Home Blog Page 1702

Niềm tin ngày tận thế có lẽ giải thích được lý do vì sao Đức Phanxicô là một giáo hoàng vội vã

Lord of the WorldCrux – John L. Allen Jr

25 tháng 1, 2015

Cuộc họp báo trên máy bay từ Manila về Roma hôm thứ hai mới đây, là một lần nữa Giáo hoàng Phanxicô gây nhiều chấn động. Có 2 chuyện gây huyên náo ngay lập tức, một là chuyện tại sao người Công giáo không cần phải ‘sinh đẻ như thỏ,’ và thứ hai là ngài có ý muốn đá 2 viên chức tham nhũng vào ‘nơi không tối tăm tuyệt không có ánh mặt trời.’

Đây là 2 miếng mồi béo bở với báo giới, nhưng người ta lại bỏ quên 2 chuyện khác, mà cả hai đều quan trọng để hiểu được những gì đang ngày càng định hình con đường của giáo hoàng – chính là tâm thức cấp bách của ngài.

Hai điểm đáng chú ý này là, một quyển sách và một chuyến đi.

Từng nhắc đến trước đây, Giáo hoàng Phanxicô tiếp tục nói đến quyển tiểu thuyết mang tính cánh chung năm 1907 ‘Chúa của Thế giới,’ của Robert Hugh Benson, người Anh, từ Anh giáo cải sang Công giáo. Tiểu thuyết này đưa ra một hình tượng phản không tưởng về cuộc đấu cuối  giữa nhân loại thế tục với Công giáo, với trận chiến cuối cùng trên cánh đồng Sinh Tử Armageddon.

Tác giả khắc họa một thế giới trong đó, chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa thế tục đang nắm quyền chủ đạo, với cực điểm là một nhân vật ‘cứu thế’ đầy danh tiếng, được mô tả là Kẻ phản Kitô, vươn lên lãnh đạo chính phủ một thế giới. Các biểu tượng Kitô giáo bị công kích, các tín hữu bị kìm kẹp, và việc trợ tử chủ động được thực hành rộng rãi.

Đức Phanxicô từng khen ngợi tiểu thuyết này hồi tháng 11, 2013, trong bài giảng ngài lên án cái gọi là ‘chủ nghĩa cấp tiến nông nổi.’ Ngài lại nhắc đến quyển ‘Chúa của Thế giới’ trong buổi họp báo trên máy bay vừa qua, và nói rằng, ‘Tôi khuyên các bạn đọc nó’ bởi quyển này giải thích những gì ngài muốn nói đến trong cụm từ ‘thực dân tư tưởng’ nhân buổi gặp gỡ 20 ngàn gia đình Phi Luật Tân ở Manila.

Một vài người thấy tiểu thuyết này có tính tiên tri, người khác thấy hơi ‘dị thường.’ Phân tích ra, có thể thấy đều quan trọng trong ý của giáo hoàng, chính là một nhận thức mãnh liệt rằng thế giới đang đến hồi chuyển biến và không còn nhiều thời gian để chỉnh đốn mọi sự nữa.

Nói như thế, không phải là Đức Phanxicô tin rằng ngày tận thế đã gần kề. Nhưng, việc ngài yêu thích tiểu thuyết này có thể cho chúng ta dò thấy một việc là ngài tin rằng ngày hôm nay, nhân loại đang thực hiện những chọn lựa dứt khoát, từ kinh tế cho đến môi trường, và nếu chúng ta chọn sai, hậu quả sẽ khủng khiếp hơn chúng ta nghĩ.

Và điều thứ hai khiến chúng ta lại phải chú ý là việc giáo hoàng kể sơ qua về lịch trình công du của ngài:

Không kể chuyến đi vào tháng 9 đến Hoa Kỳ, Đức Phanxicô nói rằng ngài có kế hoạch đến thăm 3 nước châu Mỹ La tinh, là Ecuador, Bolivia, và Paraguay trong năm nay, và năm sau sẽ là Chilê, Argentina, và Uruguay, cùng với khả năng là Peru nữa.

Giáo hoàng cũng nói là ngài dự định đến 2 nước châu Phi vào cuối năm 2015, có thể sẽ là Uganda và Cộng hòa Trung Phi.

Đây là một kế hoạch đầy tham vọng, nhất là đặc biệt gan dạ khi dự tính đến Trung Phi .

Đất nước này vẫn còn là một vùng chiến sự, với xung đột nổ ra giữa Hồi giáo-Kitô giáo. Vì bạo lực lan tràn, mà Trung Phi đang bị Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đưa vào danh sách cấm du lịch, vốn vừa tăng thời hạn lệnh cấm đến tháng 1 năm 2016.

Về mặt lý thuyết, Đức Phanxicô sẽ không vi phạm lệnh cấm này, nếu ngài đến Trung Phi vào tháng 11 hay 12, bởi lệnh này có ngoại lệ cho ‘nghĩa vụ tôn giáo.’ Nhưng người ta vẫn phải tự hỏi, tại sao giáo hoàng không chờ đến khi im hẳn tiếng súng rồi mới đến.

Nhưng, như ở Phi Luật Tân tuần trước, khi giáo hoàng lên lịch bay trong thời tiết bão nhiệt đới, để đến thăm những người sống sót qua cơn siêu bão Haiyan 2013, người ta cũng có thể hình dung ra các phụ tá và an ninh của ngài thế nào cũng đã hết lời cố thuyết phục ngài đổi ý.

Nhưng dựa trên sự nhất quyết phải đi bằng mọi giá của ngài, có thể thấy Đức Phanxicô không phải dạng người ngồi chờ.

Từ khi được bầu lên cách đây 2 năm, Đức Phanxicô đã đem lại một cơn bão những khởi xướng – từ cải tổ Vatican cho đến các văn kiện bom tấn, từ các khởi xướng ngoại giao táo bạo cho đến các buổi gặp và cử chỉ tự phát. Đôi khi có vẻ như thể ngài đang cố nhồi nhét các hoạt động trong vòng một thập kỷ của hầu hết các triều giáo hoàng, vào trong 2 năm đầu của mình. Và chúng ta phải tự hỏi, tại sao ngài lại vội vã đến vậy.

Dựa vào việc ngài nhiều lần nhắc đến quyển ‘Chúa của Thế giới,’ có thể thấy sự vội vã của ngài có liên quan đến việc ngài đã 78 tuổi nên thời gian có hạn, hay bởi ngài biết rằng ngài được bầu lên để cải tổ.

Không lâu trước khi về hưu hồi tháng 11 vừa qua, hồng y Francis George của Chicago, đã nói rằng cha muốn hỏi Đức Phanxicô về ‘quan điểm cánh chung rằng kẻ Phản Kitô đang hiện diện cùng chúng ta,’ và liệu điều này có giải thích được nhịp làm việc với cường độ mãnh liệt của ngài hay không.

(Trong thần học Công giáo, ‘cánh chung’ là nghiên cứu về các giai đoạn cuối cùng của đời sống con người và lịch sử, nói nôm na là ‘giờ cuối cùng’ – cái chết, phán xét, thiên đàng và địa ngục.)

Hồng y George nói rằng, ‘Có vẻ không một ai để ý chuyện này, nhưng tôi thấy nó rất đáng lưu tâm. Tôi hi vọng trước khi chết, tôi có dịp được hỏi Đức Phanxicô về cách hiểu của ngài đối với việc mục vụ giáo hoàng, tại sao lại đặt những thời điểm chung cục làm sự then chốt với chúng ta.’

Mà Đức Phanxicô có lẽ đã trả lời câu hỏi của hồng y George rồi.

Lời nhận xét về quyển ‘Chúa của Thế giới’ cho chúng ta thấy lời đáp có thể của ngài: ‘Đúng rồi, có một kẻ dữ, một kẻ phản Kitô, và một thời chung cục … và nếu chúng ta muốn tránh điều xấu nhất, thì tốt hơn hãy nhanh lên nào.’

J.B. Thái Hòa dịch

Giáo hoàng Phanxicô, Dostoyevsky, và những giọt nước mắt trẻ thơ

Hãy học biết khóc cho các trẻ em bị xâm hạiPhong cách ứng khẩu của Đức Phanxicô cho ngài sức mạnh để nói thật thấu tình những vấn đề đạo đức của nhân loại. Và cũng có thể đem lại kết quả ngoài mong muốn.

Jason Berry – 24-01-15

Trong mỗi chuyến đi, Giáo hoàng Phanxicô đều cho thính giả toàn cầu một thoáng manh mối để nhìn vào tâm trí không đơn giản của ngài.

Giáo hoàng ứng khẩu đầu tiên trong thời đại truyền thông đại chúng, đã có nhiều buổi họp báo dài giờ trên các chuyến bay, cũng như câu trả lời nổi tiếng, ‘Tôi là ai mà phán xét,’ khi được hỏi về các linh mục đồng tính trên chuyến bay từ Brazil về Roma.

Giáo hoàng Bênêđictô tránh các nhà báo, và Đức Gioan Phaolô đầy lôi cuốn cũng hiếm khi tỏ lòng lâu giờ trong các cuộc họp báo. Cả hai giáo hoàng đều có những bài phỏng vấn dành riêng, với các nhà báo hay tiểu sử gia mà mình tin tưởng.

Đức Phanxicô thì có được sự nhanh nhạy trí tuệ khi được phỏng vấn, một nét đặc trưng của nền đào tạo dòng Tên, theo phương pháp Socrates: câu hỏi nảy sinh câu trả lời, và câu trả lời điều hướng câu hỏi, cứ thế vòng tìm hiểu diễn tiến.

