“Đơn vị Đối cực” của hai nghi thức La-mã
thecatholicthing.org, Linh mục ‘Amare Nesciri’, ngày thứ bảy 21 tháng 3 năm 2026
Lưu ý: Thông thường, chúng tôi không đăng bài viết dưới bút hiệu, đây là quy tắc tốt, cả về mặt đạo đức lẫn biên tập, khi mọi người công khai bảo vệ quan điểm của mình. Nhưng bài viết này rất hữu ích về “cuộc chiến phụng vụ” nên lần này chúng tôi tạm thời bỏ qua quy tắc này. Xin tác giả yên tâm, tác giả là linh mục chúng tôi biết từ nhiều thập kỷ nay với tư cách là công dân gương mẫu, nhưng vì một số lý do, ngài muốn giữ kín danh tính. Ngài là linh mục Bắc Mỹ, giảng dạy tại chủng viện, làm công tác giáo xứ, cử hành cả hai Nghi thức La-mã.
Tự sắc Summorum Pontificum (Tự sắc của Đức Bênêđíctô XVI cho phép tự do cử hành Thánh lễ La-tinh truyền thống, nghi lễ Tridentine 1962, như một “hình thức ngoại thường” của Phụng vụ Rôma 2007) đã đưa vào từ vựng giáo hội đương đại một phân biệt mà kể từ đó đã trở nên vừa hữu ích vừa tạo tranh cãi: “Hình thức Thông thường” và “Hình thức Ngoại thường” của một Nghi thức La-mã duy nhất. Ngài nhấn mạnh đây không phải là hai nghi thức nhưng là hai cách sử dụng cùng một luật lệ về kinh nguyện. Sách lễ của Đức Phaolô VI ban hành sau Công đồng Vatican II cấu thành Hình thức Thông thường; Sách lễ của Đức Gioan XXIII (1962), tiếp nối một cách hữu cơ với bộ luật Tridentine của Giáo hoàng Piô V, có thể được cử hành như Hình thức Ngoại thường.
Tuyên bố của Đức Bênêđíctô XVI mang tính pháp lý và mục vụ, nhưng ý nghĩa sâu xa là thần học. Sự cùng tồn tại hai hình thức trong một nghi thức có thể được hiểu là một “thống nhất đối cực” theo nghĩa được thần học gia Hans Urs von Balthasar diễn đạt: sự căng thẳng sống động của các nguyên tắc bổ sung mà sự thống nhất của nó không phải là san bằng sự khác biệt nhưng là sự phối hợp của nó.
Chính Đức Bênêđíctô XVI đã bác bỏ cách giải thích về sự đứt gãy, vốn đối lập phụng vụ trước và sau Công đồng với nhau. Trong bài phát biểu nổi tiếng năm 2005 trước Giáo triều Rôma, ngài đã đối lập “cách giải thích về sự gián đoạn và đứt gãy” với “cách giải thích về sự cải cách trong sự liên tục”. Phụng vụ là hành động đức tin công khai nhất của Giáo hội, phải thể hiện sự liên tục này không chỉ theo nghĩa khái niệm mà còn mang tính bí tích. Do đó hai hình thức của Nghi thức La-mã là dấu hiệu hữu hình cho thấy truyền thống không phải là hiện vật bảo tàng hay một chương trình cách mạng, nhưng là dòng chảy sống động, chiều sâu và bề rộng chỉ có thể được cảm nhận bằng cách gắn kết các tầng lớp lịch sử của nó.
Để diễn giải sự phân cực này theo hướng thần học phong phú hơn, sẽ hữu ích nếu chúng ta nhìn lại quan điểm của thần học gia Balthasar về Chiều kích Đức Mẹ và Chiều kích Phêrô của Giáo hội. Theo ngài, Giáo hội trước hết là Đức Mẹ trước khi là Phêrô. Đức Mẹ, trong lời “Xin vâng” và sự đón nhận vô nhiễm của Mẹ, thể hiện bản chất chiêm niệm, hôn nhân và đón nhận của Giáo hội. Phêrô, trong lời tuyên xưng và ủy thác của ngài, thể hiện sứ mệnh tông đồ, pháp lý và cai quản Giáo hội.
