Home Blog Page 127

Đức Phanxicô xin các linh mục tương lai: “Anh em hãy đi thăm các nhà tù”  

Đức Phanxicô xin các linh mục tương lai: “Anh em hãy đi thăm các nhà tù”

Ngày thứ bảy 16 tháng 11, Đức Phanxicô tiếp các chủng sinh Tây Ban Nha, ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết mang lại niềm an ủi cho các tù nhân, họ bị giam giữ về thể xác, nhưng cũng có những người tự giam mình trong trong các nhà tù ý thức hệ, nhà tù đạo đức, “những nhà tù tạo bóc lột, chán nản, thiếu hiểu biết và lãng quên Thiên Chúa.”

vaticannews.va, Jean-Benoỵt Harel, Vatican, 2024-11-16

Với câu nói khiêu khích: “Chủng viện không phải nhà tù,” Đức Phanxicô bắt đầu cuộc gặp với các chủng sinh Tây Ban Nha Pamplona và San Sebastian, ngài nói tiếp: “Nhưng ngược lại, chủng viện là nơi chúng ta học để là người đi cứu, đi cứu các tù nhân.”

Nhà tù, nơi hàng đầu của các linh mục

Ngay từ những ngày đầu triều, Đức Phanxicô luôn quan tâm đến các tù nhân. Từ khi làm giám mục, ngài luôn rửa chân cho các tù nhân ngày Thứ Năm Tuần Thánh, một thông lệ ngài vẫn giữ khi làm giáo hoàng.

Ngài nhớ lại câu chuyện của một nữ tù nhân, bà thú nhận đã giết con trai, qua đó chúng ta thấy “bi kịch lương tâm của những người sống trong tù”. Vì vậy, đi thăm tù phải là công việc hàng đầu của các linh mục: “Linh mục là hình ảnh sống động của Chúa Giêsu, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.”

Đức Phanxicô tiếp các chủng sinh Tây Ban Nha.

Nhà tù ý thức hệ

Nhưng ngài không chỉ nói về nhà tù thể xác, nơi các tù nhân chờ tòa xử, ngài còn nói về “những nhà tù ý thức hệ, những nhà tù luân lý, những nhà tù tạo bóc lột, chán nản, thiếu hiểu biết và lãng quên Thiên Chúa”. Những nhà tù này không phải ai cũng thấy, tù nhân ở đây có thể “bị văn hóa, xã hội, tệ nạn, tội lỗi xiềng xích”.

Vì vậy ngài khuyên các chủng sinh hãy là nhà truyền giáo của lòng thương xót: “Các con hãy can đảm, vị tha và không mệt mỏi khi gánh lấy lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa đã quảng đại ban ơn cho các con khi các con chọn con đường sứ vụ này.”

Ngày 26 tháng 12, Đức Phanxicô sẽ đến thăm nhà tù Rebbibia ở Rôma để mở Cửa Thánh nhân dịp Năm Thánh Thường niên năm 2025.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Khi lời của Đức Phanxicô tác động trên đức tin các tù nhân

Đức Phanxicô, “sứ giả của Chúa Kitô” bên các tù nhân 

Đức Phanxicô: “Xin các linh mục ban phép lành cho du khách nào xin được ban”

Đức Phanxicô: “Xin các linh mục ban phép lành cho du khách nào xin được ban”

Đức Phanxicô xin các linh mục giải tội “tha thứ mọi sự” cho giáo dân nhận bí tích hòa giải. Ngài mong muốn những người không theo đạo cũng được nhận phép lành, kể các tín hữu đạo hồi và các đạo khác.

cath.ch, Bernard Hallet, 2024-11-15

Đức Phanxicô xin các linh mục giải tội và ban phép lành cho những ai xin, kể cả các tín hữu hồi giáo | © Truyền thông Vatican

Ngày 11 tháng 11, Đức Phanxicô phát biểu với các kỹ thuật viên, các cộng sự viên của Đền thờ Thánh Phêrô: “Tất cả mọi người đều phải thấy mình được đón nhận trong Đền thờ to lớn này.” Họ là những người quản lý, bảo trì một trong những vương cung thánh đường lớn nhất thế giới. Được xây dựng tại chính nơi Thánh Phêrô được chôn cất, Hồng y Mauro Gambetti, tổng quản nhiệm Đền thờ Thánh Phêrô ước tính mỗi ngày có khoảng 40.000 đến 50.000 đến viếng đền thờ.

Dù có rất đông khách du lịch nhưng Đền thờ Thánh Phêrô luôn giữ bầu khí cầu nguyện. Các linh mục giải tội luôn thường trực ở đây. Trong bài phát biểu, Đức Phanxicô xin các linh mục “tha thứ mọi thứ”. Ngài nói: “Mọi thứ, mọi thứ, mọi thứ đều phải được tha thứ.” Ngài xin họ hạn chế phát biểu và không được nói: “Bạn phải làm điều này, điều kia.”

Đức Phanxicô cho biết, các cha giải tội đã nói với ngài, có nhiều tín hữu hồi giáo hoặc những người thuộc tôn giáo khác “đến xin phép lành”. Ngài nhấn mạnh: “Xin các cha ban phép lành cho mọi người, ai muốn xưng tội xin các cha tha tội cho họ, mọi người và mọi người.”

Câu “mọi người, tutti, tutti, tutti” đã được Đức Phanxicô dùng thường xuyên trong những tháng gần đây. Trong Ngày Thế Giới Trẻ Lisbon  mùa hè năm 2023, câu này đã là khẩu hiệu cho hàng trăm ngàn thanh niên công giáo từ khắp nơi trên thế giới về đây cùng cầu nguyện với ngài.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Giáo hội Anh ở giai đoạn bấp bênh sau khi Tổng giám mục Welby từ chức

Giáo hội Anh ở giai đoạn bấp bênh sau khi Tổng giám mục Welby từ chức

bbc.com, Aleem Maqbool, 2024-11-13

Tổng giám mục Justin Welby, giáo phận Canterbury

Sau một tuần đầy biến động và sự từ chức đầy kịch tính của Tổng giám mục Justin Welby, Giáo hội Anh đang cố gắng ổn định vào thời điểm bấp bênh này.

Nhiều tín hữu sống kinh nghiệm đau đớn sâu đậm này, với họ hướng đi của Giáo hội bây giờ là vô cùng quan trọng. Với một số người, kể cả các nạn nhân bị lạm dụng, nỗi đau là lời nhắc nhở Giáo hội không phải là nơi mọi người có thể tin tưởng để được an toàn, vì thế một số tín hữu cảm thấy nhẹ nhõm khi Tổng giám mục Canterbury Justin Welby từ chức vì đã mất uy tín trong việc quản lý các vụ lạm dụng.

Nhưng cũng có một số tín hữu buồn vì họ cảm thấy Tổng giám mục Welby đã làm nhiều điều tốt và, dù chậm nhưng cố gắng điều khiển  Giáo hội theo một hướng tốt hơn.

Là nhà quan sát vô tư của nhiều cộng đồng đức tin, tôi cảm thấy có ít  tổ chức phù hợp với Giáo hội Anh trong quan điểm rộng lớn này. Giáo hội Anh có giám mục nữ và cũng có các giám mục nam từ chối phong chức cho phụ nữ.

