250 năm của Hoa Kỳ: các nghịch lý của nước Mỹ

9

250 năm của Hoa Kỳ: các nghịch lý của nước Mỹ

Hình ảnh – Shutterstock | Philip Yabut

fr.aleteia.org, Jean Duchesne, 2026-07-03

Ngày 4 tháng 7, Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm lại=ap quốc

Jean Duchesne, giáo sư danh dự về Văn học và Văn minh Mỹ, phân tích các yếu tố cấu thành bản sắc của đế chế độc nhất vô nhị: sự kết hợp giữa chủ nghĩa Thanh giáo và chủ nghĩa cá nhân, tạo căng thẳng giữa sự rút lui ích kỷ và chủ nghĩa bành trướng gần như mang tính cứu thế. Một lịch sử độc đáo vẫn còn đặt ra nhiều câu hỏi.

Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm thành lập ngày 4 tháng 7. Chính ngày này năm 1776, Tuyên ngôn Độc lập đã được mười ba thuộc địa liền kề của Anh ở bên kia Đại Tây Dương ký. Được thành lập thành các tiểu bang, sau đó các thuộc địa này đã hợp nhất thành một quốc gia liên bang. Quốc gia này mở rộng về phía nam đến Vịnh Mexico và về phía tây đến Thái Bình Dương, với sự ra đời của khoảng 37 tiểu bang mới, trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ 20. Chúng ta có thể tin tưởng đất nước này (và trên hết là Tổng thống hiện tại) sẽ tổ chức lễ kỷ niệm sự kiện này với nghi lễ long trọng và hoành tráng. Tuy nhiên, các lễ hội rực rỡ này không thể xua tan mọi bối rối, vì ngay từ đầu, lịch sử của nước Mỹ không hề đơn giản. Tình hình hiện tại có thể đặt ra một số câu hỏi.

Một đế chế không giống bất kỳ đế chế nào

Trước hết, chúng ta cần biết, hiện tượng này chưa từng có tiền lệ. Đế chế này không được tạo ra bởi một nhóm dân tộc cụ thể và không có nguồn gốc xác định. Lãnh thổ phát triển nhờ những người có nguồn gốc rất đa dạng, chủ yếu đến từ một châu Âu bị chia cắt. Họ tiếp nhận ngôn ngữ các quốc gia sáng lập để vừa hội nhập vừa giao tiếp với nhau. Làn sóng nhập cư này đã diễn ra liên tục trong năm thế kỷ (bất chấp các quy định về hạn ngạch sắc tộc từ năm 1921 đến năm 1965), và vẫn tiếp tục (bất chấp các hạn chế), chủ yếu đến từ miền Nam nói tiếng Tây Ban Nha, nhưng cũng từ khắp nơi trên thế giới, khiến đất nước hiện nay có 350 triệu dân.

Không giống như những gì đã xảy ra ở nhiều nơi khác, và với tất cả sự tôn trọng dành cho các dân tộc bản địa đã sinh sống ở đó, cuộc di cư chậm chạp và kéo dài này, không có người lãnh đạo, thông qua vận tải có tổ chức (chứ không thông qua một quá trình dần dần), đã không lật đổ một đế chế hay chấm dứt một nền văn minh đô thị hóa và thống trị. Canada (ở phía Bắc), Úc và New Zealand (ở phía Nam bán cầu), tất cả đều nói tiếng Anh, là những trường hợp tương tự duy nhất khác, với ít tác động quốc tế hơn.

Một cuộc chinh phục phi quân sự

Vì thế cuộc chinh phục này không chủ yếu mang tính quân sự. Tất nhiên, đã có những cuộc chiến tranh, đầu tiên là giữa các thế lực thực dân đối địch, sau đó là chống lại họ để giành độc lập khỏi sự kiểm soát của họ, và chống lại “người Mỹ bản địa” phản kháng việc mất đi lối sống của họ. Cũng có một cuộc nội chiến đẫm máu, được gọi là Nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865), khi, đối diện với sự công nghiệp hóa của miền Bắc, các bang miền Nam tìm cách ly khai khỏi Liên bang để bảo vệ cấu trúc kinh tế – xã hội của họ, vốn phụ thuộc rất nhiều vào lao động nô lệ được nhập khẩu một cách tàn nhẫn từ châu Phi kể từ thế kỷ 17.

