Home Blog Page 1701

Vì sao Đức Phanxicô tiếp một người chuyển giới tính

Pope_Francis_greets_pilgrims_in_St_Peters_Square_during_the_Wednesday_General_Audience_May_21_2014_Credit_Daniel_Ibez_CNA_3_CNA_5_21_14lefigaro.fr, Jean-Marie Guénois, 28-1-2015

Diego Neria Lejarraga sinh ra là nữ giới, và đã chuyển giới, anh được Đức Phanxicô tiếp kiến cùng với vị hôn thê của mình. Vatican từ chối mọi bình luận về tin này, nhưng buổi chiều ngày thứ bảy 24-1, tại Nhà trọ Thánh Mácta, Đức Phanxicô đã tiếp kiến riêng một cặp vợ chồng Tây Ban Nha mà một trong hai là người đã chuyển giới.

Đó là Diego Neria Lejárraga. Anh 48 tuổi. Bây giờ là “đàn ông” sau khi đã giải phẫu, anh sinh ra là nữ giới nhưng không bao giờ cảm thấy mình là nữ giới. Anh giải thích với nhật báo HOY, báo đã đăng tin này: “Nhà tù của tôi là cơ thể của tôi vì nó không phù với tất cả những gì tâm hồn tôi cảm nhận,” anh nói.

Anh là người Công giáo, gia đình anh cũng vậy. Cách đây tám năm, anh đã chờ mẹ chết để chuyển giới. Sau đó anh bị giáo xứ Plasencia của anh đuổi anh, họ cho anh là “con gái của quỷ” và không xứng đáng để “vào” nhà thờ.

Xin được nâng đỡ

Được giám mục Công giáo Amadeo Roriguez Magro khuyến khích, Diego viết một bức thư cho Đức giáo hoàng, kể cho ngài nghe câu chuyện của mình, anh cảm thấy mình bị “xã hội ruồng bỏ” và “bị lên án” và anh xin ngài nâng đỡ anh.

Đức Phanxicô đã nhanh chóng trả lời cho anh, ngày 20 tháng 12 ngài đã điện thoại cho anh và ấn định ngày gặp ngài là ngày 24 tháng 1 lúc 5 giờ chiều ở Vatican.

Diego Neria Lejarraga vẫn còn kín đáo về nội dung buổi gặp gỡ mà anh đi cùng với vị hôn thê của mình. Nhưng anh cho biết, từ hôm đó anh là “người có bình an” sau khi anh hỏi Đức giáo hoàng, “có một chỗ cho anh trong nhà của Chúa không.”

Như tất cả các vị tiền nhiệm của mình, Đức Phanxicô tiếp kiến riêng rất nhiều người. Nhưng còn hơn các vị tiền nhiệm, Đức Phanxicô không ngần ngại tiếp những “người bên lề”, danh từ ngài hay dùng để chỉ những người mà Giáo hội Công giáo không có thói quen đối thoại.

Gặp gỡ

Cũng vậy, Đức Phanxicô cũng không bao giờ ngần ngại khi điện thoại trực tiếp cho những người đang ở trong cơn tuyệt vọng để nâng đỡ họ dù họ có gọi hay không gọi trực tiếp cho ngài.

Dù đôi khi có thể gây hoang mang về tính xác thực của những cuộc điện thoại này như có lần một người đồng giới ở Toulouse mà Đức giáo hoàng đã nâng đỡ lúc đầu triều giáo hoàng của mình hay trường hợp một người đàn bà ly dị tái hôn ở Argentina khẳng định rằng Đức Phanxicô nói bà có thể “rước lễ”.

Theo luật chung, Vatican không khẳng định cũng không phủ nhận – trừ trường hợp Toulouse mà cuộc gọi đã được chính thức xác nhận là không có  – như thế có nghĩa là cuộc gặp ngày thứ bảy vừa qua là có thật.

Điều này cho thấy phần riêng tư trong công việc mục vụ của Đức giáo hoàng, ngài dành riêng thì giờ và có quyền tiếp riêng theo từng trường hợp mỗi người. Đây là cách làm quen thuộc của Đức Phanxicô, một trong những cách ngài thích làm như thời ngài còn làm giám mục ở Buenos Aires.

Vấn đề được đặt ra, thực chất là, một phần là chuyện đồng giới tính, một phần là chuyện chuyển giới, những chuyện này đã gây thảo luận về mặt thần học trong nội bộ Giáo hội Công giáo, đáng kể trong khuôn khổ Hội đồng về gia đình mà phần hai sẽ họp vào tháng 10 năm 2015.

Đức Phanxicô sẽ không đặt lại vấn đề về giáo điều cổ điển trên điểm này – từ chối không phán xét những người liên hệ nhưng lên án việc thực hành; chống đối hôn nhân đồng giới – nhưng muốn tạo ra một “văn hóa mới” trong Giáo hội Công giáo, “đón nhận hơn” đối với những người đồng tính và chuyển giới. Cuộc gặp gỡ ngoài luật lệ này là một minh họa cho thái độ này.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Khi nói về ‘chủ nghĩa chiêu mộ,’ giáo hoàng Phanxicô đang nói về ai?

Giáo hoàng Phanxicô nói với Giovanni Traettino, một mục sư Tin Lành, và là bạn của ngài, tại Caserta, Ý quốc

Khi nói về ‘chủ nghĩa chiêu mộ,’ giáo hoàng Phanxicô đang nói về ai?

Thực sự có lẽ ngài không hoàn toàn nói về người Công giáo thôi đâu

Crux – John L. Allen Jr

25 tháng 1, 2015

Trong danh sách mà ngòi bút người Ý Vittorio Messori, gọi là ‘những phức tạp’ về Giáo hoàng Phanxicô, nghĩa là những điều khó xác định, có một điểm về thái độ của giáo hoàng đối với các nỗ lực truyền giáo.

Một mặt, Đức Phanxicô không ngừng nói về mệnh lệnh phúc âm hóa và loan truyền đức tin. Trong chuyến công du mới đây đến Sri Lanka chẳng hạn, ngài kêu gọi những người Công giáo Á châu hãy bừng lên ‘nhiệt tâm truyền giáo.’

Măt khác, Đức Phanxicô hiếm khi bỏ lỡ dịp để lên án cái ngài gọi là ‘chủ nghĩa chiêu mộ.’ Ngài đã có lời nổi tiếng gọi đây là điều ‘hết sức vô nghĩa’ trong bài phỏng vấn năm 2013, và trong buổi phụng vụ đại kết đêm chúa nhật tại vương cung thánh đường thánh Phaolô Ngoại thành, ngài đã kêu gọi tất cả mọi giáo hội Kitô giáo hãy loại bỏ ‘chủ nghĩa chiêu mộ và cạnh tranh đủ loại.’

Vậy, ý là gì? Mọi người Công giáo nên cố gắng hoán cải người ta và đưa họ về Giáo hội mà, có phải vậy không?

Để mở đầu cho câu trả lời, tôi xin xác định lại những lời hùng hồn của Đức Phanxicô về chủ nghĩa chiêu mộ hoàn toàn không phải là chuyện mới. Các giáo hoàng Gioan Phaolô II và Bênêđictô XVI cũng đã có sự phân biệt như thế, gữa việc giới thiệu đức tin, được hiểu là việc tốt và là bổn phận, với việc áp đặt đức tin bằng những kỹ thuật công kích và cưỡng bức, những việc sai trái.

Nhưng với thiên hướng nắm bắt những đường hướng truyền thống rồi diễn đạt mới bằng những ngôn từ khéo léo, thì những người Công giáo đang tận tụy trong nỗ lực truyền giáo hãy nên bỏ qua một chút mơ hồ về ý nghĩa chính xác những gì giáo hoàng đang muốn nói với họ.

Mà hãy nghĩ về những chuyện này: Khi Giáo hoàng Phanxicô lên án ‘chủ nghĩa chiêu mộ’ thực sự có lẽ ngài không phải chỉ hoàn toàn nói với người Công giáo thôi đâu

Phải nhớ rằng khung quy chiếu ban đầu của Đức Phanxicô là trên cương vị một mục tử ở châu Mỹ La tinh. Trong khoảng 20 năm qua, không có phần nào trên thế giới có những chiến dịch công kích và có tổ chức nhằm chiêu mộ, cho bằng ở đây, và nhìn chung thì những người Công giáo không phải là người làm việc này.

Mà là nạn nhân thì đúng hơn.

Có thể xem việc tái phân ranh tôn giáo lớn nhất trong thế kỷ XX, chính là sự chuyển mình của châu Mỹ La tinh từ một châu lục hầu như toàn Công giáo, trở thành một siêu thị tôn giáo nở rộ, và người thu lợi lớn nhất là những người phái Phúc âm và phái Ngũ tuần.

Cha Franz Damen, người Bỉ, thuộc nhóm Khổ nạn (Passionist), là thông tín viên kỳ cựu của các giám mục Bolivia, đã kết luận rằng trong thập niên 1990, số người Công giáo cải sang Tin Lành ở châu Mỹ La tinh vào cuối thế kỷ XX, còn nhiều hơn cả suốt một thế kỷ sau cuộc Kháng cách Tin Lành nữa.

Hầu toàn bộ sự phát triển của Tin Lành ở đây đều là nhờ các phong trào vô cùng đa dạng của phái Phúc âm và phái Ngũ tuần, một số từ nước ngoài, nhưng phần nhiều là từ ngay trong lục địa này.

Tương tự như thế, một nghiên cứu về truyền giáo cuối thập niên 1990 của CELAM, Hội đồng Giám mục Mỹ La tinh và Caribbe, cho thấy trong thập kỷ qua, mỗi ngày có đến 8000 người châu Mỹ La tinh rời bỏ Giáo hội Công giáo.

Trong khi chiều hướng này đã chậm dần lại, nhưng khảo sát của hãng Latinobarometro, đặt trụ sở tại Chilê, trên 17 nước châu Mỹ La tinh, đã dự báo là đến năm 2025 sẽ chưa đến 50% người Mỹ La Tinh nhận mình là người Công giáo.

Và phải biết rằng, chính Đức Phanxicô là người đầu tiên đã nhìn nhận rằng chủ nghĩa chiêu mộ của phái Phúc âm và phái Ngũ tuần, không phải là yếu tố duy nhất chịu trách nhiệm cho sự sụt giảm người Công giáo.

Tại hội đồng giám mục Mỹ La tinh 2007, vị giáo hoàng tương lai đã chủ bút cho văn kiện tổng kết trong đó, các giám mục thừa nhận rằng khi mặc định đặc tính Công giáo cho châu lục này, cũng thường đồng nghĩa với việc Giáo hội đã không làm việc đủ siêng năng để chăm lo mục vụ cho dân mình.

Nhưng Đức Phanxicô và các giám mục Mỹ La tinh khác cũng đã phải chứng kiến chủ nghĩa chiêu mộ dữ dội hơn các nơi khác đang nhằm vào Giáo hội Công giáo.

