Jean-Marc Sauvé: “Chúng tôi đã chạm trán với bí ẩn của cái ác”

83

Jean-Marc Sauvé: “Chúng tôi đã chạm trán với bí ẩn của cái ác”

la-croix.com, Céline Hoyeau và Isabelle de Gaulmyn, 2021-10-05

Phỏng vấn Cựu phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Jean-Marc Sauvé, người được các giám mục và bề trên các dòng ở Pháp ủy thác để lãnh đạo ủy ban độc lập chịu trách nhiệm làm sáng tỏ các vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp (Ciase) vào năm 2018.

Ông đến gặp chúng tôi trên tay cầm quyển Tân cẩm nang Văn minh kitô giáo, (Nouveau manuel de civilité chrétienne). Một tập sách xưa có từ năm 1913 của người cha vợ, và như thế ông “ông không xa lạ gì với chủ đề của chúng tôi về bạo lực tình dục trên thế giới trong Giáo hội công giáo”. Rồi ông đọc một vài đoạn chọn lọc về “tính cách thiêng liêng” của linh mục, linh mục phải được “tôn kính trong mọi hoàn cảnh”. Ngày 13 tháng 11 năm 2018, ông được các giám mục và bề trên các dòng ở Pháp giao nhiệm vụ đứng đầu Ủy ban Độc lập về các vụ Lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp, còn được gọi là Ủy ban Sauvé (ủy ban lấy tên ông), ông là người đã làm việc trong gần ba năm, với bàn tay của một bậc thầy, một ủy ban làm việc độc lập có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội kể từ năm 1950.

Ai có thể nghĩ một nhân vật cao cấp của nước Pháp, cựu phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, với vóc dáng cao như tổng thống De Gaulle, lại bị chấn động trước các lời chứng của các nạn nhân mà ông thu thập trong hàng chục giờ ngồi nghe? Với một lòng nhiệt thành không ai có thể nghi ngờ, chỉ một quyết tâm của một người công giáo trung thành “phục vụ Giáo hội”, ông đã đặt vào đó tất cả sức nặng của mình trong công việc mà sự nghiêm túc và hành trình nhân bản là chính.

Báo La Croix L’Hebdo: Trong ba năm, ông đã làm việc về các vụ lạm dụng tình dục trong Giáo hội theo yêu cầu của các giám mục và các nhà dòng. Ông nghĩ báo cáo này sẽ được đón nhận như thế nào?

Ông Jean-Marc Sauvé: Báo cáo này sẽ là một cú sốc cho người công giáo. Cú sốc này sẽ vượt ngoài tầm mức các tín hữu, vì nó phản ánh bạo lực tình dục xảy ra trong Giáo hội cũng như trong toàn xã hội. Ngoài ra, ủy ban ý thức khá trễ rằng, sự nhạy cảm đối với vấn đề ấu dâm đã rất khác nhau ngay trong cùng Giáo hội. Các giám mục đương đầu với chủ đề bạo lực tình dục từ năm 2000 và nhất là từ năm 2016. Chúng tôi nhận ra các linh mục ít can dự, dù họ tiếp xúc với tín hữu. Một số giáo dân nghĩ rằng chúng ta đã nói đủ về chủ đề này và bây giờ phải qua chuyện khác, một số cho rằng phải đi đến tận cùng của sự việc. Nói tóm lại, sẽ có các giáo xứ bị sốc khi khám phá một thực tại cổ xưa, bị che giấu và bị đánh giá rất thấp.

Chúng ta đi lại từ đầu. Ngày 13 tháng 11 năm 2018, ông được chỉ định đứng đầu Ủy ban Độc lập về các vụ Lạm dụng tình dục trong Giáo hội Pháp (Ciase). Điều gì làm cho ông nhận trách vụ này?