Hai chiều kích này không thể tách rời; tuy nhiên chúng không đồng nhất. Chiều kích Đức Mẹ là nền tảng cho Chiều kích Phêrô; Chiều kích Phêrô phục vụ Đức Mẹ. Giáo Hội không phải là một thể chế tình cờ có nội tại huyền nhiệm; Giáo Hội là một mầu nhiệm tất yếu mang hình thức thể chế.

Nâng cao chén thánh sau khi thánh hiến trong thánh lễ do Hội Linh mục Thánh Phêrô cử hành. Nguồn Wikipedia
Nếu áp dụng sự đối lập này vào phụng vụ, thì Hình thức Ngoại thường và Hình thức Thông thường có thể được xem như hiện thân bí tích của các điểm quan trọng về Đức Mẹ và Thánh Phêrô trong một Nghi thức Rôma duy nhất. Hình thức Ngoại thường, với ngôn ngữ trang trọng, nghi lễ và định hướng rõ rệt về siêu việt, mang lại sự thể hiện đặc quyền cho Chiều kích Đức Mẹ: đón nhận, im lặng, tôn thờ và tính ưu việt của hành động Thiên Chúa. Hình thức Thông thường, đặc biệt trong Hiến chế Phụng vụ thánh (Sacrosanctum Concilium) của Công đồng, mang lại sự nổi bật hơn cho Chiều kích Phêrô: rao giảng, dễ hiểu về mục vụ, hoạt động truyền giáo và tham gia bằng lời nói của cộng đoàn quy tụ vào đức tin tông đồ.
Điều này không nhằm mục đích giản lược bất kỳ hình thức nào thành một hình ảnh biếm họa. Cả hai hình thức đều mang tính chất Đức Mẹ và Thánh Phêrô; cả hai đều mang tính chiêm niệm và tông đồ. Tuy nhiên, mỗi hình thức lại thể hiện một sắc thái riêng. Trong Nghi thức Ngoại thường, việc linh mục hướng về phía Đông, giọng trầm lắng trong Kinh cầu nguyện, sự ổn định của các cử chỉ nghi lễ nhấn mạnh rõ vào sáng kiến của Thiên Chúa. Giáo dân được dẫn dắt vào mầu nhiệm vượt trước và vượt quá họ. Đặc biệt, im lặng của Kinh cầu nguyện không phải là vắng mặt mà là trọn vẹn – một dấu hiệu cho thấy Giáo hội nhận được từ Chúa Kitô, điều mà Giáo hội không thể tự tạo ra.
Ở đây, lời “Xin vâng” của Đức Mẹ vang vọng: “Xin mọi sự được thực hiện theo ý Mẹ”. Phụng vụ diễn ra như một điều được ban cho, và Giáo hội chấp thuận.
Ngược lại, trong Nghi thức Thông thường, bài đọc mở rộng lời rao giảng bằng tiếng bản địa, và Kinh cầu nguyện Thánh Thể được đọc rõ ràng làm nổi bật chiều kích tông đồ trong đời sống Giáo hội. Lời Chúa được rao giảng phong phú; bài giảng giải thích Lời Chúa cho hiện tại; lời cầu bầu nói lên nhu cầu của thế giới. Cộng đoàn đáp lại với lời tung hô nhấn mạnh Kinh cầu Thánh Thể. Khả năng quan sát và âm thanh này tương ứng với chức vụ Thánh Phêrô: củng cố anh em, rao giảng đức tin trong lịch sử, chăn dắt một dân tộc cụ thể trong thời điểm cụ thể. Phụng vụ trở nên rõ ràng mang tính truyền giáo, hướng không chỉ đến Giêrusalem trên trời mà còn hướng đến việc truyền bá Tin Mừng cho các nền văn hóa.