Chẳng hạn như trong thập niên 1990, giám mục Sergio von Helde của Giáo hội Toàn thể Nước trời ở Brazil, một trong những phái Ngũ tuần lớn nhất ở châu Mỹ La tinh, đã lên truyền hình trong lễ Đức Mẹ Aparecida, thánh bổn mạng của Brazil, và đá một tượng Đức Mẹ, mà tuyên bố rằng, ‘Đây không phải là thánh!’

Sergio von Helde chỉ trích dữ dội cái mà ông gọi là sự suy đồi thờ ngẫu tượng của Giáo hội Công giáo, một luận điệu cố hữu của phái Phúc âm và phái Ngũ tuần. Màn trình diễn của ông gây phản xung từ nhiều người Công giáo Brazil, và cuối cùng, chiếu theo luật Brazil, ông bị buộc tội ‘công khai bất kính một biểu tượng tôn giáo.’

Năm ngoái, ở Ecuador, mục sư  Eduardo Mora của ‘Giáo hội Phúc âm Hiện xuống Quốc Tế Đấng Toàn Năng’ đã bị tuyên án 1 năm tù, vì tổ chức các cuộc tuần hành bài Công giáo, với các hoạt động đem ảnh tượng các thánh và Đức Trinh nữ Maria đập nát và đốt đi, đồng thời giảng các bài gay gắt chống lại Công giáo, xem Công giáo là sự báng bổ Kinh thánh.

Trong khi đường hướng của von Helde và Mora có lẽ quá cực đoan, và trong khi giữa những người Công giáo, phái Phúc âm và phái Ngũ tuần ở nhiều vùng châu Mỹ La tinh vẫn tăng tiến đối thoại, thì vẫn không thể chối bỏ sự thật là các nỗ lực truyền giáo gõ cửa từng nhà của các mục sư Tin Lành trên khắp châu lục này, đôi khi mang một khía cạnh bài Công giáo.

Tôi nhớ có lần ở Peru cách đây 10 năm, tôi đã hỏi một linh mục địa phương về quan hệ Công giáo – phái Ngũ tuần ra làm sao. Ông dẫn tôi đi, chỉ mất một ngã rẽ, là đến một nhà thờ lớn của phái Ngũ tuần, với một bảng điện tử khổng lồ, xứng đáng đặt ở Quảng trường Thời đại, đang chạy dòng chữ: “Đến mà nghe Bài giảng ngày chúa nhật về 7 tội của Giáo hội Công giáo.’

Vị linh mục bảo tôi, ‘Đó là tóm gọn cho mối quan hệ giữa chúng tôi.’

Không điều nào ở trên nói rằng Đức Phanxicô muốn giao đấu nảy lửa, dấy lên một kiểu thập tự chinh chống lại phái Phúc âm và phái Ngũ tuần. Ngược lại, ở Buenos Aires, ngài từng có chuyện nổi tiếng là để cho các mục sư của Tin Lành chúc lành cho mình trong một buổi cầu nguyện chung, và khi làm giáo hoàng, ngài vươn ra bằng đủ mọi cách, trong đó có chuyến đi đặc biệt đến viếng một nhà thờ phái Ngũ tuần của một người bạn mục sư cũ ở Argentina.

Và trong chuyến viếng thăm này, ngài có lời xin lỗi lịch sử.

‘Người Công giáo cũng góp phần bách hại và lên án người phái Ngũ tuần, gần như thể nổi điên vậy. Tôi là mục tử của những người Công giáo, và tôi xin anh tha thứ cho các anh chị em Công giáo của tôi, những người đã không hiểu và đã bị ma quỷ xúi giục.’

Nhưng, từ kinh nghiệm của mình, Đức Phanxicô cũng vẫn biết rằng chủ nghĩa chiêu mộ xấu xa đến mức nào.

Nền tảng này giúp nhưng người Công giáo đang chuyên tâm lo cho ‘Công cuộc Tân Phúc âm hóa’ nghĩa là nỗ lực thổi bùng lên lại những ngọn lửa truyền giáo của Giáo hội, sẽ thấy bớt lo lắng về lập trường của Đức Phanxicô.

Và dòng cuối xác định là, khi giáo hoàng gốc Mỹ La tinh này lên án ‘chủ nghĩa chiêu mộ’ và ‘cạnh tranh,’ thì chắc rằng, người đầu tiên mà ngài nghĩ đến không phải là những người Công giáo đang lo toan phúc âm hóa đâu.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Giáo hoàng Phanxicô – ‘Auschwitz kêu lên nỗi đau đớn khủng khiếp.’

Tweet 27-01-15Hôm 27-01, Giáo hoàng Phanxicô đã đăng câu tweet hiệp lòng với những người Do Thái thiệt mạng và chịu đau khổ trong cuộc diệt chủng tàn khốc.

Auschwitz, lò hơi ngạt giết người Do Thái trong Thế chiến Thứ II, kêu lên nỗi đau đớn khủng khiếp và kháng nghị để có một tương lai của sự tôn trọng, của hòa bình và của sự gặp gỡ giữa các dân tộc.

Xin dẫn lại đây, cuộc trao đổi của ngài thời còn là Tổng giám mục Buenos Aires, với giáo sỹ Skorka, trích trong sách ‘TRÊN TRỜI VÀ DƯỚI ĐẤT,’ chương 24, ‘VỀ CUỘC DIỆT CHỦNG NGƯỜI DO THÁI’ để có cái nhìn sâu sắc hơn về tội ác khủng khiếp từng xảy ra trong lịch sử nhân loại này, cũng như hiểu thêm về tinh thần đại kết chung lòng cảm thông của ngài.

Skorka: Shoah 87 (tiếng Do Thái), hay Holocaust, hay cuộc diệt chủng người Do Thái do Đức quốc xã thực hiện, là môt chủ đề vô cùng quan trọng. Có một câu hỏi thường được đặt ra là ‘Thiên Chúa ở đâu trong cuộc diệt chủng người Do Thái?’ – và chúng ta phải đặt ra câu hỏi này một cách hết sức cẩn thận. Là thế bởi đôi khi chúng ta thích nói rằng mình là những hiện hữu với ý chí tự do, nhưng có những lúc lại dễ chất vấn T-Chúa là Ngài ở đâu và tại sao Ngài chẳng làm gì trước sự hung bạo đến thế của con người. T-Chúa ở đâu trong cuộc diệt chủng người Do Thái? Tôi tin là có những câu hỏi mà chúng ta không cần phải trả lời. Có những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ có thể hiểu được, nhưng rõ ràng là trước khi hỏi T-Chúa rằng Ngài ở đâu trong cuộc diệt chủng Do Thái, chúng ta phải hỏi xem con người đã ở đâu lúc đó, cả những người đã có hành động ngăn cản và những người nhẫn tâm và ác độc đã không hành động gì – cũng như những người đã ra tay giết người và những người làm lơ chuyện đó. Shoah không bùng lên bởi cơn thịnh nộ do một biến cố nào đó, mà là một mưu đồ bắt rễ sâu trong văn hóa Âu châu nhắm đến việc hủy diệt toàn bộ một nhóm người chỉ đơn giản vì họ là người Do Thái.

Bergoglio: Câu hỏi trên về Thiên Chúa không phải là điều gì mới. Tôi nhớ có một lần, lúc đó chắc tôi khoảng mười hai mười ba tuổi, khi chúng tôi đang đến dự lễ cưới với gia đình, thì nghe tin mẹ của chú rể vừa chết do cơn đau tim, có lẽ là bởi quá phấn khích. Chúng tôi chạy đến nhà bà ấy và đến nơi, chúng tôi gặp anh con rể, và nghe anh lầm bầm: ‘Và họ nói là có Chúa đấy.’ Kitô giáo cũng đã sống qua những thời điểm bất hạnh và bị ngược đãi. Tôi đồng ý là có những câu hỏi mà chúng ta không cần phải trả lời. Chúng ta luôn luôn muốn thoải mãn với một lời giải thích, như trẻ con vào cái thời cứ luôn miệng hỏi ‘tại sao’ vậy. Trẻ con không nghe câu trả lời và lại đưa ra một câu hỏi mới, những gì chúng muốn là được cha mẹ chú ý đến mà thôi. Về những câu hỏi khác mà anh đã nhắc đến – Con người đã ở đâu? – câu hỏi này đúng là sự mâu thuẫn lớn nhất cho tình đoàn kết nhân loại thời đó. Những người cầm quyền phủi tay, họ ngoảnh mặt đi, bởi họ biết nhiều hơn những gì họ nói, cũng hệt như khi họ phủi tảy trước cuộc diệt chủng những người Armenia vậy. Vào thời đó, đế chế Ottoman vẫn còn hùng mạnh, và thế giới lại đang có thế chiến, nên họ ngoảnh mặt quay đi. Shoah là diệt chủng, cũng như những cuộc diệt chủng khác trong thế kỷ XX, nhưng nó có một yếu tố riêng biệt. Tôi không muốn nói rằng đây là yếu tố chính yếu, còn những cái khác chỉ là thứ yếu, nhưng đây là một yếu tố riêng biệt, là một cấu trúc thờ ngẫu tượng chống lại người Do Thái. Chủng tộc thuần chủng, các cá thể thượng đẳng, là những ngẫu thần cho nền tảng mà Đức quốc xã xây dựng. Đây không chỉ là vấn đề địa chính trị, mà còn là vấn đề văn hóa và tôn giáo. Mỗi người Do Thái mà họ giết là một cái vả dưới danh nghĩa của những ngẫu thần vào mặt Thiên Chúa hằng sống. Không lâu về trước, tôi có đọc một quyển sách, và thật khó nuốt trôi bởi nó khiến tôi buồn nôn, sách đó được Primo Levi đề tựa và có tên là Sỹ quan trại Auschwitz, được viết bởi Rudolf Hoss, một cộng tác viên của những trại tập trung này viết lúc đang ở tù. Sự lạnh lùng trong cách Rudolf mô tả những gì đã xảy ra đã cho thấy bản chất ma quỷ của vấn đề này. Ma quỷ đã hiện diện trong những ngẫu thần làm tê liệt lương tâm con người.