Trong một lãnh vực khác, Giáo hội đã bỏ phiếu thuận để chúc phúc cho các cặp đồng tính và nếu các giáo sĩ nào không cảm thấy thoải mái khi chúc phúc thì họ không buộc phải làm. Qua Hội nghị quốc gia của Giáo hội, Thượng Hội đồng chung cho thấy Giáo hội Anh bị phân cực trên nhiều vấn đề. Sau các cuộc tranh luận, cuối ngày họ đến với nhau trong giờ thờ phượng. Tổng giám mục Welby xem đây là phần quan trọng trong công việc của ngài để tập hợp các phe phái rất khác nhau trong Giáo hội Anh và thậm chí còn khó khăn hơn, trong Giáo hội toàn cầu rộng lớn hơn Hiệp thông Anh giáo của 85 triệu người.

Theo ngài, đây là sự sống còn của một Giáo hội đã suy giảm rất nhiều, lần đầu tiên giảm xuống dưới 50%, với con số của những người không liên kết với một tôn giáo nào ngày càng tăng.

Trong suốt 12 năm tại chức, Tổng giám mục đã nỗ lực tìm những điểm chung trong lúc có những thay đổi xã hội quan trọng khác, ngài chứng tỏ cho thấy ngài là nhà điều hành chính trị sắc sảo.

Đầu nhiệm kỳ với tư cách là Tổng Giám mục Canterbury, ngài đã mở cuộc bỏ phiếu cho phép phụ nữ trở thành giám mục, ủng hộ việc chuyển đổi trong sự chia rẽ thường xuyên đầy sóng gió.

Về vấn đề tình dục và kết hợp đồng tính, ngài đã có một hành trình gay go – chuyển từ một vị trí rất bảo thủ sang một vị trí mà cuối cùng ngài thông qua cuộc bỏ phiếu để cho phép chúc phúc cho các kết hợp đồng giới.

Nhưng các nhà quan sát xem đây là một chút lừa dối của Giáo hội và của Tổng giám mục Welby. Cuộc tranh luận đã không bắt đầu với tiền đề người đồng tính bình đẳng trong Giáo hội và xứng đáng được bình đẳng hôn nhân (một điều không được đưa ra bỏ phiếu) và kết quả không đại diện cho một sự thay đổi đáng kể trong giáo huấn của Giáo hội.

Nhưng các nhà lãnh đạo Giáo hội cũng không lên án các kết hợp đồng tính như một số người theo chủ nghĩa truyền thống mong muốn. Giáo hội đã làm rõ, với các Giáo hội Châu Phi, lời cầu nguyện chúc phúc đã được bỏ phiếu thông qua là để chúc phúc cho các cá nhân trong kết hợp đồng tính chứ không phải chúc phúc cho chính kết hợp này.

Đó là chủ đề mà khi quá tập trung vào việc giữ mọi thứ lại với nhau,  đôi khi lại như cố gắng trở thành tất cả mọi thứ cho tất cả mọi người, trên nguyên tắc, Tổng giám mục Welby đã bị nhiều người ở cả cánh hữu và cánh tả cho là không có lập trường.

Ngài đã ứng xử như một chính trị gia và theo một cách nào đó đã phải đối diện với sự sụp đổ của một chính trị gia hoặc giám đốc điều hành, chứ không phải là nhà lãnh đạo tinh thần.

Điều mà giáo dân Anh giáo đang kêu gọi bây giờ là có một thần học gia để lãnh đạo Giáo hội hơn là nhà điều hành, nhưng trong thế giới hiện đại với những trách nhiệm hiện đại, nhà lãnh đạo cần có những yếu tố cần thiết để điều hành.

Chủ nghĩa bộ tộc và phân cực thường thấy rõ trong Giáo hội làm cho một số người nhận thấy nên có một chính trị gia tài năng, đó là cách duy nhất để thể chế không bị rạn nứt.

Dù Tổng giám mục Welby có thể có kỹ năng gì, nhưng đã không xử lý đúng các trường hợp lạm dụng khi vấn đề đã được mọi người chú ý đến và bảo đảm để mọi người tuân thủ thì ngài đã đánh mất niềm tin của người tín hữu vào Giáo hội.

Giải quyết dứt khoát vấn đề quan trọng này có thể đã giúp ích trong sứ mệnh của ngài để xây dựng sự hiệp nhất và để ngăn chặn tình trạng giáo dân ngày càng đi xuống.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bầu cử Donald Trump: “Trong thời đại hậu sự thật, đúng sai không còn quan trọng”  

Bầu cử Donald Trump: “Trong thời đại hậu sự thật, đúng sai không còn quan trọng”

Phỏng vấn

Trong quyển sách Trump và giới truyền thông. Ảo tưởng về một cuộc chiến? (Trump et les médias. L’illusion d’une guerre?, Nxb. VA Éditions, 2020), nhà nghiên cứu văn minh Mỹ Alexis Pichard nghiên cứu mối quan hệ mơ hồ giữa Donald Trump với giới truyền thông và với sự thật. Tác giả nhìn lại chiến lược thông tin sai lệch Tổng thống Trump đã áp dụng.

la-croix.com, Maud Guilbeault, 2024-11-13

Ngày 4 tháng 10, trong một cuộc biểu tình của Đảng Cộng hòa ở Fayetteville, Bắc Carolina, bộ phận truyền thông Đảng Cộng hòa đã  cáo buộc bà Kamala Harris nói dối, họ hướng đến một trang web được cho là để xác minh thông tin của họ. KENT NISHIMURA / Thời báo New York

Donald Trump có mối quan hệ rất mâu thuẫn với giới truyền thông. Có phải đây luôn là vấn đề của ông không?

Alexis Pichard: Trước khi đi vào con đường chính trị, Donald Trump rất thân thuộc với giới truyền thông, kể cả các phương tiện truyền thông tiến bộ như New York Times hay CNN. Nhưng khi bước vào chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016, ông đã phải đối đầu với họ. Sự vỡ mộng xảy ra khá nhanh, khi ông bắt đầu tấn công thâm độc vào người nhập cư, đặc biệt những người nhập cư từ Mexico, những người mà ông cho họ là tội phạm, là kẻ hiếp dâm…

Vì thế từ thời đó mối liên hệ đã tan rã, mọi thứ càng ngày càng xấu.  Ông ngày càng tấn công các phương tiện truyền thông đi ngược với ông, gọi họ là “phương tiện truyền thông đưa tin giả”. Khi ông nhậm chức lần đầu tiên, những cáo buộc này càng rõ hơn, chúng ta thấy sự xuất hiện cái mà cựu cố vấn Steve Bannon của ông gọi là kẻ thù của nhân dân. Các phương tiện truyền thông có trách nhiệm đưa tin để đảm bảo cơ sở dân chủ đã trở thành kẻ thù của họ.

Trong quyển sách của ông, ông nói về “ảo tưởng chiến tranh” giữa Trump và giới truyền thông. Ý của ông là gì?

Một sự phụ thuộc lẫn nhau đã được xây dựng giữa Donald Trump và giới truyền thông bị ông xem thường. Chính ông là người dàn dựng cuộc chiến này, ông tấn công các phương tiện truyền thông tiến bộ đủ mọi mặt, sức khỏe kinh tế, đạo đức của họ, bằng cách tuyên bố họ liên tục đưa tin sai lệch, họ đã không đưa tin công bằng về nhiệm kỳ tổng thống của ông.