Thần học gia Balthasar nhấn mạnh Chiều kích Đức Mẹ có tính bản thể học ưu tiên: không có Xin vâng của Đức Mẹ thì không có Nhập Thể; không có chiêm niệm thì không có sứ mệnh. Áp dụng vào phụng vụ, điều này cho thấy chiều sâu được biểu thị qua Hình thức Ngoại thường không được phép mất đi, ngay cả khi Giáo hội nhấn mạnh đến việc tiếp cận mục vụ.
Nỗi lo của Đức Bênêđíctô XVI thể hiện rõ trong các tác phẩm phụng vụ của ngài, là một hiểu biết thuần túy chức năng hoặc theo chiều ngang về phụng vụ sẽ che khuất bản chất của nó như một hy sinh và ban tặng. Bằng cách cho phép tiếp tục cử hành hình thức cũ, ngài tìm cách đảm bảo Nghi thức Rôma sẽ không quên Chiều sâu Đức Mẹ: việc quỳ gối trước mầu nhiệm, cảm nhận về sự thiêng liêng như một điều khách quan và được ban cho.
Tuy nhiên, chiều kích của Thánh Phêrô không thể bị bỏ quên: “Giáo hội được sai đi vào thế giới, Giáo hội phải nói một cách dễ hiểu, Giáo hội phải quy tụ các dân tộc khác nhau vào một Nhiệm thể duy nhất. Các cuộc cải cách sau Công đồng Vatican II được thúc đẩy bởi chính mối quan tâm tông đồ này. Nghi thức Thông thường, khi được cử hành theo tinh thần Giáo hội thể hiện tính phổ quát và sức sống truyền giáo của Dân Chúa. Việc dùng ngôn ngữ bản địa không phải đầu hàng trước hiện đại mà là hiện thực hóa của Chúa Thánh Thần: một Tin Mừng được rao giảng bằng nhiều thứ tiếng. Sự tham gia mở rộng của giáo dân không phải là dân chủ hóa việc thờ phượng nhưng là thể hiện phẩm giá của phép rửa tội trong trật tự phẩm trật.”

Đức Bênêđíctô XVI đăng quang tại Dinh Tông tòa Vatican, 2011. Nguồn: Wikipedia
Ở đây, cái nhìn sâu sắc của nhà chiêm niệm Valentin Tomberg rất gợi mở. Trong những suy niệm về Giáo hội, ngài nói về những cực đối lập cần được giữ trong sự căng thẳng sáng tạo: ngoại giáo và nội giáo, thể chế và mầu nhiệm, luật pháp và ân sủng. Ngài xem Giáo hội Công giáo là duy nhất có khả năng duy trì những cực đối lập như vậy mà không sụp đổ, vì Giáo hội sống từ trung tâm bí tích. Phụng vụ, với tư cách là bí tích của các bí tích, trở thành đấu trường đặc quyền nơi các đối lập này được thể hiện. Do đó sự cùng tồn tại của hai hình thức trong Nghi thức La-mã có thể được hiểu mang tính biểu tượng về việc Giáo hội từ chối giải quyết căng thẳng bằng cách loại trừ. Thay vì lựa chọn giữa một phụng vụ chiêm niệm, trang nghiêm và một phụng vụ mục vụ, dễ tiếp cận, Đức Bênêđíctô XVI cho phép cả hai cùng tồn tại trong một khuôn khổ pháp lý, như thể ngài muốn nói: đời sống của Giáo hội không thể bị thu hẹp thành một hình thức duy nhất.