Skorka: Anh đã chạm đến một chủ đề nhạy cảm – có lẽ là chủ đề quan trọng nhất liên quan đến Shoah. Không lâu về trước, báo chí đưa tin là giám mục Krakow phát biểu rằng Shoah là chuyện riêng của người Do Thái, và như thế là hạ thấp sự thực rằng nó cũng gây hại cho những dân tộc khác nữa.  Có những người lập luận rằng và sáu triệu người Do Thái bị tàn sát đó chỉ là một phần nhỏ trong năm mươi triệu nạn nhân của Thế chiến II. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là những người Do không chết vì đấu tranh cho những động cơ chính trị và họ cũng không thuộc quân đội nào hết. Khi bất chấp điều này, những lý lẽ như trên chẳng thể bào chữa gì và chỉ gây ghê tởm mà thôi. Shoah là chuyện tàn sát người chỉ đơn giản là bởi họ thuộc một nhóm người đặc thù cùng chia sẻ một nền văn hóa và đức tin. Có lẽ những kẻ thủ ác tin rằng họ đang thách thức Thiên Chúa của Israel. Có lẽ đó là lý do vì sao cuộc tàn sát này lại được gọi là Holocaust (holo nghĩa là ‘lễ tế’ và causto nghĩa là lửa, hay lễ vật bị ném vào lửa). Bất kỳ ai đọc đến cái tên này đều có thể hợp lý mà xem tội ác này là việc sát tế những người Do Thái cho các thần ngoại do Đức quốc xã dựng nên. Trong tiếng Do Thái, cuộc diệt chủng này được gọi là Shoah, một từ gốc kinh thánh nghĩa là ‘tàn phá’ để chắc rằng chúng ta thấy rõ những gì đã xảy ra. Đó là một sự tàn phá con người được thực hiện bởi những con người khác. Ở Ba Lan, có vô số nạn nhân chiến tranh, nhưng họ không giống như những nạn nhân trong Shoah. Điều này là bởi những người Ba Lan, Lativa, Lithuania, và Ukraina đã được đưa đến những trại tập trung và được trưng cho thấy phần xấu xa trong con người mình qua việc tham gia vào việc tiêu diệt và hủy hoại người Do Thái. Đức quốc xã cố gắng xóa sạch quan niệm Do Thái – Kitô giáo khỏi thế giới. Một trong những tác phẩm của Marc Chagall trình bày Chúa Giêsu đang chịu đóng đinh với mảnh khăn tallit 88 của người Do Thái trên mình. Phía dưới chân Ngài là cây đàn menorah đang bốc cháy và đầy dẫy những cảnh bạo lực, với các hội đường bị phóng hỏa, những người Do Thái cao niên đang chạy trốn, cố gắng cứu những cuộn giấy thánh của kinh Torah, cùng những phụ nữ và trẻ con đầy sợ hãi đang bỏ chạy. Tôi luôn luôn nói rằng trong những trại chết chóc đó, người ta không chỉ giết sáu triệu người Do Thái, nhưng họ là họ giết Chúa Giêsu sáu triệu lần. Điều này là bởi nhiều ý tưởng và thông điệp của Chúa Giêsu mang tính Do Thái vì Ngài mang trong mình những thông điệp của các Ngôn sứ.

Bergoglio: Đây đúng là một niềm tin rất Kitô giáo. Chúa Giêsu có trong tất cả mọi người chịu đau khổ. Trong đau khổ của mình, chúng ta làm tròn những gì còn thiếu trong Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô.

Skorka: Trong tư tưởng của kinh Talmud cũng vậy. Khi chúng tôi nghiên cứu về án tử hình trong bản văn Sanhedrin, thì thấy rằng ngay cả khi một phạm nhân bị xử tử, T-Chúa cũng cùng chịu đau khổ với người đó. 89   Thậm chí ngay thời khắc hành hình, T-Chúa vẫn ở với người đó. Tôi hết lòng đồng ý với anh về điều này.

Bergoglio: Trong quyển sách mà tôi vừa nhắc đến ở trên, tôi khám phá ra nhiều điều thật kinh khủng. Họ nhổ răng, cắt tóc của người Do Thái, và khủng khiếp nhất là lại chọn ra một người Do Thái khác để làm những việc đó. Họ muốn dẫn dắt những người Do Thái bỏ đạo, và đó còn là một cách để đổ lỗi cho những người Do Thái. Một chi tiết xấu xa nữa là khi làm như thế, thì đó không còn là tội của Đức quốc xã nữa, mà là tội của chính những người Do Thái. Sự xảo quyệt và thù hận ẩn sau trò ma quỷ này.

Skorka: Anh à, anh nghĩ gì về những hành động của Giáo hội thời đó?

Bergoglio: Một vài năm về trước, Hồng y Clemens August Von Galen đã được phong chân phước vì đã đứng lên đương đầu với Đức quốc xã. Tôi không biết ngài đã giữ mạng bằng cách nào, nhưng ngài là một giám mục đầy dũng cảm ngay từ đầu đã lên án việc làm của Đức quốc xã. Giáo hoàng Pio XI nói tiếng Đức thành thạo và ngài đã viết một tông thư bằng tiếng Đức, mà cho đến ngày nay vẫn không mất đi tính thời sự. Tông thư bắt đầu như sau, ‘Với sự lo ngại sâu sắc …’ Lúc đầu có lẽ có những giám mục khá ngây thơ, không tin là tình thế đang rất thê thảm như vậy. Ở đất nước chúng ta cũng vậy, một số lên tiếng ngay lập tức, số khác chậm hơn, mọi chuyện vẫn chưa thật rõ ràng. Khi Vatican nhận rõ tình thế, họ bắt đầu cung cấp hộ chiếu cho những người Do Thái. Khi giáo hoàng Pio XII mất, Golda Meir gởi một lá thư cám ơn ngài đã cứu mạng nhiều người Do Thái. Tòa sứ thần Tòa thánh ở Italy đã mở một nhà ở Roma, với khuôn viên do một người Do Thái giàu có dâng tặng để cám ơn vì Giáo hội đã hành động thay cho ông. Một vài người sống sót gởi thư đến cảm ơn Đức Giáo hoàng. Vatican có những ngôi nhà đặc quyền ngoại giao ở Ý, để che dấu nhiều người Do Thái thời đó. Đây là tôi đang nói về mặt tích cực. Mặt khác, tôi cũng nghe rằng Giáo hội đã không tuyên bố đủ những gì cần phải nói. Một vài người tin rằng, nếu làm như thế, thì phản ứng sẽ tệ hơn nhiều và sẽ chẳng thể cứu được ai. Người ta nói rằng, để bảo vệ cho vài người Do thái, thì những tuyên bố cần phải cẩn trọng hơn. Ai mà biết được liệu chúng tôi có làm được thêm gì nữa hay không. Gần đây, một vài sử gia nghiêm túc, trong số đó có một tu sỹ dòng Tên, đã xuất bản những nghiên cứu thấu đáo bào chữa cho hành động thời đó của Giáo hội.

Skorka: Đó chính là vấn đề, anh à. Liệu có thể làm được hơn thế hay không? Tôi có một giai thoại hay muốn chia sẻ về Von Galen, giám mục Đức ở Munster. Fritz Steinthal, giáo sỹ sáng lập cộng đồng của tôi bây giờ, là một người Đức đã sống sót qua vụ Kristallnacht, xảy ra vào sáng sớm ngày mồng 9 và mồng 10 tháng 11 năm 1938, khi Phát xít phá hoại hầu hết các hội đường và nơi mua bán của người Do Thái trên nước Đức. Trong hồi ký của mình, giáo sỹ Steinthal có nhắc đến sự cảm kích dành cho Von Galen và những linh mục Kitô giáo khác đã cứu những người Do Thái khi tính mạng họ bị đẩy đến bờ vực. Còn những hành động của Giáo hoàng Pio XII trong suốt Shoah, thật khó để nêu ra ý kiến cuối cùng cho ngài, bởi người ta vừa có những ủng hộ vừa có những chống đối dành cho ngài. Cũng như có lá thư của Golda Meir mà anh vừa nhắc đến, thì cũng có những quyển sách lên án ngài đã không lên tiếng cho đủ trong mức độ có thể. Hội đồng Do Thái Toàn cầu đang yêu cầu Vatican mở văn khố để xem xét. Tôi nghĩ rằng sẽ tốt cho mọi người có liên quan đến việc này nếu chúng ta điều tra những gì đã xảy ra cho đến tận những chi tiết nhỏ nhất và xem lại mọi thứ nhiều lần cho đến khi thấy được những lỗi lầm mà chúng ta đã mắc phải. Đó là cách duy nhất để chắc rằng chuyện này sẽ chẳng lặp lại lần nữa. Tôi tin rằng việc tự phê phán, một cách rõ ràng và được chứng thực, là cách duy nhất để chúng ta tiến lên.

Tôi không biết đủ về những lý lẽ thần học phía sau đánh giá ủng hộ phong chân phước cho giáo hoàng Pio XII, và tôi cũng không chút hoài nghi rằng ngài là một lãnh đạo rất quan trọng trong Giáo hội. Nhưng mối hoài nghi lớn nhất của tôi là làm sao mà ngài lại giữ thinh lặng khi biết về Shoah? Điều gì ngăn không cho ngài lớn tiếng thét lên giận dữ? Các ngôn sứ đã kêu vang chống lại những bất công dù là nhỏ nhất. Nếu ngài đã lên tiếng, thì mọi chuyện đã thay đổi thế nào đây? Liệu lương tâm con người ta có được thức tỉnh hay không? Liệu lính Đức có quay mũi súng nhiều hơn hay không? Tôi không nói về những gì đã có thể xảy ra, tôi chỉ đang cố đặt mình vào địa vị những người chịu đau khổ, những người không có tiếng nói, tôi chỉ muốn làm như thể mình đang nói chuyện với họ và chia sẻ nỗi đau cùng họ. Chẳng lẽ nên cứu sống một số người nếu việc đó đòi hỏi phải bỏ rơi số còn lại hay sao? Theo luật Do Thái, khi quân thù vây hãm thành phố và tuyên bố nếu không giao nộp cho chúng một người vô tội, chúng sẽ giết hết tất cả mọi người, thì khi đó cả thành phố sẽ chọn cùng chết chung với nhau. Không một ai có quyền chọn xem ai được cứu và ai bị bỏ mặc.

Bergoglio: Những gì anh nói về việc mở kho lưu trũ liên quan đến Shoah thật hợp với tôi hoàn toàn. Họ nên mở văn khố và làm rõ mọi thứ. Rồi sẽ thấy được liệu lúc đó người ta có thể làm được những gì, và đến đâu, cũng như nếu chúng ta có sai trong chuyện gì thì chúng ta có thể nhìn nhận: ‘Chúng ta đã nhầm trong chuyện này.’ Chúng ta không phải sợ việc này. Mục tiêu chúng ta nhắm đến phải là sự thật. Khi một ai đó bắt đầu giấu diếm sự thật, thì họ đang lờ đi Kinh thánh. Người ta tin vào Thiên Chúa,

nhưng chỉ đến một mức nào đó mà thôi. Và như thế là không được. Chúng ta không được quên rằng, mình là những tội nhân và không thể ngừng phạm tội, dù cho sự thật là Thiên Chúa chẳng muốn như thế, Ngài yêu chúng ta với hết lòng thương của Ngài, nhưng nếu tôi không nhận ra mình là tội nhân, thì lòng thương xót của Ngài không đến được trong tôi, không chạm được tôi. Chúng ta phải biết được sự thật, và tiếp cận được những tài liệu lưu trữ đó.