Sự lên án kịch liệt này đã làm cho các cơ quan báo chí – New York Times, các kênh NBC, MSNBC hay ABC News – đảm nhận vai trò là người bảo vệ nền dân chủ năm 2017 tham gia vào một loại phản kháng. Điều này được thấy qua các khẩu hiệu của họ, chẳng hạn khẩu hiệu năm 2017 của tờ Washington Post: “Dân chủ chết trong bóng tối”. Do đó, các phương tiện truyền thông này ghi lại tỉ mỉ những nỗi kinh hoàng trong nhiệm kỳ tổng thống ông. Họ còn được trao một số giải Pulitzer cho việc giám sát và điều tra này.

Nhưng đó lại là một việc rất có lợi. Nói về Donald Trump, những sai lầm của ông, những nhức đầu của ông với luật pháp, việc phủ nhận những lời dối trá của ông lại mang lại tiền cho các phương tiện truyền thông tự do, họ được hưởng lợi từ lượng người đăng ký và lượng độc giả kỷ lục tăng mạnh. Đó là lý do vì sao cuộc chiến này chỉ là ảo tưởng: mỗi bên đều được hưởng lợi từ đó. Một bên được hưởng lợi từ thành công về mặt thương mại và bên kia là từ sự xuất hiện vô song trên các phương tiện truyền thông, điều này tạo nên câu chuyện phản hệ thống của ông và địa vị của ông như một kẻ tử vì đạo trong giới truyền thông.

Các phương tiện truyền thông tiến bộ và Donald Trump có một điểm chung khác: mỗi bên đều cáo buộc bên kia lan truyền nhiều thông tin sai sự thật. Khái niệm về sự thật có bị đặt dấu hỏi không?

Chúng ta đã bước vào kỷ nguyên hậu sự thật, nơi đúng và sai không còn quan trọng nữa. Kỷ nguyên này không bắt đầu với Donald Trump. Kể từ những năm 1980, sự phân cực truyền thông đã diễn ra ở Hoa Kỳ. Khi năm 1987, Tổng thống Ronald Reagan bãi bỏ nguyên tắc vô tư (hay học thuyết công bằng), một nguyên tắc áp đặt chủ nghĩa đa nguyên ở mức tối thiểu trên sóng phát thanh và truyền hình, chúng ta đã chứng kiến sự ra đời của hai cực truyền thông đối lập nhau.

Một cực trung tả, nhằm mục đích duy trì một hình thức đạo đức báo chí và muốn tiếp tục dựa trên sự thật. Và một cực bảo thủ, từ những năm 1990, đặc biệt là trên đài phát thanh và các kênh như Fox News  mang đến một thực tế khác cho người nghe và người xem. Xu hướng này phát triển dần dần cho đến khi được đội ngũ của Donald Trump đặt tên rõ ràng năm 2016, họ đưa ra thuật ngữ “sự thật xoay vần”. Như thể ý kiến là một sự thật giống như các sự việc.

Hai cực truyền thông này đã góp phần vào sự phân cực tổng thể của xã hội Mỹ, được thúc đẩy bởi hiện tượng các phòng phát âm trong đó các cử tri của mỗi phe được duy trì. Điều này đặc trưng ở khán giả của các kênh tin tức: khán giả CNN không xem Fox News và ngược lại. Không còn sự chia sẻ, không còn cơ sở thông tin chung và đã gây tổn hại lớn cho nền dân chủ.

Tại sao sự phân cực này lại phục vụ phe Cộng hòa và chính xác hơn là chính Donald Trump?

Vì thông tin sai lệch có tác dụng. Một khi lời nói dối đã bám chắc thì rất khó để đánh bật nó ra. Khi chúng ta tiếp xúc với nó, nếu chúng ta tin vào điều đó, chúng ta có cảm giác sự đính chính chỉ được thực hiện bởi phe đối lập – trong trường hợp này là các phương tiện truyền thông tiến bộ – để che giấu sự thật. Đây là lời hùng biện rất mạnh, đặc biệt trong giới âm mưu mà Donald Trump đã trở nên thân thiết trong chiến dịch tranh cử đầu tiên của ông. Nó chứng thực niềm tin của họ, mang lại tính hợp pháp cho các lý thuyết mà trước đây vẫn chỉ giới hạn trong các mạng trực tuyến bên lề, trong đó Trump đã có được địa vị là người cứu tinh. Với chiến dịch tranh cử lần này, ông còn có bà Laura Loomer, một cố vấn về thông tin sai lệch, bà nổi tiếng là người đầy âm mưu. Chính bà là người nói với ông một trong những thông tin sai lệch lan truyền nhất vào cuối chiến dịch.

Trong cuộc tranh luận trên truyền hình giữa ông và bà Kamala Harris, Donald Trump cho rằng cộng đồng Haiti ở thành phố Springfield ăn thịt chó và mèo của người dân. Khẳng định lố bịch này không chỉ gây xôn xao trên mạng xã hội và các phương tiện truyền thông khắp nơi mà còn bị chính đội ngũ của ông bác bỏ. Ông J. D. Vance, phó tổng thống tương lai của Donald Trump cũng công nhận điều này là sai, đồng thời khẳng định nó phản ánh một thực tế nào đó. Phe ông Trump nói dối trắng trợn, nhưng các cử tri hoặc không chống lại ông hoặc tin ông.

Mạng xã hội X-Twitter trong tay Elon Musk kể từ năm 2022 có vai trò gì trong chiến dịch đưa thông tin sai lệch này?

Twitter là yếu tố trọng tâm trong chiến lược của Donald Trump, ngay cả trước khi Elon Musk tham gia. Nó chưa bao giờ là một mạng xã hội phổ biến với công chúng mà chỉ là một công cụ giám sát dành cho các nhà báo. Vì vậy, chính nhờ Twitter mà Donald Trump đã có thể chọc thủng mạng lưới của họ, những phát biểu của ông đã được đưa lên các phương tiện truyền thông thống trị. Nó là công cụ liên lạc và công kích chính của ông trong chiến dịch tranh cử đầu tiên. Ngay cả khi những người ủng hộ ông không đọc các bài đăng của ông, như thế cũng không thành vấn đề, vì các nhà báo sau đó sẽ đưa tin rộng rãi khi bình luận về chúng. Cho đến khi ông bị cấm tham gia mạng năm 2021, sau cuộc tấn công Điện Capitol của những người ủng hộ ông ngày 6 tháng 1. Một trong những hành động mạnh mẽ của Elon Musk sau khi mua Twitter là khôi phục lại tài khoản này cho ông Trump.

Sau đó Elon Musk đã biến mạng này thành vũ khí thuyết phục lớn để ủng hộ ứng cử viên Đảng Cộng hòa. Ông có thuyết phục được các cử tri mới tập hợp xung quanh Donald Trump không?

Có lẽ là không. Nhưng Elon Musk chắc chắn đã cố gắng củng cố cơ sở bầu cử, giữ cho nó được huy động cho đến giây phút cuối cùng. Ông bảo đảm với ông Trump về lòng trung thành thiết yếu của các cử tri của ông, bà Kamala Harris đã không thể huy động đủ cánh tả của Mỹ.

Định lượng mức độ thông tin sai lệch

Theo thống kê của Washington Post, Donald Trump đã đưa ra 30.573 tuyên bố sai sự thật hoặc gây hiểu lầm trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 1 năm 2021.