Nhưng những lời ứng khẩu cũng rơi vào những hoàn cảnh không ngờ trước.

Trong thánh lễ sáng chúa nhật với 40 ngàn người tại Đại học Manila, cô bé 12 tuổi Glyzelle Palomar, đang sống trong một nhà dành cho các trẻ em bị bỏ rơi, đã đọc một bài phát biểu bằng tiếng bản xứ, và được dịch lại cho Giáo hoàng và báo giới.

Ăn vận tươm tất với chiếc váy trắng xinh xắn, cô bé nói: ‘Có nhiều trẻ em bị chính cha mẹ mình bở mặc … và nhiều trẻ em trở thành nạn nhân của nhiều chuyện khủng khiếp xảy đến, như thuốc phiện hay mại dâm.

Lạc cả giọng, Glyzelle hỏi, ‘Tại sao Thiên Chúa để những điều này xảy ra, dù trẻ em không có tội gì?’

Khi cô bé òa khóc, Đức Phanxicô tiến lại gần, cô bé ôm lấy giáo hoàng, vùi mặt vào lòng ngài mà khóc.

Trong lời đáp dài, gần như mang tính kịch, giáo hoàng nói rằng, ‘Những hiện thực cụ thể của cuộc sống, chỉ có thể thấy được với đôi mắt được rửa sạch bằng nước mắt.’

Và trên chuyến bay trở về từ Phi Luật Tân, câu trả lời đầy xúc động của Đức Phanxicô cho cô bé, gần như bị chìm nghỉm trong trận lụt bài bác dấy lên hầu như ngay lập tức trước nhận định của ngài về kiểm soát sinh sản.

‘Tôi xin lỗi về cách dùng từ, nhưng một vài người nghĩ rằng, làm người Công giáo tốt, chúng ta phải sinh đẻ như thỏ vậy. Không. Mà phải là làm cha mẹ có trách nhiệm.’

Và tờ USA Today giật tít: ‘Giáo hoàng: Người Công giáo không cần sinh đẻ ‘như thỏ.” cùng tông giọng với nhiều tờ báo khác, như thể giáo hoàng đang tấn công vào cuộc tranh luận không người thắng về phá thai. Đức Phanxicô không bao giờ nói ‘sinh đẻ’ nhưng ngài đang xác nhận, dù một cách vụng về, về việc kiêng khem tình dục, tán thành tông thư năm 1968 của Đức Phaolô VI, cấm phá thai nhân tạo, một quan điểm khi đưa ra khảo sát được ít người Công giáo ủng hộ.

Theo dữ liệu của Tổ chức Mạng lưới Bảo vệ Trẻ em vào năm 2009, Phi Luật Tân, 35% trẻ em sống trong cảnh nghèo đói, và khoảng 1.2 triệu trẻ em sống vô gia cư trên đường phố.

Cũng trong thánh lễ ở Manila trên, một bé trai 14 tuổi, được cứu khỏi cảnh vô gia cư, Jun Chura, đã nói với Đức Phanxicô về việc ‘ăn những gì tìm được trong đống rác … ngủ bên lề đường.’

Giáo hoàng ôm lấy cả Jun và Glyzelle trong vòng tay của mình, một hình ảnh thật hùng hồn.

Những nhận định của giáo hoàng, được Vatican chuyển từ tiếng Tây Ban Nha sang tiếng Anh, đã cho thấy giáo hoàng nắm bắt câu hỏi ám ảnh trong quyển Anh em nhà Karamazov, tiểu thuyết của Fyodor Dostoyevsky, mà giáo hoàng thường gọi là ‘thầy dạy cuộc sống cho tôi.’

Cô bé Glyzelle  đã vọng lại câu hỏi của Ivan Karamazov, con người bị hành hạ trong lòng. Làm sao một Thiên Chúa đầy yêu thương, lại để trẻ em bị ngược đãi, bỏ rơi, và tra tấn, nô lệ, hãm hiếp và bị giết? Với Ivan, nỗi khốn khổ của trẻ em mâu thuẫn với sự hiện hữu của một Thiên Chúa yêu thương.

Ivan nói với người em Alyosha, đang là một tu sinh rằng, ‘Nghe này, Nếu tất cả mọi người phải chịu đau khổ để trả gá cho sự hòa hợp vẻ ngoài, thì trẻ em có liên can gì trong việc này, nói cho anh xem? Không thể hiểu được vì sao trẻ thơ phải chịu đau khổ.’

Alyosha phản biện rằng Ivan đã quên mất sự hi sinh của Chúa Kitô, Đấng đã chuộc lấy tội lỗi nhân loại. Và Ivan lấy đó mà chế giễu.

Đức Phanxicô nói với Glyzelle, với người dân Phi Luật Tân, và với toàn thể mọi người rằng.

‘Phụ nữ có khả năng nhìn nhận khác với nam giới. Phụ nữ có thể hỏi được những câu mà nam giới không có được. Hãy để ý. Hôm nay cô bé hỏi một câu hỏi không có câu trả lời. Và cô bé không thể nói thành lời. Cô bé phải nói bằng tiếng khóc.’

Giáo hoàng tiếp lời, nói với cậu bé Jun Chura: ‘Cha cảm ơn con, Jun, vì đã dũng cảm nói lên những cảm nghiệm của mình.’

Ngài hướng về cô bé: ‘Cây hỏi của con, tận sâu thẳm là một câu hỏi không lời giải.’

Và rồi ngài bắt đầu trả lời: ‘Chỉ khi chúng ta có thể khóc cho những điều mà con đã trải qua, thì chúng ta mới có thể hiểu được, và trả lời được đôi chút. Câu hỏi lớn cho tất cả mọi người là: ‘Tại sao trẻ em chịu đau khổ? … Chỉ khi lòng chúng ta có thể đặt ra câu hỏi này và biết khóc thương, thì mới có thể bắt đầu hiểu được.’

Đức Phanxicô, như Ivan, kinh hoàng trước câu hỏi không lời đáp này, nhưng giáo hoàng tiếp lời bằng một thỉnh nguyện mạnh mẽ: ‘Những người ngoài rìa xã hội đang khóc, những người bị bỏ mặc đang khóc, những người bị khinh miệt đang khóc, nhưng những người có cuộc sống tương đối thoải mái như chúng ta, chúng ta không biết cách để khóc. Các hiện thực cụ thể của cuộc sống chỉ có thể thấy được với đôi mắt được tẩy sạch nhờ nước mắt. Tôi muốn từng người các bạn hãy hỏi rằng: Tôi có thể khóc không? Tôi có thể khóc khi thấy một đứa trẻ đang đói, dinh vào thuốc phiện, phải sống ngoài đường, vô gia cư, bị bỏ rơi, đối xử tệ bạc hay bị xã hội bóc lột như nô lệ?’

Còn Ivan, khi trả lời cho tiếng khóc của một đứa trẻ bị ngược đãi, đã nói với em mình rằng: ‘Những giọt nước mắt này không được chuộc lấy. Mà phải chuộc lấy những giọt nước mắt trẻ thơ nếu không thì chẳng thể có hòa hợp … Và nếu đau khổ của trẻ thơ được quy vào tổng thể đau khổ cần có để trả giá cho chân lý, thì anh quả quyết rằng chân lý không xứng cái giá như thế.

Đức Phanxicô, tìm cách xoa dịu cô bé nhỏ bên cạnh mình, nói rằng: ‘Hãy học các khóc thương, cách mà Glyzelle đã dạy chúng ta ngày hôm nay. Đừng quên chứng tá này. Cô đã hỏi một câu hỏi lớn – tại sao trẻ em chịu đau khổ? bằng nước mắt dâng trào, và câu lời lớn mà chúng ta có thể có được, chính là tất cả chúng ta phải học cách để khóc.’

Đức Phanxicô gắn câu hỏi của cô bé với một mầu nhiệm lớn hơn: Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã khóc: Ngài khóc cho người bạn thân thương của mình. Ngai khóc trong lòng trước cảnh gia đình nọ mất đứa con gái. Ngài khóc khi thấy bà góa nghèo phải chôn con mình … Nếu các bạn không học cách khóc, thì các bạn không phải là Kitô hữu tốt … Hãy can đảm, đừng sợ khóc!’

Can đảm là hành động vượt qua nỗi sợ. Đức Phanxicô đang bảo mọi người hãy bỏ đi những kìm hãm của xã hội và đứng ra làm chứng.

Nhưng nước mắt có chữa lành , xoa dịu cho những người đau khổ, có là một dạng công lý hay không?

Trong bài phỏng vấn hồi tháng 12 với Andrea Tornielli của Vatican Insider, Đức Phanxicô đã nói rằng vấn đề các trẻ em chịu đau khổ ‘luôn luôn quanh quẩn trong lòng tôi. Không giải thích được. Khi tôi đến với một đứa trẻ chịu đau khổ, lời cầu nguyện duy nhất xuất hiện trong đầu là ‘Tại sao. Lạy Chúa, Tại sao?’ Ngài không giải thích gì cho tôi. Nhưng tôi có thể cảm nhận Chúa đang nhìn đến tôi. Vậy nên tôi có thể nói: Chúa biết tại sao, còn con thì không biết, và Chúa không nói cho con, nhưng Chúa nhìn đến con, và con tin cậy Chúa, con tin cậy vào ánh mắt Chúa nhìn con.’