 

Những cuộc xung đột vũ trang này không ngăn cản Hoa Kỳ can thiệp ra ngoài biên giới của mình từ đầu thế kỷ 20, sau đó đóng vai trò quyết định trong cả hai Thế chiến (mặc dù mỗi lần đều có do dự và miễn cưỡng), và cuối cùng là chiến thắng vào năm 1990 (bất chấp một số thất bại, đáng chú ý là ở Việt Nam từ năm 1955 đến năm 1975) trong Chiến tranh Lạnh sau đó chống lại khối cộng sản, ngay cả khi vị thế thống trị này kể từ đó đã bị thách thức bởi sự nổi lên của các cường quốc đối trọng: chủ nghĩa Hồi giáo (đặc biệt Hồi giáo Iran hiện nay), Trung Quốc, Nga, v.v.

Sự tùy tiện và chủ nghĩa lý tưởng

Chúng ta phải nhận ra các động cơ có phần mâu thuẫn, ngay từ đầu, đã thúc đẩy sự bành trướng của quốc gia độc đáo này. Trước hết, nước Mỹ là một khám phá của những nhà thám hiểm. Điều thúc đẩy họ chắc chắn là do tò mò và niềm đam mê phiêu lưu. Nhưng khát vọng tìm tòi này không chỉ đơn thuần là vô tư mà còn đi kèm với mong muốn đạt được những lợi ích vật chất: tiếp cận trực tiếp hơn với các nguồn tài nguyên của phương Đông, và sau đó thu lợi từ những vùng đất tình cờ gặp trên đường đi. Sự sáng tạo mang tính cơ hội, đôi khi tàn bạo và thường tham lam, nhưng không hề xấu hổ, vẫn chưa biến mất.

Tuy nhiên, nó được cân bằng bởi lý tưởng tự do. Những người tìm kiếm vận may nhờ những người mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, những người hy vọng thoát khỏi nghèo đói, thất bại và đàn áp. Trong số họ có các tín hữu Tin lành cấp tiến, được gọi là Thanh giáo, tìm kiếm độc lập về tôn giáo vào thời điểm mà cuộc Cải cách chỉ giải phóng các cộng đồng địa phương khỏi quyền lực của Giáo hoàng và giáo sĩ để họ phải phục tùng các nhà vua, những người đã tạo ra các nhà thờ quốc gia. Vì thế những người Thanh giáo đã di cư đến Mỹ giống như người Do Thái đến Vùng đất Hứa, vượt Đại Tây Dương thay vì sông Nile. Đây là một yếu tố bền vững khác của bản sắc Mỹ.

Liên minh giữa chủ nghĩa Thanh giáo và Thời kỳ Khai sáng

Các chế độ thần quyền nhỏ này, không có hệ thống cấp bậc giáo sĩ, mang tính bình đẳng và cuối cùng là cộng hòa – không có linh mục nào trong hàng ngũ để thánh hóa quyền lực trong các xã hội dân sự mà họ hình thành. Do đó, các thuộc địa Thanh giáo dần dần, nhờ sự bất khuất của họ, đã chấp nhận sự đa dạng và do đó là tự do lương tâm, thờ cúng và tổ chức chính trị ở cấp khu vực, sau đó là cấp quốc gia, để mỗi nơi có thể duy trì quyền tự chủ của mình. Chủ nghĩa đa nguyên thực nghiệm (và rất Anh) này đã kết hợp dễ dàng cách đây 250 năm, chống lại sự chuyên chế của London, với một mặt là Thời kỳ Khai sáng châu Âu và thế tục hóa, thu hút những hậu duệ giàu có của những người tiên phong đầu tiên, mặt khác là cách tiếp cận hình thức và pháp lý, bù đắp cho sự kìm nén cái siêu việt trong lĩnh vực tư nhân.