Skorka: Một chủ đề gây tranh cãi giữa Do Thái và Vatican là quyết định của giáo hoàng Benedict XVI cho phép các cộng đoàn nhất định lại được cầu nguyện xin cho người Do Thái hoán cải trở lại Kitô giáo.

Bergoglio: Lời cầu nguyện này nguyên bản trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa rất mạnh: ‘Chúng con cầu cho những người Do Thái bội bạc … ‘ dù cho trong tiếng La tinh tính từ này chỉ có nghĩa là ‘những người không có đức tin,’ và giáo hoàng Gioan XXIII đã xóa nó đi rồi.

Skorka: Giáo hoàng Gioan XXIII là người đã tạo điều kiện cho đối thoại toàn cầu. Mọi chuyện bắt đầu khi còn là sứ thần tòa thánh ở Thổ Nhĩ Kỳ, ngài đã cứu nhiều người Do Thái bằng cách cấp cho họ chứng nhận rửa tội. Khi đắc cử giáo hoàng, ngày đã thúc đẩy sự thay đổi mang tính trọng đại. Nơi ngài, chúng ta thực sự có thể nhìn thấy những ý nghĩa của đời mục vụ. Giáo hoàng Gioan XXIII là người đã có hành động, đã ra tay, đã lên tiếng và chịu lấy nguy hiểm. Câu hỏi lớn đặt ra là liệu giáo hoàng Pio XII có thực sự mạo hiểm hoàn toàn hay không, không chỉ là cho những người Do Thái mà là cho toàn thể thế giới nữa. Tôi muốn dấn thêm một bước nữa – tôi tự hỏi liệu ngài có mạo hiểm đủ nhiều trong mức có thể, cho Giáo hội hay không? Có những thời trong đời anh phải có những hành động đặc biệt, bởi nếu không làm thế, thì anh định lúc nào sẽ làm nữa đây? Đó là những câu hỏi mòn mỏi của tôi.

Bergoglio: Tôi đã nhiều lần nghe rằng giáo hoàng Gioan XXIII đã cấp những giấy rửa tội giả cho người Do Thái, nhưng tôi chưa tự mình xác thực chuyện đó.

Skorka: Thật sự thì tổ chức Raoul Wallenberg có đủ tất cả tài liệu chứng minh việc này có thật. Một trong những nhiệm vụ của tổ chức này là công cáo những hành động anh hùng của các đại sứ và những yếu nhân khác đã mạo hiểm tính mạng vì người Do Thái. Có lẽ, để hiểu hơn những gì đã diễn ra, chúng ta phải nhìn vào từng nền tảng và thể loại giáo dục của hai giáo hoàng trên. Pio XII được dưỡng dục ở vùng phụ cận Vatican và gia đình ông cũng có liên hệ với Tòa thánh. Ông là một thành viên của nhóm người tin rằng bất kỳ điều gì cũng có thể đạt được qua ngoại giao, và nếu ngoại giao không giải quyết được thì chẳng còn cách nào khác nữa. Còn Roncalli, hay giáo hoàng Gioan XXIII, xuất thân từ gia đình bình thường trong một ngôi làng nhỏ, nơi người ta được dạy cho biết tầm quan trọng thế nào của việc chăm lo cho người khác bằng những giải pháp nhanh chóng và thực tế, một điều hoàn toàn đối lập với thuật ngoại giao. Có lẽ chính điều này là nguyên do tạo nên sự khác biệt giữa hai vị giáo hoàng.

Bergoglio: Tôi nhấn mạnh, chúng ta phải đọc lại những gì có trong văn khố, để xem liệu có cách nhìn sai lầm nào hay điều gì khác nữa hay không. Tôi chẳng có các chi tiết cụ thể trong tay. Cho đến bây giờ, những gì tôi biết dường như ủng hộ mạnh mẽ cho giáo hoàng Pio XII, nhưng tôi cũng nhận ra rằng không phải toàn bộ tài liệu lưu trữ đều được công cáo. Hơn nữa, anh đã đúng: Giáo hoàng Gioan XXIII, cho đến tận giờ chết, vẫn luôn là một lão nông. Khi ngài qua đời, em gái ngài đặt khăn lạnh tẩm giấm lên đầu ngài, y hệt như phong tục quê ngài vậy.

Skorka: Giáo hoàng Pio XII không chú tâm lắm về đối thoại Do Thái – Kitô giáo. Ngài thực sự không muốn chuyện này. Sau  Thế chiến II, có nhiều thành viên trong giáo hội tích cực hành động để thay đổi thái độ này. Nhưng sự thay đổi chỉ đến khi giáo hoàng Gioan XXIII đắc nhiệm. Người ta kể rằng, khi đón phái đoàn đại diện từ Hội đồng Do Thái Toàn cầu, ngài đã vươn tay ra và nói, ‘Tôi là người anh em Giuse của anh em đây.’ Đó là câu mà Giuse đã dùng để làm lành với anh em mình. Rõ ràng, không phải lúc nào mọi chuyện cũng được như thế. Vì nhiều nguyên do khác nhau, đã có một tình trạng thù địch nhất định giữa hai bên. Có nhiều sách ghi lại những cảm thức bài Do Thái, vốn tồn tại trong nhiều phái Kitô giáo khác nhau cho đến tận cuối thế kỷ XX. Có những linh mục đã giảng chống lại chúng tôi, trong khi số khác lại giữ được một tình đối thoại thực sự và đầy tôn trọng. Có những thời điểm lịch sử, người ta vung thánh giá mà kích động dân chúng mở cuộc tàn sát người Do Thái và còn những hành động bạo lực tội ác khác nữa. Có vài tạp chí ở Argentina vào thập niên 1920 và 1930 đã tự tuyên bố mình là tạp chí Công giáo và rao giảng về lòng thù hận đối với dân Do Thái.

Còn ngày nay, tôi tin rằng mức độ đối thoại của hai chúng ta đã phá vỡ những vòng luẩn quẩn này, mang lại một khởi đầu tươi mới cũng như nhắc nhở chúng ta về những di sản mà chúng ta cùng sẻ chia. Nếu có một số người tin rằng Chúa Giêsu là T-Chúa làm người, và chúng tôi lại nói rằng T-Chúa chẳng làm thế đâu bởi không một người phàm nào có thể tái hiện T-Chúa trong hình dạng xác thịt, thì sự bất đồng này không phải là lý do để oán giận hay huyết thù. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ biết được sự thật, nhưng lúc này, chúng ta có thể và phải hành động cùng nhau. Những nền tảng đạo đức của chúng ta vốn có nhiều điểm tương đồng sẽ gắn kết chúng ta lại với nhau.

Người ta có thể dễ dàng liên kết những gì được dạy trong các Tin Mừng với các quan điểm của những hiền nhân Talmud. Nhiều phong trào bài Do Thái trong lịch sử là do sự xúi giục bởi lòng thù ghét của những kẻ cơ hội hay vì những lý do chính trị. Ví dụ như, ở Nga, khi Sa hoàng Alexander II bị ám sát, người ta đổ tội cho người Do Thái, rồi các nhà thờ bị lợi dụng cho các mục đích chính trị nhằm kích đông đám đông. Chẳng có gì phải hoài nghi về chuyện này, đây là sự thật đã được chứng minh. Vấn đề bây giờ là, ‘Làm sao để chúng ta tái khởi đầu?’ Nếu hai tôn giáo cùng muốn một điều, chính là một thế giới hòa bình, thì mỗi bên phải giữ lấy những gì tốt nhất trong truyền thống của mình và đi đến hòa hợp với bên kia. Chúng ta có thể giúp xây dựng cho nhau. Diễn văn khánh thành của Abraham Yehuda Ileschel tại Chủng viện Thần học Hiệp nhất, một tổ chức Tin Lành ở New York, đã kêu gọi rằng ‘Không Tôn giáo nào là một hòn đảo.’ Chúng ta không thể xa cách và tách rời như trước Thế chiến II được. Những thông điệp của chúng ta phải có điểm chung và cùng nhắm đến lợi ích cho tất cả mọi người, không phải là để theo đuổi việc thay đổi căn tính của người khác nhưng là để kéo chúng ta lại gần nhau hơn.

Bergoglio: Có một đoạn trong Công đồng Vatican II mang tính cốt yếu, nói rằng Thiên Chúa tỏ mình cho tất cả những ai giải cứu, trước hết là, Dân được Chúa chọn. Do Thiên Chúa trung tín với lời hứa của mình, Ngài không bỏ họ. Giáo hội chính thức nhìn nhận rằng dân Israel tiếp tục là Dân được Chúa chọn. Không có điểm nào nói theo kiểu: ‘Anh đã thua cuộc, bây giờ là lượt của chúng tôi.’ Chúng tôi nhìn nhận Dân Israel. Tôi cho rằng, đó là điều dũng cảm nhất trong Công đồng Vatican II về vấn đề này. Hơn nữa, không thể buộc tội Dân Do Thái về việc giết Thiên Chúa nữa, bởi chuyện đã lâu lắm rồi. Khi đọc trình thuật về cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu chúng ta thấy rõ ràng như thế. Nó cũng như thể toàn dân Argentina bị buộc tội vì một điều hành sai phạm của chính phủ vậy.

Skorka: Trong thực tế, chính quyền thời đó thậm chí không nằm trong tay người Do Thái. Phonxio Philatô và người Roma mới là những người ra quyết định về mặt chính trị. Trên đỉnh thập giá treo Chúa Giêsu, họ đặt một bảng với chữ INRI90 nghĩa là ‘Vua dân Do Thái’. Nếu Chúa Giêsu thật là Vua dân Do Thái, thì như thế nghĩa là Ngài đã phá mòn nền tảng của cầm quyền Roma. Ngoài ra, đóng đinh thập giá cũng không phải là kiểu tử hình của dân Do Thái. Hơn nữa, vào thời đó, tòa Sanhedrin 91 đã không còn áp dụng án tử hình. Và thậm chí nếu những ý kiến trái ngược với những điểm này là thật, thì dân thời đó cũng không thể để chuyện này xảy ra trong dịp lễ Vượt qua. Và thậm chí nếu một vài người Do Thái có danh tiếng vào thời đó đã nói rằng Chúa Giêsu không phải là con T-Chúa, thì nhiều thế hệ về sau lấy quyền gì mà đổ lỗi cho con cháu của họ chứ?

Bergoglio: Thật sự, anh không thể nói theo kiểu cả một dân giết Thiên Chúa, nhưng có một điểm mà chúng ta có nhắc đến, và tôi không muốn bỏ qua nó. Anh đã nói rằng ở Argentina này, cũng có việc bài Do Thái do tay giáo hội. Tôi không có những trải nghiệm của giáo hoàng Gioan Phaolô II, khi ngài có đến phân nửa bạn học là người Do Thái, nhưng tôi cũng có những người bạn Do Thái. Có lẽ một trong số họ bị gọi là ‘người Nga’, như chúng tôi thường gọi những gười Do Thái như thế khi còn nhỏ. Tôi chẳng bao giờ có vấn đề gì với những bạn học Do Thái cả. Hiện giờ, và trong quá khứ, cũng có những người Công giáo bài Do Thái, nhưng không độc ác như trong thập kỷ 1930, khi một vài thành viên giáo hội đã đi quá xa như thế. Ngày nay, chính sách của giáo hội Argentina rất rõ ràng, là đối thoại liên tôn giáo. Người ta phải thừa nhận rằng những người tiên phong trong hướng này chính là các Hồng y Jorge Mejia và Antonio Quarracino.