Các chính trị gia hẳn sẽ ủng hộ cái nhìn của Chúa, và tiếp tục hợp lý hóa cuộc chiến chống đói nghèo của mình. Nhưng Đức Phanxicô thấy nơi Chúa khuôn mặt của người nghèo, và đã chỉ ra cảnh ngộ của những người tị nạn và nhập cư có liên quan đến ‘sự lãnh đạm toàn cầu.’

Trở về Roma, trong buổi tiếp kiến chung, Đức Phanxicô đã nói rằng, các gia đình lớn không gây nên đói nghèo, một cái gật đầu với những người thấy khó chịu với hình ảnh ‘như con thỏ,’ nhưng ngài lên án ‘một hệ thống kinh tế đã đẩy con người ra khỏi vị tri trung tâm, và thay vào đó bằng thần tiền bạc.’

Cố gắng trả lời câu hỏi kiểu Dostoyevsky của cô bé Glyzelle, Đức Phanxicô kể lại một thời điểm mỏng manh hiếm có của ngài, và một mặt khác của lòng thương đã khiến ngài được mọi người yêu mến.

Nhưng ngài chưa xác định thật rõ về các thái độ công lý cho tất cả những ai đang cheo neo miệng vực. Và trong khi con người đạo đức gan dạ này tiếp tục tìm đường cho cương lĩnh của mình, thì cả thế giới vẫn dõi theo ngài.

Jason Berry cũng là tác giả của quyển Trả lại cho Roma: Đời sống tiền bạc bí mật trong Giáo hội Công giáo

J.B. Thái Hòa dịch

Cambridge: Các sinh viên hứa cho 10% số lợi tức tương lai của mình cho các công việc từ thiện

Aleteia, Mathilde Rambaud, 22-1-2015

Trong một vidéo hài hước, họ hứa cho 10% số lợi tức tương lai của mình cho các công việc từ thiện. Chỉ trong vòng vài tuần, hàng ngàn cư dân mạng đã tham dự vào chương trình này.

Tất cả bắt đầu từ giữa tháng 12-2014, hai sinh viên năm thứ ba của trường đại học danh tiếng Cambridge, Anh, anh Luke Illott và Ravi Patel đã có sáng kiến trên. Họ làm một đám cưới giả rồi quay phim, họ hứa trung thành với nhau mãi… một lời hứa không giống như các lời hứa khác! Nếu vidéo có tính hài hước thì lời cam kết có thể nghiêm túc hơn: họ sẽ cho 10% lương của họ vào việc làm từ thiện nào họ chọn.

Chiến dịch của họ có tên “Cho cái gì chúng ta có thể cho” (Giving what we can), chỉ trong vòng vài tuần, hàng trăm người đã hưởng ứng, họ đóng tiền hàng tháng vào các công việc từ thiện. Các cư dân mạng trên toàn cầu kết hợp với chiến dịch hoặc trên trang Facebook đặc biệt cho chiến dịch này hoặc trên trang của họ. Sau một tháng quảng bá, số người tham dự tăng gấp ba, tổng cọng có 850 người ghi danh và hứa cho 355 triệu bảng Anh, trong số đó đã có 5 triệu được đóng rồi.

Hy vọng được hàng triệu ơrô mỗi tháng

Hai sinh viên làm bài toán rất nhanh: theo dự trù của họ, họ hy vọng con số sẽ vượt hơn 16 triệu ơrô mỗi tháng. Trong một cuộc  phỏng vấn với tờ The Independent, anh Luke giải thích, “Có những người từ Mỹ, từ Âu châu đã ghi danh. Đó là những người trẻ, họ đã có một số quyết tâm cho năm mới, nhưng họ có thể làm hơn với hành động quảng đại này.”

Anh Ravi nói tiếp: “Khi bắt đầu làm việc này vào đầu đời của mình thì tiến trình sẽ dễ hơn. Đây không phải là số tiền bạn thiếu vì bạn chưa có. Như vậy sẽ dễ hơn là đòi ở một người đã kiếm được tiền rồi. 10% là con số ấn định tượng trưng, mỗi người có thể cho nhiều hay ít tùy theo khả năng của họ.”

Nếu một vài hiệp hội đã ghi tên mình vào các trang của họ thì các thành viên của chương trình này luôn có tự do để quyết định mình cho hiệp hội nào. Đây là dịp vào lúc đầu năm để làm công việc bác ái trong cuộc đời chúng ta và nhớ lại lời Đức Phanxicô đã tuyên bố vào tháng 11-2014 vừa qua nhân dịp có buổi hội thảo của Cơ quan Lương nông Quốc tế: “Trong khi người ta nói về các quyền mới thì người đói ăn đang ở nơi góc đường, họ xin được hội nhập vào xã hội và có cơm ăn hàng ngày. Đó là họ đòi có được nhân phẩm, họ không xin bố thí”. Chúng ta hãy cho, nhưng trước hết chúng ta thử thay đổi cái nhìn của mình ta trên những người chung quanh.

Nguyễn Tùng Lâm dịch.

Trung quốc: “Tôi sẵn sàng đi Trung quốc hoặc đón tiếp các đại diện của chính quyền Trung quốc.”

May bayZenit.org, Anne Kurian, 22-1-2015

Trong cuộc họp báo trên chuyến bay từ Manila về Rôma, Đức Phanxicô cho biết ngài sẵn sàng đi Trung quốc hoặc đón tiếp các đại diện quốc gia Trung quốc: Bàn tay đưa ra với chính quyền Trung quốc, nơi Tòa Thánh chưa có quan hệ ngoại giao từ năm 1950 đến nay.

Sau một tuần đi Sri Lanka và Phi Luật Tân (từ 12 đến 19-1-2015), trên chuyến bay từ Manila về Rôma, Đức Phanxicô đã có một cuộc họp báo lâu với các ký giả. Ngài có nêu lên các quan hệ của Tòa Thánh với Trung quốc: “Chính quyền Trung quốc rất lịch sự và chúng tôi cũng vậy, chúng tôi đi từng bước một như trong lịch sử đã từng làm… Hiện nay, chúng tôi chưa biết gì nhưng phía Trung quốc họ biết tôi sẵn sàng đón họ hoặc tôi sẽ đến đó. Họ biết.”

Ngài khẳng định, “chúng tôi cởi mở và muốn có hòa bình với tất cả mọi người”, ngài cũng giải thích vì sao ngài không tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma khi Đức Đạt Lai Lạt Ma đến Vatican trong buổi họp của các người được Giải Nobel Hòa Bình vào ngày 12 đến 14 tháng 12 vừa qua.

“Theo nghi thức của phủ Quốc Vụ Khanh thì chúng tôi không tiếp các nguyên thủ Quốc gia hay các nhân vật cao cấp khi họ đến họp các buổi họp quốc tế ở Rôma. Chẳng hạn với Lương Nông Quốc tế, chúng tôi không tiếp ai, vì vậy tôi không tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma,” Đức Phanxicô cho biết như trên.

Ngài bác bỏ lý do cho rằng vì “sợ Trung quốc”: “Như thế là không chính xác. Lý do như tôi vừa nêu ra trên. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã xin tiếp kiến và chúng tôi đã ấn định ngày. Ngài đã xin trước cuộc họp, nhưng không phải lần này và chúng tôi đang tiếp xúc.”

Trong một điện văn gởi khi đang bay trên không phận Trung quốc, Đức Phanxicô đã chúc Chủ tịch Tập Cận Bình: “Trên chuyến bay từ Manila về Phi Luật Tân, chúng tôi đang bay trên không phận nước của ngài, tôi xin gởi lời chào đến ngài. Tôi có lời cầu nguyện cho ngài và cho toàn dân Trung quốc, xin cho ngài được an hòa và thịnh vượng.”

Đây là lần thứ nhì máy bay của một giáo hoàng được bay trên không phận Trung quốc, lần đầu là chuyến đi Nam Hàn của Đức Phanxicô vào tháng 8-2014 vừa qua. Chuyến bay của Đức Gioan-Phaolô II đi Nam Hàn năm 1989 bị từ chối.

Việc Bắc Kinh chấp nhận cho máy bay của giáo hoàng bay trên không phận mình là dấu hiệu có sự cải thiện trong quan hệ ngoại giao.

Cũng vậy, vừa qua bộ “Sưu tập các tác phẩm lịch sử và văn hóa Trung quốc từ thời nhà Minh (1368-1644) và nhà Thanh (1644-1911) có trong Thư viện Vatican” vừa được công bố. L’Osservatore Romano đã chào mừng những  “thành quả đầu tiên của một thỏa hiệp giữa các cơ quan của Vatican và các cơ quan của Bắc Kinh”, một bước tiến quan trọng trong việc đối thoại giữa Phương Đông và Phương Tây”.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài phỏng vấn Tổng giám mục Georg Gänswein

10689939_1550228231860993_7597189104512063978_nBài nguyên gốc bằng tiếng Đức ỏ trang christundwelt.de.

Dịch từ trang benoit-et-moi.fr, 23-1-2015

“Đương nhiên có những trường hợp mà phát ngôn viên Tòa Thánh đã phải làm sáng tỏ sự việc sau khi báo chí đăng các lời tuyên bố của Đức Phanxicô. Cải chính là cần thiết khi một vài tuyên bố này có thể gây hiểu lầm.

…”

“Nói ngụy giáo hoàng là một chuyện ngu xuẩn và cũng không có trách nhiệm, cũng giống như tự đốt lửa gây hỏa hoạn về mặt thần học.”

“Giáo hoàng rất khéo léo trong việc dùng truyền thông.”