Trong cuộc tranh luận giữa Donald Trump và Kamala Harris ngày 10 tháng 9, kênh tin tức CNN của Mỹ đếm được 33 thông tin sai lệch của Tổng thống tương lai chuyển tiếp trong một giờ ba mươi phút.

Theo số liệu của báo Le Monde, trong tháng 10, Elon Musk đã đăng hơn 3.000 tin nhắn trên X, trung bình 100 tin mỗi ngày, 27% các tin này ủng hộ Donald Trump, 25% tấn công phe Dân chủ, 11% chống lại giới truyền thông, 7% thuần túy là thông tin sai lệch.

Các nhà nghiên cứu từ trang web chuyên về thông tin sai lệch NewsGuard xác định có 963 trang web, 793 tài khoản mạng xã hội có ảnh hưởng đã đăng thông tin bầu cử sai sự thật trong chiến dịch tranh cử.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

“Quyền lực mềm” của ngoại giao Vatican  

“Quyền lực mềm” của ngoại giao Vatican

Tổng giám mục Paul Richard Gallagher | © Truyền thông Vatican

cath.ch. Lucienne Bittar, 2024-11-13

Trong cuộc họp tại Trung tâm nghiên cứu Ngoại giao của Đại học Công giáo Lubin ở Ba Lan ngày 12 tháng 11 năm 2024, Tổng giám mục Paul Richard Gallagher, Bộ trưởng bộ Ngoại giao tuyên bố: “Vì không phụ thuộc vào các liên minh chính trị, nên nền ngoại giao Vatican thực thi một ‘quyền lực mềm’ đạt được kết quả mà ngay cả những nhà cầm quyền mạnh nhất thế giới phải chật vật mới có thể có được. Chính vì không có sức mạnh quân sự riêng nên Vatican có vị thế đặc biệt của một trung gian hòa giải trung lập trong thế giới đương đại.”

Ngài nhấn mạnh: “Đội cận vệ Thụy Sĩ bảo vệ Đền thờ Thánh Phêrô và bảo vệ Giáo hoàng nhưng Đội không phải là một lực lượng quân sự, tính năng này có tác dụng hữu ích của nó. Vì chính sách đối ngoại của Vatican dựa trên các giá trị luân lý và đạo đức, nhằm mục đích thúc đẩy hòa bình và ổn định quốc tế.”

Ngoại giao nhân ái

Ngoại giao của Vatican là ngoại giao của lòng thương xót, được hiểu như một cam kết chính trị đích thực của tình đoàn kết, nhằm thúc đẩy lợi ích chung. Đây không phải là một mục tiêu trừu tượng nhưng Vatican thực hiện các hành động cụ thể như xóa nợ nước ngoài, thúc đẩy các chính sách hợp tác, phát triển hoặc nâng cao phẩm giá con người, ngay cả khi đối diện với những tội ác nghiêm trọng như án tử hình.

Mối quan tâm chính của Giáo hoàng là cam kết với các nạn nhân của các vụ xung đột trên toàn thế giới, vì thế Tòa Thánh tham gia tích cực vào các cam kết nhân đạo để hỗ trợ các nỗ lực nhằm đổi mới đời sống xã hội ở những nơi xa xôi và thường bị lãng quên, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đoàn tụ gia đình của các trẻ vị thành niên và trao đổi tù nhân, người bị thương, thi thể của những người bị thiệt mạng trong cuộc chiến giữa Nga và Ukraine.

Cam kết giải trừ vũ khí toàn cầu

Một yếu tố quan trọng khác trong chính sách đối ngoại của Vatican là cam kết giải trừ vũ khí và cấm sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt. Trong quá khứ, Đức Phanxicô đã nhiều lần tố cáo việc chi tiêu quân sự quá lớn của nhiều quốc gia cũng như sự vô đạo đức của vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân. Ngài  đề xuất một quỹ quốc tế vì hòa bình, bảo đảm lương thực và phát triển, dùng mọi nguồn lực để xây dựng một thế giới công bằng và hòa bình hơn.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Cách đối đầu cái ác với Dostoyevsky

Cách đối đầu cái ác với Dostoyevsky

Trong một thư gần đây, Đức Phanxicô nhấn mạnh đến tầm quan trọng của văn học như con đường dẫn đến vực thẳm của tâm hồn con người. Điều này đặc biệt đúng với kiệt tác Anh em nhà Karamazov (1880) của văn hào Dostoyevsky. Từ 30 năm nay tác phẩm này tác động nhà thơ, nữ tu thánh hiến Marina Poydenot, nữ tu dạy một khóa học về vấn đề cái ác ở văn hào Dostoyevsky.

la-croix.com, Clémence Houdaille, 2024-11-14

Chân dung Fyodor Dostoyevsky, tranh của Vasily Perov vẽ vào thế kỷ 19. Universal History Archive/Getty Images

Sự quan tâm của Giáo sư với văn hào Dostoyevsky đến từ đâu, và đặc biệt là với tác phẩm Anh em nhà Karamazov?

Giáo sư Marina Poydenot: Khi tôi 19 tuổi, người bạn Ivan của tôi tặng tôi quyển Anh em nhà Karamazov. Kể từ đó, tôi đã đọc quyển sách này hàng chục lần vì các anh em này thực sự đã ảnh hưởng đến cuộc đời của tôi. Tôi đọc lui đọc tới quyển này cũng như tôi đọc Tin Mừng: tôi tìm ở đó cùng một niềm an ủi cháy bỏng.

Tôi đọc gần hết sách của nhà văn, nhưng Anh em nhà Karamazov đúng là kiệt tác. Qua quyển này, tôi cảm nhận sâu sắc làm thế nào mà người nghệ sĩ vĩ đại này có thể nói lên sự thật về bóng tối của con người. Qua con mắt của người anh hùng trẻ Alyosha cũng như của tu sĩ thánh thiện Zosime, Dostoyevsky nhìn cái ác trước mặt, không nhượng bộ nhưng cũng không mê hoặc. Tác giả nhìn vào gốc rễ, không nhượng bộ, không mê hoặc. Trong quyển tiểu thuyết này, bóng tối tự nó tràn trề ánh sáng. Đây là một điều rất hiếm! Tôi chỉ thấy điểm này ở một người khác: Chúa Kitô, trong Tin Mừng.

Giáo sư nghĩ gì khi nói sự mê hoặc với cái ác?

Kinh hoàng trước cái ác là một hiện tượng sâu sắc của con người, nhưng cùng lúc, nếu chúng ta thành thật với chính mình, chúng ta bị nó mê hoặc. Nghịch lý thay, cái ác lại làm mù quáng. Nó ẩn náu, nhưng khi bị nhìn thấy, nó làm tối toàn bộ bối cảnh. Theo tôi, dường như Chúa Giêsu trong Tin Mừng có một cách nhìn độc đáo về những gì nơi con người liên quan chính xác đến điều bí ẩn này.