Skorka: Mejia đã cùng làm rất nhiều việc với Marshall Meyer. Cùng với nhau họ sáng lập Institute Superior de Estudios Religiosos 92, hay Học viện nghiên cứu tôn giáo.  Cũng vậy nơi chôn cất Quarracino có trưng bày những đoạn của các quyển kinh Do Thái được thu lại từ những trại tập trung cùng với những tài liệu khác về Shoah. Ông muốn đặt những vật đó nơi mộ ông, trong nhà thờ chính tòa Metropolitan.

Bergoglio: Cũng có một vài nhóm nhất định gây áp lực để bỏ những vật đó đi,và chuyển đến bảo tàng của nhà thờ chính tòa, nhưng tôi không chấp thuận, và giữ y như cũ.

___________________________________________________________________________

  1. Từ Do Thái nghĩa là ‘tàn phá’ được dùng để chỉ Holocaust, cuộc diệt chủng người Do Thái của Đức quốc xã.
  2. Một khăn cầu nguyện theo nghi lễ của người Do Thái.
  3. Mishna Sanhedrin 6, 5
  4. Iesus Nazarenus Rex Iudaeroum
  5. Đây là tên trong tiếng Do Thái cổ để chỉ hội đồng các hiền triết bao gồm 23 thẩm phán trong mỗi thành phố Do Thái. Tòa Sanhedrin tối cao là tòa thượng thẩm với 71 thành viên chọn ra trong dân Israel.
  6. Institute Superior de Estudios Religiosos (ISER) hay Viện Nghiên cứu Tôn giáo, là một viện được lập bởi người Công giáo, Tin Lành và Do Thái giáo. Được thành lập năm 1967, nhằm thăng tiến sự hòa hợp và thông hiểu lẫn nhau, nhưng cũng là để phân tích hiện trạng quốc gia dưới cái nhìn thần học. Viện này lúc thành lập có những cá nhân xuất sắc chẳng hạn như thần học gia Công giáo Jorge Mejia, người ba mươi năm sau được tấn phong hồng y. Người sáng lập lớn của ISER lúc khởi đầu là Giáo sỹ Do Thái Marshall Meyer.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Hãy ‘thực tế’ cùng Giáo hoàng Phanxicô

paul vi - francis - childRobert Mickens  |  26 – 01 – 2015

“Mọi chuyện đều phụ thuộc vào cách bạn diễn giải tông huấn Đời sống Con người.”

Điều tiên quyết là phải hiểu giáo hoàng Phanxicô ‘thực sự có ý gì’ trong một loạt những nhận định mới đây về chuyện con cái.

Mà đây đúng là một đường hướng của chính giáo hoàng.

Ngài đã thể hiện trong bài phỏng vấn hồi tháng 3 năm ngoái với tờ nhật báo Ý, Corriere della Sera. Biên tập viên đã hỏi giáo hoàng liệu giáo hội có nên nhìn lại giáo huấn trong tông thư của Đức Phaolô VI. ‘Hồng y Martini đã nghĩ rằng đến lúc rồi đó,’ biên tập viên thêm một câu khiêu khích.

Và giáo hoàng trả lời: ‘Tất cả dựa vào cách diễn giải tông thư Đời sống Con người.’

Và bắt đầu đáng chú ý rồi đây. ‘Chính Đức Phaolô VI, đã thúc giục các linh mục giải tội hãy có lòng rất thương xót, để tâm đến các trường hợp cụ thể.’ Rồi Đức Phanxicô nhận định vị tiền nhiệm của ngài ‘có tính ngôn sứ’ và khen ngợi vì ngài đã có ‘dũng cảm để đứng lên đương đầu với đa số, để bảo vệ khuôn khổ đạo đức … và chống lại chủ nghĩa tân Malthus đương thời và tương lai.’

Đức Phanxicô kết câu trả lời bằng cách xác định rằng, vấn đề không phải là có thay đổi giáo huấn của tông thư hay không, nhưng là ‘bảo đảm chăm lo mục vụ cho các tình trạng cụ thể và những gì người đó có thể làm được.’

Buổi phỏng vấn này cho chúng ta một chìa khóa diễn giải để lĩnh hội được ý của giáo hoàng dòng Tên này khi ngài nói cụ thể về chủ đề kiểm soát sinh sản. (Cho đến trước chuyến công du Phi Luật Tân, ngài hiếm khi nhắc đến.)

Còn có một chìa khóa diễn giải khác nữa. Đó là một nguyên tắc mà ngài đã đặt ra trong tông huấn Niềm vui của Tin mừng, và đã nhiều lần nhắc lại: ‘Thực tế thì cao hơn ý niệm.

Có 2 phương thế thiết yếu để hiểu được cách Giáo hoàng Phanxicô diễn giải tông thư Đời sống Con người.

Trước hết, là những nhận định của ngài lúc ở Phi Luật Tân, trên chuyến bay về Roma, và cuối cùng là trong buổi tiếp kiến chung liền ngay sau đó, tất cả đều cho thấy một điều: giáo hoàng là người thực tế.

Thực tế thì quan trọng hơn ý niệm – hay lý tưởng. Và Jorge Mario Bergoglio biết rõ điều này. Ngài đã gắn bó với hiện thực mỗi ngày của đời sống dân mình bằng hết sức của một giám mục. Ngài biết nhiều người Công giáo đã khó khăn trong việc đón nhận giáo huấn của tông thư về kiểm soát sinh sản nhân tạo, và nhiều người đã đơn giản bác bỏ tông thư này.

Về phần mình, hay đúng hơn là nghĩ cho phần các cặp vợ chồng, ngài cũng tin rằng tông thư có nhiều điều để nói với chúng ta về những giá trị cao quý, chứ không phải chỉ việc chống dùng thuốc tránh thai và bao cao su. Trong diễn giải của Đức Phanxicô, thông điệp của tông thư này với các cặp vợ chồng Công giáo phải là hãy sống quảng đại và trách nhiệm. Về căn bản, thông điệp là, ‘Đừng ích kỷ! Đừng vô trách nhiệm!’ Tông thư kêu gọi mọi người hướng đến những nhân đức cao hơn, dù cho người ta có vấp váp khi cố gắng sống các nhân đức đó.

Đức Phanxicô biết rằng, thực sự mọi người là như vậy. Và Đức Phaolô VI cũng biết rõ là thế. Do đó, ngài kêu gọi các linh mục hãy hết sức có lòng thương với những người vấp phải vấn đề này. Dù bạn có đồng ý với ngài hay không, thì có vẻ như giáo hoàng vẫn nghĩ rằng không cần phải thay đổi một giáo huấn vững vàng. Ngài tin rằng, điều quan trọng hơn chính là phải hiểu được ý nghĩa cao quý hơn của văn kiện này.

Thứ hai, Đức Phanxicô xem giáo huấn của Đời sống Con người là nguyên tắc căn bản trong việc bảo vệ người nghèo. Theo ngài, đặc tính ngôn sứ thực sự của thông điệp gây nhiều tranh cãi này (được viết cách đây nửa thế kỷ) chính là tầm nhìn xa, chống lại thuyết tân Malthus, quan niệm cho rằng phải kiểm soát tăng trưởng dân số. Mà các xã hội nào thực hiện các mục tiêu kiểm soát dân số gắt gao nhất? Các xã hội nghèo và các nước nghèo.

Giáo hoàng bác bỏ những lập luận cho rằng giảm dân số thực sự xoa dịu được nỗi cùng khổ, thiếu đói, nghèo nàn của nhân loại, và còn cần thiết hơn về mặt môi trường. Ngài cũng lặp lại nhiều lần rằng, sự thật đã được khoa học chứng minh cho thấy có đủ thức ăn trên thế giới cho tất cả mọi người. Ngài cũng nhiều lần lên tiếng cho rằng cần phải phân bổ đúng đắn hơn các của cải và lợi ích, cũng như cần phải có nền giáo dục tốt hơn. Đây là câu trả lời của ngài cho chủ nghĩa tân Malthus, mà ngài xem là một lời đáp ích kỷ và vô trách nhiệm của những người giàu trên thế giới dành cho các anh chị em nghèo của họ. Với ngài, đơn giản là không thể chấp nhận được sự tai ác rằng một thiểu số rất nhỏ cứ giàu có, còn đa số lại phải sống trong cảnh nghèo đói. Theo quan điểm của Giáo hoàng Phanxicô, các chương trình kiểm soát dân số chẳng là gì ngoài một nỗ lực cố gắng hạ thấp nạn đói nghèo bằng cách hạ thấp con người.

Trong chuyến công du Phi Luật Tân, như lâu nay vẫn vậy, ngài đã dùng những lời sắc sảo và hình ảnh sinh động, để cố gắng nêu bật ra những điểm này và những điểm khác nữa sao cho thật dễ hiểu. Nhưng một vài người yêu mến ngài lại lo lắng ngài sẽ hơi thái quá và thiếu suy tư trong những lúc tự do bình luận tự phát. Còn những người khó chịu với triều giáo hoàng của ngài, thì công khai cáo buộc ngài đã gây mơ hồ xáo trộn.

Nhưng, những nhận định của ngài về việc mang thai, tỷ suất sinh và thậm chi cả hình ảnh ‘sinh như thỏ’ phải được hiểu trong một bối cảnh rộng hơn và quan trọng hơn. Đến đây, sẽ hữu ích khi nhớ lại một câu châm ngôn khác nữa của giáo hoàng Phaxicô: ‘Toàn thể thì cao hơn các bộ phận.’

Robert Mickens là tổng biên tập của Global Pulse. Từ năm 1986, ông sống ở Roma, nghiên cứu thần học tại Đại học Giáo hoàng Gregory, trước khi làm việc cho Vatican Radio trong 11 năm, rồi sau đó làm thông tín viên cho The Tablet of London.

 

J.B. Thái Hòa dịch

Thực thi ý Chúa

Thực thi ý ChúaGiáo hoàng Phanxicô nói rằng chúng ta phải cầu nguyện với Chúa mỗi ngày để xin ơn hiểu được ý Ngài, theo ý Ngài, và thực hành cho trọn.  Đây là thông điệp cốt lõi trong bài giảng lễ sáng thứ ba tại Nguyện đường Nhà trọ Thánh Marta.

Lấy ý từ các bài đọc trong ngày, Giáo hoàng suy niệm về một trong những tảng đá góc của đức tin chúng ta, là vâng theo ý Chúa. Đức Phanxicô giải thích, đây là con đường nên thánh cho mỗi Kitô hữu, cụ thể là chúng ta phải thực hiện ý Chúa.

‘Sự chống đối mở đầu nơi vườn địa đàng khi Ađam không chịu vâng lời.  Và sự bất tuân đó đem sự dữ đến với toàn thể nhân loại.  Và tội lỗi cũng là những hành vi bất tuân chống lại Thiên Chúa, không thực hiện ý Chúa.  Mà vâng phục lại là con đường Chúa Giêsu dạy chúng ta, không còn con đường nào khác.  Và con đường này mở đầu với Chúa Giêsu trên Trời, khi Ngài mong muốn vâng theo Chúa Cha.  Còn trên địa cầu này, con đường vâng phục mở đầu với Đức Mẹ, Mẹ đã nói gì với thiên thần truyền tin?  ‘Xin làm cho tôi theo lời sứ thần truyền,’ nghĩa là thực thi ý Chúa.  Và với lời ‘Xin vâng,’ này, Thiên Chúa mở đầu hành trình của Ngài giữa chúng ta.

Nhiều lựa chọn dọn sẵn

Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng, tuy nhiên, theo Chúa không dễ dàng gì.  Ngay cả với Chúa Giêsu, cũng đã không dễ dàng gì khi ngài phải đối mặt với cám dỗ trong hoang địa hay trong vườn Cây dầu.  Và, cũng không dễ dàng gì cho các môn đệ của Chúa, và cả cho chúng ta nữa, khi mỗi ngày chúng ta phải đối mặt với chiếc khay cám dỗ dọn sẵn có quá nhiều chọn lựa khác nhau, mà vì thế chúng ta cần đến ơn Chúa.

‘Tôi có cầu nguyện xin Chúa cho tôi khát khao thực thi ý Chúa, hay tôi tìm kiếm thỏa hiệp bởi tôi e ngại ý Chúa?  Một điều nữa là: cầu nguyện để biết ý Chúa cho tôi và cho đời tôi, cũng như lo nghĩ cho quyết định phải thực hiện ngay lúc này … có quá nhiều việc.  Cách chúng ta xử lý mọi chuyện nữa chứ … Hãy cầu nguyện xin có khát khao thực thi ý Chúa, và cầu nguyện để biết ý Chúa.  Và khi tôi biết được ý Chúa, hãy cầu nguyện lần thứ ba, để xin theo ý Chúa.  Để thực hiện thánh ý, không phải ý của tôi, nhưng là ý của Chúa.  Và tất cả những việc này thật không dễ dàng gì.’

Khát khao thực thi ý Chúa

Giáo hoàng Phanxicô kết luận rằng, chúng ta cần phải cầu nguyện để có khát khao theo ý Chúa, cầu nguyện để biết ý Chúa, và khi biết rồi, cầu nguyện lần nữa để có sức mạnh tiến tới và thực hiện ý Ngài.

‘Chúa Giêsu cho tất cả chúng ta ơn này để đến một ngày, Ngài có thể nói với chúng ta những lời mà Ngài đã nói với đám đông theo Ngài, những người ngồi quanh Ngài: ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh chị em tôi.  Bất kỳ ai thực thi ý Chúa là anh, chị, em và là mẹ tôi.’ Thực thi ý Chúa cho chúng ta dự phần vào gia đình của Chúa Giêsu, làm cho chúng ta trở nên mẹ, anh chị em của Ngài.’

J.B. Thái Hòa dịch

Chúng ta được kêu gọi để bị thế gian ghét bỏ? Giáo hoàng Phanxicô và Vấn đề Khả ái

Pope-Francis-greets-the-crowdJohn Clark

Ngay từ đầu triều giáo hoàng, Đức Phanxicô đã bị một số người Công giáo chỉ trích vì ngài được thế giới ưu chuộng. Phải thừa nhận rằng, có vẻ như nhiều người yêu thích ngài lại là những người lâu nay không có cảm tình với Công giáo, như tạp chí GQ, Time, và các buổi hòa nhạc của Eton John.

Sự khả ái này của giáo hoàng Phanxicô, khiến cho một số người Công giáo thấy khó chịu, có vẻ như thật là nhục nhã khi tảng đá thánh Phêrô lại được lòng tạp chí Rolling Stone vậy. Trong tin mừng thánh Gioan (15, 18), Chúa Giêsu đã nói rằng: ‘Nếu thế gian ghét các con, hãy biết rằng nó đã ghét ta trước.’

Nhưng liệu sự khả ái có phải là chuyện xấu đối với một giáo hoàng? Có phải sự khả ái là chuyện xấu đối với bất kỳ người Công giáo nào?

Chúa Kitô có được đại chúng yêu mến không?

Hãy bắt đầu với một câu hỏi khác: Chúa Giêsu có được yêu chuộng hay không? Để trả lời, chúng ta có thể xem trong Kinh thánh và lịch sử ghi lại những đoàn người đông đảo theo Chúa Giêsu. Tin mừng nhiều lần nói về ‘đám đông vô số’ theo Ngài. Hãy xem phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều, trong đó có 5000 người ăn, chưa kể phụ nữ và trẻ em. Xét trên tổng thể dân số Do Thái thời đó, đây là con số quá ấn tượng.

Các tin mừng (Mc 3, 9-10) nói đến chuyện thường phải giữ đừng để các đám đông đến gần Chúa Giêsu. Chúa Giêsu bị chối bỏ ở Nazareth, và bị người Pharisiêu thù ghét, nhưng nếu nghĩ rằng xét chung thì người ta không ưa Chúa Giêsu, thì thật là xuyên tạc.

Nếu Chúa Giêsu được nhiều người đời này yêu chuộng, thì câu Chúa nói trong tin mừng thánh Gioan có nghĩa gì? Thánh Augustino đã cho chúng ta một câu trả lời khả dĩ. Ngài viết rằng có những người yêu bản thân một cách bừa bãi đến độ coi khinh Thiên Chúa. Thánh Augustino thấy rằng những người này là thành phần trong cái mà ngài gọi là ‘thành đô trần tục.’

Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng nhưng người thuộc thành đô trần tục này ghét chúng ta, bởi họ ghét Ngài trước. Nhưng Chúa Giêsu không nói rằng tất cả mọi người trong thế giới đều ghét Ngài, hay ghét chúng ta.

Nếu chúng ta thực hành Đức tin của mình, người khác có thể ghét chúng ta. Nhưng phải nhớ rằng, chúng ta cũng được kêu gọi truyền phúc âm cho những người ghét chúng ta nữa. Chúng ta được kêu gọi hãy được lòng cả những người ghét chúng ta, và giúp họ đừng thù ghét nữa. Chúng ta được kêu gọi đáp trả thù ghét bằng yêu thương.

Bị ghét bỏ chỉ vì muốn như thế?

Hơn nữa, Chúa Giêsu không có ý nói rằng chúng ta phải tìm cách để bị ghét chỉ vì muốn như thế. Chúng ta không được mong muốn người ta phạm tội, dù là tội ham muốn, ghen tỵ hay giận ghét. Chúng ta có thể chấp nhận bị người khác ghét bỏ vì lòng mến Chúa, nhưng không bao giờ được hi vọng bị ghét bỏ. Xét thực tế, nếu các Kitô hữu chúng ta bị ghét bỏ, thì rất ít người sẽ thấy mến Kitô giáo qua chúng ta. Đây chỉ là một phép tính khá là đơn giản.

Nói tóm lại, người Kitô hữu, nếu cá nhân họ không bị thế giới ghét bỏ, thì không nhất thiết nghĩa là họ đang làm chuyện gì sai trái. Họ sẽ ‘biết rằng chúng ta là Kitô hữu nhờ tình yêu’ chúng ta dành cho người khác, chứ không nhất thiết bằng viêc người khác không yêu mến chúng ta.

Từ đây, chúng ta trở lại câu hỏi ban đầu. Về việc giáo hoàng được yêu chuộng, cần phải thấy rằng, thường thì người ta không phải yêu chuộng giáo hoàng Phanxicô, nhưng là yêu chuộng những ý tưởng về giáo hoàng Phanxicô. Ví dụ như, một vài người thích giáo hoàng Phanxicô vì nghĩ ngài thay đổi giáo lý. Nhưng không một ai chỉ ra được dù chỉ một giáo lý mà ngài đã thay đổi. Cũng như không mấy người chỉ ra một thay đổi khuôn khổ do tay ngài. Những người ái mộ giáo hoàng Phanxicô vì đã chuyển vần sự chính thống, là họ đang thần tượng một nhân vật hư cấu mà thôi.

Một giáo hoàng được yêu mến

Giáo hoàng Phanxicô phù hợp với việc trình bày Đức tin Công giáo đích thực. Ngài trình bày Đức tin bằng cách nhấn mạnh lòng cảm thương. Vì phẩm chất này, mà nhiều người yêu mến ngài.  Và nếu họ mến ngài vì phẩm chất này, thì thật tốt. Người ta theo lẽ tự nhiên được lôi cuốn bởi lòng cảm thương và dường như họ cực kỳ bị cuốn hút bởi lòng cảm thương của Giáo hoàng Phanxicô.

Tất nhiên, ngài không phải là người đầu tiên tập trung và lòng cảm thương. Thánh Antôn, thánh Nicola, thánh Teresa Hài Đồng Giêsu, và tất cả các thánh đều là chứng tá cảm thương, và người ta mến các thánh vì lẽ đó. Khi thực hành cảm thương, là các thánh đang theo Chúa Giêsu, Đấng đã động lòng thương cảm với người mù, người bệnh, người bị ruồng rẫy, người tội lỗi, người cùi, người đói, và người nghèo.

Đôi khi, một vài người Công giáo chúng ta đã quên mất vai trò của lòng cảm thương trong Đức tin chúng ta. Giáo hoàng Phanxicô đang nhắc nhở chúng ta đó. Nếu người ta mến chuộng ngài vì điều này, thì đừng lấy đó mà cáo buộc ngài, nhưng những người Công giáo chúng ta phải mừng mới phải.

Chúng ta cũng phải trân trọng ảnh hưởng của vị giáo hoàng được mến chuộng này trên thế giới. Có vô số cách để có Đức tin như, làm bạn với một người Công giáo, một cuộc chuyện trò đơn giản, đọc tiểu sử một người, và vô số cách khác. Lịch sử hoán cải cho thấy có nhiều ngả đường dẫn về Roma.

Khám phá thấy mình thích một giáo hoàng, sẽ là con đường tốt để khám phá thấy mình thích Đức tin Công giáo. Ít nhất, thì việc này cũng mở ra một đối thoại với thế giới.

Hãy giữ cho cuộc đối thoại này tiếp diễn.