Tổng Giám mục George Ganswein, giám sự điện giáo hoàng và là thư ký riêng của Giáo hoàng Danh dự Bênêđictô XVI, đã nói lên những lời này trong bài phỏng vấn với tạp chí Đức ‘Christ und Welt’. Sau đây là toàn văn bài phỏng vấn của ngài.

C&W: Vào dịp lễ Noel, Đức Phanxicô đã gây giận dữ với bài diễn văn nêu lên 15 bệnh của Giáo triều La Mã. Cha đã ngồi bên cạnh giáo hoàng. Kể từ lúc nào cha không còn đếm tội nữa?

Georg Gänswein: Là giám chức của Tòa Thánh, gần như luôn luôn tôi ngồi bên phải Đức giáo hoàng. Và lúc nào tôi cũng có một bản sao trong cặp nhưng hôm đó tôi chưa có thì giờ để đọc trước. Khi ngài bắt đầu đọc danh sách các tội, tôi tự nhũ: “À, hấp dẫn đây”, và càng lúc càng hấp dẫn. Tôi đếm được đến chín bệnh…

Khi đó cha nghĩ gì trong đầu?

Bình thường, trong buổi gặp gỡ với Giáo triều trong dịp lễ Giáng Sinh, giáo hoàng kiểm lại các việc trong năm vừa qua và nhìn đến các việc sẽ làm trong năm tới. Lần này thì khác hẳn. Đức Phanxicô muốn đưa một tấm gương ra để các hồng y, giám mục soi để xét mình, trong số này đã có một vài vị đã về hưu…

Cha có nghĩ danh sách này cũng là của cha không?

Đương nhiên, tôi tự hỏi, “Ai bị ngắm đây?” Mình có bệnh nào? Bệnh nào cần phải sửa chữa đây?”. Có lúc tôi đã nghĩ đến rất nhiều thùng khi tôi dọn nhà.

 

Cha muốn nói đến câu chuyện dọn nhà của một tu sĩ Dòng Tên với rất nhiều của cải phải không? Đức Phanxicô có nói khi dọn nhà cho thấy dấu hiệu của “bệnh tích trữ của cải”.

Đúng vậy. Sau khi Đức Bênêđictô XVI từ nhiệm vào tháng 2-2013, tôi dọn khỏi Dinh Tông Tòa, rất nhiều đồ đạc của tôi vẫn còn nằm trong thùng. Nhưng tôi không nghĩ đó là dấu hiệu của một căn bệnh.

 

Đâu là ý muốn của Đức Phanxicô khi ngài muốn đánh tội như vậy? Nó cũng có thể làm nản lòng.

Đó cũng là câu hỏi mà rất nhiều đồng nghiệp của tôi cũng đã đặt ra. Đến nay, Đức Phanxicô đã ở tại chức hai năm, ngài nắm rõ Giáo triều. Và đương nhiên ngài thấy cần thiết phải nói rõ ràng và khơi dậy việc xét mình.

 

Và các phản ứng như thế nào?

Đương nhiên đối với báo chí thì đây là một bữa tiệc linh đình. Trong khi ngài đọc diễn văn, tôi đã thấy báo chí chạy tít lớn: Đức giáo hoàng đánh các giám chức của Giáo triều; Đức giáo hoàng đọc luật cho các cộng sự viên của mình! Và khổ thay bên ngoài lại nghĩ có bất đồng giữa Giáo hoàng và Giáo triều. Cảm tưởng này là sai và không phù với thực tế. Nhưng bài diễn văn đã bao phủ hết tất cả những chuyện này.

Bài diễn văn có bị trong nội bộ chỉ trích không?

Các phản ứng đi từ ngạc nhiên đến sốc và không thấu hiểu.

Có thể đối với Đức Phanxicô, Giáo triều cần phải thường xuyên thích ứng với các bài tập linh thao?

Giáo triều đã thích ứng từ lâu. Đức Phanxicô không giấu giếm gì về sự đào tạo con đường thiêng liêng của mình. Ngài là tu sĩ Dòng Tên được đào tạo kỹ càng theo linh đạo của Thánh I-Nhã, nhà sáng lập Dòng Tên.

 

Sau hai năm ngài được bầu chọn, cha nghĩ gì về Đức Phanxicô?

Ngay từ đầu, Đức Phanxicô đã cho thấy mình sẽ tiếp cận sự việc một cách khác, ngài nhìn vấn đề một cách khác. Và đúng với các lựa chọn của ngài, từ lối sống, xe dùng, cách ngài điều hành các buổi tiếp kiến, đặc biệt là các nghi thức. Mới đầu, người ta nghĩ ngài sẽ thích ứng vào sự việc và muốn một cách nào đó uyển chuyển hơn. Bây giờ thì nó trở thành tiêu chuẩn. Đức Thánh Cha là một người có óc sáng tạo phi thường và một phong cách đậm tính chất Châu Mỹ La Tinh.

 

Rất nhiều người còn hỏi chúng ta sẽ đi về đâu?

Nếu chú tâm nghe các lời nói của ngài thì chúng ta sẽ thấy chỉ dẫn rất rõ ràng. Tuy nhiên, câu hỏi vẫn hay đặt ra là: Đức Phanxicô muốn đưa Giáo hội đi về đâu, đâu là mục đích của ngài?

 

Cách đây một năm cha đã nói: “Chúng tôi chờ các đường lối căn bản”. Bây giờ người ta có thể thấy chưa?

Bây giờ thì đã rõ ràng hơn cách đây một năm. Các bạn xem trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng. Với Tông huấn này, thì đây là kim chỉ nam cho triều giáo hoàng của ngài. Ngoài ra ngài còn công bố các văn kiện quan trọng, đọc các bài diễn văn lớn trong năm như bài diễn văn ngài đọc ở Nghị viện Âu châu, Strasbourg và trước Hội đồng Âu châu. Các ngõ ngách đã thấy rõ và các ưu tiên thì được chỉ dẫn rõ ràng.

Như?

Ưu tiên quan trọng nhất là sứ vụ, là phúc âm hóa. Khía cạnh này là đường chỉ đỏ dẫn lối. Không có chuyện quy về mình, tự quy chiếu, nhưng chia sẻ Phúc Âm với toàn thế giới. Và đó là châm ngôn của ngài.

Cha có biết tổng giám mục Francis George, địa phận Chicago đã về hưu, ngài chỉ trích các lời nói của Đức Phanxicô thường là khó hiểu, phải không?

Đúng là có những trường hợp phát ngôn viên của Tòa Thánh phải làm sáng tỏ một vài lời tuyên bố đặc biệt. Cải chính là cần thiết khi một vài tuyên bố này có thể gây hiểu lầm.

Đức Phanxicô là người kiểm soát được truyền thống tốt hơn là Đức Bênêđictô XVI phải không?

Đức Phanxicô xử lý với truyền thông một cách chủ động hơn. Ngài dùng truyền thông một cách trực tiếp và rất mạnh.

 

Và cũng khéo léo hơn?

Đúng, ngài dùng rất khéo léo.

Ai là các cố vấn thân cận nhất của ngài?

Câu hỏi này cứ được hỏi hoài và hỏi một cách có hệ thống. Tôi không được biết.

Với các cuộc họp Thượng Hội Đồng về gia đình, như cuộc họp tháng mười vừa qua và cuộc họp vào mùa thu sắp tới, Đức Phanxicô đã tạo một điểm chuẩn. Đặc biệt là vấn đề rước lễ của những người ly dị rồi tái hôn, vấn đề này đã gây nhiều bất bình. Một vài người có cảm tưởng Đức Phanxicô quan tâm đến mục vụ hơn giáo điều…

Tôi không chia sẻ cảm tưởng này. Điều này tạo ra một sự chống đối giả tạo mà trên thực tế không có. Đức giáo hoàng là người đầu tiên bảo đảm và canh giữ cho giáo điều của Giáo hội và cũng là người chăn chiên, người mục tử đầu tiên. Giáo điều và mục vụ không đối nghịch nhau, đó là anh chị em sinh đôi với nhau.

Đức Phanxicô và Đức Bênêđictô XVI có những điểm nào chống nhau trong cuộc thảo luận về những người ly dị rồi tái hôn không?

Tôi không biết có một tuyên bố về Giáo điều nào của Đức Phanxicô lại trái với các tuyên bố của vị tiền nhiệm. Và sẽ là phi lý. Có một điều cần nhấn mạnh là các cố gắng mục vụ phải rõ ràng hơn vì tình thế đòi hỏi như thế. Và đó là một điều hoàn toàn khác với việc thay đổi giáo quyền. Tôi chỉ có thể làm mục vụ một cách tế nhị, nhất quán và có lương tâm khi tôi dựa trên toàn bộ giáo huấn Công giáo để làm. Các phép bí tích không phải do các mục tử để lại mà do Chúa trao ban cho Giáo hội. và vì thế nó cũng đúng cho bí tích hôn nhân.

Có hay không trong thời gian Thượng Hội Đồng, các giám mục đến xin Đức Bênêđictô XVI can thiệp để cứu giáo điều?

Một sự viếng thăm Đức Bênêđictô XVI như vậy là không có và một sự can thiệp của giáo hoàng danh dự là chuyện hoàn toàn bịa đặt.

Làm sao Đức Bênêđictô XVI trả lời cho những đề nghị của nhóm bảo thủ truyền thống xem Đức Phanxicô như một ngụy giáo hoàng?

Không phải nhóm các người bảo thủ truyền thống thử đề nghị nhưng các đại diện của khoa thần học và một vài ký giả. Nói ngụy giáo hoàng là một chuyện ngu xuẫn và cũng không có trách nhiệm, cũng giống như tự đốt lửa gây hỏa hoạn về mặt thần học.

Gần đây có một vài kích động chung quanh sự đóng góp vào tập bốn trong Tác phẩm Toàn bộ của Đức Joseph Ratzinger vừa được xuất bản. Tác giả đã thay đổi một vài kết luận về vấn đề những người ly dị rồi tái hôn theo một nguyên tắc chặt chẽ hơn. Đức Bênêđictô XVI có muốn can sự vào vấn đề này trong cuộc thảo luận của Thượng Hội Đồng không?

Hoàn toàn không. Việc xem lại tài liệu của năm 1972 đã được làm xong và đã gởi đến nhà xuất bản từ lâu, trước lúc Thượng Hội Đồng họp. Cũng cần nhắc lại, mỗi tác giả có quyền sửa đổi lại những điều họ viết. Những người am hiểu đều biết Đức Bênêđictô XVI không bao giờ chia sẻ các kết luận của tài liệu này từ năm 1981, có nghĩa là đã trên 30 năm! Là Bộ trưởng bộ Giáo lý Đức tin, ngài đã giải thích rõ ràng trong các phản hồi khác nhau.

Thời điểm xuất bản ấn bản mới trùng với thời gian họp Thượng Hội Đồng, vậy thì có phải là có can thiệp…

Tập bốn trong Tác phẩm Toàn bộ trong đó có in tài liệu nói trên đáng lý xuất bản năm 2013. Nhưng vì nhiều lý do việc xuất bản bị chậm lại và chỉ đến năm 2014 mới được xuất bản. Thượng Hội Đồng về Gia đình lại xảy ra lúc này, đó là một chuyện hoàn toàn ngoài dự tính trong tiến trình xuất bản nhiều tập khác nhau.

Khi về hưu, Đức Bênêđictô XVI có nói ngài sẽ sống “ẩn kín với thế giới bên ngoài”. Tuy nhiên ngài vẫn còn xuất hiện trong một vài dịp. Tại sao?

Khi ngài xuất hiện trong những dịp lễ quan trọng của Giáo hội là do Đức Phanxicô đích thân mời ngài, như Công nghị tháng 2-2014, dịp phong thánh Đức Gioan XXIII và Đức Gioan-Phaolô II tháng tư và dịp phong thánh Đức Phaolô VI tháng 10. Ngài cũng viết một tin nhắn cho lễ khai trương Hội trường Giáo hoàng học viện  Urbania ở Rôma, ngài được mời nhưng ngài không đến dự.

Trong một thông điệp mà cha đọc nhân danh ngài khi đó, ngài đã có những tuyên bố về mặt thần học rõ ràng. “Sự loại bỏ chân lý là sự chết của đức tin” ngài đã viết.

Thông điệp đó là một đóng góp lớn lao cho chủ đề “Chân lý và Sứ vụ”. Khi thông điệp đó được đọc lên trong hội trường chật ních, bầu khí thật thinh lặng, người ta có thể nghe tiếng muỗi bay. Về nội dung thì đó là một văn bản cổ điển về mặt thần học. Trước đó, Đức Phanxicô có nhận một bản tài liệu của Đức Bênêđictô XVI, ngài rất xúc động và đã cám ơn Đức Bênêđictô XVI.

Thỉnh thoảng Đức Bênêđictô XVI có nói về việc ngài về hưu không? Ngài có cảm thấy nhẹ lòng không?

Ngài bình tâm và xác quyết quyết định của ngài là đúng và cần thiết. Đó là một quyết định của lương tâm sau khi đã cầu nguyện, khi chỉ có một mình mình đứng trước mặt Chúa.

Cha đã đấu tranh lúc Đức Bênêđictô XVI quyết định từ nhiệm vào tháng 2 năm 2013. Bây giờ cha nhìn lại giai đoạn này như thế nào?

Đúng là quyết định này đã rất khó khăn đối với tôi. Về mặt riêng tư thì không phải dễ để chấp nhận. Tôi đã đấu tranh để đối diện với nó. Bây giờ cuộc đấu tranh này đã chấm dứt từ lâu.

Cha đã thề là trung thành với Đức Bênêđictô XVI đến chết. Có nghĩa là cha sẽ ở bên cạnh ngài và như thế là ở Vatican?

Ngày ngài được bầu chọn làm giáo hoàng, tôi đã hứa với ngài là tôi giúp ngài trong khi sống và đến khi chết. Đương nhiên lúc đó tôi không nghĩ đến chuyện về hưu. Nhưng lời hứa vẫn luôn luôn đúng và luôn luôn có giá trị.

Các giám mục cũng phải là các mục tử. Là tổng giám mục trong Giáo triều La Mã, cha có bao giờ có cảm tưởng  mình là mục tử nhưng không có đàn chiên không?

Có, thỉnh thoảng. Nhưng càng ngày tôi càng nhận các lời mời đi làm lễ thêm sức, làm các dịp lễ sinh nhật và các lễ khác. Mới đầu tôi còn ngần ngại và chỉ nhận một số ít lễ nhưng gần đây tôi đã thay đổi. Việc tiếp xúc trực tiếp với giáo hữu rất quan trọng. Vì thế tôi nhận lo mục vụ khi thì giờ cho phép. Đó là một điều tốt và cần thiết. Và đó cũng là liều thuốc tốt để chống lại một trong các bệnh mà Đức Phanxicô nêu ra: nguy cơ trở thành người của bàn giấy!

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Thông điệp Ngày Truyền thông Thế giới Thông hiệp gia đình

Thông điệp Ngày Truyền thông Thế giới Thông hiệp gia đìnhVatican đã phát hành Thông điệp của Giáo hoàng Phanxicô cho Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới, lễ mừng toàn cầu được Công đồng Vatican II thiết lập (sắc lệnh Inter mirifica, 1963).  Chủ đề thông điệp năm nay là: ‘Thông hiệp Gia đình – Nơi dành riêng gặp gỡ Ơn Yêu thương.’

Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới được mừng ở hầu hết mọi quốc gia, vào ngày chúa nhật trước Lễ Hiện Xuống. Thư của giáo hoàng được công bố vào đêm ngày 24 tháng 1, lễ thánh Francis de Sales, thánh bảo trợ cho các nhà báo, và cũng là ngày phát hành thông lệ.

Thông điệp năm nay, kêu gọi các tín hữu hay xem gia đình là một ‘nguồn lực hơn là một vấn đề đối với xã hội’ và mời goi các gia đình hãy làm gương cho tình yêu Chúa Kitô, sự ân cần và thân ái.

Sau đây là toàn văn thông điệp của Giáo hoàng Phanxicô nhân Ngày Truyền thông Xã hội Thế giới:

Thông hiệp gia đình:  Nơi dành riêng gặp gỡ Ơn Yêu thương.

Gia đình là đối tượng suy tư sâu sắc của Giáo hội và của tiến trình hai Hội đồng là hội đồng bất thường mới đây và hội đồng thông thường vào tháng 10 năm này.  Vậy nên tôi nghĩ thật đúng hợp khi chủ đề của Ngày Truyền thông Thế giới sắp đến sẽ quy chiếu về gia đình.  Xét cho cùng, chính gia đình là nơi đầu tiên chúng ta học cầu nguyện.  Tập trung vào bối cảnh này, có thể cho chúng ta thông hiệp chân thật và nhân văn hơn, giúp chúng ta nhìn gia đình với một quan điểm mới.

Chúng ta có thể lấy hứng khởi từ đoạn Tin mừng kể về việc Đức Mẹ đến viếng bà Elizabeth (Lc 1, 39-56).  ‘Khi Elizabeth nghe tiếng Maria chào, hài nhi nhảy lên trong bụng bà, và Elizabeth, lòng đầy Thần Khí, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: ‘Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc.” (Lc 1, 41-42)

Đoạn này trước hết cho chúng ta thấy truyền thông là một đối thoại hòa lẫn với ngôn ngữ cơ thể đến thế nào.  Phản ứng đầu tiên với lời chào của Mẹ Maria, là việc đứa con trong bụng bà Elizabeth nhảy lên vui mừng.  Niềm vui gặp gỡ người khác, là một điều mà chúng ta đã học được trước khi được sinh ra, có thể nói rằng, đây là nguyên mẫu và biểu tượng của tất cả mọi dạng truyền thông khác.  Dạ cưu mang chúng ta là ‘trường học’ truyền thông đầu tiên, một nơi để lắng nghe và liên lạc thể lý, nơi chúng ta bắt đầu làm quen với thế giới bên ngoài từ trong một môi trường được bảo bọc, với âm thanh làm yên lòng vững dạ là nhịp tim của mẹ.  Cuộc gặp gỡ giữa 2 con người này, quá gắn kết mật thiết, trong khi vẫn riêng biệt với nhau, một cuộc gặp quá đầu hứa hẹn, và đây chính là cảm nghiệm đầu tiên của chúng ta về truyền thông.  Đây là một cảm nghiệm mà ai ai trong chúng ta cũng có, bởi ai cũng được sinh ra từ lòng mẹ.

Ngay cả khi đã chào đời, theo một nghĩa nào đó, chúng ta vẫn ở trong ‘dạ mẹ’ chính là gia đình.  Một cung lòng được làm nên bởi nhiều người tương quan khác nhau: gia đình là ‘nơi chúng ta học sống với người khác bất chấp các khác biệt của mình’ (Niềm vui của Tin mừng, 66).  Bất chấp các khác biệt về giới tính và tuổi tác, các thành viên trong gia đình đón nhận nhau bởi có một mối liên kết giữa họ.  Biên độ của các quan hệ này, và sự khác biệt tuổi tác, càng lớn, thì môi trường sống của chúng ta càng phong phú.  Chính mối liên kết này là cội rễ của ngôn ngữ, vốn củng cố thêm cho chính mối ràng buộc đó.  Chúng ta không tạo ra ngôn ngữ, chúng ta dùng ngôn ngữ vì đã lĩnh hội nó.  Chính trong gia đình, chúng ta họ nói ‘tiếng mẹ đẻ,’ ngôn ngữ của những người đi trước chúng ta. (2 Macb 7, 25-27).  Trong gia đình, chúng ta nhận ra rằng người khác đã đi trước chúng ta, họ tạo khả thể cho chúng ta tồn tại và đến lượt mình chúng ta cũng sinh ra những mầm sống mới và làm những điều tốt lành đẹp đẽ.  Chúng ta có thể cho đi là bởi đã nhận lãnh.  Vòng tròn nhân đức này nằm ở tâm điểm của năng lực thông hiệp trong gia đình gữa các thành viên và với người khác.  Nói rộng ra, thì đây là hình mẫu cho tất cả mọi truyền thông.

Cảm nghiệm từ mối quan hệ ‘đi trước’ chúng ta này, cho gia đình có thể trở thành cơ cấu truyền lại hình thức thông hiệp căn bản nhất là cầu nguyện.  Khi cha mẹ cho con đi ngủ, họ thường ký thác các em cho Chúa, xin Chúa canh chừng con cái mình.  Khi các trẻ lớn hơn một ít, cha mẹ giúp các con đọc những lời kinh đơn giản, hướng về những người khác, như ông bà, thân thuộc, người đau bệnh người cùng khổ và tất cả những ai cần đến Chúa.  Chính trong gia đình, mà đa số chúng ta học biết những chiều kích tôn giáo của truyền thông, tràn đầy tình yêu, một tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và rồi chúng ta trao ban cho người khác.

Trong gia đình, chúng ta học cách trìu mến và nâng đỡ lẫn nhau, nhận ra ý nghĩ của các nét mặt và những lúc im lặng, lúc cười đùa và khóc cùng nhau, cùng với những người vốn không chọn lựa nhau nhưng lại quá quan trọng với nhau.  Điều này giúp chúng ta rất nhiều trong việc hiểu được ý nghĩa của truyền thông là nhận ra và tạo dựng sự gần gũi.  Khi chúng ta bớt xa cách bằng cách tiến gần lại và chấp nhận nhau, chúng ta cảm nghiệm được lòng biết ơn và niềm vui.  Lời chào của Đức Mẹ và đứa con trong bụng nhảy mừng, là phúc lành với bà Elizabeth, nối tiếp là bài Magnificat mà Mẹ Maria tôn vinh dự định yêu thương Chúa đã dành cho Mẹ và cho dân của Mẹ.  Một lời ‘vâng’ được nói lên với đức tin có thể có những tác động vượt quá bản thân và vị thế của chúng ta trong thế giới.  Hành động ‘thăm viếng’ là mở ra những cánh cửa, không còn khóa chặt trong thế giới nhỏ của mình, nhưng đi ra với người khác.  Vậy nên, gia đình sống động khi vươn ra khỏi mình. Khi làm như thế, các gia đình truyền tải thông điệp sự sống và thông hiệp, đem lại an ủi và hi vọng cho các gia đình dễ tổn thương, và từ đó xây dựng Giáo hội, vốn là gia đình của các gia đình.

Hơn bất kỳ nơi nào khác, gia đình là nơi chúng ta hằng ngày cảm nghiệm những hạn chế của mình và của người khác, các vấn đề lớn nhỏ phát sinh từ việc sống an bình với người khác.  Không có gia đình hoàn hảo.  Chúng ta đừng sợ sự bất hoàn hảo, sự yếu đuối hay thậm chí cả xung khắc, nhưng hãy học cách giải quyết chúng trong tinh thần xây dựng.  Gia đình, nơi chúng ta vẫn yêu thương nhau bất chấp các hạn chế và tội lỗi, trở nên một trường dạy tha thứ.  Tha thứ tự nó là một tiến trình thông hiệp.  Khi bày tỏ lòng hối hận và được chấp nhận, thì có thể phục hồi và tái thiết sự thông hiệp đã bị phá vỡ.  Một đứa trẻ học được trong gia đình cách lắng nghe người khác, nói chuyện tôn trọng, và bày tỏ quan điểm của mình mà không bác bỏ quan điểm của người khác, sẽ là một lực đối thoại và hòa giải trong xã hội.

Khi có các khó khăn trong việc truyền thông, các gia đình có con cái bị tật nguyền dạy chúng ta còn nhiều điều hơn nữa.  Một hạn chế về tâm thần, thần kinh và cảm quan, có thể là lý do khép mình, nhưng cũng có thể, nhờ tình yêu của cha mẹ, anh chị em và bạn bè, mà trở nên một lực đẩy cởi mở, chia sẻ và sẵn sàng giao thiệp với tất cả mọi người.  Điều này cũng có thể giúp cho các trường học, giáo xứ và tổ chức trở nên chào đón và dung nạp hơn với tất cả mọi người.

Trong một thế giới, nơi người ta thường nguyền rủa, nói tục, nói xấu người khác, gieo bất hòa và gây nhiễm độc môi trường nhân văn bằng thói đàm tếu, thì gia đình có thể dạy chúng ta hiểu được rằng, giao tiếp là một phúc lành  Trong các tình thế dường như hoàn toàn nằm trong hận thù và bạo lực, nơi các gia đình bị chia lìa bởi những bức tường đá hay một bức tường rắn chắc không kém là thói định kiến và phẫn uất, nơi dường như hợp lý để nói ‘đủ là đủ rồi,’ thì chỉ có nhờ chúc phúc hơn là nguyền rủa, viếng thăm hơn là cự tuyệt, đón nhận hơn là đối đầu, chúng ta mới có thể phá vỡ đường xoắn ốc tiệm tiến của sự dữ, và chỉ ra rằng sự thiện luôn khả dĩ, đồng thời giáo dục cho con cái tình thân ái.

Ngày nay, truyền thông hiện đại, vốn là một phần thiết yếu của cuộc sống, nhất là với thanh niên, vừa là một hỗ trợ vừa là một trở lực đối với sự thông hiệp trong và giữa các gia đình.  Truyền thông có thể là một trở lực nếu chúng trở thành một cách để khước từ lắng nghe người khác, để lẩn tránh các giao tiếp cơ thể, để lấp cho đầy những khoảng lặng và nghỉ ngơi, khiến chúng ta quên mất rằng ‘thinh lặng là một yếu tố nội tại của truyền thông, khi thiếu vắng nó thì chẳng thể có được các từ ngữ nội dung.’ (Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Ngày Truyền thông Thế giới 2012)  Truyền thông có thể giúp thông hiệp khi nó cho người ta chia sẻ chuyện đời mình, giữ liên lạc với các bạn bè ở xa, cảm ơn người khác hay xin được tha thứ, và mở cửa với những cuộc gặp gỡ mới.  Nhờ lớn lên mỗi ngày trong nhận thức về tầm quan trọng sống còn của việc gặp gỡ người khác, gặp gỡ ‘những khả thể mới’ này, chúng ta sẽ dùng công nghệ một cách khôn ngoan, thay vì để mình bị nó thống trị.  Và cũng thế, các bậc cha mẹ là những nhà giáo dục đầu tiên, nhưng không thể để mặc họ tự lo được.  Cộng đoàn Kitô giáo được kêu gọi hãy giúp đỡ họ trong việc dạy dỗ con cái cách sống trong một môi trường truyền thông phù hợp với phẩm giá của con người và phục vụ lợi ích chung.

Thách thức lớn mà chúng ta đang phải đối mặt ngày nay chính là một lần nữa học lại cách nói chuyện với nhau, chứ không phải là làm sao để tạo ra và hấp thụ thông tin.  Đây là một khuynh hướng mà truyền thông hiện đại vốn quan trọng và ảnh hưởng có thể thúc đẩy.  Thông tin quan trọng, nhưng thế là không đủ.  Quá thường xảy ra việc đơn giản hóa mọi chuyện, các quan điểm lập trường khác nhau bị đem ra đối chọi, và rồi mời mọc người ta theo phe này phe kia, hơn là có cái nhìn tổng thể.

Tóm lại, gia đình không phải là đối tượng để tranh luận hay là bãi chiến trường của các hệ tư tưởng.  Nhưng, gia đình là môi trường trong đó chúng ta học cách thông hiệp với cảm thức gần gũi, một cơ cấu thông hiệp, một ‘cộng đoàn thông hiệp.’  Gia đình là một cộng đoàn ra tay nâng đỡ, tôn vinh sự sống và sinh hoa trái.  Một khi nhận ra được điều này, chúng ta sẽ một lần nữa có thể nhìn ra được rằng gia đình tiếp tục là một nguồn lực nhân văn phong phú, chứ không phải là một vấn đề hay một cơ chế đang khủng hoảng.  Nhiều khi truyền thông có khuynh hướng trình bày gia đình như một dạng hình mẫu trừu tượng, phải chấp nhận hay loại trừ, bảo vệ hay công kích, chứ không cho thấy gia đình là một hiện thực sống.  Có khi còn xem gia đình là một bãi chiến trường xung đột giữa các hệ tư tưởng, hơn là một cơ cấu nơi tất cả chúng ta có thể học được ý nghĩa của thông hiệp trng yêu thương, biết cho đi và nhận lãnh.  Gắn kết với các cảm nghiệm của mình, nghĩa là nhận ra rằng đời sống chúng ta gắn bó với nhau như một thực thể duy nhất, rằng tiếng nói  của chúng ta có nhiều, và tiếng nói của mỗi một người đều là độc nhất vô nhị.

Các gia đình phải được xem là một nguồn lực chứ không phải vấn đề của xã hội.  Các gia đình tốt nhất, truyền thông tích cực bằng chứng tá cho vẻ đẹp và sự phong phú trong quan hệ giữa người nam với người nữ, giữa cha mẹ và con cái.  Chúng ta không đấu tranh để bảo vệ cho quá khứ.  Nhưng, với sự kiên nhẫn và tin tưởng, chúng ta làm việc để xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho thế giới mà chúng ta đang sống.

Từ Vatican, 13 tháng 1, 2015

Đêm lễ thánh Francis de Sales

 

J.B. Thái Hòa dịch

Giáo hoàng với các hồng y tân chức: Làm Hồng y không phải một giải thưởng

Giáo hoàng với các hồng y tân chức  Làm Hồng y không phải một giải thưởngGiáo hoàng Phanxicô đã gởi thư đến từng người một trong số 20 giám chức sẽ được cất nhắc vào Hội đồng Hồng y, trong hội nghị vào ngày 14 tháng 2 tại Vatican. Trong thư, Giáo hoàng nhắc nhở các giám chức rằng: là Hồng y nghĩa là ơn gọi phục vụ, và nhấn mạnh cần phải biết khiêm nhượng.

‘Hãy khiêm nhượng, bởi việc phục vụ không dễ dàng gì,’ khi người ta xem chức hồng y là một giải thưởng, hay một thăng tiến nghề nghiệp, một vị trí cao về quyền lực hay sự trọng vọng.  Giáo hoàng thúc giục các tân hồng y hãy nỗ lực mỗi ngày, tránh xa kiểu nhận định trên.  Và Đức Phanxicô nói tiếp, khi mừng bước tiến mới trong ơn gọi của mình, thì hãy làm trong khiêm nhượng và bảo đảm rằng các tiệc mừng này sẽ không bị nhiễm tinh thần thế gian, vốn làm người ta nhiễm độc hơn cả uống rượu mạnh với cái bụng đói, và tinh thần thế gian có thể tách lìa người ta khỏi Thập giá Chúa Kitô.

Những điều “khủng khiếp” ở đường phố Manila

Glyzelle PalomarBài đọc cảm động của hai em cựu đường phố ở Phi

zenit.org, 22-1-2015

“Khi con còn nhỏ, con thấy những điều mà con không thích, những điều khủng khiếp xảy ra cho các bạn của con ở ngoài đường phố”: câu chuyện của em Jun Chura đã làm cho Đức Phanxicô và cử tọa gần 30 000 người trẻ tụ họp ở trường Đại học Thánh Tôma ngày chúa nhật 18-1-vừa qua tại Manila xúc động.

Em Glyzelle Palomar đã không cầm giữ được nước mắt khi đọc cho Đức Phanxicô nghe. Cả hai được tổ chức Phi Chính Phủ Anak cứu ra khỏi cảnh sống bụi đời, Anak là một tổ chức giúp các em kém may mắn ở Manila, tại thủ đô Phi có 70 000 em bụi đời và trên toàn quốc có 1,5 triệu rưỡi em.

Đây là nguyên văn bài đọc của em Jun Chura,

 

Trọng kính Đức Thánh Cha,

Con tên là Jun Chura, con 14 tuổi và con là cựu trẻ em đường phố. Vì gia đình con không thể cho con đến trường được nên con ở nhà và con đã rời gia đình. Con tự nuôi thân với tất cả những gì con tìm được trong thùng rác. Con không biết chỗ nào để nương thân, con ngủ ở vĩa hè. Con tìm giấy các tông cứng để trải nằm. Con cố gắng vượt qua khỏi hoàn cảnh dù con cũng dơ như các bạn bụi đời của con. Các bạn của con cũng cố gắng thoát ra khỏi hoàn cảnh dù chúng cũng rất dơ. Con không biết tìm gì để ăn cho qua ngày, con chỉ biết đến các tiệm ăn chờ khách ăn xong, con xin ăn phần họ bỏ dư. Đôi khi con đi lang thang tìm các đồ vật bể gãy để bán lại: chai nhựa hay giấy báo, khi túi xách của con đầy, con đem đi bán để có tiền mua thức ăn. Cũng có khi con gõ cửa các nhà trong khu vực để xin ăn nhưng thường thường họ cũng không có gì để cho con.

“Khi con còn ở ngoài đường, con thấy những điều mà con không thích, những điều khủng khiếp xảy ra cho các bạn của con ở ngoài đường phố”: con thấy người ta dạy cho các bạn con ăn cắp, có khi còn dạy giết người và các bạn con không còn một chút kính trọng nào đối với người lớn. Đôi khi các bạn cãi nhau về những đồ vật các bạn ăn cắp. Con cũng thấy họ dụ các bạn con dùng ma túy như shabu, hút thuốc lá hay hút marijuana. Con cũng thấy các bạn con hít các dung môi hay cồn, đó cũng là ma túy. Và đó là những chuyện con thường thấy nơi các bạn con ở ngoài đường phố. Khi con còn ở ngoài đường phố, con rất cẩn thận vì con thấy các bạn con cũng lừa dối như người lớn. Các người này hứa cho chúng con tiền để lôi kéo chúng con và để đến gần trẻ con, làm cho trẻ con tin rằng họ sẽ cho ăn, cho đi học, săn sóc nhưng sự thật là để lợi dụng, bắt làm việc nhà, đôi khi còn làm những chuyện bất chính như lợi dụng tình dục. Có rất nhiều kiểu lợi dụng ngoài đường phố!

Sau nhiều ngày, bỗng con có một hy vọng khi có một giáo viên thuộc Tổ chức Tulay ng Kabataan hỏi con có muốn vào Tổ chức này để giúp các trẻ em sống ngoài đường phố không. Họ hỏi con, đầu tiên hết con từ chối. Vài ngày sau khi con thấy tổ chức này thật sự lo cho các trẻ em đường phố, những trẻ em không còn ở với gia đình, con nhận ra những người này không phải là những người không có tâm hồn. Vẫn còn có những người có tấm lòng, họ sẵn sàng giúp các trẻ em thiếu thốn.

Khi con vào Tổ chức Tulay ng Kabataan, con rất ngạc nhiên khi thấy có những người thật sự muốn đi giúp người khác và con bắt đầu mơ. Con tự nhủ khi con học xong, con sẽ đi giúp các em đường phố như con. Như thế con sẽ có thể giúp gia đình con và giúp Tổ chức Tulay ng Kabataan vì chính Tổ chức này đã giúp con được tiếp tục đi học.

Bây giờ con biết con sẽ được tiếp tục đi học vì Tổ chức này ở bên cạnh con và sẽ không ngừng giúp đỡ con và các bạn đường phố của con.

Con xin cám ơn rất nhiều!

Các câu hỏi con xin hỏi Đức giáo hoàng: (Đoạn này được em Glyzelle Palomar đọc)

Trọng kính Đức Thánh Cha, con xin hỏi Đức Thánh Cha các câu hỏi sau: Có rất nhiều trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi. Có rất nhiều trẻ em trở thành nạn nhân và rất nhiều chuyện khủng khiếp đã xảy ra cho các em như  bị nghiện ngập, bị làm điếm. Tại sao Chúa lại để cho những chuyện này xảy ra …. [em khóc nấc, lạc giọng] dù đó không phải là lỗi của trẻ con? Và tại sao có ít người giúp chúng con?

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Làm điếm: thảm kịch của nạn bán thân

Cao mien-lam diem 23-1-2015 (2)petitapetitour.com, Sihanoukville, 23-1-2015

Đã đến giờ chúng tôi lên đường đi làm một sứ mệnh hơi đặc biệt. Cũng như tất cả mọi chiều thứ sáu, chiều nay chúng tôi đi đến các quán bar. Với ý tưởng là đến nơi làm việc của các «cô» để có mặt ở đó, để giới thiệu trung tâm Nguồn Sống (Fountain of Life) do các nữ tu Dòng Chúa Chiên Lành phụ trách và các lớp dạy Anh văn. Chiều hôm đó chúng tôi đến tiệm. Chưa có bao nhiêu người vì còn quá sớm.

Khoảng 23 giờ, bầu khí sốt nóng lên, chợ đêm bắt đầu. Bên cạnh tôi là một anh ngồi một mình đã hơn một giờ, anh giơ ngón tay lên chỉ một cô gái trẻ duyên dáng, anh chọn cô này. Như ở các gian hàng buôn bán, có điều là ở đây anh không cần đứng dậy di chuyển. Trò đóng kịch chiêu dụ bắt đầu. Đầu tiên hết là với các cô trinh nữ hoảng sợ, sau đó là cuộc mặc cả, cô ngồi xuống. Khách là một người phương Tây khoảng năm mươi tuổi, cô là một cô gái Cao Miên khoảng hơn hai mươi tuổi.