Kinh Thánh cho chúng ta biết có một nguồn gốc của cái ác, bên ngoài con người nhưng lại đến và xuyên qua con người. Nhưng Chúa Giêsu không dành thì giờ của Ngài trên thế gian này để chống lại cái ác! Ngài dành thì giờ để chữa lành, dạy dỗ, khơi dậy những gì quả tim đang đập, những gì còn nguyên vẹn trong trái tim mỗi con người. Ngay cả ma quỷ, Ngài cũng không tiêu diệt chúng: Ngài đuổi chúng đi, đẩy chúng ra khỏi người bị nó ám. Thánh Phêrô biết điều này bằng trái tim. Tại Vườn Cây Dầu, khi quân lính bắt Chúa Giêsu, ông rút kiếm chém đứt tai Malchus, người lính của thầy thượng phẩm. Và Chúa Giêsu đã làm gì? Thay vì lo cho cái ác đang đến với mình, Ngài chỉ chú ý đến chiếc tai bị thương của Malchus và chữa lành cho ông. Muốn chống lại cái ác theo cách của Thánh Phêrô chỉ mang đến cho cái ác một vị trí to lớn. Say sưa với cái ác là một hình thức nhận thức để thực hiện một hiệp ước với nó.

Làm thế nào Dostoyevsky có thể đặt cái ác vào đúng vị trí của nó?

Trong Dostoyevsky và trong Kinh thánh, tác giả Simonetta Salvestroni cho thấy Kinh thánh đã ẩn chứa trong quyển Anh em nhà Karamazov như thế nào. Chắc chắn đức tin của Dostoyevsky đã bị dày vò và thử thách, dù cho ai nói rằng ông không có đức tin, nhưng ông có mối quan hệ không thể phủ nhận với Chúa Kitô, Đấng không chỉ duy trì sự sống của ông mà còn thúc đẩy công việc của ông. Trong Tin Mừng Thánh Gioan, chương 9, với câu chuyện về người mù bẩm sinh, Chúa Giêsu đánh lạc hướng chúng ta khỏi nỗi ám ảnh muốn hiểu sự ác đến từ đâu. Ngài kêu gọi sự sáng tạo và lòng thương xót của Chúa Cha để vinh quang của Thiên Chúa được thể hiện.

Bà Marina Poydenot năm 2023. / Isabelle de Rouffignac báo La Croix

Và theo tôi, Anh em nhà Karamazov với ba hành trình đã thể hiện điều này. Họ sẽ nhận ra cám dỗ muốn loại bỏ cha mình, bằng cách này hay cách khác. Và chúng ta hiểu họ vì quyển sách mở đầu với phần giới thiệu một người cực kỳ đáng ghét. Và cũng nhờ Dostoyevsky, đôi khi Fyodor Pavlovich chạm vào chúng ta làm chúng ta bật cười. Chúng ta tìm thấy Dostoyevsky rất hài hước, nhưng không bao giờ có một tiếng cười nào có thể loại bỏ được một nhân vật đáng ghét như vậy khỏi nhân tính của chúng ta. Đó là điều quan trọng cần xem xét trong thời đại chúng ta, khi chúng ta liên tục nói về những chuyện như vậy, như trường hợp những kẻ ấu dâm, họ là những con quái vật, và bản thân chúng ta không bao giờ vượt lên được sự quái dị này. Thật là tự do, cách Dostoyevsky nhìn tất cả những nhân vật này trong sự phức tạp của họ, thậm chí là đáng ghét nhất!

Trong Nhật ký của một nhà văn, tác giả giải thích ông muốn cùng với Anh em nhà Karamazov viết một sử thi về sự tái sinh của những sinh vật bị hủy diệt. Đó là những gì ở trong tâm hồn của ông. Chúng ta thấy điều này trong tất cả các nhân vật của ông. Trái tim tinh thần của tiểu thuyết này là tu sĩ Zosime, bậc thầy tinh thần của Alyosha (con út trong ba anh em). Alyosha sẽ thực hiện một cuộc hành trình, trải qua sự nghi ngờ vì anh sẽ chứng kiến tu sĩ thân yêu của mình chết. Ông có tiếng là thánh nhân, thi thể ông đáng lý không hôi. Nhưng thi thể ông có mùi thối rửa làm Alyosha tuyệt vọng. Cuối cùng mùi hôi này làm anh thấy được chiều kích sâu đậm hơn của sự thật.

Chúng ta học gì ở sự vỡ mộng của Alyosha với người thầy tâm linh của ông?

Alyosha có một giấc mơ trước cơ thể thối rữa này, trong đó Zosime nói với anh: “Tôi đã sống cả đời và biết mình có tội.” Gặp một người tội phạm đã thay đổi cuộc đời, sự chính trực của người này đã làm cho Zosime phải tự mình thay đổi cuộc đời. Tất cả xuất phát từ việc chúng ta nhận ra mình là kẻ có tội: đó là ơn Chúa giúp chúng ta hiệp thông với tất cả các tội nhân khác. Sự chia rẽ biến thành sự hiệp thông! Chính việc nhận ra tội lỗi của mình có nghĩa trong thâm tâm, tôi không còn để mình bị mê hoặc bởi sự ác nữa. Sự sáng suốt về cái ác đang xuyên qua tôi là ân sủng vì cuối cùng chỉ có lòng thương xót mới có thể làm cho tôi nhìn nhận nó một cách công bằng. Trong tác phẩm này, chúng ta dám nhìn vào cái ác đang tồn tại trên thế giới. Trong linh đạo phương Đông này của Dostoyevsky, không ai khác chính là kitô giáo, chúng ta khám phá ra một mặc cảm tội lỗi lành mạnh.

Là người sống trong cộng đồng, tôi biết nếu không có sự sáng suốt này thì tôi không thể chịu nổi. Đó không phải là một tội bệnh hoạn, nhưng là một lương tâm khi tôi không thể yêu thương, ở khía cạnh này hay khía cạnh kia, trong sự thiếu kiên nhẫn của tôi… Đúng, tôi là kẻ có tội, và tôi xin Chúa Kitô: “Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót con.” Điều này đặt tôi vào vị trí của tôi, giúp tôi sống lòng thương xót hữu ích này một cách khác, mở ra cho tôi các con đường để đi.

Ngoài sự dữ và đau khổ, chúng ta có thấy được ánh sáng trong việc này không?

Sự tổn hại gây ra đau khổ, tội ác cũng vậy. Trong Anh em nhà Karamazov, Fyodor lạc lối, người hay giễu cợt, ham vui… Fyodor ý thức mình đang bị một điều gì đó không công bằng cản trở, rằng mình đang tự lừa dối chính mình. Nhưng đồng thời ông cũng có tình cảm thực sự với con trai Alyosha của ông, ông chế giễu con một chút. Alyosha không phải quái vật, nói như vậy thì quá dễ dàng. Và đó là điều làm cho tôi khó chịu, điều đáng lo ngại, đặt câu hỏi cho chúng ta chính xác theo cách mà đôi khi chúng ta muốn xem cái ác là quan trọng. Đó là lý do vì sao đọc quyển sách này nuôi dưỡng niềm hy vọng của tôi.

Cái ác hiện diện trong quyển sách ở nhiều cấp độ: một số nhân vật tầm thường, không có ảo tưởng về bản chất con người, chúng ta cũng thấy cái ác siêu hình với sự hiện diện của ma quỷ, nhưng tất cả đều được bao bọc bởi hơi thở của sự biến đổi và tái sinh. Dmitri, anh cả trong ba anh em là người được ban phước lành. Ivan, người con trai thứ hai, một nhân vật cảm động, phủ nhận lòng tốt của Chúa. Anh mô tả Sự sáng tạo theo kiểu báo chí đưa tin hết vụ giết người này đến vụ giết người khác. Nhưng liệu thế giới có thực sự được tạo nên hoàn toàn bởi tin xấu không? Tôi nghĩ ngày nay chúng ta vẫn đang sống trong sự dối trá, đó là dấu hiệu của một trận chiến thiêng liêng rất sâu đậm, một trận chiến liên quan đến cách chúng ta quyết định nhìn cuộc sống như thế nào.