Tháng 9 năm 2018, khi Giáo hội công giáo Đức công bố bản báo cáo do các sử gia làm việc trên các tài liệu với các giáo phận Đức, tôi nói với vợ tôi: “Bây giờ Giáo hội công giáo Pháp không thể không thành lập một ủy ban và em sẽ thấy, họ sẽ nhờ anh.” Tuy nhiên khi linh mục Olivier Ribadeau-Dumas gọi tôi sau buổi họp Khoáng đại của Hội đồng Giám mục Pháp năm 2018 để đề nghị tôi đảm nhận trọng trách này, tôi đã rất do dự. Chung quanh gia đình tôi không mấy sốt sắng, một số người lường trước được khối lượng công việc khổng lồ, một số khác nghĩ đây là một thử thách đặc biệt khó khăn.

Làm làm sao một nhân vật cấp cao như ông lại đắm mình vào thế giới tôn giáo này?

Đúng, tôi là người công giáo giữ đạo, từng là tập sinh Dòng Tên. Nếu tôi có lui tới tòa giám mục Paris và có biết chủ tịch Hội đồng Giám mục khi tôi còn là Tổng thư ký Chính phủ vào thời Ngày Thế Giới Trẻ, hoặc khi tôi làm Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nhưng trên thực tế, tôi hoàn toàn không biết gì về bộ máy của Giáo hội. Có một kiểu xã hội hóa riêng của Giáo hội và một mối quan hệ với xã hội dân sự mà tôi không hề biết.

Khi tôi đến gặp quý vị ở báo La Croix tháng 12 năm 2018, quý vị đã nói với tôi: “Ông sẽ làm công việc này, người ta sẽ cám ơn ông, nhưng đồng thời người ta cũng sẽ không cám ơn ông.” Tôi đã nói đồng ý với đề nghị đưa ra cho tôi, với suy nghĩ, Giáo hội đang tham gia vào một công việc can đảm và chưa từng có. Không phải để che đậy mọi thứ mà để lộ ra. Rõ ràng, tôi đã hiểu rõ hơn trong những năm qua về sự đúng đắn của linh cảm của quý vị.

Khi bắt đầu làm, ông nói: “Làm xong, chúng tôi sẽ không thoát nạn.” Và bây giờ?

Đúng vậy. Chúng tôi đã quyết tâm để các nạn nhân vào trọng tâm công việc. Chúng tôi nghĩ hiểu biết của họ về các bạo lực tình dục là duy nhất. Vì thế lời nói của họ là kim chỉ nam cho báo cáo của chúng tôi. Dựa trên ghi nhận, chẩn đoán, cách họ thoát ra. Họ là nạn nhân, họ trở thành nhân chứng và diễn viên của sự thật. Tất cả những điều này đã không được hình thành trước một cách rõ ràng, chúng tôi chỉ phát hiện ra trên đường đi.

Không có gì có thể thực hiện được nếu không có sự giúp đỡ của các nạn nhân. Nếu tấm chăn im lặng đã bao trùm tội ác hàng chục năm nay cuối cùng cũng nứt ra và tan tành, nếu nó làm dấy lên làn sóng bàng hoàng và ủng hộ trong dư luận, thì chúng ta đã nợ họ. Đối với những người đã vượt qua đau khổ, sức nặng của sự im lặng, đôi khi sức nặng của tương hợp, dù xã hội chúng ta đang sống ủng hộ quyền tự do ngôn luận thì quyền này trong những năm 1950 là hoàn toàn không có.

Điều gì khó khăn nhất với ông?

Đó là gặp các nạn nhân. Lượng định sức tàn phá của những gì đã xảy ra. Nhận thức được sức nặng của sự thật và tính nhân bản chúng ta cảm nhận qua các phân tích lịch sử và xã hội học. Đối với nhiều nạn nhân bạo lực tình dục, họ mang những hậu quả rất nặng nề về đời sống tình cảm, gia đình, tình dục, xã hội và nghề nghiệp. Một phần tư số nạn nhân có cuộc sống gần như bình thường mà không bị thương tích đặc biệt nào, nhưng ba phần tư vẫn bị tác động cho đến ngày nay. Phân nửa vẫn còn cảm thấy đau hoặc rất đau. Đó là những thực tế xã hội và tâm lý mà bề ngoài có vẻ trừu tượng. Nhưng khi những người này ở trước mặt bạn, thì đó là một chuyện khác.