Sự kết hợp ít nghịch lý hơn vẻ ngoài của nó giải thích chủ nghĩa thế tục “tích cực” ở Hoa Kỳ và vị trí nổi bật của tòa án cao nhất nước: Tòa án Tối cao. Nhưng được pha trộn với chủ nghĩa hiện thực không khoan nhượng của những người tiên phong, sự kết hợp kỳ lạ này tạo sự căng thẳng vốn có giữa sự rút lui ích kỷ và chủ nghĩa bành trướng gần như mang tính cứu thế, tin tưởng vào việc duy trì các “giá trị” phổ quát cho phép (ít nhất là về mặt lý thuyết) chào đón bất cứ ai tán thành chúng. Theo thời gian, sự phân cực này đã dẫn đến sự luân phiên giữa chủ nghĩa biệt lập và chủ nghĩa can thiệp. 

Sự tương phản

Sự kết hợp tương phản này đã cho phép Hoa Kỳ bắt kịp những tiến bộ của cuộc cách mạng công nghiệp kỹ thuật đầu tiên ở châu Âu trước năm 1900, và sau đó đóng một vai trò hàng đầu và sinh lợi trong các cuộc cách mạng tiếp theo cho đến ngày nay, bao gồm cả lãnh vực văn hóa. Nước Mỹ thể hiện hình ảnh độc đáo của mình với thế giới, ngoài vẻ đẹp tự nhiên, với tầng lớp quý tộc được xây dựng trên sự giàu có và những tòa nhà chọc trời ở trung tâm thành phố, được bao quanh bởi sự trải rộng vô tận của các vùng ngoại ô với những ngôi nhà có hồ bơi. Nhưng đó cũng là một quốc gia có tỷ lệ nghèo đói chính thức lên tới 15%, nơi việc bãi bỏ chế độ nô lệ (năm 1863) không chấm dứt được nạn phân biệt chủng tộc, và nơi quyền mang vũ khí theo hiến pháp (thừa hưởng từ Cách mạng Pháp năm 1776) dẫn đến hơn 40.000 người chết mỗi năm.

Công giáo đã hiện diện ngay từ đầu, vì ở Anh, người Công giáo bị đàn áp không kém (nếu không muốn nói là nhiều hơn) so với người Thanh giáo. Nhưng họ nhanh chóng bị đẩy xuống thành thiểu số trong thuộc địa Maryland của họ, và những người nhập cư gốc Ireland, Ý và Ba Lan bị nhìn nhận với sự nghi ngờ trong thế kỷ 19. Hiện nay, sáu trong chín thẩm phán Tòa án Tối cao là người Công giáo, cũng như hai tổng thống (John F. Kennedy và Joe Biden), phó tổng thống (John D. Vance) là người Công giáo, và Giáo hội Công giáo La Mã (bao gồm một phần năm dân số Mỹ) là giáo phái Kitô giáo lớn nhất.

“Ánh sáng của các quốc gia?”

Thực tế, có một số điểm tương đồng giữa chủ nghĩa phổ quát Công giáo và chủ nghĩa phổ quát Mỹ. Tuy nhiên, đây cũng là nguồn gốc của sự bất đồng, vì đức tin trọn vẹn không dễ dàng quy phục ngọn cờ của chủ nghĩa đế quốc dân tộc (và thương mại). Hoa Kỳ chắc chắn là trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử, nhưng Hoa Kỳ vẫn còn lâu mới đại diện cho sự kết thúc của lịch sử. Một phần tư thiên niên kỷ vừa qua cung cấp chất liệu cho lòng biết ơn, nhưng cũng cho sự tự kiểm điểm – không chỉ đối với người Mỹ, mà còn đối với tất cả những ai tự cho mình là “ánh sáng cho các dân tộc” (Is 42:6; 49:6; Lc 2:32; Cv 13:47).

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch