Hồng Y Timothy Radcliffe: Nỗi đau của Ukraine là nỗi đau của thế giới

26

Hồng Y Timothy Radcliffe: Nỗi đau của Ukraine là nỗi đau của thế giới

Sau chuyến đi Ukraine của Hồng y Timothy Radcliffe,, ngài trả lời phỏng vấn trên Vatican News, chia sẻ những suy tư về các cuộc gặp cảm động nhất ở đất nước bị chiến tranh tàn phá này.

vaticannews.va, Linh mục Jarosław Krawiec, Dòng Đa Minh và Nữ tu Alina A. Petrauskaitė.

Hồng y Timothy Radcliffe vừa kết thúc chuyến đi Ukraine để bày tỏ sự ủng hộ và tình đoàn kết với Giáo hội địa phương, với các cộng đồng Dòng Đa Minh. Ngài đến thủ đô Kyiv ngày 27 tháng 2 và thăm một số thành phố trên khắp đất nước.

Hồng Y Radcliffe tại Nhà thờ Chính tòa Odessa cùng Giám mục Shyrokoradyuk

Suy ngẫm về trải nghiệm của ngài tại đất nước bị chiến tranh tàn phá, ngài kể lại một số cuộc gặp cảm động trong chuyến đi của ngài trên Vatican News: “Giữa sự tàn phá và hủy diệt, tôi đã gặp được lòng dũng cảm tuyệt vời khi người dân quyết tâm ở lại và làm hết sức mình để xây dựng tương lai. Chúng ta nhớ người dân Ukraine đang đau khổ là anh chị em của chúng ta.”

Bài phỏng vấn do Linh mục Jarosław Krawiec, Dòng Đa Minh thực hiện

Cha vừa ở Ukraine về. Xin cha cho chúng con biết ngắn gọn những nơi cha đã đến thăm và những việc cha đã làm trong chuyến đi.

Hồng y Timothy Radcliffe: Đầu tiên tôi đến Kyiv, đó là một trải nghiệm tuyệt vời. Tôi vô cùng xúc động khi đến thăm bệnh viện quân đội, gặp một số binh sĩ bị thương, gặp giám đốc xuất sắc của bệnh viện, Ivan Yavorskyi. Sau đó, chúng tôi đến Fastiv để thăm Giáo xứ Thánh Martinô. Thật cảm động khi chúng tôi thấy nhiều tình nguyện viên vui vẻ và cách họ chăm sóc trẻ em cũng như kêu gọi người dân địa phương phục vụ dân Chúa. Kherson là nơi làm tôi xúc động nhất. Ở đó, chúng tôi thấy chiến tranh đã tàn phá đời sống cộng đồng như thế nào. Thành phố chỉ còn lại một vài người già.

Thánh lễ tại Giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giêsu ở Kherson

Tuy nhiên, cũng chính nơi đây chúng tôi chứng kiến được lòng can đảm tuyệt vời – những người quyết tâm ở lại và làm hết sức mình để xây dựng tương lai. Tại Odesa, chúng tôi gặp Giám mục Stanislav Shyrokoradiuk, ngài là Giám mục chính tòa của giáo phận Odesa-Simferopol, ngài nồng nhiệt tiếp chúng tôi.

Sau đó, chúng tôi về Kyiv rồi đến Kharkiv. Kharkiv chịu nhiều đau khổ, nhưng một lần nữa, chúng tôi lại chứng kiến những dấu hiệu tuyệt đẹp của hy vọng. Chúng tôi thấy công việc của các Nữ tu Orionist với các bà mẹ đơn thân, một nơi tràn đầy niềm vui. Chúng tôi cũng tham dự buổi gặp gỡ với người Công giáo Hy Lạp trong thánh lễ của họ và gặp Giám mục Pavlo Honcharuk, Giám mục chính tòa của giáo phận Kharkiv-Zaporizhzhia tại nhà thờ chính tòa Công giáo.

Hồng Y Radcliffe cùng với Giám mục Shyrokoradyuk tại Nhà thờ chính tòa Odessa

Cuối cùng, chúng tôi về Kyiv, tôi cảm thấy như được về nhà. Khi rời Ukraine, tôi rất vui vì được về nhà, nhưng cũng rất buồn khi phải nói lời tạm biệt với những người tôi yêu mến và kính trọng.

Cha đã dành vài ngày ở Ukraine và đến thăm Kherson, thành phố ở tiền tuyến, cũng như thành phố Kharkiv gần biên giới Nga. Điều quan trọng nhất cha rút ra được trong thời gian này là gì?

Vẫn còn rất sớm. Tôi cần thời gian để thấm dần mọi thứ và suy ngẫm về nó. Một trong những hình ảnh đẹp nhất với tôi ở Kherson là thấy cảnh bánh mì nướng cho người dân, được các tình nguyện viên chuẩn bị tại chỗ. Mỗi ngày chúng ta đọc Kinh Lạy Cha: “Xin cho chúng con lương thực hằng ngày”, và ở đây chúng tôi thấy bánh được làm ra. Chúng tôi thấy máy bay không người lái và thấy người dân dễ bị tấn công như thế nào. Chúng tôi thấy được áp lực người dân phải gánh chịu, họ kiệt sức chịu đựng bạo lực ngày này qua ngày khác.

Cuộc gặp nào để lại ấn tượng sâu đậm nhất với cha trong thời gian ở đây?

Một trong những cuộc gặp cảm động nhất là gặp các em con của các bà mẹ đơn thân ở Kharkiv. Các em bé này đã phải chịu đau khổ rất nhiều. Các em tự hỏi tương lai của các em sẽ như thế nào và nơi các em thuộc về là ở đâu. Thật tuyệt vời khi tôi thấy niềm vui các nữ tu mang đến cho các em. Tôi cũng vô cùng ấn tượng khi nói chuyện với Cha Maksym Padlevskyi ở Kherson, gần như cha ở đó một mình, cha trung thành phục vụ tiền tuyến. Đó là một trong những trải nghiệm cảm động và mạnh mẽ nhất.

Trong chuyến đi, cha đã gặp các thành viên của một số cộng đồng tôn giáo – Nữ tu Orionine, các Cha dòng Cát Minh, dòng Basilian và dòng Đa Minh. Theo cha, vai trò của tu sĩ trong thời chiến là gì?

Điều tuyệt vời khi chúng tôi là tu sĩ, chúng tôi là anh chị em của nhau. Trong thời chiến, nguy hiểm là chỉ nghĩ đến bản thân và thu mình lại. Đức Phanxicô đã kêu gọi chúng ta đến với tình huynh đệ bao toàn thế giới. Mỗi tu sĩ nên là dấu hiệu của tình huynh đệ đó, không chỉ trong cộng đồng của chúng ta. Cộng đồng hay quốc gia không phải là của riêng chúng ta, nhưng tình huynh đệ là của toàn nhân loại hiệp nhất trong Chúa Kitô.

Cha đã gặp nhiều người cần giúp đỡ. Làm thế nào mọi người trên khắp thế giới có thể giúp đỡ và hỗ trợ Ukraine? Nhu cầu quan trọng nhất hiện nay là gì?

Tôi nghĩ tất cả chúng ta nên nhớ, nỗi đau của Ukraine không chỉ là nỗi đau của một quốc gia, nhưng là nỗi đau của toàn thế giới. Câu hỏi chúng ta đặt ra là liệu chúng ta có còn là một thế giới mà tự do và dân chủ trường tồn hay không. Ukraine đang ở tuyến đầu không chỉ của cuộc xung đột riêng của họ mà còn là thời điểm quyết định của thế giới. Vào thời điểm này, chúng ta nên nhớ người dân Ukraine đang đau khổ là anh chị em của chúng ta – điều mà tiên tri I-sai gọi là “máu thịt của chúng ta”.

Cuối cùng, một cuộc chiến tranh mới đang diễn ra ở Trung Đông. Cha đã nhiều lần kêu gọi hòa bình; cha có lời nào mang lại hy vọng cho những người hiện đang trải qua nỗi sợ hãi không?

Luôn luôn có hy vọng. Mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta cử hành Bí tích của hy vọng, ngay cả khi hy vọng dường như không còn. Tôi vô cùng đau lòng khi thấy những sai lầm tương tự cứ lặp đi lặp lại – ảo tưởng rằng các vấn đề có thể được giải quyết bằng cách giết người. Điều đó là không thể. Nhưng chúng ta hãy hy vọng, từng chút một, thế giới sẽ nhận ra hòa bình chỉ có thể được tìm thấy khi chúng ta nhận ra người lạ là anh chị em của mình.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch