọn sự phát triển lập trường của Giáo hội trong vấn đề này.
Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu không lên án hay đặt câu hỏi một cách rõ ràng về chế độ nô lệ, vốn phổ biến khắp nơi trong thời của ngài ở Đế chế La-mã. Tuy nhiên, ngay từ thế kỷ thứ nhất, Giáo hội đã công nhận nô lệ có phẩm giá tôn giáo ngang bằng với người tự do: được rửa tội, lãnh nhận các bí tích và bình đẳng trước Chúa. Hai Giáo hoàng của những thế kỷ đầu tiên – Piô I và Callixtus I – bản thân các ngài cũng từng là nô lệ. Tuy nhiên, chế độ nô lệ chưa bao giờ bị lên án. Nghịch lý cơ bản này – bình đẳng về linh hồn nhưng dung thứ cho sự nô dịch – đã kéo dài suốt 19 thế kỷ.
Vào thế kỷ 15, Tòa Thánh đã phải dung hòa giữa một hình thức đồng tình và những lời lên án đầu tiên với thực tiễn này. Trong Thông điệp Nhân loại Tuyệt vời Magnifica Humanitas, Đức Lêô trích dẫn một số sắc lệnh của các Giáo hoàng trong thời kỳ này. Ngài giải thích: “Tòa Thánh Tông đồ La-mã, theo yêu cầu của các vua chúa đã can thiệp nhiều lần để điều chỉnh và hợp pháp hóa các phương pháp khuất phục và, trong một số trường hợp, là việc nô dịch những người ‘ngoại đạo’”.
Đức Eugene IV là Giáo hoàng tiên phong… đã thay đổi quan điểm của Giáo hội
Văn bản đầu tiên của Giáo hoàng người Mỹ đề cập đến là Sicut dudum, một sắc lệnh được Đức Eugene IV ban hành năm 1435. Trong văn bản này, ngài đe dọa vạ tuyệt thông cho bất kỳ ai bắt giữ người đã được rửa tội làm nô lệ, ngay cả khi họ là người bản địa. Một bước đi đầu tiên của một Giáo hoàng hướng tới việc lên án chế độ nô lệ… điều mà sau đó nhanh chóng bị gạt bỏ. Hai năm sau, ngài ban hành sắc lệnh Etsi Suscepti, trao cho Bồ Đào Nha độc quyền về thám hiểm, thương mại và chinh phục các dân tộc trên bờ biển Tây Phi.
Năm 1452, Giáo hoàng kế nhiệm ngài là Nicholas V, đã ban hành sắc lệnh Dum Diversas, cũng được Đức Lêô XIV trích dẫn, cho phép các vua Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bắt những người không theo kitô giáo làm nô lệ. Ba năm sau, Romanus Pontifex hợp pháp hóa việc chinh phục người Châu Phi ở Guinea. Đức Lêô nhận xét trong Thông điệp Nhân loại tuyệt vời: “Áp lực chính trị, đôi khi là áp lực kinh tế đã được ưu tiên hơn so với những đòi hỏi của Phúc Âm.”
Bước ngoặt của thế kỷ 19
Đức Lêô giải thích: “Mãi đến thế kỷ 19 Giáo hội mới lên án chính thức, tuyệt đối và phổ quát với chế độ nô lệ mới xuất hiện, đặc biệt là với Đức Lêô XIII. Dù Đức Phaolô III đã lên án việc nô dịch người bản địa Châu Mỹ ngay từ năm 1537 với sắc lệnh Sublimis Deus, nhưng sự bảo vệ này không mở rộng một cách rõ ràng đến người Châu Phi. Trong nhiều thế kỷ sau đó, các tín hữu kitô và một số các dòng tu vẫn còn nuôi nô lệ.
Vào thế kỷ 19, chính Giáo hoàng Gregory XVI là người đầu tiên phá vỡ mâu thuẫn này khi ngài lên án buôn bán nô lệ trong sắc lệnh In Supremo apostolatus với chú thích của Thông điệp Nhân loại tuyệt vời: “Năm 1839, sắc lệnh của Giáo hoàng In supremo apostolatus đã đề cập đến vấn đề này, nhưng cho đến năm 1866, Tòa Thánh vẫn phân biệt giữa khía cạnh vô đạo đức và đạo đức của chế độ nô lệ, nhưng không hoàn toàn lên án nó.”
Nhưng hai thập kỷ sau, năm 1888, Đức Lêô XIII đã đưa ra lời lên án rõ ràng về buôn bán nô lệ. Trong thông điệp In plurimis, gửi đến các giám mục Brazil – một trong những quốc gia cuối cùng bãi bỏ chế độ nô lệ – ngài khẳng định chế độ nô lệ trái với giáo lý Kitô giáo và phẩm giá của người đã được rửa tội.
Từ lên án đến lời cầu xin tha thứ
Vào cuối thế kỷ 20, Giáo hội mới bắt đầu thực sự tiến hành xem xét lại về sự mơ hồ của Giáo hội liên quan đến chế độ nô lệ. Năm 1992, trong chuyến đi thăm đảo Gorée ở Senegal, Đức Gioan-Phaolô II đã mô tả nạn buôn bán nô lệ là một “hoạt động thương mại đáng hổ thẹn, đó là tội ác chống lại nhân loại”. Ngài tuyên bố: “Từ nơi trú ẩn của người da đen đau khổ ở Châu Phi này, chúng ta xin Chúa tha thứ.” Vấn đề nô lệ được ngài đề cập một cách gián tiếp trong lễ kỷ niệm tha thứ được tổ chức tại Vatican trong Năm Thánh 2000. Tòa Thánh tiếp tục xem xét công việc này dưới thời Đức Phanxicô. Đặc biệt Tòa Thánh đã lên án một số sắc lệnh của Giáo hoàng thế kỷ 15 “phản ánh không đầy đủ phẩm giá và quyền bình đẳng của các dân tộc bản địa” trong một tuyên bố chung của Bộ Văn hóa và Giáo dục và bộ Phát triển Nhân bản Toàn diện được công bố ngày 30 tháng 3 năm 2023, chín tháng sau chuyến đi của Đức Phanxicô đến Canada.
Tháng 10 năm 2024, tại lễ khai mạc Đại hội Thượng Hội đồng, Đức Phanxicô đã tiến thêm một bước nữa. Thông qua Hồng y Michael Czerny, ngài xin tha thứ cho những thời điểm mà người Công giáo “đồng tình với các hệ thống dung dưỡng chế độ nô lệ và chủ nghĩa thực dân”. Với thông điệp Nhân loại tuyệt vời Magnifica Humanitas, Đức Lêô đã tham dự vào con đường tha thứ này, ngài kêu gọi Giáo hội trở thành “lời kêu gọi cảnh giác” đối với “ký ức về sự đồng tình và mù quáng trước sự bất công của chế độ nô lệ trong quá khứ”.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Giáo hội và Chế độ nô lệ: Vì sao Thông điệp Lỗi tại tôi của Đức Lêô lại quan trọng như thế
Tại Thung lũng Silicon, hành trình đi tìm đời sống tâm linh của các kỹ sư công nghệ





























