Đức tin của các kitô hữu ẩn giấu ở Nagasaki, nước Nhật

163

Đức tin của các kitô hữu ẩn giấu ở Nagasaki, nước Nhật

missionsetrangeres.com, 2019-10-19

Sau 35 năm ngày Đức Gioan-Phaolô II đến Nhật năm 1981, năm nay, từ ngày 23 đến 26 Đức Phanxicô sẽ đến thăm nước Nhật. Nhân dịp này chúng ta tìm hiểu lịch sử Giáo hội Nhật qua bao nhiêu thế kỷ bị bách hại.

Lịch sử công giáo Nhật có từ ngày 15 tháng 8 năm 1549 khi Thánh Phanxicô Xaviê đến Kagoshima, vùng đảo Kyushu. Thánh Phanxicô Xaviê chỉ ở Nhật hai năm, ngài rời Nhật ngày 15 tháng 11 năm 1551. Nhưng chỉ hai năm ngắn ngủi, ngài đã để lại hoa quả mà các bạn đồng hữu và những người kế tiếp ngài duy trì. Công việc truyền giáo của các tu sĩ Dòng Tên tập trung vào việc thành lập các cộng đoàn giáo dân có thể lo việc dạy giáo lý, tổ chức các buổi cầu nguyện, săn sóc người bệnh, người nghèo… Sau này khi các nhà truyền giáo bị giết hoặc bị trục xuất, các cộng đoàn huynh đệ này đã tiếp tục trao truyền đức tin từ thế hệ này qua thế hệ khác cho đến khi ngầm chấm dứt sau các cuộc bách hại năm 1873. Năm 1587, Toyotomi Hideyoshi lúc đó lãnh đạo nước Nhật đã ban hành một sắc lệnh cấm đạo vì sợ có móc nối giữa các nhà truyền giáo và các người thực dân châu Âu. Năm 1597, lệnh cấm này được tăng cường với vụ đóng đinh 26 tín hữu kitô tử đạo ở Nagasaki ngày 5 tháng 2. Khi đó có thể có 300 000 người công giáo ở trong nước, ít hơn bây giờ nhưng so với tỷ lệ dân số thì cao hơn. Sau này, năm 1639 nước Nhật tự cắt đứt với phần còn lại của thế giới.

Đức tin của các kitô hữu ẩn giấu ở Nagasaki

Để truy lùng các tín hữu kitô, nhà cầm quyền đã dùng nhiều biện pháp tra tấn. Từ năm 1629, họ đã dùng kỹ thuật fumi-e bắt tín hữu kitô đi trên tượng Chúa hoặc Đức Mẹ. Những ai do dự sẽ bị hành quyết. Quyển tiểu thuyết Thinh lặng, Silence của nhà văn Shusaku Endo đã được nhà đạo diễn Martin Scorsese chuyển thể thành phim cùng tên, kể lại các vụ bách hại và sử dụng chiến thuật fumi-e. Lúc đó rất nhiều tín hữu kitô phải trốn qua các đảo bên cạnh. Một số khác ở lại nhưng họ giữ đức tin bí mật, họ đau lòng phải đi trên  fumi-e . Sau khi nước Nhật mở cửa và có các quan hệ ngoại giao năm 1853, các giáo sĩ kitô được phép vào Nhật lại, họ làm tuyên úy cho các cộng đoàn nước ngoài, đạo công giáo vẫn bị cấm ở Nhật. Ngày 17 tháng 3 năm 1865, khi một nhóm người Nhật của làng Urakami gần Nagasaki gặp linh mục Bernard Petitjean (thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại Paris) ở giáo xứ  Oura, Nagasaki thì khi đó cha mới biết có một số kitô hữu đã sống ẩn giấu.

Họ hỏi cha có trung thành với giáo hoàng và có tượng Đức Mẹ không. Cha trả lời có và khi đó họ biết cha có cùng đức tin với mình. Đó là sự khẳng định đầu tiên các tín hữu Nhật vẫn trung thành với đạo dù đã trải qua 250 năm bách đạo. Tuy nhiên lệnh cấm vẫn còn hiệu lực và khi nhà cầm quyền biết về các tín hữu kitô ở Urakami thì làng lại bị một đợt bách hại lớn cuối cùng. Từ năm 1867 đến năm 1870, hơn 3000 người bị đi đày đến các vùng khác, hơn 300 người trong số họ bị hành quyết. Cuối cùng các lực lượng phương Tây buộc họ phải chấm dứt bách hại, và năm 1873 chính quyền cho phép các người bị đi đày trở về Urakami. Khi các người đi đày về làng, họ để lại sau lưng họ các cộng đoàn kitô còn non trẻ. Cuối cùng khi người công giáo ở Urakami về thành phố Nagasaki đang phát triển, họ xây ngôi nhà thờ lớn nhất châu Á hồi đó trên mảnh đất mà tổ tiên họ bị bắt phải dẫm lên fumi-e.