Ông ở trong số những người đã dự nhiều buổi nghe các nạn nhân nói…

Trong những chuyến đi đến các vùng, có một số cuộc gặp cực kỳ khó khăn. Hơn 80% nạn nhân là nam giới. Trong một thị trấn, trong hai ngày, tôi đã gặp 5 người, may mắn là tôi đi cùng với một đồng nghiệp có kinh nghiệm lắng nghe hơn tôi. Năm người đàn ông với năm câu chuyện hoàn toàn khác nhau, từ người ngoài bốn mươi đến người ngoài bảy mươi. Đến một lúc đang kể chuyện, giọng nói của họ vỡ ra. Những giây phút thất thần đau đớn và trang nghiêm. Trong mỗi trường hợp, chúng tôi đã chạm vào những điều quá nhạy cảm, quá sâu đậm. Khi, một linh mục hiếp dâm lặp đi lặp lại trên năm trong mười anh em trong cùng một gia đình – cuối cùng linh mục bị án 16 năm tù cấm cố -, giám mục cùng linh mục tổng đại diện đích thân đến gặp cha mẹ, nhân danh Giáo hội xin các con họ rút đơn khiếu nại, họ là những nông dân chân chất, những tín hữu sốt sắng ở miền Tây nước Pháp… Đó là câu chuyện của Giáo hội chúng ta. Và nó đã xảy ra vào những năm 1990, chứ không phải ở những năm 1950!

Cảm xúc của ông như thế nào?

Phẫn nộ, nổi loạn, rõ ràng là như vậy. Nhưng có lẽ xáo động nhiều hơn. Chúng tôi vô cùng xúc động. Không có câu chuyện nào giống câu chuyện nào… Có khi tôi đến một buổi làm chứng và tự nghĩ: “Đây là ngày cuối cùng của tuần, chắc sẽ dễ dàng hơn.” Dĩ nhiên phải thừa nhận đây là một chuyện tởm lợm, nhưng xét về những gì chúng ta có thể nhìn thấy và nghe thấy, nó sẽ không gay go như vậy. Rồi chúng tôi cũng phải chịu đựng… Đó là một phụ nữ, một cô gái vị thành niên vào thời đó. Ai cũng có những mong manh của mình, ai cũng có những lúc dễ bị tổn thương, nhưng chúng ta sẽ không trách một người dễ bị tổn thương vì họ không thể cự lại sự tấn công của một linh mục! Vì vậy, chúng tôi đã gặp nhau vào một chiều thứ sáu và nói với nhau: chúng ta đang làm gì vậy? Làm sao người này sẽ sống cuối tuần này? Chúng tôi mang một trách nhiệm nặng nề.

Chính ông cũng đã cần được hỗ trợ về mặt tâm lý, ông có lường trước điều này không?

(Thở dài) Không, chúng tôi đã không lường trước được điều này. Tôi biết sẽ rất khó khăn, nhưng tôi không nghĩ khó khăn đến mức như vậy. Câu hỏi đặt ra là: làm thế nào để đón nhận sự thật, nỗi đau, nỗi thống khổ này, mà không bị nó cuốn đi, là người chứ không phải chỉ là chuyên gia? Có những chuyên gia quen với hoàn cảnh này hơn tôi, nhưng chung chung, đối với đa số người nghe, chúng tôi đã không chuẩn bị. Chúng tôi cần giám sát, cần tháp tùng để đứng vững.

Nhưng cũng không nên chỉ nói về mình. Trước hết công việc làm chứng rất đau lòng với nạn nhân: một số khó đồng ý gặp chúng tôi, một số khác bỏ cuộc sau khi nói đồng ý, nhiều người khó tâm sự, rồi họ đọc lại và gởi lời chứng của họ. Mọi cuộc gặp, các nạn nhân đều phải sống lại những gì đã  xảy ra cho họ, cùng với nỗi đau và các chấn thương của họ. Chúng tôi đã nhận ra khó khăn lớn lao trong việc làm chứng. Tôi nghĩ lúc đó có nhiều người muốn tiến hành thủ tục, nhưng họ không thể làm được, điều này vượt quá sức của họ.

Sau những chuyện này, người ta còn tin vào con người, còn tin vào Chúa không?