J.B. Thái Hòa dịch

Mặt tích cực của u sầu

Mặt tích cực của u sầu

Ronald Rolheiser, 26 Tháng Giêng 2015

Thông thường, không ai trong chúng ta thích cảm thấy buồn rầu, nặng nề, hay chán nản Nhìn chung, chúng ta thích ánh sáng hơn bóng tối, vui vẻ hơn u sầu. Đó là lý do vì sao, hầu như lúc nào, chúng ta cũng làm mọi việc có thể để tránh u sầu, tránh những nặng nề và buồn bã. Chúng ta có khuynh hướng chạy trốn những cảm giác bên trong gây buồn phiền hay lo sợ cho mình.

Đó là lý do vì sao, hầu như chúng ta đều nghĩ tiêu cực về u sầu và các con cái của nó là buồn bã, hoài niệm ão não, cô đơn, chán nản, mất mát, hối tiếc, những dự báo, cảm nhận hụt hẫng trong đời, sợ những sự nơi góc tối lòng mình, và sự nặng nề linh hồn. Nhưng những cảm giác này có mặt tích cực của chúng. Nói đơn giản, chúng giúp chúng ta chạm đến những phần tâm hồn mà chúng ta thường không để ý đến. Tâm hồn chúng ta sâu thẳm và phức tạp, và cố gắng lắng nghe những tiếng nói của linh hồn, phải bao gồm cả việc lắng nghe tất cả mọi tâm trạng trong đời, kể cả và đặc biệt là, những khi chúng ta thấy buồn và hụt hẫng. Trong nỗi buồn, u sầu, và sợ hãi, linh hồn nói với chúng ta những điều mà chúng ta vốn thường khước từ không chịu nghe. Do đó, xem lại mặt tích cực của u sầu là một việc quan trọng.

Nhưng buồn thay, ngày nay, người ta thường xem buồn bã và nặng nề trong lòng là một sự suy giảm, thiếu sinh lực, và là một tình trạng không lành mạnh. Nghĩ như thế vừa thật đáng buồn vừa hạn hẹp. Vi dụ như, trong nhiều sách y khoa thời trung cổ và phục hưng, u sầu được xem là một ơn cho linh hồn, một sự người ta cần phải trải qua, một lúc nào đó trong đời mình, để có được sự lành mạnh và toàn vẹn sâu sắc hơn. Tất nhiên, điều này không ứng với sự suy thoái lâm sàng, mất sức khỏe thực sự, nhưng là đang nói đến tất cả những trầm cảm khác đang kéo chúng ta hướng nội và chùng xuống. Tại sao chúng ta cần phải trải qua u sầu để có được sự toàn vẹn?

Thomas Moore, đã viết rất minh triết về việc chúng ta rất cần phải lắng nghe cẩn thận hơn nữa với những xung lực và nhu cầu của linh hồn mình: ‘Trầm cảm cho chúng ta các phẩm chất đáng giá mà chúng ta cần để làm người cho trọn. Nó cho chúng ta sức nặng, khi chúng ta quá nông nổi về đời mình. Nó cho chúng ta một mức độ trang trọng. Nó có chất chì cứng nên người ta bảo nó nặng nề. Nó cũng cho chúng ta già dặn thêm, để lớn lên cho đúng đắn và đừng giả vờ là mình trẻ hơn tuổi. Nó làm chúng ta lớn lên, và cho một loạt cảm xúc và đặc tính nhân văn mà chúng ta cần để đương đầu với những chuyện nghiêm trọng trong đời. Trong các hình ảnh thời phục hưng, trong các sách vở y khoa và các phương thuốc, trầm cảm được khắc họa là một lão nhân mang chiếc mũ chiêm tinh, đứng trong bóng tối, cầm đầu mình trên tay.’

Milan Kundera, nhà văn người Czech, trong tiểu thuyết kinh điển của mình, Sự Khinh suất không chấp nhận được của Hiện hữu, đã đồng hưởng với Moore. Nhân vật chính của ông, Teresa, đấu tranh để đời mình được bình an chứ đừng nặng nề, cuộc đời cô như thế có quá nhiều nhẹ nhõm, ánh sáng, và có vẻ là vô ưu, không có lo âu nào gợi lên u ám và sự chết. Nhưng, cô luôn luôn thấy cần có sự trang trọng, cần một sự gì đó có sức nặng cho thấy rằng cuộc đời cao hơn việc đơn thuần khỏe mạnh và thoải mái. Với cô, sự nhẹn nhõm cùng đồng nghĩa với hời hợt.

Trong nhiều nền văn hóa, và tất nhiên là trong tất cả mọi tôn giáo lớn trên thế giới,các giai đoạn u sầu và buồn bã được xem là con đường cần thiết mà người ta phải đi để giữ được cân bằng lành mạnh và sự toàn vẹn bản thân. Thật vậy, chẳng phải đây là một phần bản chất của mầu nhiệm vượt qua trong Kitô giáo hay sao? Chính Chúa Giêsu, khi chuẩn bị dâng lễ hi sinh tận cùng vì tình yêu, đã phải đau đớn, mà nhận rằng đường đến ngày Phục Sinh, không thể không có sự tăm tối của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh thật xấu, rất lâu trước khi trở nên tốt, ít nhất là khi nhìn từ bên ngoài. Và u sầu, buồn bã, và nặng nề trong lòng, gần như cũng bị xem như vậy.

Vậy chúng ta phải nhìn vào những quãng buồn bã và nặng nề trong đời mình thế nào? Làm sao để đương đầu với u sầu và các con cái của nó?

Trước hết, điều quan trọng là phải xem u sầu (dù là dạng gì) như một sự bình thường và lành mạnh trong đời. Nặng nề trong lòng không nhất thiết cho thấy rằng trong chúng ta có điều gì đó không ổn. Nhưng đúng hơn, là một sự bình thường, là linh hồn đang ra dấu muốn chúng ta chú tâm, muốn được lắng nghe, cố gắng truyền cho chúng ta một con đường sâu sắc hơn, để cho chúng ta già dặn đúng đắn. Nhưng để có được điều này, chúng ta cần phải chống lại 2 cám dỗ đối lập, cụ thể là làm ngơ hay chiều theo sự buồn bã. Làm sao chúng ta làm được thế? James Hillman đã cho chúng ta lời khuyên như sau: Phải làm gì với sự nặng nề linh hồn? ‘Hãy đặt nó vào trong vali và đem theo mình.’ Giữ nó gần mình, nhưng được gói lại, bảo đảm sẵn dùng, nhưng đừng để nó chiếm lấy mình.

Và lời của Hillman, là những lời kiểu thế tục, tương đồng với đòi hỏi của Chúa Giêsu rằng: ‘Nếu con muốn làm môn đệ Thầy, hãy mang thập giá mình hằng ngày và theo Thầy.’

discipleship-and-the-cross-featured-w740x493

J.B. Thái Hòa dịch

Người vô gia cư bị bệnh được một cha xứ nhanh trí cứu

Zenit.org, 23-1-2015

Trên chuyến bay từ Manila, Phi Luật Tân về Rôma ngày 19-1-2015, Đức Phanxicô kể câu chuyện một cha xứ nhanh trí đã cứu người vô gia cư bị bệnh.

Đức Phanxicô, Giáo hội và người nghèo

Một trong các bạn đã hỏi tôi, tôi sẽ nhắn gì với người Phi Luật Tân, tôi đã trả lời: người nghèo. Đó là thông điệp mà Giáo hội muốn nói đến ngày hôm nay.

Và những gì các bạn nói về Sri Lanka, người Tamul, nạn kỳ thị, người nghèo, các nạn nhân của nền văn hóa vứt bỏ. Rất đúng, các bạn đã biết. Hôm nay người ta không vứt giấy, vứt nhiều rồi. Người ta vứt con người. Nạn kỳ thị là một hình thức vứt bỏ, đúng không? Người ta vứt bỏ con người. Một cái gì tựa như đẳng cấp, một hình ảnh vừa mới đến trong đầu tôi. Như vậy thì không đi đến đâu. Và ngày nay “vứt bỏ” người nào để bắt qua một chuyện gì khác là chuyện bình thường. Như công việc bạn nói về các khách sạn sang trọng và những chiếc lều lá tồi tàn.

Ở giáo phận Buenos Aires của tôi có một khu phố hiện đại gọi là Puerto Madero kéo dài tới nhà ga và tiếp đó là khu phố nghèo khổ “Villa Miseria”, những người nghèo, người này tiếp người kia. Một bên là có 36 tiệm ăn sang trọng, giá cắt cổ; bên kia là đói, đấm đá nhau. Còn chúng ta, chúng ta xem đó là chuyện bình thường, đúng không? Đúng, chúng ta một bên, những người bên lề xã hội một bên. Và đó là nạn nghèo khổ và tôi nghĩ Giáo hội càng ngày càng phải làm gương, phải từ chối hết mọi hình thức ăn chơi trần tục.

Đối với những người có đời sống tận hiến, các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, những người có đức tin thật sự thì thú ăn chơi trần tục là tội nặng nhất trong các tội, đe dọa nặng nhất trong các đe dọa. Thật là xấu khi thấy một  người có đời sống tận hiện, một người của Giáo hội, một nữ tu lại có đời sống thời thượng theo các thú vui thế gian! Rất xấu! Đó không phải là con đường của Chúa Giêsu chỉ dẫn. Đó là con đường của một tổ chức Phi Chính Phủ tự cho mình là Giáo hội! Nhưng đó không phải là Giáo hội của Chúa Giêsu vì Giáo hội của Chúa Giêsu không phải là một tổ chức Phi Chính Phủ, Giáo hội của Chúa Giêsu là một chuyện khác. Nhưng khi Giáo hội trở thành thời thượng – một phần của Giáo hội, những người này – trở thành một tổ chức Phi Chính Phủ và họ không còn là “Giáo hội”.

Giáo hội của Chúa Kitô, Đấng chết và sống lại để cứu chúng ta là Giáo hội làm chứng cho các tín hữu Kitô đi theo Chúa Kitô. Chuyện tai tiếng mà các bạn nói đến này là thật và đúng vậy, bao nhiêu lần chúng ta đã gây tai tiếng cho tín hữu Kitô, chúng ta gây tai tiếng: linh mục và giáo dân – vì con đường của Chúa Giêsu là một con đường khó. Đúng vậy, Giáo hội phải trần trụi.

Và các bạn nói đến nạn khủng bố của Quốc gia. Loại vứt bỏ này là một hình thức của nạn khủng bố. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến, và các bạn làm cho tôi nghĩ đến. Tôi không biết các bạn sẽ nói gì, thật sự là như vậy. Nhưng đó không phải là những lời âu yếm. Giống như mình nói: không, ông/bà phải đi ra ngoài!

Giống như câu chuyện của một người vô gia cư ở Rôma: ông bị đau bụng. Khi bạn bị đau bụng, bạn đi cấp cứu, vào đó họ cho bạn một viên thuốc giảm đau và họ bảo bạn về, hẹn tái khám trong 15 ngày nữa.