Tượng fumi-e mà người công giáo Nhật phải bước qua 

Sau này nhà thờ Urakami bị phá hủy trong vụ thành phố Nagasaki bị dội bom ngày 9 tháng 8 năm 1945, giết hại gần một nửa người công giáo trong vùng. Nhà văn Nhật Takashi Nagai (1908-1951), bác sĩ chuyên gia quang tuyến là người công giáo và sống sót sau vụ dội bom ở Nagasaki đã kể ông tìm các mảnh cơ thể của vợ trong căn nhà của mình. Ông mô tả vụ dội bom ở Urakami như lễ vật, khi ông so sánh vụ nổ bom với sự Thương Khó của Chúa Kitô trên thập giá: “Nhân loại của chúng ta thừa kế tội lỗi của ông Adong và máu của ông Ca-in. Nhân loại chúng ta quay về thờ ngẫu tượng mà quên mình là con cái của Chúa. Để chấm dứt các điều khủng khiếp và hận thù, để ơn phước hòa bình được nở hoa trở lại, thì ăn năn chưa đủ. Nhưng Giáo hội Urakami chúng ta đã giữ đức tin nguyên vẹn trong 400 năm ở nước Nhật cấm đạo. Giáo hội đã chịu đựng nhiều năm tháng dài bị bách hại. Và trong chiến tranh này, Giáo hội đã không ngừng cầu nguyện để hòa bình được trở lại. Giáo hội này có xứng đáng để được chọn như lò thiêu để hàng chục triệu người không còn là nạn nhân của chiến tranh nữa không?” 

Thánh lễ ở nhà thờ Urakami, Nagasaki

Chủ nghĩa hòa bình và môi trường

Kể từ đó Giáo hội công giáo Nhật đã biến hòa bình thành một cuộc đấu tranh lớn. Mỗi năm từ ngày 6 tháng 8 (ngày thành phố Hiroshima bị dội bom) đến ngày 15 tháng 9 (ngày nước Nhật đầu hàng) Giáo hội có 10 ngày cầu nguyện cho hòa bình. Người Công giáo đang tích cực phản đối các nỗ lực làm suy yếu Điều Chín của Hiến pháp Nhật, được thông qua vào ngày 3 tháng 11 năm 1946, trong đó tuyên bố người dân Nhật từ bỏ “chiến tranh mãi mãi” và duy trì “lực lượng trên bộ, trên biển và trên không hoặc chiến tranh tiềm năng khác”. Luật này trên thực tế vẫn còn nhưng phần lớn bị bỏ qua. Tất nhiên, người Nhật không chỉ là nạn nhân của chiến tranh, mà người Nhật còn có phần trách nhiệm trong chiến tranh, ở Trung Quốc, ở Thái Bình Dương. Năm 1989, các giám mục Nhật Bản đã thừa nhận và lấy làm hối tiếc trách nhiệm của Giáo hội công giáo Nhật đã hỗ trợ chiến tranh. Cộng đồng công giáo Nhật sau các hành động của đất nước và các suy tư về chiến tranh, đã chuyển hướng mạnh mẽ sang chủ nghĩa quốc tế. Vì ở quy mô nhỏ và các chi phí lại cao nên Giáo hội địa phương ít có phương tiện. Dù vậy nhờ cơ quan Caritas Nhật và các tổ chức khác, người công giáo Nhật hỗ trợ nhiều chương trình nhân đạo khắp thế giới. Sau chiến tranh, Giáo hội địa phương công giáo Đức đã giúp xây dựng các nhà thờ bị phá hủy bởi các vụ dội bom trong Thế Chiến Thứ Hai, mà hai nước là đồng minh. Tòa giám mục Tokyo đã quyên góp hàng năm để cám ơn người Đức và bắt chước lòng quảng đại của họ, Giáo hội Nhật đã giúp Giáo hội Miến Điện.

Nước Nhật là nước có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Các thành phố lớn như Tokyo cũng không ở xa núi rừng và biển. Nhưng thiên nhiên ở đây cũng đặc biệt nguy hiểm với núi lửa, với các vụ động đất, sóng thần, cuồng phong, các vụ lũ lụt, lở đất. Trận sóng thần năm 2011 dẫn đến thảm họa hạt nhân ở  Fukushima. Tất cả đã làm cho người Nhật rất nhạy cảm với thiên nhiên mà chúng ta thấy qua các tác phẩm nghệ thuật và văn học của họ. Sự nhạy cảm này phối hợp với tinh thần chống vũ khí hạt nhân, chống chủ nghĩa liên quốc tế đã làm cho họ dấn thân bảo vệ môi trường. Vì thế chủ đề được chọn cho chuyến tông du của Đức Phanxicô tại Nhật là “Bảo vệ mỗi đời sống” xuất phát từ Lời cầu nguyện kitô hiệp nhất với Tạo dựng trong phần kết thúc Thông điệp Chúc tụng Chúa Laudato Si. Đức Phanxicô hỗ trợ công việc của Giáo hội địa phương về hòa bình, về môi trường và về vũ khí hạt nhân và với các người di dân, các người sống bên lề.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Xin đọc thêm: Các kitô hữu ẩn giấu của nước Nhật, một phép lạ của đạo công giáo

Một nhà truyền giáo Ý bị bỏ quên ở Nhật

Sống đời sống truyền giáo ở Nhật

Hồng y Manyo Maeda: Vai trò của Giáo hội trong nước Nhật ngày càng thế tục hóa