Sau khi đọc xong Anh em nhà Karamazov, bà hy vọng gì?

Cũng giống khi tôi suy niệm Tin Mừng: đột nhiên, mọi thứ trở về đúng vị trí của nó. Sức nặng của cái ác là rất lớn, nhưng trên thực tế, nó không thể so sánh được với một thứ khác đang bị đe dọa, đó là lòng tốt sâu sắc hơn nhiều của vũ trụ và của con người chúng ta. Dostoyevsky cho chúng ta thấy: con người rộng lớn đến nỗi bên trong con người có hai vực thẳm, khả năng làm bất cứ điều gì và khả năng để mình được biến thành một điều gì đó rất vĩ đại.

Niềm hy vọng trong quyển sách này thật phi thường. Đoạn cuối đã giúp tôi trong những thời điểm rất khó khăn. Đau buồn là tuyệt vọng của tôi trước khi tôi gặp Chúa năm tôi 21 tuổi. Đặc biệt là khi tôi mất mẹ, bà chết rất trẻ. Vài năm sau, Béatrice Douvre, nhà thơ rất tài năng và là người chị tâm giao qua đời vì chứng biếng ăn. Lúc đó một người bạn gởi cho tôi câu cuối cùng của quyển sách Anh em nhà Karamazov. Đoạn những đứa trẻ trở về sau đám tang của Ilioucha, cậu bé bị ngược đãi. Một đứa trẻ hỏi Alyosha: “Có thực sự đúng như tôn giáo nói rằng tất cả chúng ta sẽ sống lại từ cõi chết, và chúng ta sẽ sống lại, và chúng ta sẽ gặp lại nhau, tất cả chúng ta và Ilioucha không?” Alyosha trả lời: “Chúng ta sẽ sống lại, và chúng ta sẽ gặp lại nhau, chúng ta sẽ vui vẻ kể cho nhau nghe những gì đã xảy ra.” Câu này đã sống với tôi suốt ba mươi năm. Tôi biết đó là sự thật, đó là tất cả Kinh thánh!

Nghệ sĩ và tu sĩ thánh hiến

Sinh năm 1968, Marina Poydenot là nhà thơ, nhạc sĩ, thần học gia và học giả Kinh thánh, tu sĩ thánh hiến của Cộng đoàn Con đường Mới (Chemin-Neuf) nơi bà gia nhậpnăm 1989.

Tốt nghiệp ngành chú giải Kinh thánh tại Giáo hoàng Học viện Kinh thánh, bà dạy ở Trung tâm Sèvres – Khoa Loyola Paris.

Năm nay, cho đến ngày 12 tháng 12 năm 2024, bà dạy khóa “Nhìn cái ác với Dostoyevsky, mô hình Kinh thánh trong Anh em nhà Karamazov”.

Marta An Nguyễn dịch

Vì sao người công giáo bỏ phiếu cho Tổng thống Donald Trump?

Vì sao người công giáo bỏ phiếu cho Tổng thống Donald Trump?

Tổng thống Donald Trump trong một cuộc vận động tranh cử ở Ohio, ngày 7 tháng 11-2022

fr.aleteia.org, Mary Eberstadt, 2024-11-12

Học giả người Mỹ Mary Eberstadt, giám đốc nghiên cứu tại Viện Niềm tin và Lý trí phân tích kết quả cuộc bầu cử tổng thống ngày 5 tháng 11. Bà nghĩ nếu người công giáo bỏ phiếu cho Tổng thống Donald Trump là vì họ bác bỏ các chính sách của Đảng Dân chủ.

Các cử tri của bà Kamala Harris cân nhắc hậu quả của quả bom nổ ngày thứ ba 5 tháng 11, họ sẽ khôn ngoan nếu nhìn lại một số điểm bất ngờ trong cuộc thăm dò ý kiến.

Đây là một: 56% cử tri công giáo bỏ phiếu ủng hộ Donald Trump. Ở một khía cạnh nào đó, kết quả này cần được giải thích. Nói chung, người công giáo không như nhiều người tin lành, họ không phải là những người ủng hộ MAGA, dù vậy, người công giáo bầu cho liên danh Trump-Vance năm 2024 chắc chắn có ý nghĩa, vì ba lý do.

“Vấn đề Công giáo” của Đảng Dân chủ

Đầu tiên, các chính sách hàng đầu của Đảng Dân chủ đã xung đột mạnh với các giáo lý đạo đức quan trọng của đạo công giáo trong một thời gian dài – các vụ phá thai “an toàn, hợp pháp và hiếm gặp” ngày hôm qua đã trở thành “luôn luôn, mãi mãi và rất nhiều”. Sự đồng thuận xấu xa này không chỉ đã cũ mà còn đang được thực hiện. Cụm từ “Đảng Dân chủ ủng hộ sự sống,” vốn từng là một bản sắc chính trị, giờ đây đã trở thành một nghịch lý.

Phá thai cũng không phải là vấn đề duy nhất buộc tín hữu phải chọn giữa đức tin và đảng phái. Cho dù đó là lời chỉ trích “súng ống và tôn giáo” của Barack Obama, “rổ những kẻ đáng trách” của Hillary Clinton hay những cuộc tấn công vào các ứng viên công giáo trước Quốc hội vì họ là người công giáo (dixit Dianne Feinstein, Kamala Harris), các nhà lãnh đạo đảng đã chứng minh điều này hết lần này đến lần khác: Đảng Dân chủ có vấn đề với Công giáo. Tính đến nay, cuối cùng phần lớn người công giáo bỏ phiếu đã nhận thấy.

Tự do tôn giáo bị tấn công

Thành tích của chính quyền Biden-Harris cũng đã giúp đẩy một số cử tri về cánh hữu. Năm 2020, Tổng thống Joe Biden có được 5% số phiếu của người công giáo. Sau đó, Joe Biden và phó tổng thống của ông đã thực hiện các chính sách khiến nhiều cử tri công giáo khó chịu. Cho dù ủng hộ các sáng kiến như Đạo luật Bình đẳng, vốn có thể hủy hoại quyền tự do tôn giáo, hay gọi chuyển giới là “vấn đề dân quyền của thời đại chúng ta”, Tổng thống Công giáo thứ hai của Hoa Kỳ thường giống người phát ngôn cho tổ chức Nhân quyền rất phi Công giáo. Thêm một bước đi sai lầm nữa với các tín hữu, Bộ Tư pháp táo bạo của liên danh Biden-Harris đã cảnh báo FBI về một “mối đe dọa” mới: Người công giáo gắn bó với truyền thống; bản ghi chú của cơ quan FBI thậm chí còn khuyến nghị cơ quan này thâm nhập vào các nhà thờ.

Về phần bà Harris, bà càng làm cho các tín hữu xa lánh hơn. Bà từ chối việc miễn trừ luật phá thai với các cơ sở tôn giáo – một quan điểm có thể đe dọa các chuyên gia y tế công giáo bằng việc phạt tiền, bỏ tù hoặc cả hai. Các cuộc phỏng vấn của bà với các ứng viên tư pháp công giáo gợi lên Chủ nghĩa McCarthy (bà hỏi: ‘Bạn có biết  Hiệp sĩ Columbus phản đối quyền lựa chọn của phụ nữ khi bạn gia nhập tổ chức không?’). Bà không quan tâm đến các dịp gắn kết như Bữa tối Công giáo Al Smith ở New York, một trong những hoạt động xã hội từ thiện lưỡng đảng cuối cùng còn sót lại của đất nước. Họ gây quỹ cho người nghèo. Ứng cử viên tổng thống Kamala Harris không màng đến.

Lá bài Vance

Lý do thứ ba làm cho cử tri công giáo có lý do chính đáng để tìm nơi khác vừa bất ngờ vừa đáng khích lệ với nhiều người: sự lựa chọn Thượng nghị sĩ Ohio J.D. Vance làm Phó Tổng thống. James David Vance không chỉ là người trở lại, ông hùng hồn nói về cuộc sống, đức tin và còn hơn thế, ông là chính trị gia công giáo không mặc cảm ở vị trí này từ một thời gian rất dài.

Với các tín hữu bực mình vì những cấm đoán mới, sự hiện diện của ông Vance mang lại thêm phiếu bầu. Và đó là nơi câu chuyện vượt ra ngoài cuộc bầu cử năm 2024. Người công giáo Mỹ đã chịu đựng với Joe Bidens, Nancy Pelosis và Mario Cuomos – các chính trị gia  đặt tràng hạt trước cửa văn phòng của họ và vẫy cờ thế tục ở nơi công cộng. Ông J.D. Vance có một điều gì đó mới mẻ: ông là một người trở lại, không lắp bắp hay xin lỗi, người diễn giải giáo huấn của Giáo hội sang ngôn ngữ đơn giản, rõ ràng: hôn nhân là tốt, con cái thì tuyệt vời, nội dung khiêu dâm hủy hoại tình yêu, chúng ta cần chăm sóc nhau tốt hơn. Tại một cuộc họp ở tòa thị chính vào cuối tháng 10, ông lên tiếng: “Dù quý vị bỏ phiếu cho tôi, cho Donald Trump hay cho Kamala Harris, xin quý vị đừng bỏ các thành viên trong gia đình và tình bạn lâu dài của quý vị. Chính trị không đáng.” Với người tín hữu kitô được rèn luyện từ nhỏ để phân biệt cái gì của Chúa, cái gì của Xêda, điều này gây được tiếng vang.

Phục hồi lòng tin

Cuối cùng, cuộc bầu cử năm 2024 đánh dấu một bước ngoặt không chỉ trong lãnh vực chính trị quốc gia, mà còn ở động lực và sự hiểu biết mà người công giáo trong tương lai sẽ mang đến cho công chúng. Trước sự phản đối của Đảng Dân chủ với những giáo lý cơ bản của Giáo hội, không có gì đáng ngạc nhiên khi ngày càng có nhiều người công giáo Mỹ đứng về phía liên danh Trump-Vance năm 2024. Điều đáng ngạc nhiên là “Quá nhiều người trong số họ đã phải chịu đựng một thời gian dài như vậy với ký hiệu Kick-Me mà lẽ ra không bao giờ họ nên có.

Việc bỏ phiếu theo giáo phái không phải là chuyện thống nhất dù ở phòng phiếu hay nơi khác, nhưng trong phạm vi rộng về mặt lịch sử của liên danh Trump-Vance thì sự phục hồi của niềm tin Công giáo Mỹ dường như đang gia tăng. Nếu vậy, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả hai Đảng, cả những người tin và không tin.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bác ái là nhân đức cần thiết cho sự phát triển tâm linh

Bác ái là nhân đức cần thiết cho sự phát triển tâm linh

fr.aleteia.org, Mónica Muñoz, 2024-11-12

Bác ái là nhân đức đối thần được Thiên Chúa ban cho chúng ta trong ngày rửa tội. Bác ái đóng vai trò thiết yếu để phát triển đời sống thiêng liêng của người tín hữu kitô.

Trong lễ rửa tội, người được rửa tội nhận được ơn thánh hóa để được xóa bỏ tội nguyên tổ và được làm con Chúa. Ngài ban cho chúng ta ba nhân đức đối thần: đức tin, đức cậy và đức mến. Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo giải thích, các nhân đức này “chuẩn bị cho người tín hữu kitô sống trong mối tương quan với Chúa Ba Ngôi, là nguồn gốc, động cơ và đối tượng”.

Ba nhân đức này là ân huệ nhưng không của Chúa, không giống các nhân đức khác, chúng ta không có được bằng công đức hay việc làm của con người: “Chúng được Thiên Chúa Ba truyền vào tâm hồn các tín hữu để làm cho họ có khả năng hành động như con cái của Người và đáng được hưởng phúc sự sống trường cửu.” (GLHTCG 1813). Ba nhân đức thần học này bảo đảm sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi khả năng con người. Đức tin giúp chúng ta tin vào Thiên Chúa, vào tất cả những gì Ngài mạc khải và những gì Giáo hội mời gọi chúng ta tin. Hy vọng là khao khát “Nước Trời và Sự sống Đời đời”, tin tưởng vào lời Chúa Kitô hứa, vào ý Ngài với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần (GLCG 1817). Cuối cùng, đức ái giúp chúng ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự và yêu người như mình vậy. Với Thánh Phaolô, đức ái là nhân đức cao cả nhất trong ba nhân đức: “Điều còn lại là đức tin, đức cậy và đức mến; nhưng cao trọng nhất trong ba điều đó là đức bác ái” (1 Cr 13:13).

Không có lòng bác ái thì không có sự phát triển tâm linh

Nếu lòng bác ái đồng nghĩa với tình yêu thì đó không chỉ là tình cảm của con người mà là một tình yêu siêu nhiên vượt lên hạnh phúc đơn thuần. Vì lòng yêu mến Thiên Chúa, đức ái khuyến khích chúng ta làm điều tốt cho người khác, nhất là cho kẻ thù của mình. Đó là ơn Chúa mà chúng ta nhận được khi rửa tội và trong suốt cuộc đời, chúng ta phải liên tục xin ơn này. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể đặt Thiên Chúa lên hàng đầu và yêu thương người anh em, ngay cả những người làm hại mình. Thánh Phaolô đã tóm tắt: “Nếu tôi thiếu tình yêu thương, tôi chẳng là gì cả” (1 Cor 13:3).

Vì vậy, để tiến bộ về mặt thiêng liêng, cần phải cầu xin và làm việc bác ái. Làm thế nào để thực hành đức ái trong đời sống hàng ngày? Bằng cách tuân theo các điều răn của Chúa, cố gắng làm chứng cho Chúa với những người chung quanh, cố gắng nhận các bí tích để có được ân sủng và vượt qua lỗi lầm và tội lỗi của chính mình.

Điều cần thiết là yêu thương người anh em, vì nếu chúng ta không yêu thương được người anh em thì tình yêu của của chúng ta là trống rỗng và vô nghĩa, như Thánh Phaolô đã nói: “Nếu tôi không có đức mến, thì tôi chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe  xoang xoản” (1Cr 13, 1). Vì thế chúng ta phải xin Chúa ban cho chúng ta đức ái mỗi ngày cho đến khi chúng ta gặp được Ngài trên Thiên Đàng!

Marta An Nguyễn dịch

Đức Phanxicô: “Chúng ta phải biến “cuộc sống của mình thành món quà cho người khác”

Đức Phanxicô: “Chúng ta phải biến “cuộc sống của mình thành món quà cho người khác”

Đức Phanxicô tiếp nhóm tình nguyện viên và người vô gia cư Vienna “Begegnung im Zentrum” ngày thứ sáu 8 tháng 11 năm 2024. (Vatican MEDIA Divisione Foto)

vaticannews.va, Augustine Asta, Vatican, 2024-11-09

Trong buổi tiếp kiến, Đức Phanxicô nhắc các thành viên, một nụ cười, một cử chỉ của tình bạn, một cái nhìn tình huynh đệ, một lắng nghe chân thành, một phục vụ nhưng không cũng là một giúp đỡ.

Ngài rất vui khi tiếp các thành viên: “Bình thường quý vị gặp nhau ở Tòa giám mục Vienna – xin cho tôi gởi lời chào đến Hồng y Schưnborn – nhưng hôm nay tôi rất vui được tiếp quý vị ở đây.” Nhóm “Begegnung im Zentrum” đến từ Vienna, Đức Phanxicô tiếp phái đoàn ở Hội trường Giáo hoàng của Điện Tông tòa.

Phái đoàn là một nhóm người thuộc các quốc tịch và giáo phái khác nhau giúp đỡ nhau và chia sẻ “những gì mỗi người có thể cống hiến. Một thực tế được Đức Phanxicô hoan nghênh vì “không phải chỉ có người cho và người nhận: nhưng tất cả chúng ta đều là người cho và người nhận – tất cả – chúng ta cần nhau và được kêu gọi để làm phong phú cho nhau. Và điều này không chỉ là những món quà vật chất, ngoài những món quà vật chất, chúng ta còn món quà của một nụ cười đơn giản, một cử chỉ tình bạn, một cái nhìn của tình huynh đệ, của một tâm hồn chân tình, một phục vụ nhưng không.

Đặt tình yêu vào trọng tâm

Trong thông điệp, Đức Phanxicô xin chúng ta tuân theo một trong những điều răn của Chúa: “Yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta.” Đức Phanxicô tạ ơn về món quà tình yêu này, một tình yêu đến với chúng ta qua những người tốt lành của  chúng ta. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vượt quá mọi giới hạn và mọi khó khăn. Dưới mắt Ngài, mỗi chúng ta là duy nhất, Ngài không bao giờ quên chúng ta. Vì thế chúng ta cố gắng biến cuộc sống chúng ta thành món quà cho người khác.”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Người con hoang đàng, hình ảnh quen thuộc của nhiều gia đình

Người con hoang đàng, hình ảnh quen thuộc của nhiều gia đình

Người con hoang đàng trở về. Michel Martin Drolling | Wikipedia CC của SA 3.0

fr.aleteia.org, Philippe-Emmanuel Krautter, 2022-05-17

Đứa trẻ trong Kinh thánh là câu chuyện dụ ngôn trong Tin Mừng Thánh Luca. Một đứa trẻ bực mình ra đi và trở về với người cha khi nó đã tiêu hết tài sản, đã trở nên nghèo khó, khiêm tốn. Dụ ngôn Người con hoang đàng luôn là bài học về tình cha con.

Giống như tất cả các dụ ngôn của Chúa Giêsu, dụ ngôn Người con hoang đàng là dụ ngôn của cảm xúc và của sự dịu dàng của Thiên Chúa với thân phận yếu đuối nghèo hèn của chúng ta. Thánh Luca kể câu chuyện này như câu chuyện rất quen thuộc của nhiều gia đình: “Một người cha có hai người con. Người con út nói với cha mình: ‘Xin cha cho con phần tài sản của con.’ Và người cha cho. Anh gom góp tất cả những gì mình có rồi bỏ đi phương xa, nơi anh sống một cuộc sống bừa bãi, phung phí tất cả tài sản.” (Lc 15:11-13)

Một đứa trẻ thoát ly

Phần mở đầu quan trọng: người cha có hai người con, đứa con út kém khôn ngoan, ít nhất là khi còn trẻ. Anh muốn ra khỏi nhà, sống cuộc sống phóng túng, anh không muốn ở dưới quyền lực của người cha, dưới sự cai trị tuyệt đối, đó là hình ảnh của một quan hệ cha con ngày xưa trong Kinh thánh. Vì thế việc người con út ra đi là một ngoại lệ, sự chính trực về mặt đạo đức của người con cả là một quy luật. Và giờ đây, logic vẫn ở trong tâm trí chúng ta sẽ bị Chúa Giêsu làm ngược lại.

Một hoán cải bất ngờ

Câu chuyện tạo xúc động mạnh, sau khi phung phí tài sản, người con phải đi chăn heo và nhịn đói, đã không còn niềm tự hào, anh quyết định đi về với cha mình: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,còn chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin cha xem con như người làm công cho cha (Lc 15:17-19)”.

Dù muốn ra khỏi mọi ràng buộc với người cha và đòi tự do, nhưng người con nhận thức được tình yêu mà nó đã phản bội. Trong một bài suy niệm, Đức Bênêđíctô XVI đã viết: “Trong những giai đoạn này, chúng ta đọc được những khoảnh khắc trên đường đi của con người trong mối quan hệ với Thiên Chúa. Chúng ta có thể có một giai đoạn giống như thời thơ ấu: một tôn giáo bị thúc đẩy bởi nhu cầu, bởi sự phụ thuộc. Dần dần, con người lớn lên và giải phóng chính mình, muốn ra khỏi sự phục tùng này, muốn được tự do, trưởng thành, muốn hành động một mình, muốn có các lựa chọn của mình và nghĩ đến việc có thể sống không cần đến Chúa. Chính xác giai đoạn này rất tế nhị, nó có thể dẫn đến chủ nghĩa vô thần, nhưng đây cũng là hình thức che giấu nhu cầu khám phá khuôn mặt thật của Thiên Chúa.” (Kinh Truyền Tin ngày 14 tháng 3 năm 2010).

Lòng thương xót tha thứ tất cả

Điểm quan trọng ở đây là phản ứng của người cha, ngay từ khi thấy người con từ đàng xa, ông đã tha cho đứa con. Lòng thương xót vô điều kiện này luôn lay động chúng ta, đó chính là nguồn gốc của tình yêu đích thực, không tính toán, không cần phải xứng công. Con người được tạo dựng tự do, và nếu họ muốn bỏ Chúa vì nghĩ rằng mình không còn cần đến Chúa Cha, nhưng bất cứ lúc nào họ cũng có thể quay về với Chúa, được Chúa đón nhận như người cha trong trong dụ ngôn.

Tình thương không điều kiện này đã làm cho người con cả tức giận vì cha mình đã mổ con bê béo làm tiệc mừng đứa em hoang đàng về nhà. Phản ứng này ngược với lòng thương xót, thay vì vui mừng thấy em về, người anh còn non dại, ích kỷ, muốn người em phải trả lẽ công lý nhưng anh quên mất công lý thiêng liêng: “Con ơi, con luôn ở bên cha, tất cả những gì của cha là của con. Chúng ta nên ăn mừng vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay đã được tìm thấy!”

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất