Tiếng mẹ đẻ

216

Tiếng mẹ đẻ

Ronald Rolheiser, 2004-07-18

Hans Urs Von Baltasar đã từng viết: “Sau một thời gian dài mẹ mỉm cười với con, đứa bé sẽ bắt đầu mỉm cười lại với bà; bà đã đánh thức tình yêu trong quả tim nó, và khi đánh thức tình yêu trong quả tim con, bà khơi mở nhận thức cho con mình.”

Đánh thức tình yêu và nhận thức trong tim trả con, đó không phải chỉ nhờ nụ cười của người mẹ, mà còn nhờ vào  tiếng nói của bà, tiếng nói của bà cũng rất quan trọng. Không chỉ ôm ấp và mỉm cười với con, bà còn chuyện trò với chúng. Đứa bé nghe tiếng nói người mẹ như nghe hiệu lệnh để nó bước ra thế giới bên ngoài rộng lớn hơn, khi nó chưa có bất cứ nhận thức đích thật nào về những gì được nói, đó là điều thiết yếu đem đến cho đứa trẻ khả năng tự nhận thức và lời nói. Chính tiếng nói dỗ dành, âu yếm, khích lệ, trấn an đã đưa chúng ta ra khỏi bóng tối và hỗn mang của tuổi ấu thơ, đẩy chúng ta đi xa hơn con người mình.

Trong suốt những tháng đầu đời trọng yếu của đứa trẻ, tiếng nói người mẹ đảm nhận hầu hết công việc này. Đó là lý do tại sao ngôn ngữ đầu tiên chúng ta học, được gọi là “tiếng mẹ đẻ”, chứ không phải “tiếng cha đẻ”. Tiếng nói người mẹ trước hết đã âu yếm và khích lệ chúng ta bước ra khỏi tình trạng tăm tối thiếu nhận thức, không biết cách nào để nói lên lời. Rainer Marie Rilke nói quá trình đi đến nhận thức của đứa trẻ tùy vào việc tiếng nói người mẹ có chiếm được chỗ thay cho “cái hố thẳm đang dấy lên” hay không.

Các triết gia đồng ý điều này. Theo quan điểm của họ, ngôn ngữ cấu thành nhận thức và tạo nên khả năng suy nghĩ và cảm nhận cho con người. Trước khi có khả năng sử dụng ngôn ngữ, chúng ta bị kẹt trong bóng tối và hỗn mang, tình trạng này không làm chúng ta suy nghĩ và ăn nói như con người.

Bà Helen Keller là trường hợp điển hình, bà bị mù và điếc bẩm sinh, bà học nói được là nhờ nổ lực phi thường của một nhà giáo ngoại hạng, bà Annie Sullivan. Chính bà Annie Sullian là người khơi mở thế giới cho cô bé Helen Keller. Bằng cách dạy ngôn ngữ của mình, đích thực bà Annie Sullian đã mang Helen Keller ra khỏi bóng tối, hỗn mang, mở cho Helen khả năng suy nghĩ, cảm xúc sâu đậm, biết diễn tả, tự do và nhận thức yêu thương.

Có lẽ không hình ảnh nào giá trị hơn hình ảnh này trong việc giúp chúng ta hiểu cách nào Lời Chúa mang ý nghĩa đến cho hành động của chúng ta trong cuộc sống. Tất cả các công việc giảng đạo, giảng dạy, nghiên cứu thần học, làm mục vụ có chức năng đem Lời Chúa thành nụ cười, lời âu yếm, vẫy tay gọi, dỗ dành, thành tiếng người mẹ khuyến khích chúng ta bước ra khỏi sợ hãi, bóng tối, hỗn mang, và mở ra cho chúng ta khả năng suy nghĩ, tự do, biết diễn tả và nhận thức yêu thương.

Lời Chúa trước hết, không phải là cái để thách đố chúng ta hướng về bác ái, công bình xã hội, đạo lý, hay ngay cả để thờ phượng một điều gì đó cao hơn hay để chúng ta thành lập cộng đoàn, dù những công việc này tự nó đã nói lên tầm quan trọng. Đức Ki-tô đến, hiện thân của Lời Nhập Thể, đem cho chúng ta cuộc sống, ánh sáng và yêu thương. Có nghĩa Đức Ki-tô đến để thực hiện những gì tiếng  mẹ đẻ làm, đó là, gọi chúng ta ra khỏi sợ hãi, bóng tối, và hỗn mang, cái ngăn cản chúng ta đi vào thế giới của suy nghĩ, biết diễn tả và tình yêu có nhận thức.

Là Ngôi Lời, công việc của Đức Kitô tương tự như công việc bà Annie Sullivan giúp Helen Keller phá tan tình trạng hỗn mang, bị kẹt cứng trong chính con người mình, không nhận thức được ý thức sâu xa, không nói năng được, không đi vào cuộc sống con người một cách trọn vẹn. Không ngẫu nhiên khi các sách Phúc Âm nói về Đức Ki-tô là “Ngôi Lời” bởi vì Ki-tô giáo là một loại ngôn ngữ đặc biệt (một “tiếng mẹ đẻ”) hơn là một tôn giáo.

Không phải lúc nào tôn giáo cũng được hiểu như vậy trong nghĩa này. Trong các trường thần học, trong phạm vi Giáo hội, và trong việc giảng đạo và giảng dạy của chúng ta, nhìn chung, chúng ta có ít người như Annie Sullian nhưng lại có quá nhiều người dùng lời Chúa cho nhiều mục đích khác nhau. Nếu nhìn vào bất cứ mẫu thức nào về các tài liệu tôn giáo (giảng đạo, giảng dạy, và viết lách tự do hay bảo thủ, bất cứ cách gọi tên nào cũng giống nhau) hay ngay cả ngôn ngữ trong lãnh vực công bằng xã hội, thần học kinh viện, tài liệu về đạo, tinh thần thiêng liêng trong thời đại mới, hay những lý thuyết của các tôn giáo khác, chúng ta thấy có rất ít ngoại lệ, rất ít cái được nghe như “tiếng mẹ đẻ”. Chung chung, kiếm một người như bà Annie Sullivan thật là hiếm, kiên nhẫn vô bờ bến, am hiểu sâu sắc, dịu dàng cố gắng dỗ ngọt để chúng ta bước ra khỏi tình trạng tối tăm, tình trạng không biết nói nên lời, câm điếc và hỗn mang có từ lúc chúng ta mới sinh.

Điều đó không có nghĩa những gì chúng ta làm hôm nay trong các công việc giảng đạo, nghiên cứu thần học, mục vụ là không đầy đủ chân giá trị, thiếu am hiểu chiều sâu, thiếu tính cách tiên tri. Có rất nhiều điều hay chung quanh một nền thần học tốt. Nhưng thiếu là thiếu âm thanh yêu thương, lời âu yếm dỗ dành với âm điệu dịu dàng, âm điệu trước đây đã giúp chúng ta nhận thức. Những gì cần thiết trong khoa thần học, thiêng liêng, và trong lãnh vực Giáo Hội là âu yếm, dịu dàng, là tiếng nói gật đầu ra hiệu với lòng kiên nhẫn và yêu thương của một Annie Sullivan, đang cố gắng dạy cho chúng ta cách nói năng và đi vào một thế giới khổng lồ, phức tạp, thế giới làm chúng ta sợ hãi, còi cọc không lớn lên được. Không dễ để đi ra khỏi bóng tối.

Tìm kiếm Thiên Chúa chính là cuộc tìm kiếm để nghe Chúa trong “tiếng mẹ đẻ” của chúng ta.

J.B. Thái Hòa dịch