Các khái niệm “ngoại thường” và “thường nhật” tự chúng mời gọi một suy tư thần học. Điều ngoại thường không phải là bất thường; đó là biểu hiện cao cả của điều luôn luôn đúng. Theo cách nói của Đức Mẹ, đó là sự trong sáng rạng rỡ của lời “Xin vâng”, sự tinh khiết trong suốt của Cô dâu. Ngược lại, điều thường nhật không phải là tầm thường; đó là sự thể hiện thường xuyên, hằng ngày của đời sống Giáo hội. Theo cách nói của Thánh Phêrô, đó là cai quản và rao giảng vững chắc, nâng đỡ giáo dân trong suốt lịch sử. Vì thế sự đối lập không phải giữa thiêng liêng và trần tục, nhưng giữa nguyên mẫu và sứ mệnh, chiều sâu và mở rộng.
Chúng ta có thể phản đối cách đọc thần học này có nguy cơ lý tưởng hóa những gì thường được trải nghiệm như chia rẽ. Lịch sử cải cách phụng vụ trong thế kỷ 20 và 21 đã được đánh dấu bằng các cuộc tranh luận, hiểu lầm và thậm chí là nghi ngờ lẫn nhau. Tuy nhiên, một thống nhất đối lập không phủ nhận xung đột sẽ tìm cách biến đổi xung đột.
Thần học về sự đối lập của thần học gia Balthasar không phải là hài hòa đơn giản nhưng là khuôn mẫu Kitô học: trong Chúa Kitô, thần thánh và nhân loại, vinh quang và khiêm nhường, vâng phục và quyền uy được hợp nhất mà không lẫn lộn. Giáo hội, với tư cách là Nhiệm thể Chúa Kitô, phải học cách sống trong những căng thẳng tương tự.
Tầm nhìn của Đức Bênêđíctô XVI ngụ ý hai hình thức có thể “làm phong phú cho nhau”. Hình thức Thông thường có thể học hỏi từ Hình thức Ngoại thường một cảm giác sâu sắc hơn về tính thiêng liêng, im lặng và tính liên tục của nghi lễ. Hình thức Ngoại thường có thể học hỏi từ Hình thức Thông thường một chú tâm mới mẻ đến sự phong phú của Kinh Thánh, đến nhu cầu mục vụ của các cộng đồng đương đại. Sự làm giàu lẫn nhau này tương ứng chính xác với sự tương tác giữa Chiều kích Đức Mẹ và Chiều kích Phêrô. Chiều kích Đức Mẹ bảo vệ chiều sâu; Chiều kích Phêrô đảm bảo sự mở rộng.
Khi một trong hai bị tách rời, sẽ dẫn đến bệnh lý: một Giáo hội thuần túy Đức Mẹ có nguy cơ trở nên tĩnh lặng hoặc theo chủ nghĩa thẩm mỹ; một Giáo hội thuần túy Phêrô có nguy cơ trở nên quan liêu hoặc theo chủ nghĩa hoạt động.
Một linh mục cử hành Thánh lễ của Phaolô VI hướng về phía Đông tại ẩn thất Đức Mẹ, Hà Lan. Nguồn: Wikipedia.
Vấn đề thẩm quyền chắc chắn sẽ nảy sinh. Việc điều chỉnh phụng vụ thuộc về chức vụ Phêrô. Sắc lệnh của Đức Phanxicô thực thi thẩm quyền này, nhưng không phải phân quyền. Tuy nhiên, nội dung quyết định của ngài vượt ra ngoài phạm vi pháp lý đơn thuần. Khi thừa nhận tính hợp pháp tiếp tục của Sách Lễ cũ, ngài ngầm khẳng định ký ức phụng vụ của Giáo hội không thể bị xóa bỏ.
Hình thức Thánh Phêrô phục vụ Hình thức Đức Mẹ; quyền uy bảo vệ mầu nhiệm chứ không thay thế mầu nhiệm. Theo nghĩa này, chính hành động ban hành luật cho hai hình thức trở thành dấu hiệu cho thấy chiều rộng nội tại của Giáo hội.