Nếu cuộc gặp gỡ này mà mọi người nghĩ rằng theo kiểu vẫn có xưa nay thì nó không thể giải thích được sự phức tạp của tình huống cũng như đủ kiểu lợi tức nơi những người liên hệ trong thực trạng của nạn làm điếm này. Trên thực tế, tình trạng của các cô có nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có những cô như cô tôi vừa gặp, họ tự đi tìm khách. Buổi chiều đến, họ đi dọc các quán bar chờ khách chọn. Các cô làm việc cho các cô. Các cô khác hợp tác hay làm việc cho chủ bar. Có một số cô trả tiền thuê đầu cho chủ bar để được mời khách; công việc của họ là mời gọi tiêu thụ. Chủ bar thu một số, phần còn lại là của các cô. Các cô còn trinh chỉ ở đó để nói chuyện với khách, khách không có quyền đụng đến các cô. Các cô khác mang số, khách chọn theo số, trả tiền trực tiếp ở quầy và đem các cô đi.

Và nếu có nhiều kiểu các cô thì cũng có nhiều hạng khách. Có những người đàn ông đi một mình, đi nghỉ hè hay mới dọn tới, những người về hưu, những đám bạn trẻ vô tư đi chơi. Mới đầu tôi khó mà không phán xét các khách hàng này. Một mặt do cả ngày chúng tôi ở bên cạnh các cô, mặt khác vì có một vài cô kể cho chúng tôi nghe thỉnh thoảng họ bị hành hạ bằng bạo lực. Rồi với một độ lùi và sau nhiều buổi nói chuyện với các nữ tu, tôi hiểu không có chuyện người tốt một bên, người xấu một bên, cũng như các lý do thúc đẩy các cô vào nạn bán thân thì có rất nhiều lý do: ra khỏi vòng gia đình mà thường là ở đây có nhiều nạn lạm dụng tình dục, làm điếm để trả tiền học, hoặc tìm một người ngoại quốc để giúp đỡ và đem các cô ra khỏi đây. Như vậy có một vài khách rất đàng hoàng, họ kết hôn với các cô này, xây dựng gia đình hay đem các cô về xứ với họ.

Dù có sự phức tạp trong các tình huống và điều cần thiết là không nên bao giờ phán xét ai, thực tế của nạn bán thân ở Cao Miên cho thấy làm điếm là một sự xấu. Một sự xấu mà không ai muốn vướng vào. Tôi không nghĩ người ta cảm thấy tội lỗi hay đồng tình với tình huống tuyệt vọng của các cô. Họ không bán thânï để đi tìm khoái lạc. Tôi vẫn phẫn nộ khi nhìn các ông khách hàng này, nó làm cho tôi rất buồn. Chợ mua bán thân xác, cảnh chiêu dụ trước mắt mà đánh lừa là thấy trước, những cử chỉ hung bạo thì khó mà chịu đựng được.

Có một lúc khuya, tôi ở giữa đám đông nơi sàn nhảy và một thanh niên trẻ người Canada khêu tôi: «Bạn thấy đó, ở đây bạn chỉ cần búng một ngón tay là cô đó thuộc về bạn.» Chính anh cũng đang cọ sát một cách tuyệt vọng với một cô trong hy vọng có một chút yêu thương. Anh này đã làm tôi buồn. Tôi có cảm tưởng đang nhìn một người bị khựng ở tuổi vị thành niên. Giai đoạn mà người ta chưa thật sự tin tưởng vào mình, bị mất thăng bằng và ngạc nhiên khi lần đầu tiên khám phá giới kia, người ta nhìn và có những cử chỉ vụng về. Thực chất trước hết người ta đi tìm sự chú ý và một chút sự dịu dàng. Các cô bán thân biết rõ trò chơi này và để mặc cho ảo tưởng  lôi cuốn trong một trò chơi mà tiền bạc là vua. Tiền bạc làm đảo lộn các giá trị, con người không còn ở trọng tâm trong các quan hệ, nó mất nhân phẩm. Tiền bạc làm cho Con người ở trong ảo tưởng rằng mình mạnh, cho một cảm giác sai lầm là mình có thể làm được mọi sự. Tôi muốn khoái lạc lúc nào là được lúc đó, tôi có thể mua thân xác người kia và buộc họ phải yêu tôi dù chỉ trong một đêm.

Chiều hôm đó tôi rất buồn trước tình cảnh thảm thương này, những người chung quanh tôi có vẻ như không để ý. Với tất cả những người đi tìm vui ở những nơi tuyệt vọng này, tôi chỉ muốn nói chuyện với họ, muốn cho họ lại niềm tin tưởng, tôi muốn làm cho họ cảm nhận phẩm giá con người họ và những người họ lợi dụng một cách trái phép, tôi muốn họ nhận ra họ được Một Người Nào Đó yêu thương, người đó biết tất cả trong tâm hồn họ. Người không bao giờ lên án nhưng nâng họ dậy. Người thương họ trong sự yếu đuối của họ. Nhưng chiều hôm nay, tôi không thể làm được.

Quentin

Marta An Nguyễn dịch

Tinh thần thiện nguyện

Krystelcbcpnews.com, Taguig city, 21-1-2015

Cho dù bị mất con trong một tai nạn bi đát trong chuyến viếng thăm của Đức Phanxicô ở Tacloban, nhưng thân phụ của cô Krystel, ông Paulino Padasas cảm thấy mình được an ủi vì con gái ông đã trở nên nguồn cảm hứng và gương mẫu cho các người trẻ ở Phi về tinh thần làm việc thiện nguyện.

Ông cho biết con gái ông đã từ chối một việc làm có lương và để ông ở lại thành phố một mình để đi làm thiện nguyện cho tổ chức Cứu trợ Công giáo (Catholic Relief Service, CRS) trong các chương trình giúp đỡ các cộng đoàn bị thiệt hại ở Samar.

“Con gái tôi có thể không mang lại vinh dự cho gia đình tôi nhưng con tôi mang lại cảm hứng cho cả thế giới vì con tôi trở thành gương mẫu cho thế hệ tương lai,” ông Padasas tuyên bố như trên với hãng thông tấn CBC của Phi.

Cô Kristel Mae đã chết trong tai nạn giàn thép sắt sập trong thánh lễ của Đức Phanxicô ở Tacloban, cô mới 27 tuổi.

Thiện nguyện

Kristel Mae đã đi từ Samar đến Tacloban để làm thiện nguyện ở thánh lễ cầu nguyện cho các nạn nhận của trận bão Hải Yến ngày thứ bảy 17-1-2015 ở Tacloban. Nếu cô không bị tai nạn thì Kristel Mae sẽ mừng sinh nhật 28 tuổi vào ngày 22-6 sắp tới và cô dự trù sẽ đi một mình đến Batanes, thân phụ cô cho biết.

“Krystel làm thiện nguyện theo quyết định của mình. Con tôi để tôi ở đây một mình, nó không ở với tôi mà ở với những người không quen biết và phục vụ họ,” ông nói thêm.

Padasas cho biết ông đã hỏi Chúa vì sao Chúa lại cất đứa con duy nhất của ông nhưng cuối cùng ông hiểu lý do của sự mất mát lớn lao này.

“Tôi tự hỏi vì sao Chúa lại cất đi đứa con duy nhất của tôi. Có thể tôi không có câu trả lời nhưng tôi biết chỉ có Chúa mới biết. Tôi tự hỏi vì tôi quá xúc động,” ông kể.

Theo ông Padasas, chỉ sau một thời gian ngắn, trí óc ông nhận ra con gái ông phải chết để trở nên nguồn cảm hứng, để người khác được mở lòng ra.

Khi nghe tin cô Kristel Mae mất, Đức Phanxicô đã gặp thân sinh cô ở nhà Sứ thần Tòa Thánh ở Manila sáng sớm chúa nhật 18-1-2015 vừa qua. Ông Padasas cho biết ông cảm thấy bình an khi được Đức Thánh Cha ôm trong lòng và an ủi ông.

Đức Phanxicô đã cho ông các ảnh tượng và tràng chuỗi và bây giờ ông để ảnh tượng và tràng chuỗi trên hòm của con ông.

“Cái chết của con tôi đã mang một ý nghĩa vì con tôi đã gặp Đức giáo hoàng và con tôi chết khi làm bổn phận. Tôi đã nói với ngài, cái chết của con tôi đã có một ý nghĩa,” ông nói.

Tha thứ

Ngoài việc chấp nhận con mình chết, ông còn tha thứ cho những người có trách nhiệm trong tai nạn này. “Dù họ có lỗi nhưng tôi tha thứ. Ai muốn có tai nạn như thế này. Không một ai,” ông nói.

Nhưng ông Padasas cho biết, cuộc điều tra vẫn tiến hành để tránh tai nạn như thế này sẽ có thể xảy ra.

“Cuộc điều tra vẫn tiến hành để tìm người gây ra lỗi. Người có lỗi phải chịu trách nhiệm để lần sau họ cẩn thận hơn, vì có thể cũng sẽ có tai nạn như thế sẽ xảy ra,” ông nói.

Tuy nhiên ông cho biết, cá nhân ông không phải là người trừng phạt người có lỗi nhưng đó là công việc của pháp luật.

Trong thời gian này, mẹ của cô Kristel, bà Judy Padasas đã về Phi. Bà giúp việc nhà ở Hong Kong từ năm 1991. Cô Kristel Mae sẽ được chôn ở Heritage Park Mortuary and Crematory.

Nguyễn Tùng Lâm dịch

Bài mới nhất