Câu hỏi cơ bản mà tôi tự đặt cho tôi và các tín hữu phải đối đầu với chính mình, đó là biết Chúa ở đâu trong những chuyện này. Chúa ở đâu? Nơi những người mặc áo linh mục đã làm những chuyện bạo lực như vậy, nếu không nhân danh Chúa, hay ít nhất là chứng cứ ngoại phạm của mình, đã mang hình ảnh của chính Chúa Kitô, ipse Christus, và rồi dùng nó để thực hiện xung năng của mình? Tôi nghĩ câu trả lời là rõ ràng. Chúa đã vắng mặt một cách thảm hại trong những cảnh này, nơi mà tên của Ngài đã được nêu ra thường xuyên. Hay đúng hơn, nếu ngài có mặt ở đó, và Ngài phải có mặt ở đây, khiêm nhường và đau khổ, nơi những bé trai, bé gái, nếu không nhục hình thì cũng bị ngược đãi, bị tổn thương gần như bị tử đạo. Câu trả lời không thể ở nơi khác. Chúng tôi đã đã phải đối đầu với bí ẩn của cái ác, một cái ác len lỏi vào tận trái tim của những gì thiêng liêng nhất – cuộc sống của một đứa trẻ – và họ mắc áo thừa tác viên cứu rỗi. Đó đích thực là những cảnh ngụy trang chúng ta chứng kiến đàng xa: họ cười nhạo công việc của Chúa.

Tất cả chúng tôi đều cảm thấy một gánh nặng tình cảm sâu sắc, chúng tôi bị xáo trộn, mất phẩm cách, phẫn nộ. Sau khi làm công việc này, chúng tôi vừa cảm thấy đã thay đổi và chắc chắn cảm thấy lo hơn, sợ không đúng tầm cao của lòng tin tưởng đặt vào chúng tôi. Kinh nghiệm này vừa rất mài mòn, vừa dễ trầy xước, đồng thời có lẽ đó là những gì tôi tìm kiếm. Rồi cuối cùng khi nào chúng ta cũng tìm được ý nghĩa sâu đậm cho những gì chúng ta thiết thân. Về khía cạnh này, tôi cực kỳ ấn tượng về khả năng tái tạo của tôi, đổi những gì cần phải đổi, mutatis mutandis, những điều mà cha mẹ tôi đã làm trong đời sống đạo và xã hội của họ. Ngoại trừ tôi làm điều này sau họ ba mươi năm, trong một vị thế và bối cảnh văn hóa xã hội hoàn toàn khác. Nhưng trên thực tế, la bàn của tôi chính xác là như vậy. Để phục vụ Giáo hội. Và để phục vụ cả người anh em của mình và tất cả những gì là chung của chúng ta. Điều này dẫn đến những con đường khá bất ngờ…

Với ông, Giáo hội vẫn không phải là một thể chế không tốt, nhưng là một cái gì đó sâu đậm hơn nhiều…

Đúng, sâu đậm hơn nhiều. Chắc chắn tôi đã sống với một hình ảnh, dù sao đi nữa cũng là hình ảnh một Giáo hội được lý tưởng hóa, một hình ảnh ấn tượng mạnh. Giáo hội đã sai lầm nghiêm trọng trong một thời gian dài với các vụ ấu dâm. Đồng thời, những thất bại nghiêm trọng của thể chế không làm tôi đặt lại vấn đề về đức tin. Nó làm sống động các nguồn sinh động khác như lời Chúa, các bí tích và cầu nguyện.

Về mức độ nghiêm trọng của lạm dụng tình dục, Giáo hội đã không tụt hậu khi xã hội đã thay đổi?