Người vô gia cư đến gặp một linh mục, cha cảm động và nói với ông: “Tôi sẽ đưa ông đến bệnh viện nhưng ông phải giúp tôi: khi tôi giải thích cho họ tình trạng của ông thì ông phải giả ngất xỉu!” Và ông đã làm như vậy. Người vô gia cư đúng là một nghệ sĩ diễn hay. Ông bị viêm màng bụng! Người đàn ông này đã bị loại ra. Nếu ông đi một mình, ông sẽ bị loại ra và có thể sẽ chết. Cha xứ nhanh trí đã cứu ông. Cha xứ này không sống theo kiểu thời thượng.

Như thế có gọi là khủng bố không? Đúng chứ… người ta có thể nghĩ như vậy, nhưng tôi sẽ suy nghĩ chuyện này, xin cám ơn! Tôi xin chúc mừng kỷ niệm 50 năm thành lập Hãng thông tấn ANSA.

Hình: Đức Phanxicô làm phép bức tượng Chúa Giêsu, người vô gia cư của nghệ sĩ Timothy Schmalz ngày 20-11-2014 ở Vatican.
Hình: Đức Phanxicô làm phép bức tượng Chúa Giêsu, người vô gia cư của nghệ sĩ Timothy Schmalz ngày 20-11-2014 ở Vatican.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Đức Phanxicô gặp một người chuyển giới và vị hôn thê của anh

Ballon 25-1-15 (3)yagg.com, Julien Massillon, 26-1-2015

Là một tín hữu sốt sắng, Diego ngạc nhiên khi anh nhận thư trả lời của Đức Phanxicô chỉ sau vài tuần anh viết thư cho ngài.

Từ khi anh Diego Neria Lejárraga gặp Đức Phanxicô ngày thứ bảy 24-1-2015 vừa qua, anh tự cho mình là “người của hòa bình”.

Anh là người chuyển giới, hiện sống ở Madrid, anh lớn lên trong một gia đình có đạo sốt sắng. Theo yêu cầu của mẹ anh, anh đã chờ sau khi bà chết để chuyển giới. Nhưng ở giáo xứ của anh thì mọi chuyện không suông sẻ. “Làm sao bạn dám đến đây với tình trạng của bạn như vậy?” người ta trách anh sau khi anh giải phẫu. “Bạn không xứng đáng,” họ mắng anh trước khi nói tiếp anh là ‘con của quỷ’! Những lời nói đã làm cho anh Diego Neria Lejárraga đau khổ. Dù vậy, anh vẫn xem mình là tín hữu Kitô và giữ một khoảng cách với nhà thờ. Khi anh nghe Đức Phanxicô có những lời an ủi đối với những người đồng tính, anh lấy lại được niềm tự tin: “Tôi cảm thấy như ngài đang nghe tôi”, anh thổ lộ với báo Hoy của Tây Ban Nha. Và Diego Neria Lejárraga gởi cho Đức giáo hoàng một bức thư, vài ngày sau, ngài điện thoại cho anh, cho anh biết ngài rất cảm động khi đọc thư anh và ngài mong được gặp anh. Khi ngày hẹn được ấn định, anh đến Vatican cùng với hôn thê của mình.

Anh chưa nói gì về buổi hội kiến riêng này. Nhưng được Đức Phanxicô tiếp riêng đã là một sự kiện tích cực rất lớn. Theo bà Marianne Duddy-Burke, thuộc tổ chức Phẩm Cách USA (Dignity USA, một tổ chức của những Người Đồng Tính Công giáo) thái độ của Đức giáo hoàng ngược hẳn với thái độ của các thành viên thuộc hàng giáo sĩ Âu châu, họ có những câu nói rất nghiêm khắc đối với những người chuyển giới. “Đức giáo hoàng gặp một người chuyển giới, người này lại sắp lập gia đình, và nhờ buổi gặp gỡ này, người đàn ông này cảm thấy mình có một chỗ trong Giáo hội, điều này cho thấy Đức Phanxicô quan tâm đến những người ở vòng ngoài của Giáo hội, bà Marianne Duddy-Burke trả lời cho báo The Washington Blade. Tôi hy vọng Đức giáo hoàng quan tâm đến kinh nghiệm của anh Diego Neria Lejárraga và ngài sẽ nói sau về những gì ngài đã nghe.”

Nếu Đức giáo hoàng có những lời có thể xem như các dấu hiệu cho một tinh thần cởi mở, tuy vậy ngài đã nhấn mạnh việc mở ra cho những người đồng tính kết hôn là một “đe dọa”. Vào thời ngài còn là hồng y Jorge Mario Bergoglio ở Argentina, ngài công kích dữ dội hôn nhân của những người đồng tính. Tuy nhiên những người như Diego Neria Lejárraga hay giám mục Jacques Gaillot mong Đức Phanxicô sẽ biết cách giúp Giáo hội Công giáo “theo kịp thời của mình” vì “khi xã hội biến đổi thì Giáo hội phải biến đổi theo”, Đức giám mục Gaillot cho biết như trên.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Vai trò chính yếu của những người nữ trong việc thông truyền đức tin

Vai trò chính yếu của những người nữ trong việc thông truyền đức tinVai trò hàng đầu và không thể thiếu của phụ nữ trong việc thông truyền đức tin cho các thế hệ mai sau, chính là thông điệp của giáo hoàng Phanxicô trong bài giảng thánh lễ ban sáng ngày thứ hai 26-01. Ngày hôm nay,  giáo hội mừng kính thánh Timothy và Titus, giám mục và là môn đồ của thánh Phaolô Tông đồ,  giáo hoàng lấy ý bài giảng chính yếu từ thư thứ hai thánh Phaolô gởi Timothy.

Những người bà, người mẹ thông truyền đức tin

Thánh Phaolô nhắc thánh Timothy về nguồn gốc ‘đức tin chân thành’ của ngài đến từ đâu: Đức tin của thánh Timothy là từ Chúa Thánh Thần, ‘qua mẹ và bà của ngài.’ ‘Những người mẹ, người bà là những người thông truyền đức tin.’ Giáo hoàng Phanxicô tiếp rằng:

Truyền đức tin là một chuyện, và dạy các vấn đề đức tin lại là chuyện khác. Đức tin là một ơn: không thể nào học Đức tin được. Chúng ta học các chuyện của đức tin, đúng là thế, để hiểu được đức tin tốt hơn, nhưng nếu chỉ có nghiên cứu học hỏi mà thôi, thì không bao giờ có thể đạt đến Đức tin. Đức tin là ơn của Chúa Thánh Thần, vốn vượt trên mọi đào tạo hàn lâm.

Hơn nữa, đức tin là một ơn truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, qua ‘công việc tuyệt đẹp của các người mẹ, người bà, công việc tốt lành của những người phụ nữ, trong gia đình, dù là các cô dì hay người hầu gái, bởi họ là những người thông truyền đức tin:

Tôi thấy rằng, tại sao phụ nữ có vai trò chính yếu trong việc truyền lại đức tin? Đơn giản là bởi người đã đưa Chúa Giêsu đến với chúng ta là một người nữ. Đó chính là con đường mà Chúa Giêsu chọn. Ngài muốn có một người mẹ: ơn đức tin đến với chúng ta qua các người nữ, như Chúa Giêsu đến với chúng ta qua Mẹ Maria.

Hãy biết nâng niu ơn đức tin bởi vì bạn hay làm đức tin suy yếu

Giáo hoàng Phanxicô nói rằng, ‘Chúng ta cần suy tư, ngay thời này, xem thử phụ nữ có thực sự thấy được trách nhiệm của mình là phải thông truyền đức tin hay không.’ Thánh Phaolô đã mời gọi Timothy bảo vệ Đức tin, bảo vệ Đức tin được ký thác, và tránh ‘những huyên thuyên trống rỗng của dân ngoại, những huyên thuyên rỗng tuếch của thế gian.’ Giáo hoàng tiếp rằng, ‘Chúng ta, tất cả chúng ta, đã nhận lãnh ơn đức tin, thì phải giữ lấy, ít nhất để đừng rơi rụng, để đức tin đó vẫn mạnh mẽ, với sức mạnh của Thánh Thần, Đấng ban đức tin cho chúng ta.’ Chúng ta giữ đức tin bằng cách nâng niu và nuôi dưỡng mỗi ngày:

Nếu mỗi ngày, chúng ta không chăm lo hồi phục ơn Chúa ban là Đức tin, nhưng lại cứ để đức tin yếu dần đi, bị loãng đi, thì đến cuối cùng Đức tin trở thành một nền văn hóa: ‘Ừ, đúng, vâng, đúng, tôi là Kitô hữu, đúng, đúng rồi,’ một nền văn hóa thuần túy, hay một kiến thức ngộ đạo thuyết: ‘Vâng, tôi biết rất rõ các vấn đề Đức tin, tôi biết giáo lý.’ Nhưng mà, bạn sống đức tin mình thế nào? Chính đây, điều quan trọng để phục hồi ơn này mỗi ngày: là đem đức tin vào cuộc sống.

Sự hèn nhát và hổ thẹn không mở mang đức tin

Thánh Phaolô nói rằng, cách riêng, có hai sự đối lập với đời sống đức tin: ‘sự hèn nhát và hổ thẹn.’

Thiên Chúa không cho chúng ta một tinh thần hèn nhát. Tinh thần hèn nhát đi ngược lại với ơn đức tin: nó không để đức tin lớn lên, tăng tiến, mạnh mẽ. Còn sự hổ thẹn, là một tội nữa chống lại đức tin: ‘Vâng, tôi có Đức tin, nhưng tôi che giấu nó, để người ta không thấy nó nhiều.’ Một chút chỗ này, một chút chỗ kia, đúng thật, như ông cha đã nói, đây là một đức tin ‘nước hoa hồng’ [dung dịch thơm, nhưng rất loãng so với nước hoa] bởi tôi xấu hổ không dám sống cho trọn: Không, như thế thì không phải là đức tin, bởi Đức tin không hèn nhát cũng không xấu hổ. Vậy thì Đức tin là gì? Là tinh thần dũng mạnh, yêu thương và khôn ngoan: đây là Đức tin.’

Đức tin không thỏa hiệp

Giáo hoàng Phanxicô giải thích rằng tinh thần khôn ngoan nghĩa là biết chúng ta không thể làm mọi sự chúng ta muốn: nghĩa là tìm những con đường, lối đi, phương cách đưa đức tin tiến tới, một cách thận trọng.

Giáo hoàng kết lời rằng, ‘Chúng ta hãy xin ơn Chúa cho chúng ta có đức tin chân thực, một đức tin không thỏa hiệp dựa trên vận hội, một Đức tin mà hằng ngày chúng ta cố gắng phục hồi hay ít nhất là xin Chúa Thánh Thần phục hồi, và làm sao để Đức tin sinh nhiều hoa trái.’

J.B. Thái Hòa dịch

Bài mới nhất