Hơn nữa, sự cùng tồn tại của hai hình thức có thể được xem là biểu tượng của sự căng thẳng cánh chung. Giáo hội sống giữa cái đã có và cái chưa có. Hình thức Ngoại thường, với định hướng rõ rệt và biểu tượng hy sinh, có thể gợi lên sự siêu việt của phụng vụ thiên quốc được mô tả trong sách Khải Huyền. Hình thức Thông thường, với cấu trúc đối thoại và chiều rộng Kinh Thánh, có thể gợi lên hình ảnh Giáo hội lữ hành xuyên suốt lịch sử.
Cả hai đều đúng; không hình thức nào làm cạn kiệt mầu nhiệm. Cùng nhau, cả hai tạo thành một bức tranh hai mặt: chiêm niệm và sứ mệnh, tôn thờ và rao giảng.
Tuy nhiên, điều quan trọng, chúng ta không nên đánh đồng hình thức phụng vụ một cách quá cứng nhắc với nguyên tắc thần học. Chiều kích Đức Mẹ và Thánh Phêrô không bị độc chiếm bởi các quy tắc hoặc ngôn ngữ cụ thể. Hình thức Thông thường được cử hành một cách tôn kính có thể tỏa sáng chiều sâu Đức Mẹ; một cử hành vội vã hoặc mang tính ý thức hệ với Nghi thức Ngoại thường có thể phản bội nó. Sự đối lập liên quan đến những thái độ cơ bản của Giáo hội: sự tiếp nhận và sứ mệnh, sự im lặng và lời nói, sự ban tặng và cai quản. Hai hình thức của Nghi thức La-mã cung cấp các khuôn khổ cụ thể về mặt lịch sử, trong đó các thái độ này được nhấn mạnh, nhưng tiêu chí cuối cùng vẫn là sự thánh thiện.
Cuối cùng, dự án của Đức Bênêđíctô XVI có thể được hiểu như một nỗ lực hàn gắn ký ức. Thế kỷ XX đã chứng kiến cả sự cứng nhắc về phụng vụ và sự thử nghiệm về phụng vụ. Bằng cách thừa nhận tính hợp pháp của cả hai hình thức, ngài tìm cách đưa Giáo hội vào một hiểu biết rộng lớn hơn. Nghi thức La-mã giống như chính Giáo hội, không phải là một khối thống nhất mà là một hiệp thông. Sự thống nhất không phụ thuộc vào sự đồng nhất nhưng vào trung tâm bí tích chung: hy sinh Thánh Thể của Chúa Kitô.
Một tầm nhìn như vậy đòi hỏi sự trưởng thành về mặt tâm linh
Sự thống nhất phân cực rất mong manh; nó có thể dễ dàng thoái hóa thành chủ nghĩa bè phái. Tuy nhiên, lựa chọn thay thế – sự đồng nhất bị áp đặt hoặc sự lãng quên bị ép buộc – sẽ làm nghèo đi tính phổ quát của Giáo hội. Thần học phụng vụ của Đức Bênêđíctô XVI mời gọi giáo dân nhận thức sự đa dạng như chiều sâu chứ không phải mối đe dọa.
Trong ánh sáng này, Chiều kích Đức Mẹ và Thánh Phêrô không phải là những phạm trù trừu tượng nhưng là các nguyên tắc sống được thể hiện trong lời cầu nguyện. Cùng Đức Mẹ, Giáo hội quỳ gối dưới chân Thánh Giá; Giáo hội đứng cùng Thánh Phêrô để rao giảng về sự Phục Sinh. Trong Nghi thức Ngoại thường, chúng ta có thể thấy rõ hơn hình ảnh Cô dâu quỳ gối; trong Nghi thức Thông thường, chúng ta thấy vị Tông đồ rao giảng. Nhưng đó là một Giáo hội, một hy sinh, một Chúa. Vì thế sự thống nhất đối cực của hai hình thức phản ánh, dù không hoàn hảo, sự thống nhất sâu sắc hơn về tình yêu và quyền uy, ân tứ và chức vụ, tạo nên mầu nhiệm của chính Giáo hội.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch



