Không. Sự đảo ngược đã bắt đầu trong những năm 1990. Giáo dục quốc gia đã tiến đến không khoan nhượng năm 1998. Giáo hội công giáo thay đổi năm 2000. Không có sự chậm trễ nào, ngoại trừ ở trường công lập, khoảng cách của các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau đã làm cho phần mềm diễn ra khá nhanh chóng. Về phần Giáo hội, vì mối quan hệ giữa giám mục và linh mục của họ, mọi thứ tiến triển khó khăn hơn. Giám mục được xem là người cha của các linh mục của mình, nhưng cũng là người được đặt để thực thi công lý, quan tòa và cũng là người có trách nhiệm trong việc thực thi bản án… Ngoài ra giám mục còn mang ý chí cứu kẻ có tội, tha thứ tội lỗi và làm chứng cho lòng thương xót Chúa, nên đã đè nặng và có tác động tiêu cực trong việc xử lý hồ sơ này. Thần học về cứu rỗi đã gây khó khăn nhiều cho Giáo hội trong lập luận lô-gích theo tính cách dân sự, đó là sự cần thiết của việc khen thưởng, xử phạt và ngược lại là tố cáo, với một tiến trình của lòng thương xót và cứu rỗi. Đến nỗi, trong các sự việc, Giáo Hội không biết cách áp dụng tân giáo điều bị ngưng năm 2000 đối với các linh mục đã bị phát hiện. Với một sự quay lại cực kỳ dữ dội sau khi bị kìm nén sau đó…

Ông đã giữ các chức vụ cao nhất Nhà nước, ông có nghĩ Giáo hội công giáo có nhiều trường hợp lạm dụng hơn các thể chế khác không?

Không có thể chế nào không có và vô sự trong các vụ lạm dụng trên các trẻ vị thành niên. Môi trường đầu tiên là gia đình. Ủy ban chúng tôi cho thấy, sau gia đình và vòng thân thuộc bạn bè, Giáo hội là môi trường mà cho đến nay, tỷ lệ bạo lực tình dục cao nhất. Trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu (1950-2020), nạn nhân của bạo lực tình dục do các linh mục, tu sĩ nam nữ chiếm 4% tổng số nạn nhân bạo lực tình dục. Các con số có vẻ không quá nhiều, nhưng các giá trị tuyệt đối, như chúng ta có thể ước tính, thật đáng kinh ngạc: con số ước tính là khoảng 216.000 người. Một nhận xét đau lòng khác: bạo lực tình dục trong Giáo hội công giáo không hề biến mất và chúng tôi cũng lưu ý, sau khi giảm mạnh từ năm 1970 đến năm 1990, các vụ lạm dụng đã không còn tăng kể từ đầu những năm 1990. Vấn đề này không thuộc quá khứ.

Về mặt chất lượng, các biện pháp Giáo hội thực hiện là khá đáng kể. Nhưng các đáp ứng liên quan đến tội ác đã gây ra, nói chung là không đủ, trễ hoặc chỉ được đưa ra để phản ứng với sự kiện, và áp dụng không đồng đều. Các khuyến nghị của chúng tôi bao gồm tất cả các điểm có thể góp phần vào việc điều trị hiệu quả hơn và xóa bỏ tận gốc mảnh đất của các vụ lạm dụng. Chúng bao gồm từ việc chào đón và lắng nghe nạn nhân đến việc cải cách giáo luật hình sự. Đây là một vấn đề lớn. Các nguyên tắc của một phiên tòa công bằng, như các tòa án tối cao của tất cả các quốc gia và Tòa án Nhân quyền Châu Âu tuân thủ, thì ở đây không được quyền viện dẫn và các nạn nhân phần lớn vắng mặt trong quá trình tố tụng! Tôi đã đưa ra ví dụ về một phụ nữ bị tòa án giáo hội yêu cầu giám định tâm thần – thực tế là dựa trên uy tín của bà – nhưng bà không được quyền tham dự vụ án. Bà nhận tiền bồi thường, nhưng không biết về bản án. Bà kháng cáo đến Rôma, họ chỉ định cho bà một luật sư nhưng luật sư không nói được tiếng Pháp…

Làm thế nào Giáo hội có thể sửa chữa?

Đầu tiên chúng ta phải nhận ra trách nhiệm của Giáo hội trước tội ác đã phạm phải: Giáo hội không thể nương tay sau những vụ lạm dụng cá nhân của những con chiên ghẻ. Điều này không đứng vững. Ủy ban chúng tôi không phủ nhận những gì Giáo hội đã quyết định và đã thực hiện kể từ năm 2000. Nhưng các nạn nhân cũng phải được Giáo hội hiểu, họ bị tổn thương sâu đậm, họ cũng bị tác động và phẫn nộ. Một nạn nhân nói với chúng tôi: “Chúng tôi muốn thấy các giám mục phẫn nộ chứ không phải chỉ thấy các giám mục thương xót.” Vượt ngoài các chữ, Giáo hội phải có thể nói mình chịu trách nhiệm về những gì đã xảy ra. Xác quyết của chúng tôi rất rõ ràng: không có một tổ chức tội phạm nào, ngoại trừ ở những nơi rất hiếm. Trong tiểu chủng viện này, tiểu chủng viện kia, trong cộng đoàn này cộng đoàn kia, có thể có nhưng rất giới hạn. Mặt khác, Giáo hội đã không biết nhìn thấy, nghe, bắt được những tín hiệu dù rất nhỏ và vì thế Giáo hội không biết làm thế nào để có những biện pháp đúng đắn và phù hợp, ngay cả trong bối cảnh của từng thời điểm. Giáo hội kín đáo thuyên chuyển linh mục. Và Giáo hội cũng không biết phòng ngừa các hành vi xâm hại tình dục với một quyết tâm mạnh mẽ cần thiết.

Nói một cách chính xác, trong xã hội của chúng ta, khi chúng ta phạm lỗi, chúng ta phải trả giá cho các lỗi lầm của mình. Nếu chúng ta phạm lỗi hình sự, chúng ta phải ra tòa tiểu hình hoặc tòa đại hình, nếu chúng ta phạm lỗi dân sự, chúng ta phải ra tòa hình sự. Nếu chúng ta biết một linh mục ấu dâm, chúng ta không để linh mục này tiếp xúc với các em bé và nếu làm vậy, giám mục hoặc bề trên có thể bị truy tố. Nhưng vượt ngoài các lỗi, chắc chắn bộ luật dân sự của chúng ta quy định trách nhiệm pháp lý. Một trách nhiệm với tha nhân. Đó là trách nhiệm của người có trách nhiệm với người dưới tay mình, của chủ với nhân viên. Chúng tôi đã thảo luận rất lâu với các chuyên gia pháp lý về các hệ quả của luật này. Và kết luận của chúng tôi, rất có thể dù không có lỗi nào, một giám mục hoặc một bề trên dòng phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do một linh mục hoặc một tu sĩ dưới quyền của mình gây ra. Đây chắc chắn không phải là ý kiến của tất cả mọi người trong Giáo hội. Người ta cũng đã nói với chúng tôi một giám mục không có thẩm quyền trên linh mục của mình… Tôi đã phải nhắc lại, ngày chịu chức, tân linh mục hứa vâng lời giám mục của mình và những người kế vị ngài.

Vì lý do pháp lý này, nhưng cũng vì lý do đạo đức hiển nhiên, Giáo hội cần phải thừa nhận trách nhiệm của mình trong quá khứ, ngay cả không có lỗi của những người đại diện của mình. Ngày nay Giáo hội cũng không còn có thể nói mình không biết, dù Giáo hội chưa bao giờ biết tất cả. Giáo hội phải nhận trách nhiệm của mình trong thảm kịch mang tính hệ thống này. Do vị trí của Giáo hội trong xã hội, của thông điệp của mình, của sự không hợp pháp triệt để những gì đã xảy ra trong hàng ngũ của mình, điều cốt yếu là Giáo hội phải dấn thân…

Dù vậy các giám mục nói họ chịu trách nhiệm cho tương lai, chứ không cho quá khứ…

Sau những gì đã xảy ra, chúng ta không thể có tương lai chung mà không có công việc của sự thật, của tha thứ và hòa giải. Chỉ khi nào làm xong quá trình này thì vấn đề bồi thường mới có thể đặt ra. Ủy ban nói về bồi thường và sửa chữa lại chứ không nói đến đóng góp tài chính hoặc cứu trợ. Theo Ủy ban, Giáo hội phải trả hết nợ. Đây là một khác biệt lớn với phần kết luận của cuộc họp thượng đỉnh vào mùa xuân của Hội đồng Giám mục, đã nói đến việc đóng góp tài chánh để giúp các nạn nhân tái xây dựng. Giáo hội sẵn sàng đóng góp vào việc tái xây dựng con người, nhưng loại bỏ mọi thừa nhận trách nhiệm của mình với quá khứ. Tuy nhiên, theo Ủy ban, khi nhận trách nhiệm thì phải đi từ lô-gic cứu trợ sang lô-gích mang nợ. Các nạn nhân có quyền đòi nợ. Phải đi đòi, ngay bây giờ!

Làm thế nào mà đạo công giáo có những lệch lạc như vậy?

Chúng tôi đã đào sâu gốc rễ các vụ lạm dụng, chúng tôi đã nghiên cứu các vấn đề thần học, luân lý tình dục, giáo hội học và quản trị. Chúng tôi không nói, cũng không ngụ ý nói giáo điều, giáo lý hoặc giáo huấn của Giáo hội là gốc rễ của lạm dụng. Những gì chúng tôi nói, là đã có những sai lệch và biến chất về thẩm quyền linh mục, về việc tháp tùng thiêng liêng, về đức vâng lời, về bí tích giải tội, về các đặc sủng, về đời sống độc thân và về các Sách Thánh. Những lệch lạc này đã làm thuận lợi cho các lạm dụng.

Chúng tôi cũng đặt vấn đề về sự cấm kỵ tình dục. Việc tích tụ các điều cấm trong lãnh vực này làm tổn hại đến cuộc chiến hữu hiệu chống lại những tội ác nghiêm trọng nhất và đạo đức tình dục của Giáo hội công giáo, dẫn đến một hình thức san bằng các thiếu sót của khiết tịnh, gần như để chung cùng một rỗ cho các ứng xử có bản chất cơ bản khác hẳn nhau: chẳng hạn các quan hệ tình dục ngoài hôn nhân giữa những người cùng đồng thuận, thủ dâm và gần như hiếp dâm! Đạo lý này cũng hoàn toàn bỏ qua những thiệt hại có thể gây ra sự toàn vẹn liêm chính, về thể lý cũng như tâm lý con người. Trên thực tế, nó tập trung vào vật chất tính của hành vi và liên kết bất kỳ hành vi thiếu sót khiết tịnh nào vào điều răn thứ sáu (“Chớ làm sự dâm dục”). Nhưng sau khi gặp các nạn nhân, xác quyết của Ủy ban rằng bạo lực tình dục là một hành động giết người, như thế là vi phạm đến điều răn thứ năm “Chớ giết người.”

Chúng tôi nói rất rõ, bậc sống độc thân của linh mục – hay lời khấn khiết tịnh của tu sĩ – không thể, tự chính nó được xem là nguyên nhân của các vụ lạm dụng, nhưng đó là một hình thức định giá quá cao hoặc anh hùng hóa đời sống độc thân, xem đó có thể là mảnh đất lạm dụng, và không phải ai cũng có khả năng đảm đương đời sống độc thân. Theo chúng tôi, dường như giáo dân nói chung và phụ nữ nói riêng phải tham gia nhiều hơn vào các cơ quan ra quyết định của Giáo hội.

Ông có bị cám dỗ buông hết mọi chuyện không?

Không. Đã nhiều lần tôi như bị nổ tung, tôi đã rất đau lòng khi nghe, khi khám phá, nhưng tôi chưa bao giờ muốn dừng lại. Tôi chỉ có một phẩm chất duy nhất và một khuyết điểm rất lớn là tôi không biết giả vờ và đặc biệt, tôi không biết giả vờ làm việc. Vì thế tôi đi đến tận cùng công việc. Các giám mục nên cẩn thận khi nhờ tôi. (Cười.)

Ông sẽ làm gì bây giờ?

Săn sóc tôi. Và nghỉ ngơi… Tôi sẽ có mặt nhiều hơn trong những tổ chức tôi chủ trì và chắc chắn tôi sẽ làm công việc mà tôi muốn bắt đầu vào tháng 10 tháng 11 năm 2018, đó là biết viết và biết dạy.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài đọc thêm: Theo Ủy ban Sauvé, tình dục vẫn là một chủ đề cấm kỵ trong Giáo hội